Hướng Dẫn Tài Liệu Liên Quan Đến Môn Học 7 3.3.4 Hướng Dẫn Học Sinh Cách Học Thuộc Và Ghi Nhớ Các Cấu Trúc Ngữ Pháp Tiếng Anh 8 3.3.5 Giao Nhiệm Vụ Cho Các Em Học Sinh Tự Học Ở Nhà
Trang 1MỤC LỤC
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến 2
2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến 4
3.3.1 Tạo Hứng Thú Tự Học Cho Học Sinh 6
3.3.3 Hướng Dẫn Tài Liệu Liên Quan Đến Môn Học 7
3.3.4 Hướng Dẫn Học Sinh Cách Học Thuộc Và Ghi Nhớ Các
Cấu Trúc Ngữ Pháp Tiếng Anh
8
3.3.5 Giao Nhiệm Vụ Cho Các Em Học Sinh Tự Học Ở Nhà
Thông Qua Việc Hoàn Thành Những Yêu Cầu Trong Phiếu Tự Học
8
3.3.6 Kiểm Tra và kiểm soát theo hướng khuyến khích Việc Tự Học Ở
3.3.7 Điểm Mới Và Sáng Tạo Của Phiếu Tự Học 13
PHỤ LỤC 1: phiếu tự học của học sinh được thiết kế bởi giáo viên nhằm giúp
các em học sinh tự học ngữ pháp Tiếng Anh thông qua tự thực hành các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết trong phiếu tự học
PHỤ LỤC 2: Phiếu tự học do học sinh thực hiện
Trang 2BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: NGUYỄN THỊ KIM THANH Nam, nữ: Nữ
- Ngày tháng năm sinh: 28 – 10 – 1980
- Nơi thường trú: tổ 3, ấp Tây Hưng, xã Nhơn Hưng, Tịnh Biên, An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THPT Tịnh Biên
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên dạy lớp
- Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy môn Tiếng Anh
II.- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
➢ THUẬN LỢI
• Đội ngũ giáo viên đủ đáp ứng yêu cầu giảng dạy, đa số nhiệt tình,thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm đối với ngành nghề Đội ngũ giáo viên của trường có chuyên môn cao Đa số giáo viên nghiêm túc trong giảng dạy và rất yêu nghề Tổng số Giáo viên, công nhân viên là
73
• Chỉ đạo ngành tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lí, chỉ đạo chuyên môn
➢ KHÓ KHĂN
• Phòng học thiếu nên sỉ số lớp rất cao
• Tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao, đầu vào lớp 10 chất lượng thấp và không đều, còn không ít phụ huynh học sinh do điều kiện gì đó thiếu quan tâm việc học và giáo dục con
em Các em học sinh phải học quá nhiều môn (chính khóa và trái buổi) thêm vào đó nhiều học sinh phải phụ giúp công việc gia đình, đi làm thêm Nên học sinh không có nhiều thời gian
để học bài Có hơn 900 học sinh của trường, phần lớn trong địa bàn thị trấn và một phần rải rác
ở các xã lân cận của huyện Do hạn chế của một số điều kiện khách quan như: đầu vào thấp, học sinh thiếu cần cù, siêng năng trong học tập và các em phải phụ giúp gia đình trong công việc nên không dành nhiều thời gian cho học tập Điều này đã gây trở ngại cho công tác chuyên môn
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG
Trang 3• Vì đặc thù của địa bàn là vùng sâu, vùng xa, lao động chân tay và buôn bán là chủ yếu, kinh tế gia đình của đại đa số phụ huynh học sinh còn khó khăn Đa số phụ huynh phải lao động vất vả và có rất ít thời gian để quan tâm đến việc học của con em Đa số học sinh phải phụ giúp công việc gia đình nên hoạt động chủ yếu không phải là hoạt động học
- Tên sáng kiến: Tăng Vốn Từ Vựng Tiếng Anh Cho Học Sinh Khối 10 Trường THPT Tịnh Biên Thông Qua Thực Hành Kĩ Năng Đọc Mở Rộng và Viết Theo Yêu Cầu Trong Phiếu Tự Học
- Lĩnh vực: Tiếng Anh
III- Mục đích yêu cầu của sáng kiến:
Sáng kiến được biên soạn với mục đích nhằm đưa ra các giải pháp mới và sáng tạo nhằm giúp hướng dẫn các em học sinh khối 10 trường Trung Học Phổ Thông Tịnh Biên nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua việc hoàn thành những yêu cầu trong phiếu tự học Sau khi đã học các bài mới trong Sách Giáo Khoa theo từng chủ đề nhất định, các em học sinh khối 10 phải nắm vững một số từ vựng nhất định thông qua các chủ đề đó Tuy nhiên, việc học từ mới đối với các em là quá khó Các em vừa học đã quên Với vai trò là giáo viên đứng lớp, tôi đã thiết kế ra các phiếu tự học, để thông qua đó, các em có cơ hội ghi lại nghĩa Tiếng Việt cho những từ mới mà các em đã học, gặp lại các từ mới đó trong các bài đọc của hoạt động đọc mở rộng, sau đó sử dụng các từ mới này viết lại các bài viết theo yêu cầu của giáo viên Chính những hoạt động này sẽ giúp các em học sinh nhớ từ một cách lâu hơn, học từ một cách có ý nghĩa hơn, giảm bớt khó khăn về vấn đề từ vựng cho học sinh khối 10 trường THPT Tịnh Biên
1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
Chúng ta đã bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của thông tin khoa học kĩ thuật Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hòa mình và bắt kịp sự phát triển hay nói cách khác, đó là sự bùn nổ về thông tin khoa học và công nghệ Như vậy chúng ta cần phải trang bị gì cho mình để hòa mình vào sự phát trển của loài người? Nhiều bạn trẻ chọn Tiếng Anh như là một kiến thức
để tiến bước trong tương lai Tuy nhiên Tiếng Anh lại không phải là một lựa chọn duy nhất để các em phấn đấu trong quá trình học tập Học sinh trung học nói chung, đặc biệt là học sinh ở trường THPT Tịnh Biên nói riêng ngày nay hầu như có rất ít hay thậm chí không có thời gian rảnh Ngoài thời gian học chính khóa các buổi trong tuần, các em phải học ngoài giờ lên lớp, phụ đạo, quốc phòng…buổi tối ở nhà các em còn phải chuẩn bị bài cho ngày học hôm sau Cho nên, ngoài thời gian học Tiếng Anh trên lớp, học sinh hiếm khi có thời gian để trao dồi thêm môn Tiếng Anh ở nhà Thêm vào đó, giáo viên chịu áp lực của việc hoàn thành chương trình học trong sách giáo khoa nên cũng chỉ có không hơn một vài tiết để có thể truyền đạt những
biện pháp học Tiếng Anh có hiệu quả cho học sinh
Trang 4Trong chương trình học hiện tại, tất cả các bài tập đọc, nghe đòi hỏi các em phải hiểu nghĩa đa số các từ vựng trong bài, các em mới có thể làm được các bài tập theo sau Hơn nữa,
kĩ năng nói và viết Tiếng Anh cũng đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ vựng nhất định mới có thể diễn đạt được hết ý tưởng và suy nghĩ của mình thông qua lời nói hay chữ viết
Thêm vào đó, bài tập Tiếng Anh trong các bài thi, bài kiểm tra gần đây chú trọng nhiều hơn phần ngữ nghĩa của từ Nó đòi hỏi học sinh phải có một kiến thức từ vựng nhất định mới
có thể hiểu hết ý nghĩa của đa số các từ trong câu, từ đó mới có thể chọn được đáp án đúng cho các câu hỏi
Cuối cùng, mặc dù được sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi của Ban Giám Hiệu trong quá trình dạy và học môn Tiếng Anh; giáo viên giảng dạy luôn nhiệt tình hết lòng vì học sinh, nhưng do đặc điểm là học sinh ở vùng sâu vùng xa, trình độ học ngoại ngữ của các em không cao Thêm vào đó, các bài đọc, viết, nghe, nói trong Sách Giáo Khoa dường như vượt qua khỏi khả năng học của các em Giáo viên lại phải bám sát Sách Giáo Khoa và chương trình học, cho nên trong quá trình dạy và học môn Tiếng Anh gặp cũng không ít khó khăn, vất vả
Trong một cuộc khảo sát ở đầu năm học trên 98 học sinh lớp 10 trường THPT Tịnh Biên, cả học sinh giỏi và chưa giỏi môn Tiếng Anh về những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình học môn Tiếng Anh, kết quả nhận được như sau:
Những khó khăn mà các bạn chưa giỏi môn Tiếng Anh đã cho biết và số lần đề cập trong phiếu khảo là:
- Mất căn bản từ cấp dưới: 35/48
- Gặp khó khăn về vấn đề về từ vựng : 38/48
- Gặp khó khăn về cách đọc, phát âm : 1/48
- Gặp các vấn đề khó khăn về phần ngữ pháp : 35/48
- Khó khăn khi nghe Tiếng Anh : 1/48
- Gặp khó khăn khi dịch Tiếng Anh : 2/48
- Khó khăn trong kĩ năng viết : 4/48
- Gặp vấn đề khi giao tiếp : 2/48
- Không có hứng thú học Tiếng Anh : 2/48
Kết quả được biểu diễn qua đồ thị sau:
Trang 5Đồ thị 3.1:Đồ thị biểu diễn những khó khăn mà học sinh chưa giỏi môn Tiếng Anh gặp phải
Những khó khăn mà các bạn giỏi môn Tiếng Anh gặp phải trong quá trình học tập môn Tiếng Anh và số lần đề cập thu thập được từ phiếu khảo sát là:
- Mất căn bản từ cấp dưới: 1/50
- Gặp khó khăn về vấn đề về từ vựng: 30/50
- Gặp khó khăn về cách đọc, phát âm: 21/50
- Gặp các vấn đề khó khăn về phần ngữ pháp: 12/50
- Khó khăn khi nghe Tiếng Anh : 22/50
- Gặp khó khăn khi dịch Tiếng Anh : 6/50
- Khó khăn trong kĩ năng viết : 3/50
- Gặp vấn đề khi giao tiếp: 11/50
Trang 6Đồ thị 3.2: Đồ thị biểu diễn những khó khăn mà học sinh giỏi môn Tiếng Anh gặp phải
Còn theo giáo viên dạy Tiếng Anh của trường thì khó khăn mà các bạn học sinh gặp phải trong quá trình học môn Tiếng Anh và số lần đề cập được thu thập được trong cuộc điều tra bằng phiếu khảo sát với 9 giáo viên dạy môn Tiếng Anh của trường là:
- Không đủ vốn từ vựng: 8/9
- Không nhớ bài học cũ: 6/9
- Không thể tập trung khi giáo viên giảng bài: 5/9
- Khó khăn trong các kĩ năng viết, và đọc: 2/9
- Khó khăn trong cách phát âm: 2/9
Phân tích những khó khăn của học sinh giỏi và chưa giỏi môn Tiếng Anh ở khối 10 trường THPT Tịnh Biên cho thấy:
- Tất cả học sinh đều gặp phải những khó khăn khi học tập môn Tiếng Anh
- Cả học sinh giỏi môn Tiếng Anh và những học sinh chưa giỏi môn này đều có những khó khăn tương tự nhau nhưng khó khăn lớn nhất theo các em học sinh và cả theo giáo viên dạy môn Tiếng Anh ở trường là vốn từ vựng của các em học sinh
Nguyên Nhân của thực trạng này:
Được biết nguyên nhân mà học sinh trường THPT Tịnh Biên gặp khó khăn trong vấn đề từ vựng là do các bạn học chưa giỏi môn Tiếng Anh cảm thấy không quen trong việc học thuộc lòng các bài học và từ vựng môn này Học thuộc lòng các bài bằng tiếng Việt thì dễ, còn học thuộc lòng các từ vựng Tiếng Anh, các bạn cảm thấy không quen Cứ mỗi ngày vào lớp là giáo viên dạy từ mới Về nhà các bạn không học thuộc từ cũ, mà có học các bạn cũng không thể nhớ
Series1
Trang 7lâu Không nhớ từ cũ, lại học thêm từ mới làm các bạn không thể hiểu được bài Còn cách viết nữa, dù có cố gắng như thế nào các bạn cũng không thể nào viết các từ mới Tiếng Anh cho đúng chính tả
Còn những bạn giỏi Tiếng Anh, các bạn này luôn chuẩn bị bài trước ở nhà như tra từ mới cho các bài học, học các từ mới đã được dạy ở tiết trước; rất nhiều bạn còn ghi chú lại vào những tờ giấy nhỏ những từ mới cần học, ghi vào sổ tay, dùng viết tô những phần quan trọng cần phải nhớ… Sau đây là những hình ảnh ghi lại được từ cách mà các bạn giỏi Tiếng Anh đã làm để nhớ và ôn lại bài học về từ vựng Tiếng Anh:
Trang 8
Tuy đã rất cố gắng để học bài và ôn từ như vậy, nhưng các em vẫn không thể nào nhớ hết tất cả các từ mà các em đã học Thậm chí, các em cho biết nghĩa tiếng việt của các từ mà các
em ghi xuống không hoàn toàn chính xác trong mọi ngữ cảnh Bên cạnh đó, dù sao Tiếng Anh vẫn là tiếng nước ngoài nên các em dù có giỏi cũng không thể nắm hết tất cả các từ vựng môn Tiếng Anh, cho nên từ vựng vẫn là khó khăn chung của tất cả học sinh học môn Tiếng Anh
Đó là những nguyên nhân tìm hiểu được, nhưng theo quan sát thực tế với nhiều năm giảng dạy, giáo viên thấy được nguyên nhân thực sự của việc đa số các em học sinh gặp khó khăn về mặt từ vựng là do các em thiếu tiếp cận thật sự với ngôn ngữ Tiếng Anh Các em ít tham gia vào các hoạt động đọc, hay viết Tiếng Anh Các em chỉ tham gia học Tiếng Anh 3 tiết học trên tuần Trong 3 tiết đó, các em học các kiến thức trong Sách Giáo Khoa, và vì Sách Giáo Khoa
có sẵn cho học sinh nên các em biết trước được mình sẽ học cái gì Để đối phó với các tiết học
đó, các em luôn có đáp án sẵn cho tất cả các bài trong sách mà không bao giờ biết lí do vì sao các em chọn đáp án như vậy Đáp án các em có được một phần là do các em sử dụng sách cũ
đã được những người học trước ghi lại, hay các em có thể dễ dàng tìm được đáp án trong các trang mạng Vì lí do đó, các em không cần phải học hay làm bất cứ một thứ gì ngoài đọc lại đáp án cho giáo viên đứng lớp Điều này rất dễ dàng cho mọi giáo viên nhận thấy vì trong quá trình giảng dạy, học sinh luôn đưa ra các đáp án đúng, nhưng khi yêu cầu các em giải thích hay dịch các câu sang Tiếng Việt thì các em hoàn toàn không biết hay gặp khó khăn khi dịch Sau khi học các bài trên lớp, vì sợ học sinh không nhớ từ vựng, nên giáo viên thường yêu cầu các
em học bài và trả bài ở tiết học sau Tuy nhiên việc học từ vựng của các em chỉ dừng lại ở chỗ ghi từ Tiếng Anh, ghi nghĩa Tiếng Việt của các từ đó, nếu kĩ hơn một chút thì thêm dấu nhấn
và loại của từ Học sinh cố gắng rất nhiều để học, thậm chí còn ghi lại ra các tờ giấy, sổ tay… như được trình bày ở trên Tuy nhiên các em chỉ nhớ được một thời gian ngắn Sau thời gian
đó, các em lại quên đi từ mới Tình trạng này kéo dài làm cho từ vựng trở thành khó khăn chung cho hầu hết học sinh học Tiếng Anh ở trường THPT Tịnh Biên
2 Sự Cần Thiết Phải Áp Dụng Sáng Kiến:
Tiếng Anh là một trong những yếu tố cơ hội không thể thiếu theo xu thế hiện nay Tuy nhiên, để học tốt Tiếng Anh các em phải học tốt cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Để học tốt được cả bốn kĩ năng này, đòi hỏi học sinh nhất thiết phải có được một vốn từ vựng Tiếng Anh mạnh mẽ Thật vậy, một vốn từ vựng mạnh mẽ cải thiện tất cả các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết Trên thực tế, hạn chế trong kiến thức từ vựng cản trở khả năng giao tiếp hiệu quả bởi vì đơn vị từ vựng mang tải những thông tin cơ bản mà người đối thoại muốn hiểu và thể hiện Do
đó, nếu các em không biết nhiều từ vựng Tiếng Anh, các em không thể truyền đạt hết ý tưởng của mình bằng Tiếng Anh khi nói cũng như khi viết Các em không thể hiểu hết những gì
Trang 9đọc hiểu đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ vựng mạnh mẽ nhất vì trong các bài đọc hiểu có rất nhiều từ vựng đòi hỏi các em phải biết mới có thể thật sự hiểu hết nội dung của cả bài
Mục đích thật sự của việc học ngoại ngữ là để giao tiếp, là để có thể nghe, nói, đọc và viết bằng ngôn ngữ đó Tuy nhiên, ngoài ra còn có một mục đích khác cũng không kém phần quan trọng mà đa số các học sinh phổ thông đặt ra khi học môn Tiếng Anh là làm các bài thi, bài kiểm tra môn này đạt điểm cao Để có được điểm cao trong các bài thi, bài kiểm tra, đòi hỏi các em phải có một vốn từ vựng mạnh mẽ Thật vậy, trong hầu hết các bài thi, bài kiểm tra gần đây, không những chỉ kiểm tra về công thức, về cách sử dụng của các điểm ngữ pháp Tiếng Anh, mà nó đòi hỏi các em phải hiểu ý nghĩa của tất cả các từ trong câu, sau đó giải thích, phân tích, tổng hợp mới có thể chọn được đáp án đúng cho câu hỏi được đặt ra Cho nên, nếu các em không biết nhiều về từ vựng Tiếng Anh, các em không thể đạt yêu cầu trong các bài thi, bài kiểm tra này
Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, không có nhiều học sinh thật sự có được một vốn từ vựng mạnh mẽ Hầu như tất cả học sinh khi đối diện với những câu bài tập đòi hỏi các em phải dịch sang Tiếng Việt, các em đều làm không tốt, thậm chí là không làm được Khi được hỏi các em có từng đọc các câu truyện hay các bài viết khác bằng Tiếng Anh để giải trí trong thời gian rảnh hay không thì đa số các em đều trả lời không với lí do là không thể hiểu được ý nghĩa của những tài liệu này do vốn từ vựng Tiếng Anh của các em rất có giới hạn Các em cũng cho biết khi làm bài tập trắc nghiệm, các em chỉ dựa vào những mẹo nhỏ trong làm bài, hay những dấu hiệu nào đó trong câu để giúp các em chọn đáp án đúng Những câu mà các em gặp khó khăn nhất là những câu bài tập về từ vựng, vì các em không thể hiểu hết ý nghĩa của câu dẫn hay không thể hiểu hết ý nghĩa của các từ trong các phương án lựa chọn Do đó, các
em thường mất điểm ở các câu này
Để giải quyết khó khăn này, giáo viên ở trường phổ thông, đặc biệt là giáo viên của trường Trung Học Phổ Thông Tịnh Biên đã thực hiện rất nhiều biện pháp để giúp các em từng bước cải thiện vốn từ vựng của mình: như dạy từ vựng thật kĩ trong các tiết Reading, Listening
và thỉnh thoảng cả các tiết Speaking và Writing Thậm chí một số giáo viên còn tăng cường trả bài phần từ vựng cho các em, hướng dẫn các em cách để nâng cao vốn từ vựng của mình Nhưng mọi biện pháp hầu như không có hiệu quả vì khả năng từ vựng của đại đa số học sinh đều không cải thiện Các em học bài sau lại quên bài trước, học từ sau lại quên từ trước Một số giáo viên cho biết cách tốt nhất để hạn chế việc học sinh học từ sau quên từ trước là kiểm tra
đi, kiểm tra lại nhiều lần những từ vựng mà các em đã học Tuy nhiên đa số các giáo viên không thể làm được việc này do thời gian không cho phép Do đó vấn đề học sinh học từ sau quên từ trước là một vấn đề nan giải nhất của đa số giáo viên hiện nay Thêm vào những khó khăn đó là vấn đề một số không nhỏ học sinh hoàn toàn không thể học gì cả ngoài đọc lại đáp
án có sẵn cho các bài học trong Sách Giáo Khoa Biết được như thế hoàn toàn không tốt gì cả
Trang 10cho các em học sinh nên nhiều giáo viên đã giải quyết vấn đề này bằng cách soạn lại các task trong Sách Giáo Khoa để học sinh thật sự học Tiếng Anh chứ không phải sử dụng đáp án có sẵn để đối phó với giáo viên dạy lớp Tuy nhiên, việc thay đổi các task trong sách chỉ là hướng giải quyết tạm thời vì giáo viên không thể nào thay thế hoàn toàn tất cả các task trong sách vì chẳng phải như thế Sách Giáo Khoa lại trở thành một mớ giấy vụn hay sao!? Cách giải quyết duy nhất là giáo viên phải làm sao vẫn vừa sử dụng Sách Giáo Khoa, vừa tìm ra được cách để các em thật sự học Tiếng Anh, vừa tạo cho các em cơ hội để học và ôn lại từ mới và tiến thêm một bước, sử dụng được từ mới mà các em đã học để hạn chế vấn đề học trước quên sau của các em
Từ thực tế này, là một giáo viên của trường, tôi cũng đã thực hiện rất nhiều biện pháp Sau một thời gian thực nghiệm, tôi nhận thấy việc sử dụng kết hợp giữa việc học từ vựng có chủ ý (intentional vocabulary learning) và học từ vựng một cách ngẫu nhiên (incidental vocabulary learning) thông qua hoạt động đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh và sử dụng các
từ vựng đó để viết lại theo yêu cầu của giáo viên thật sự có tác dụng tốt trong việc cải thiện vốn
từ vựng cho học sinh Để kiểm soát tốt hơn việc tự học của các em học sinh, tôi đã sử dụng phiếu tự học Phiếu tự học được thiết kế giúp học sinh sử dụng sơ đồ tư duy mind map để đọc
và hiểu các tài liệu Tiếng Anh Những tài liệu Tiếng Anh này được thiết kế theo các chủ đề mà các em học trên lớp, sử dụng lại số từ vựng mà các em vừa học trên lớp Tạo cơ hội để các em vừa có thể đọc, hiểu, vừa có thể ôn lại từ và sử dụng được các từ mới mà các em đã học trên lớp nhằm nâng cao vốn từ vựng cho bản thân Nhận thấy phát triển vốn từ vựng cho học sinh là một nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng nên tôi đã chọn viết sáng kiến này, hi vọng sẽ có thể phần nào cung cấp cho các thầy cô một số gợi ý hữu ích trong nâng cao vốn từ vựng cho các
em
3 Nội dung sáng kiến
Hiện trạng đa số các em học sinh ngày nay sử dụng Sách Giáo Khoa cũ với đáp án có sẵn trong Sách Giáo Khoa hay tìm đáp án từ các trang mạng rồi vào lớp và không học gì cả ngoài việc đọc lại đáp án cho giáo viên đứng lớp mà không hề biết giải thích như thế nào, khi về nhà học từ mới bằng cách ghi lại nghĩa Tiếng Việt của từ, học đi học lại để rồi quên từ cũ sau khi học các từ mới đã trở nên rất phổ biến Thực trạng này đã dẫn tới khó khăn chung và lớn nhất của đa số các em học sinh khi học tập môn Tiếng Anh đó là từ vựng Do đó, trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần tạo cho học sinh một môi trường tự học mới ở đó học sinh có cơ hội
tự đọc các tài liệu và tự hoàn thành các task theo yêu cầu của giáo viên vì đáp án có được là do các em thật sự đọc mà tìm ra chứ hoàn toàn không có ở đâu cả Và cũng từ môi trường đó, học sinh có cơ hội gặp đi, gặp lại các từ mới mà các em đã học, có cơ hội sử dụng các từ mới đó viết lại sự thật xung quanh mình theo yêu cầu của giáo viên Vừa được gặp, vừa được sử dụng
Trang 11sẽ là cách học từ mới mẽ và có hiệu quả nhằm giúp các em nhớ từ nhiều hơn, và lâu hơn, góp phần nâng cao vốn từ vựng cho các em học sinh của trường
3.1 Tiến Trình Thực hiện:
Việc sử dụng các phiếu tự học để hướng dẫn các em học sinh tự học nhằm nâng cao vốn
từ vựng của mình thông qua kĩ năng đọc mở rộng kết hợp với kĩ năng viết được giáo viên thực hiện xuyên suốt hết học kì I của quá trình dạy học môn Tiếng Anh khối 10 ở trường THPT Tịnh Biên (năm học 2018 -2019) Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thiết kế phiếu tự học theo từng bài, phát ra cho các em học sinh sau khi các em đã hoàn thành việc học ở mỗi bài học Giáo viên hướng dẫn cụ thể những việc các em cần hoàn thành cho mỗi phiếu tự học Theo đó, các em học sinh sau khi đã nhận phiếu tự học, các em sẽ có cơ hội đọc lại các bài đọc trong Sách Giáo Khoa nhưng thực hiện các yêu cầu khác Cụ thể là các em phải hoàn thành sơ
đồ tư duy mind – map để tóm tắt lại và hiểu tốt hơn về nội dung của bài đọc Bên cạnh đó, phiếu tự học cũng cho các em cơ hội ghi lại các từ mới, tra nghĩa các từ mới mà các em đã học trong lớp, sau đó, sử dụng các từ mới này để viết lại theo yêu cầu của giáo viên Sau đó, các
em sẽ được đọc thêm một bài khác cùng chủ đề và thực hiện các yêu cầu của giáo viên như: hoàn thành nghĩa Tiếng Việt cho các từ mới trong bài, đánh giá về bài viết, so sánh sự khác nhau giữa các em với nhân vật trong bài viết, bài tỏ tình cảm yêu thương, thích ghét… với bài viết Tất cả những hoạt động này đều hướng về một mục đích: tạo cơ hội để học sinh tự học, tự tiếp cận, gặp đi gặp lại, và sử dụng các từ mới mà các em đã học trên lớp, giúp các em nhớ từ lâu hơn Ngoài ra, kiểm tra việc tự học của các em là một khâu không thể thiếu trong quá trình
tự học của các em vì nếu không kiểm tra giáo viên sẽ không nắm được tình hình tự học và hoàn thành phiếu tự học của học sinh, và nếu không đánh giá, nhận xét khuyến khích thì không
có động lực cho việc tự học đều đặn ở nhà Kiểm tra và đánh giá còn giúp các em học sinh có cái nhìn tổng quan về quá trình tự học của mình: các em đã làm tốt chưa cho việc tự học đó? Các em còn những sai sót gì cần phải rút kinh nghiệm cho lần học sau? Ngoài ra việc kiểm tra và đánh giá của giáo viên cũng theo hướng tích cực hóa để góp phần tạo động lực cho việc
tự học của các em học sinh
Phiếu tự học sẽ được giáo viên photo theo từng bài và phát ra cho tất cả học sinh của khối 10 trường THPT Tịnh Biên năm học 2018 - 2019 (trừ lớp đối chứng) để các em thực hiện nhằm giúp nâng cao vốn từ vựng của các em thông qua hoạt động đọc mở rộng và viết lại theo yêu cầu của giáo viên trong phiếu tự học Giáo viên dạy lớp là người trực tiếp hướng dẫn, thu phiếu, sửa và trả phiếu lại cho học sinh Giáo viên cũng chọn ra 2 lớp, 1 lớp làm nhóm thực nghiệm, 1 lớp là nhóm đối chứng để đánh giá chính xác hơn kết quả thực hiện sáng kiến Những lớp còn lại, giáo viên đứng lớp chỉ cho các em thực hiện phiếu tự học, sau đó quan sát
và đánh giá sự khác biệt của các em trước và sau thời gian thực hiện tăng vốn từ vựng thông qua sử dụng các phiếu tự học
Trang 123.2 Thời gian thực hiện:
Việc hướng dẫn các em học sinh tự học nhằm nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua các phiếu tự học thiết kế bởi giáo viên được thực hiện thường xuyên trong suốt học kì I với tất
cả học sinh của khối 10 trường THPT Tịnh Biên (năm học 2018 – 2019) (trừ lớp 10A1) Ngoài
ra, giáo viên chọn lớp được phân công giảng dạy – lớp 10A6 (năm học 2018 – 2019) làm nhóm thực nghiệm để lấy số liệu Còn lớp 10A1 (nhóm đối chứng) được giảng dạy bình thường như trong chương trình dạy khối 10 trước đây để có thể so sánh sự tiến bộ của nhóm thực nghiệm
so với nhóm đối chứng sau thời gian thực nghiệm ở trường THPT Tịnh Biên
3.3 Biện pháp tổ chức:
Việc cải thiện vốn từ vựng cho học sinh là một chuyện lâu dài và không dễ dàng tí nào
Nó đòi hỏi cả người học và người dạy phải có đủ quyết tâm, kiên nhẫn và siêng năng để có thể thực hiện một cách thường xuyên và lâu dài Để nâng cao tính hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải tạo được tính tự giác học tập trong học sinh Để cho các em thật sự tự giác trong học tập là không dễ dàng và đòi hỏi giáo viên phải có một hệ thống biện pháp phù hợp mới có thể giúp các em tự giác tự học và tự học có hiệu quả Để có thể làm được điều này, giáo viên đã thực hiện hệ thống những biện pháp tổ chức sau:
3.3.1 Tạo Dựng Lí Do Tự Học Để Nâng Cao Vốn Từ Vựng Cho Học Sinh:
Hứng thú học tập của các em học sinh sẽ được hình thành nếu các em biết được lí do vì sao các em phải tự học, và cụ thể là vì sao các em phải tự học để có thể nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua việc thực hiện kĩ năng đọc mở rộng kết hợp với kĩ năng viết Tiếng Anh theo yêu cầu của giáo viên trong phiếu tự học Để có thể làm được điều này, ở đầu năm học giáo viên đã chứng minh cho học sinh thấy được sự cần thiết và đúng đắn của việc nâng cao vốn từ vựng thông qua hoạt động đọc mở rộng kết hợp với kĩ năng viết Tiếng Anh
Đầu tiên, học sinh cần biết được đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định được vai trò quan trọng của từ vựng trong quá trình học ngoại ngữ của các em học sinh Thật vậy, nếu ta coi học Tiếng Anh như xây nhà, thì việc học từ vựng chính là xây nền móng cho căn nhà đó
Để có thể giúp các em học sinh nâng cao vốn từ vựng của mình, có 2 cách cơ bản nhất
Đó là học từ vựng có chủ ý (intentional vocabulary learning) và cách học từ vựng ngẫu nhiên (incidental vocabulary learning) thông qua việc đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh hay thông qua hoạt động nói và viết Tiếng Anh
Hulstijn’s (2003) định nghĩa học từ vựng có chủ ý như là cách học từ vựng mà trong đó người học chủ động tìm ra tất cả các từ vựng mà các em cần phải học, sau đó các em tra từ
Trang 13và sau đó học thuộc lòng tất cả các yếu tố này Học từ vựng ngẫu nhiên là cách học mà trong
đó các em nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua các hoạt động đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh, thông qua việc nghe Tiếng Anh một cách thường xuyên hay thông qua việc sử dụng các từ vựng đó khi nói hay viết Tiếng Anh
Một vài tác giả, dẫn đầu là Lewis (1993) đã khẳng định rằng cần phải đặt việc học từ vựng vào vị trí trung tâm trong quá trình học ngoại ngữ của học sinh Một khi từ vựng được học một cách có chủ ý các em sẽ nhớ từ được lâu hơn vì các em đã thật sự tập trung vào những vấn đề này khi các em tiến hành học từ vựng Họ cũng khẳng định vai trò thật sự của sự ghi nhớ trong quá trình học từ vựng Theo họ, việc học từ vựng là một trong những bước đầu tiên của việc học ngôn ngữ thứ hai, tuy nhiên một người sẽ không bao giờ đạt tới bước cuối cùng trong việc nắm vững từ vựng Dù trong tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ thứ hai đi chăng nữa, thì sự nắm bắt một vốn từ mới là một quá trình liên tục Nhiều phương pháp có thể trợ giúp cho việc nắm bắt vốn từ vựng mới, trong đó sự ghi nhớ là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất Mặc dù quá trình ghi nhớ có thể bị xem là chán ngấy và buồn tẻ, việc kết nối một từ trong tiếng
mẹ đẻ với từ tương ứng trong ngôn ngữ thứ hai trước khi nó được ghi nhớ được xem là một trong những phương pháp tốt nhất trong việc nắm vững từ vựng Đến tuổi trưởng thành, học sinh thường đã thu thập được một số phương pháp ghi nhớ Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi cho rằng quá trình ghi nhớ một cách điển hình không yêu cầu quá trình nhận thức phức tạp làm tăng khả năng lưu giữ (Sagarra & Alba, 2006), nhưng quá trình này một cách điển hình vẫn đòi hỏi một lượng lớn số lần lặp lại Các phương pháp khác lại cần nhiều thời gian và lâu hơn để nhớ lại
Ngoài ra học sinh cũng cần biết gần đây cũng có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định về vai trò tích cực của việc đọc mở rộng đối với quá trình học ngoại ngữ nói chung
và đối với việc nâng cao vốn từ vựng nói riêng Thật vậy, Nuttall (1982) đã khẳng định đọc mở rộng là một cách có hiệu quả nhất để cải thiện vốn từ vựng và khả năng đọc hiểu nói chung Hafiz và Tudor (1989) cũng cho rằng chỉ với 3 tháng đọc mở rộng các tài liệu Tiếng anh, các học viên Trung học Phổ thông có thể cải thiện rõ rệt vốn từ vựng của mình từ đó nâng cao khả năng đọc hiểu và cải khả năng viết của mình Theo Paul Nation (1999), học sinh có thể phát triển kiến thức ngôn ngữ của họ thông qua việc đọc mở rộng Bởi vì người học với trình độ khác nhau có thể chọn tài liệu với mức độ khó dễ khác nhau phù hợp với khả năng và trình độ của mình Ngoài ra người đọc cũng có thể chọn lựa những tài liệu với nhiều chủ đề, loại hình khác nhau theo hứng thú và sở thích của mình chứ không phải là cố định và cứng nhắc như những tài liệu cố định trong Sách Giáo Khoa Những tài liệu này là những tài liệu chung cho tất cả các học viên với trình độ ngôn ngữ và sở thích rất khác nhau Nhờ chọn lựa được những tài liệu phù hợp với khả năng và hứng thú của người đọc như vậy nên việc đọc mở rộng đã làm cho người đọc có nhiều hứng thú hơn đối với hoạt động đọc nhờ đó mà khả năng đọc hiểu của
Trang 14họ tăng lên đáng kể Càng giỏi về khả năng đọc hiểu, các em càng thích đọc Càng đọc nhiều, vốn từ vựng của các em sẽ ngày càng được nâng cao Do đó, đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh thật sự có thể giúp các em cải thiện vốn từ vựng của mình
Như vậy, học từ vựng có chủ ý rất quan trọng, nhưng học từ vựng một cách ngẫu nhiên thông qua đọc mở rộng và viết lại theo yêu cầu của giáo viên cũng không kém phần quan trọng Biện pháp nào có thể giúp các em học sinh cải thiện tốt hơn vốn từ vựng của mình đây?
Trong cuộc nghiên cứu của mình, Batia Laufer , một giáo sư của Ngôn Ngữ học ứng dụng của khoa Ngôn Ngữ và Văn học Anh ở trường đại học Haifa, Israel (2004) đã nghiên cứu
để so sánh về hiệu quả của việc học từ vựng có chủ ý với cách học từ vựng ngẫu nhiên thông qua việc đọc mở rộng Bà đã nghiên cứu trên 158 học sinh trung học học Tiếng Anh như ngoại ngữ 2 Trong nhóm thực nghiệm, bà yêu cầu các em đọc những bài văn có chứa các từ vựng
mà các em phải học, trao đổi chúng trong những nhóm nhỏ và trả lời những câu hỏi đọc hiểu ở phía sau Đối với nhóm đối chứng, và yêu cầu các em học trực tiếp ý nghĩa của các từ vựng được đưa ra Mỗi từ vựng đều có kèm theo các câu ví dụ minh họa Tiếp theo bà yêu cầu học sinh của 2 nhóm học thuộc lòng lại tất cả những từ vựng này trong khoảng 15 phút Sau đó bà cho họ làm một bài kiểm tra Hai tuần sau đó, họ tiếp tục làm lại bài kiểm tra này Kết quả là học sinh của nhóm đối chứng làm bài kiểm tra đầu với số điểm cao hơn nhưng lại làm bài kiểm tra thứ 2 với số điểm thấp hơn Cho nên, bà đã khẳng định, học sinh không thể chỉ học từ vựng bằng cách học từ có chủ ý Cách học từ vựng ngẫu nhiên thông qua việc đọc mở rộng các tài liệu Tiếng Anh và viết lại theo yêu cầu thật sự cũng rất cần thiết và có hiệu quả hơn cách học
từ vựng có chủ ý
Tuy nhiên, Hulstijn (2001) lại khẳng định rằng học từ vựng tốt nhất nên được kết hợp từ
cả hai biện pháp Guo Yali ( Trường đại học công nghệ Zhejiang) cũng đã tiến hành một
nghiên cứu về ảnh hưởng của cách học từ vựng có chủ ý, cách học từ vựng ngẫu nhiên và kết hợp cả 2 biện pháp này lại với nhau Kết quả là ông đã phát hiện ra rằng cả hai biện pháp đều dẫn tới kết quả là giúp các em cải thiện vốn từ vựng của mình Nhưng khi kết hợp cả hai biện pháp này lại với nhau thì các em biết được nhiều từ vựng hơn và có thể nhớ từ được lâu hơn
Trên đây là những cơ sở lí luận, lí thuyết giúp chứng minh cho các em học sinh thấy được nếu các em chỉ học từ vựng một cách có chủ ý bằng cách ghi lại các từ mới đã học các
em sẽ dễ dàng quên đi những từ mới đó một cách dễ dàng Nhưng nếu các em tự giác hoàn thành các phiếu tự học theo yêu cầu của giáo viên, nhằm kết hợp giữa cách học từ vựng một cách có chủ ý trong lớp với cách học từ vựng ngẫu nhiên thông qua hoạt động đọc mở rộng và thực hành viết theo yêu cầu của giáo viên, các em sẽ dễ dàng nâng cao được vốn từ vựng của mình và nhớ từ mới lâu hơn Biết được điều này tạo cho học sinh một lí do để tự nguyện hoàn thành việc tự học và tạo được hứng thú tự học cho các em học sinh
Trang 15Những cơ sở lí thuyết giúp tạo nên lòng tin và hứng thú tự học cho học sinh này được giáo viên sinh hoạt với học sinh thuộc nhóm thực nghiệm ở tiết đầu tiên khi giới thiệu về phương pháp học môn Tiếng Anh để giúp tạo lòng tin cho học sinh, giúp các em có được hứng thú tự học và tự học một cách tự giác hơn trong suốt quá trình thực nghiệm
3.3.2 Hướng Dẫn Học Sinh Cách Xây Dựng Kế Hoạch Học Tập:
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhóm thực nghiệm cách xây dựng kế hoạch học tập
từ ban đầu Cũng ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, giáo viên không dạy ngay mà giới thiệu sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để học sinh hiểu và từ đó tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp Giáo viên làm cho học sinh hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể và học sinh hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời gian được xây dựng chi tiết Chẳng hạn, trong quá trình giảng dạy mỗi bài, giáo viên cung cấp nội dung
và thời gian học và kiểm tra để học sinh nắm rõ Đồng thời, giáo viên cho học sinh đánh dấu vào trong sách bài nào học ngày nào, đến tiết nào sẽ kiểm tra Ngoài ra các em học sinh cũng cần phải biết rõ những vấn đề liên quan tới việc tự học nhằm nâng cao vốn từ vựng như: bằng cách nào các em có thể ghi lại nghĩa Tiếng Việt cho các từ Tiếng Anh, thời gian nào thì các em hoàn thành phần thực hành và thời gian nào thì các em phải nộp phiếu tự học để giáo viên kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm để các em làm tốt hơn ở lần tự học sau Để học sinh tự xây dựng kế hoạch học tập thì giáo viên phải là người cung cấp đầy đủ kế hoạch dạy và học của bộ môn
3.3.3 Hướng Dẫn Phương Pháp Học Và Ôn Từ Vựng:
Để có thể nâng cao vốn từ vựng học sinh phải viết lại những từ vựng đã học trong lớp vào một quyển tập học từ vựng riêng hay vào một nơi nào đó mà các em có thể dễ dàng ôn lại khi có thể Các em phải ghi ra từ mới, nghĩa của từ, loại từ, giới từ theo sau nếu có và đưa ra được những câu ví dụ có chứa các từ vựng này, có như vậy thì các em mới có thể học và biết
từ nhiều hơn và học từ một cách có ý nghĩa hơn
Từ vựng mà các em đã học cần phải được ôn đi ôn lại nhiều lần các em mới có thể nhớ
từ lâu Thật vậy, trong quá trình học từ mới, nếu chúng ta thực hiện theo cách yêu cầu các em học từ ở nhà, vào lớp giáo viên trả bài chỉ một lần và sau đó không trả nữa hay không nhắc tới nữa, các em sẽ quên hết các từ mà các em đã học sau khi các em học từ mới khác Còn nếu yêu cầu giáo viên phải trả đi trả lại nhiều lần những từ vựng mà các em đã học thì thời gian lại không cho phép vì có rất nhiều các hoạt động khác phải thực hiện trong 1 tiết học Như vậy, để
có thể nâng cao vốn từ vựng của mình và nhớ từ lâu hơn, học sinh phải làm sao để có thể thường xuyên ôn đi ôn lại những từ mà các em đã học Cách ôn từ không chỉ là ghi từ Tiếng Anh sau đó ghi nghĩa Tiếng Việt, như vậy học sinh sẽ rất chán nãn khi học và cũng không nhớ
Trang 16lâu Để có thể ôn từ một cách có ý nghĩa hơn và hiệu quả hơn, các em nên ôn nghĩa của từ thông qua cách đọc các từ đó trong các bài đọc Trong quá trình đọc, các em phải chú ý đến các
từ mới mà các em đã học Đây cũng là một cách rất hay để ôn lại từ vựng vì các em có thể nhớ được nghĩa của từ các em đã học thông qua ngữ cảnh Thông qua các bài đọc có chứa các từ mới, học sinh cũng biết được những từ mới mà các em đã học được sử dụng trong câu như thế nào Ngoài ra, sử dụng các từ mới đã học để viết lại các bài viết bằng Tiếng Anh cũng là một cách hay và có hiệu quả giúp học sinh nhớ từ lâu hơn
3.3.4 Giao Nhiệm Vụ Cho Các Em Học Sinh Tự Học Ở Nhà Nhằm Nâng Cao
Vốn Từ Vựng:
Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho tất cả học sinh lớp thực nghiệm để các em có thể hoàn thành tốt việc tự học ở nhà Để phát huy tối đa năng lực tự học và thúc đẩy học sinh tận dụng hết thời gian tự học, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh: các em phải làm gì, hoàn thành phiếu tự học như thế nào, trong khoảng thời gian nào các em phải hoàn thành phiếu
tự học Có như thế, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo
Cụ thể, sau khi các em đã học hết một bài trong Sách Giáo Khoa, các em đã được giáo viên cung cấp một số từ vựng nhất định mà các em phải nắm vững theo từng chủ đề của mỗi bài Để giúp học sinh ôn và nhớ các từ vựng này lâu hơn, giáo viên thiết kế các phiếu tự học nhằm giúp các em nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua hoạt động đọc mở rộng và viết lại theo yêu cầu của giáo viên Phiếu tự học sẽ được cung cấp cho tất cả học sinh lớp thực nghiệm và các em học sinh phải hoàn thành phiếu tự học trong một khoảng thời gian nhất định theo yêu cầu của giáo viên Sau đó, các em sẽ trao đổi các phiếu tự học với nhau, làm việc theo cặp hay theo nhóm để kiểm tra và sửa các phiếu tự học cho nhau Phiếu tự học sau đó được thu lại và được giáo viên xem qua, nhận xét, đánh giá và trả lại cho học sinh sau khi đã xem xong Để đảm bảo tính khả thi và tiết kiệm công sức cho giáo viên, phiếu tự học được đánh giá một cách nhẹ nhàng, không đòi hỏi giáo viên phải chỉnh sửa tất cả những lỗi sai của học sinh, mà chỉ đánh giá kết quả phiếu như một tổng thể xem học sinh đã hoàn tất hay chưa, làm bài ở mức độ nào: đạt hay không đạt Học sinh sau khi nhận phiếu tự học có thể hoàn thành phiếu một mình, hay cùng làm với các bạn khác trong lớp Phiếu tự học sau khi đã được học sinh hoàn thành và giáo viên đã xem xét sẽ được lưu trữ lại cho học sinh để mỗi khi học sinh rảnh rỗi các em có thể xem lại Giáo viên sẽ chọn những phiếu hoàn thành tốt nhất để lưu trữ trên lớp, cũng xem như là một cách thức để tuyên dương và động viên những em làm tốt Do đó, phiếu tự học không cần phải sửa cụ thể cho học sinh vì tự các em sẽ biết mình làm đúng hay sai dựa vào những phiếu tự học làm tốt được giáo viên treo triển lãm ở trong lớp học
Vấn đề tự học ở học sinh là một vấn đề không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập đạt kết quả cao, đòi hỏi học sinh phải tự giác, không ngừng tìm tòi học hỏi Ngoài ra, sự định
Trang 17hướng của người thầy đóng vai trò quyết định thúc đẩy sự thành công trong việc chiếm lĩnh tri thức của người học nói chung và trong việc nâng cao vốn từ vựng nói riêng.
3.3.5 Tự Học Tự Vựng Theo Cặp Hay Theo Nhóm:
Việc tự học của các em sẽ trở nên chán nãn và không có ý nghĩa nếu các em chỉ học một mình rồi sau đó nộp phiếu tự học lên cho giáo viên kiểm tra Thật sự các em sẽ không có
đủ tự tin rằng mình đã làm tốt phiếu tự học khi nộp phiếu lên cho giáo viên Chính vì thế giáo viên đã yêu cầu học sinh sửa phiếu tự học của nhau theo cặp hay theo nhóm trước khi nộp phiếu lên cho giáo viên kiểm tra Ngoài ra hoạt động này lại một lần nữa cho học sinh cơ hội gặp lại những từ mới mà các em đã học thông qua việc đọc các bài đọc, các đoạn văn mà các bạn khác viết hay kiểm tra việc ghi nghĩa của các từ mới trong phiếu tự học mà các em nhận sửa Việc làm này cũng tạo cho học sinh sự tự tin khi nộp phiếu tự học cho giáo viên vì các em
đã được bạn khác xem và kiểm tra phiếu tự học trước cho các em rồi Ngoài ra, hoạt động này cũng giúp hình thành thói quen tự đánh giá và đánh giá người khác trong học sinh
3.3.6 Kiểm Tra và kiểm soát theo hướng khuyến khích Việc Tự Học Từ Vựng Ở
Nhà Của Các Em Học Sinh:
Kiểm tra và kiểm soát việc tự học để nâng cao vốn từ vựng của học sinh là một việc làm không thể thiếu của giáo viên trong quá trình tự học của học sinh Tuy nói là tự học, nhưng để học sinh tự học theo hướng tự giác hoàn toàn là không thể đối với đa số các em học sinh trung học Các em bị phân tán rất nhiều ở hoạt động thú vị khác như sử dụng điện thoại, chơi game, tham gia các mạng xã hội, ra ngoài với bạn Để các em học sinh có thể tự giác tự học, giáo viên phải bước đầu xây dựng lại thói quen tự học của các em và kiểm tra chặt chẽ cũng như không ngừng khuyến khích, khích lệ việc tự học của các em Kiểm tra việc tự học của các em cũng giúp cho giáo viên nắm được các em học sinh đã làm gì trong quá trình tự học? Các em thực hiện việc tự học tốt hay chưa? Tốt ở điểm nào? Các em cần cải thiện như thế nào ở lần tự học cho bài sau? Để có thể giúp giáo viên vừa kiểm soát được quá trình tự học của các em học sinh, vừa có thể khuyến khích việc tự học của các em, giáo viên yêu cầu các em học sinh tiến hành tự học sau đó viết lại trên phiếu tự học và nộp lại cho giáo viên Vì đa số các em học sinh đều thích điểm số nên giáo viên có thể tận dụng lợi thế này, cho điểm cộng cho những em học sinh hoàn thành sớm và tốt các phiếu tự học Thỉnh thoảng giáo viên có thể tuyên dương trước cả lớp những em học sinh hoàn thành tốt và thường xuyên việc tự học ở nhà để lấy đó làm động lực thúc đẩy phong trào tự học trong các em học sinh Tất cả các hoạt động tự học của học sinh sẽ được kiểm soát rất dễ dàng thông qua các phiếu tự học được thiết kế theo từng bài Sau đây là ví dụ điển hình của một trong những phiếu tự học được thiết kế bởi giáo viên trong quá trình hướng dẫn các em học sinh khối 10 tự học nhằm nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua hoạt động đọc mở rộng và viết Tiếng Anh theo yêu cầu của giáo viên:
Trang 18SELF STUDY CARD OF UNIT 1 For Improving Vocabulary Through Extensive Reading and Writing
Name:
Your partner’s name: _
Class: _
Learning date: From _ to
Topic: Daily Activity
Surf on the internet
Have breakfast, have lunch, have dinner
lead the buffalo to the field
plough and harrow my plot of land
pumps water
repair the banks of our plot of’ land
do the transplanting
B READ THE TEXT AGAIN:
The alarm goes off at 4:30 I get up and go down to the kitchen to boil some water for my morning tea I drink several cups of tea, have a quick breakfast and then lead the buffalo to the field It takes me 45 minutes to get ready I leave the house at a quarter past five and arrive in the field at exactly 5:30 I plough and harrow my plot of land and at a quarter to eight I take a short rest During my break I often drink tea with my fellow
peasants and smoke local tobacco, I continue to work from a quarter past eight till 10:30 Then t go home, take a short rest and have lunch with my family at 11:30, After lunch I usually take an hour’s rest
Mrs Tuyet: At 2:30 in the afternoon we go to the field again We repair the banks of our plot of’ land Then my husband pumps water into it while I do the transplanting We work for about two hours before we take
a rest We finish our work at 6 p.m We have dinner at about 7 p.m., then we watch TV and go to bed at about
10 p.m Sometimes we go and see our neighbours for a cup of tea We chat about our work, our children and our
Trang 19plans for the next crop Although it’s a long day for us, we are contented with what we do We love working and
we love our children
Task 1: Mind map: Use the following phrases to fill in the map about Mr Vy’s daily activities: go to bed,
finish work, repair the banks of the plot of land, pumps water into it, plough and harrow his plot of land, lead the
buffalo to the field , leave the house, get up, take a short rest, arrive in the field, continue to work , boil some
water, have breakfast, have lunch, drink tea, go to the field again, have dinner
TASK 2: Note down in your notebook what Mr Vy do everyday Write in a form of a paragraph Begin your
_
_
5:30 7.
_
7p.m 16. _
_
10p.m 17. _ _
Trang 20TASK 4: In a form of a paragraph, write about your daily activities Begin your note with:
For me, I wake up at 7am every morning I press the snooze button five times every morning before I turn off
the alarm and get up I have a cup of coffee and make breakfast I usually read the newspaper while I have
breakfast at 7:45 am My children like to have a shower after they have breakfast but I like to have a shower
before I get dressed My wife brushes her long hair, and I have short hair so I comb my hair How do you do
your hair in the morning? It is important to brush your teeth, and some women like to put make-up on After I
have finished work, I go home to cook dinner In my house I usually make dinner The family eat dinner
together at 7:30pm.After dinner I make sure that my children do their homework, and then I chill out on the
sofa and watch television at 8p.m On television I usually watch the News My wife usually comes to tell me to
take the rubbish out, or wash the dishes Our children feed the dog and the cat before they go to bed and I tell
them to go to the bathroom too If I am sick I have to take my medication, but then I get into my pyjamas and
_
_
_
_
_
_
_
go to bed
Trang 21set the alarm so I wake up in the morning The last things I do is lock the door, turn off the lights, and go to bed at 11pm It doesn't take me long to fall asleep
For work, I go to work at 8.45am every morning I usually drive to work I always check my emails
when I get to work, but I don't always reply to them immediately I take a taxi or a train if I have a lunch meeting I never take the bus because it is too slow When I am at my desk I usually work on the computer, even
during morning tea At 1pm most days I have lunch At 3pm we have afternoon tea, and that is when we usually
talk and eat cake When you are in the office you probably have a lot of papers It is important for you to file
your papers, and so that you can find them again you need to organise your files When I work I have to make telephone calls If an important issue happens I ask my secretary to organise a meeting Once a month I report
to my boss, but maybe you have to report to your boss more often I usually write a document that my boss can
read For other daily activities, I exercise at least three times a week I usually go to the gym before work, but
sometimes I go after work I meditate every morning so that I feel less stressed during the day
For weekly activities, I go grocery shopping once a week at the local supermarket My family does the housework together every Saturday morning I usually do the washing on Sunday morning and when the machine is finished I hang the clothes out to dry On Sunday morning we go to church, and if there is lots of noise coming from next door, sometimes we fight with the neighbour On Saturday night my parents stay at home and I go out with friends Even my friends that live at home call their parents each week Every evening,
I water the garden I usually pay someone to wash the car, but my partner says I should do it, so sometimes I
argue with my partner about that If we are angry at the neighbour, we seek vengeance by annoying his dogs I work in an important office, so I have to shine my shoes each day Sometimes we hire a movie, because we don't like to illegally download music and films I make sure that I synchronise my iPod so I always have new music
on it.To get our shopping, we go to the mall in the car Last week I forgot to recharge my travel card, and I had
to argue with a bus driver I couldn't call the office because I forgot to recharge my cellphone!
Task 1: VOCABULARY REVIEW:
Make sure that you understand all of the phrases in bold Write the phrases you know and don’t know their meanings here and use a dictionary to check their meaning if you don’t know:
Trang 22Task 2: Complete the chart about Peter’s daily activities
Task 3: SELF REFLECTION ACTIVITY:
Of all the above activities, which are the activities do you DO everyday? MAKE A LIST:
Get up, _
Peter’s daily activities
Daily activities at home
get up: 7:00a.m
Trang 23Drive to work, _
Task 4: Complete the following writing in reflection with Peter’s daily activities:
Like Peter, everyday I get up I also _ However, I don’t work I don’t drive to work
Task 5: Complete a note about your mother’s activities
Task 6: Complete a note about your father’s activities
My mother’s daily activities
Everyday, she gets up at…
My father’s daily activities
Everyday, he gets up at…
Trang 24Phân Tích Cấu Trúc Của Một Phiếu Tự Học:
Trong phiếu tự học của mỗi bài học nhằm giúp học sinh nâng cao vốn từ vựng của mình thông qua 2 kĩ năng đọc mở rộng và viết gồm có 3 phần lớn:
➢ Ghi Nghĩa Của Những Từ Vừa Mới Học Theo Từng Chủ Đề (Vocabulary):
Trong phần này, học sinh có cơ hội ghi lại nghĩa của những từ vựng có liên quan đến chủ đề mà các em vừa mới học trong lớp Phần này của phiếu giúp cho các em một lần nữa ghi lại để nhớ nghĩa Tiếng Việt của những từ vựng mà các em đã học Nếu quên, học sinh có thể tra từ điển hay hỏi các bạn để hoàn thành phiếu Ngoài ra, phần từ vựng này cũng giúp học sinh lưu trữ từ mới, để khi các em có quên, có thể mở ra để xem lại hay có tài liệu để đọc đi đọc lại mỗi khi có thể để các em có thể nhớ từ lâu hơn Phần này cũng giúp gợi nhớ lại nghĩa của một số từ mới mà các em đã học để tạo điều kiện dễ dàng cho việc đọc lại bài đọc ở phần thứ hai
➢ Đọc Lại Bài đọc Trong Sách Giáo Khoa:
Phần thứ hai của phiếu tự học là bài đọc trong Sách Giáo Khoa Giáo viên cố ý đưa bài đọc này vào phiếu tự học nhằm mục đích yêu cầu học sinh đọc lại bài đọc một lần nữa Mặc dù bài đọc đã được dạy trong lớp, nhưng thực chất không phải học sinh nào cũng thật sự đọc bài
và tự làm bài theo yêu cầu trong Sách Giáo Khoa Thật vậy, vì tất cả học sinh đã có Sách Giáo Khoa trong tay, nên các em biết được trong tiết học giáo viên sẽ dạy cái gì Để đối phó với giáo viên, các em dễ dàng tìm được đáp án cho tất cả các phần trong sách mà không mất nhiều công sức Thêm vào đó là việc học sinh sử dụng sách cũ, đã qua sử dụng nên hầu hết các sách này đã được ghi đáp án sẵn Vì lí do đó, không phải học sinh nào cũng có cơ hội thật sự đọc và hiểu các bài đọc trong Sách Giáo Khoa
Mặc dù sử dụng lại bài đọc trong sách nhưng trong phiếu tự học giáo viên yêu cầu học sinh khai thác bài đọc theo một hướng khác: Đó là sử dụng sơ đồ tư duy mind – map để khai thác và hiểu nội dung bài đọc Vì học sinh đã được học một lần trong Sách Giáo Khoa, nên việc đọc lại và hiểu bài đọc khá dễ dàng đối với các em Do đó, việc hoàn thành sơ đồ tư duy cũng không phải là một việc làm khó khăn Phiếu tự học được thiết kế sao cho để hoàn thành được sơ đồ tư duy, học sinh có cơ hội sử dụng các từ mới mà các em đã học
Sau phần hoàn thành sơ đồ, giáo viên yêu cầu học sinh viết lại nội dung bài đọc theo một cách khác, với sự hướng dẫn làm bài Khi thiết kế phần này, giáo viên cũng chú ý thiết kế sao cho học sinh có thể sử dụng vốn từ vựng mà các em đã học và cần nắm vững để tạo cơ hội cho các em sử dụng từ mới vào hoạt động viết nhằm giúp các em nhớ từ lâu hơn
Sau khi đã viết lại một phần nội dung bài đọc, giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thành
sơ đồ tư duy về bản thân các em có liên quan đến nội dung hay chủ đề đã học Học sinh có thể làm được điều này về bản thân các em dựa trên sơ đồ tư duy mà các em vừa mới hoàn thành
Trang 25Sau phần hoàn thành sơ đồ tư duy về bản thân, học sinh được yêu cầu dựa vào sơ đồ tư duy để viết một đoạn văn về bản thân các em với nội dung gần giống với nội dung mà các em vừa mới đọc Như vậy chỉ qua hai phần của phiếu tự học, học sinh đã có được ít nhất 5 lần gặp lại và sử dụng những từ vựng mà các em vừa mới học
➢ Đọc Mở Rộng Và Viết Lại Theo Yêu Cầu Trong Phiếu Tự Học:
Ở phần này học sinh được đọc thêm một tài liệu khác cùng chủ đề nhưng dài hơn và cung cấp thêm từ mới có liên quan đến chủ đề mà học sinh đã học Để tạo điều kiện dễ dàng cho học sinh trong việc hiểu nội dung bài đọc, giáo viên thiết kế tiếp phần đầu tiên cho hoạt động đọc mở rộng là phần ôn từ vựng (Vocabulary Review) Để dễ dàng cho hoạt động ôn từ, khi cung cấp bài đọc mở rộng, giáo viên in đậm những cụm từ có liên quan đến chủ đề Vì bài đọc cho học sinh đọc mở rộng có sử dụng những từ mà các em đã học cùng chủ đề và cung cấp thêm từ mới nên trong phần ôn từ vựng, giáo viên yêu cầu học sinh ghi ra những cụm từ mà các em đã biết và những cụm từ các em chưa biết vào khung ôn từ Đối với các từ mà học sinh
đã biết thì các em chỉ cần ghi nghĩa vào Những từ mà các em chưa biết các em phải tra từ điển
để hoàn thành phiếu tự học
Sau phần ôn từ, học sinh đã phần nào hiểu được nội dung của bài đọc Đến đây, một lần nữa, giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy mind – map để khai thác nội dung bài đọc Hoạt động này một lần nữa tạo cho học sinh cơ hội sử dụng từ lại từ mới mà các em đã học để hoàn thành những yêu cầu trong phiếu tự học
Phần kế tiếp của phiếu tự học yêu cầu học sinh so sánh sự khác nhau giữa các em với những gì được đề cập trong bài đọc Hoạt động so sánh này được thiết kế từng bước một: đi từ
từ, cụm từ , câu và đoạn văn, từ dễ đến khó, đảm bảo sao cho học sinh có thể hoàn thành phiếu
tự học một cách dễ dàng và không vượt quá khả năng của các em
Phần liên hệ với bản thân cũng được mở rộng ra, không những với bản thân các em mà còn cả với những người thân xung quanh các em như: cha, mẹ, bạn thân, người nổi tiếng, người mà các em yêu thích, ngưỡng mộ……
3.3.7 Điểm Mới Và Sáng Tạo Trong Phương Pháp Tự Học Từ Vựng Thông Qua Đọc
Mở Rộng Và Viết Theo Yêu Cầu Trong Phiếu Tự Học:
Đối với học sinh Trung Học Phổ Thông, đa số từ vựng có được là do quá trình học từ vựng có chủ ý (intentional vocabulary learning), do giáo viên dạy trên lớp trong các tiết Reading và Listening Cách học này cũng có lợi ích riêng của nó Thông qua học từ vựng một cách cố ý, học sinh có thể học được cách phát âm, dấu nhấn, ý nghĩa của từ, loại của từ, … Tuy nhiên cách học từ vựng này cũng có những hạn chế nhất định Chỉ thông qua cách học từ vựng
Trang 26như thế này, học sinh không thể hiểu hết về ngữ pháp, về cách sử dụng và về ngữ nghĩa của từ vựng khi chúng được dùng trong các tình huống khác nhau
Do đó để có thể cho học sinh hiểu và biết về cách sử dụng, về ngữ nghĩa của từ trong từng tình huống, từng ngữ cảnh cụ thể, học sinh phải học từ vựng theo cách học từ ngẫu nhiên (incidental vocabulary learning) thông qua việc đọc mở rộng các tài liệu và viết lại bằng Tiếng Anh Trong thực tế, học từ vựng ngẫu nhiên là một cách không thể thiếu cho các em để trở nên độc lập hơn bởi vì giáo viên không thể dạy cho họ được hết tất cả các từ mới, cũng bởi giới hạn
về thời gian và cũng như không thể để học sinh nhớ quá nhiều từ mới Bên cạnh đó, cách học này cũng giúp học sinh phát triển kỹ năng đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh, đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với các em trong quá trình học tập một ngôn ngữ thứ hai
Tuy nhiên cách học từ vựng ngẫu nhiên (incidental learning) này tuy rất hay và hữu ích nhưng không thể áp dụng cho học sinh của trường Trung Học Phổ Thông Tịnh Biên vì lượng tài liệu bằng Tiếng Anh hợp với khả năng của các em ở đây không nhiều, các em lại không có nhiều thời gian để tập trung đọc mỗi ngày và các em cũng chưa có được ý thức tự giác tự đi tìm tài liệu để đọc khi không được sự yêu cầu của giáo viên Và sau khi đọc xong các em cũng không biết nên viết cái gì Thật vậy, các em hoàn toàn không biết đọc hay viết cái gì, đọc và viết như thế nào và đọc và viết để làm gì
Thấy được điểm yếu và điểm mạnh của từng cách học như thế này, giáo viên đã mạnh dạn đổi mới, thêm vào cách học từ vựng ngẫu nhiên thông qua hoạt động đọc mở rộng và viết lại bằng Tiếng Anh với sự hướng dẫn và kiểm soát từ giáo viên thông qua các phiếu tự học Kết hợp hai cách học từ vựng này lại với nhau để có thể hạn chế được điểm yếu của từng cách học, từ đó tìm ra một biện pháp học từ vựng có hiệu quả nhất nhằm giúp các em học sinh có thể cải thiện vốn từ vựng của mình Thật vậy, thông qua cách học từ vựng có chủ ý, học sinh
có thể học và nhớ được từ vựng, ý nghĩa, cách phát âm, loại của từ và giới từ đi theo Đây là cách học từ vựng bắt buộc và được thực hiện bởi tất cả giáo viên và học sinh của trường Nhưng khi thực hiện việc tự học từ vựng thông qua phiếu tự học, học sinh có thể nâng cao vốn
từ vựng của mình bằng cách học từ vựng ngẫu nhiên Thông qua các bài đọc và các hoạt động được cung cấp bởi giáo viên trong phiếu tự học, các em học sinh có thể gặp lại những từ vựng
mà các em đã học một cách có chủ ý trong từng ngữ cảnh cụ thể Từ đó có thể giúp các em thật
sự hiểu về các từ vựng này và có thể nhớ từ được lâu hơn
Ngoài ra, phiếu tự học giúp giáo viên kiểm soát được việc tự học để nâng cao vốn từ vựng của học sinh Phiếu tự học cho các em biết các em cần học cái gì, nên học cái gì và học như thế nào Phiếu tự học cung cấp sẵn bài đọc cho học sinh, nên các em không cần tìm kiếm tài liệu ở đâu khác Mà cho dù có yêu cầu học sinh tìm kiếm thì các em cũng không biết mình nên tìm và đọc tài liệu nào Phiếu tự học được thiết kế nhằm dẫn dắt học sinh theo từng bước