TÀI LIỆU ÔN VĂN 9, LUYỆN THI VÀO 10 CUỐN CHIẾU THEO TỪNG TÁC PHẨM Mời quý thầy cô tham gia nhóm: Tài liệu ôn HSG ngữ văn 6.7.8.9. để tải tài liệu cho tiện a Lấy trọn bộ vui lòng liên hệ qua zalo hoăc mesenger: (Trọn bộ: bộ đề chia theo từng văn bản, chủ đề hơn 300 đề 620trang, TL ôn 550 trang kèm bộ đề đọc hiểu ngoài CT 90 đề 150 trang) (Đề đọc hiểu ngoài chương trình tham khảo trang 8191 nhé thầy cô 90 đề 150 trang) PHẦN 1: ÔN KIẾN THỨC CHUYÊN ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI ÔN TẬP VĂN BẢN: ĐỒNG CHÍ( Chính Hữu) Nhà thơ Chính Hữu tâm sự về bài thơ “Đồng chí” MỘT VÀI KỈ NIỆM NHỎ VỀ BÀI THƠ ĐỔNG CHÍ Vào cuối năm 1947, tôi tham gia chiến dịch Việt Bắc. Địch nhảy dù ở Việt Bắc và hành quân từ Bắc Kạn đến Thái Nguyên.Chúng tôi phục kích từng chăng đánh, truy kích binh đoàn Beaufré.Khi đó tôi là chính trị viên đại đội.Phải nói là chiến dịch vô cùng gian khố.Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bộ áo cánh, đầu không mũ, chân không giày. Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không có chăn màn, ăn uống rất kham khổ vì đang trên đường hành quân truy kích địch. Tôi cũng phái có trách nhiệm chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau trận đó, tôi ốm, phải nằm lại điều trị; đơn vị cử một đồng chí ở lại săn sóc tôi. Trong khiốm, nằm ở nhà sàn heo hút, tôi làm bài thơ Đồng chí. Bài thơ Đồng chí được làm sau bài thơ Ngày về.Tôi thấy lúc này làm thơ cao xa quá là vô trách nhiệm với những người cùng chiến đấu và hi sinh với mình.Trong bài thơ Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội.Suốt cả cuộc chiến đấu chỉ có một chỗ dựa dườngnhưlàduy nhấtđếtồntại, để chiếnđấulàtìnhđồngchí,tìnhđồngđội.Đồngchíở đây là tình đồng đội, không có đồng đội tôi không thể nào làm tròn được trách nhiệm, không có đồng đội tôi cũng đã chết lâu rồi.Bài Đồng chí là lời tâm sự viết ra để tặng đồng đội, tặng người bạn nông dân của mình.Bài thơ viết có đối tượng.Tôi hiểu và quý mếnngườiđồngđộicủatôinêntiếngnóithơcagiảndịvàchânthật.TuynhiênĐồngchí không phải là bài thơ nôm na. Trước Cách mạng, tôi có làm một ít thơ.Trong thơ, tôi cố gắng để nói cái cần nói, không nói dài, nói thừa.Tôi mong có được sự hàm súc, cô đọng của lời thơ, và hình ảnh thơ phải mang tính tạo hình.Tôi là lính của Trung đoàn Thù đô.Tôi vào bộ đội ngày 19 12 1946. Bước vào cuộc kháng chiến, tuổi trẻnhiều lúc bốc men say. Bài Ngày về phán ánh một mặt khía cạnh của tâm trạng tôi và bài Đồng chí cũng phản ánh một mặt của tình cảm tôi.Bài thơ được làm nhanh.Tôi làm để tặng bạn.Tôi không phải là nông dân và quê hương tôi cũng không phải trong cảnh nước mặn đồng chua” hoặc đất cằn cỗi sỏi đá.Cái tôi trong bài thơ có những chi tiết không phải là tôi mà là của bạn, nhưng về cơ bản thì là của tôi.Tất cả những hình ảnh gian khổ của đời lính thiếu ăn, thiếu mặc, sốt rét, bệnh tật... bạn và tôi đều cùng trải qua.Trong những hoàn cảnh đó, chúng tôi là một, gắn bó trong tình đồng đội.Viết về bộ đội nhưng thơ tôi thiên vềkhaithácđờisốngnộitâm,tìnhcảm,ítcónhữngchuyệnđùngđoàng, chiếnđấu. Tôi làm bài Đồng chí cũng là tình cảm chân tình tự nhiên không có sự gò ép, gắng gượng nào và nó cũng nằm trong tư duy thơ ca quen thuộc của tôi.Bài thơ có những hình ảnh cô đúc như đầu súng trăng treo. Tôi thấy có bạn phân tích hình ảnh đầu súng là tượng trưng cho người chiến sĩ đang bảo vệ quê hương và vầng trăng tượng trưng cho quê hương thanh bình. Tôi không nghĩ thế khi viết, còn hình tượng thơ có thể gợi cho người đọc nghĩ thế là tùy ở các bạn.Vấn đề đối vối tôi đơn giản hơn. Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng.Đi phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện với nhau tạo ra hình ảnh đầu súng trăng treo. Lúc đầu tôi viết là đầu súng mảnh trăng treo sau đó bớt đi một chữ. Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh bốn chữ này còn có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát. Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn ; rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật. Rừng mùa đông ở Việt Bắc rất lạnh, nhất là vào những đêm có sương muối.Sương muối làm buốt tê da như những mũi kimchâm và đến lúc nào đó bàn chân tê cứng đến mất cảm giác. Tất cả những gian khố của đời lính trong giai đoạn này thật khó kế hết nhưngchúng tôi vẫn vượt lên được nhờ ở sự gắn bó, tiếp sức của tình đồng đội trong quần ngũ. Cho đến hôm nay, mỗi khi nghĩ đến tình đồng đội năm xưa, lòng tôi vẫn còn xúc động, bồi hồi.(Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội,1994) I. Kiến thức cơ bản 1. Tác giả Chính Hữu ( 1926 – 2007), tên khai sinh là Trình Đình Đắc, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Chính Hữu làm thơ từ năm 1947, thành công chủ yếu về đề tài người lính và chiến tranh, đặc biệt là những tình cảm cao đẹp của người lính, như tình đồng chí, đồng đội, tình quê hương, sự gắn bó giữa tiền tuyến và hậu phương… Thơ Chính Hữu giản dị và chân thực, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Tác phẩm chính : Đầu súng trăng treo ( 1966), Thơ Chính Hữu ( 1977), Tuyền tập Chính Hữu 1988). Ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. 2. Văn bản a) Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ Đồng chí được sáng tác đầu năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc ( thu đông 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Như vậy, bài thơ là kết quả của những trải nghiệm thực và những cảm xúc sâu sa , mạnh mẽ của tác giả với đồng đội trong chiến dịch Việt Bắc. Bài thơ được in trong tập Đầu súng trăng treo ( 1966) b, Phương thức biểu đat: Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm. (biểu cảm là chủ yếu). c, Bố cục của văn bản. + Phần 1: 7 câu đầu: Những cơ sở hình thành tình đồng chí, đồng đội + Phần 2: 10 câu tiếp: Những biểu niện của tình đồng chí đồng đội + Phần 3: 3 câu cuối: Sức mạnh và vẻ đẹp của tình đồng chí đồng đội d, Thể thơ: Tự do e) Nghệ thuật Bài thơ viết theo thể thơ tự do. Ngôn ngữ thơ mộc mạc giản dị, chi tiết chân thực. Hình ảnh gợi cảm và cô đúc, giàu ý nghĩa biểu tượng. Hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. g) Nội dung : Bài thơ ca ngợi tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính Cách mạng. Đồng thời còn làm hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Niềm tự hào về thế hệ cha anh, khơi gợi tinh thần yêu nước sâu ắc bao thế hệ. 3, Ý nghĩa nhan đề văn bản Đồng chí là những người cùng chung chí hướng, lí tưởng. Đồng chí gợi cảm nghĩ về tình cảm đồng chí, đồng đội. Đó là một loại tình cảm mới, tình cảm đặc biệt xuất hiện và phổ biến trong những năm tháng cách mạng kháng chiến Đồng chí còn là cách xưng hô của những người cùng trong một đoàn thể cách mạng, của những người lính, ngời công nhân, người cán bộ từ sau cách mạng. > Vì vậy, đồng chí là biểu tượng của tình cảm cách mạng và thể hiện sâu sắc tình đồng đội. Định hướng GVtiếp cận bài thơ Cơ sở hình thành nên tình đồng chí (Đồng chí là cùng gia cấp, cùng lí tưởng) – Trước hết, tình đông chí bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân nghèo khó: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Hai câu thơ giới thiệu về quê hương của những người lính. Anh và tôi đều là những người lính xuất thân từ nông dân, có lẽ vì thế mà mối quan tâm hàng đầu của họ là đất đai, giới thiệu về mình là giới thiệu về đồng đất quê mình. Nước mặn đồng chua là vùng ven biển, đất khó làm ăn; đất cày lên sỏi đá là vùng đồi núi trung du, đất khó canh tác. Họ đều chung cái nghèo, đó là cơ sở đồng cảm giai cấp của những người lính. Chính điều đó khiến họ từ mọi phương trời xa lạ tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách mạng và trở nên thân quen với nhau. – Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung lí tưởng, sát cánh chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc: Súng bên súng, đầu sát bên đầu Hình ảnh thơ có sự sóng đôi, gợi nên tình gắn bó của những người chung một đội ngũ, chung lí tưởng cao cả. – Tình đồng chí, đồng đội đã nảy nở và ngày càng gắn bó trong cuộc sống, chiến đấu biết bao gian khổ của người lính: Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Câu thơ đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình thân hữu – tình tri kỉ. Những hình ảnh thơ ở đây vừa cụ thể, sinh động, vừa mang ý nghĩa khái quát gợi liên tưởng sâu xa. – Từ sự sóng đôi của “anh” và “tôi” trong từng dòng thơ đến sự gần gũi “anh với tôi” trong một dòng thơ và đến thành một đôi nhưng “đôi người xa lạ” rồi mới thành “đôi tri kỉ” – đôi bạn trí cốt, hiểu nhau sâu sắc và cao hơn nữa là “Đồng chí”. Từ rời rạc, riêng rẻ, dần nhập thành chung, thành một, khăng khít, keo sơn, khó tách rời. Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai chữ “Đồng chí” và dấu chấm than tạo một nốt nhấn, như một tiếng gọi thiết tha, xúc động vừa như một phát hiện, một kết luận, vừa như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ, làm nổi rõ một tất yếu: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau và mở ra ý tiếp – đồng chí còn như thế nào nữa. Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí (Đồng chí là thấu hiểu nhau, là đồng cam cộng khổ) – Đồng chí, đó là sự cảm thông sâu xa những hoàn cảnh, tâm tư, nỗi niềm sâu kín của nhau: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Ba câu thơ chỉ nói về “anh”, về bạn bởi vì họ cùng chung hoàn cảnh, chung nỗi niềm, đó cũng là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình. Người lính ra đi chiến đấu để lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê (ruộng nương, gian nhà). “Mặc kệ” là quyết ra đi, mang dáng dấp trượng phu, nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với quê hương. Hình ảnh “gian nhà không” đầy gợi cảm, vừa gợi cái nghèo nàn, xơ xác, vừa gợi cái trống trải trong lòng người ở lại khi người đàn ông ra trận. Để cả cơ nghiệp của mình hoang trống để ra đi, đó là một sự hi sinh. Hiểu rõ lòng nhau và hiểu cả nỗi niềm của người thân của nhau nơi hậu phương là tình tri kỉ. “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” là một cách nói tế nhị và giàu sức gợi, vừa là nhân hóa vừa là hoán dụ. Câu thơ nói về quê hương nhớ người lính mà thực ra là người lính nhớ nhà. Nỗi nhớ hai chiều nên càng da diết. Chỉ nói ai khác nhớ, đó cũng là cách tự vượt lên mình, nén tình riêng vì sự nghiệp chung. – Gắn bó với nhau trong đời thường, người lính càng gắn bó với nhau trong chiến đấu. Chia sẻ mọi tâm tư nỗi niềm để cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính với biết bao gian khổ: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Những người lính cùng chịu bệnh tật – những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng thiếu, cùng rách. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Họ nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời sống. Những cặp câu thơ sóng đôi, đối xứng nhau (từng cặp hoặc trong từng câu) góp phần diễn tả sự sẻ chia, giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính. Chữ “anh” và chữ “tôi” đến đây lại cùng xuất hiện, để cùng gánh vác, sẻ chia,không ai giành lấy cho mình sự ưu ái hơn. Tình đồng chí cho họ sức mạnh để vượt lên buốt giá – “miệng cười buốt giá” và ấm áp giữa buốt giá: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”, nắm lấy bàn tay nhau để ấm đôi bàn chân, để vượt lên gian khó. Những bàn tay như biết nói. Họ gắn bó với nhau để có thêm sức mạnh, niềm tin, hướng tới lí tưởng cao đẹp. Và đó là tình gắn bó sâu dày suốt trường kì kháng chiến. Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí (Đồng chí là cùng chung chiến hào) Nhiệm vụ chủ yếu của người lính là đánh giặc, vì vậy tình đồng chí cao đẹp nhất là tình gắn bó thiêng liêng nơi tuyến đầu chống giặc, nơi sự sống và cái chết kề nhau trong tích tắc. Tình đồng chí đã được tôi luyện trong thử thách gian lao và đây là thử thách lớn nhất. Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Ba câu thơ như dựng lên bức tượng đài sừng sững về tình đồng chí – trong hoàn cảnh khắc nghiệt, đêm, rừng hoang, sương muối, những người lính “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” – tạo nên tư thế “thành đồng vách sắt” trước quân thù, làm mờ đi cái gian khổ, ác liệt của cuộc chiến đấu. Hình ảnh họ tượng hình lại trong chi tiết bất ngờ, độc đáo: “Đầu súng trăng treo”. Câu thơ không trực tiếp nói về những người đồng chí mà vẫn hiển hiện tình đồng chí. Rất thực mà cũng rất lãng mạn. Trăng trôi trên nền trời, nhìn lên, trăng như treo đầu ngọn súng. Hình ảnh này có nguồn gốc thực tế. Trăng trôi trên nền trời, đến thời điểm nào đó, nhìn trăng lên, trăng như treo trên đầu ngọn súng. Nhịp 22 gợi sự sóng đôi và như gợi sự bát ngát, lơ lửng chứ không cột chặt. Súng và trăng cũng là một cặp đồng chí, tô đậm vẻ đẹp của cặp đồng chí kia. Tình đồng chí khiến người lính vẫn bình thản và lãng mạn bên thềm cuộc chiến đấu, khiến học thấy cuộc đời vẫn đẹp đẽ, thơ mộng ngay giữa nguy hiểm, gian lao, khiến họ có sức manh trong tư thế, có sự đằm thắm trong tâm hồn tình cảm. Hình ảnh thơ ở đây giàu sức khái quát , gợi nhiều liên tưởng. Súng: hình ảnh của chiến tranh, khói lửa; trăng: hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc sống thanh bình. Sự hòa hợp giữa súng và trăng toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính và tính đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống chiến đấu. Người lính cầm súng là đẻ bảo vệ độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc. Súng và trăng, thực và mộng, cứng rắn và dịu hiền , chiến sĩ và thi sĩ, chất chiến đấu và chất trữ tình,…Đó là các mặt bổ sung cho nhau của cuộc đời người lính cách mạng. Xa hơn, có thể xem đó là biểu tượng của thơ ca kháng chiến, nền thơ kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn. Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ: Qua bài thơ về tình đồng chí hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách mạng, anh vệ quốc quân năm xưa. Bài thơ này là bức chân dung đẹp về người lính cụ Hồ. – Đó là những người lính xuất thân từ nông dân, ra đi từ những miền quê nghèo khó trên khắp mọi miền đất nước. Họ đã gác lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê để ra đi chiến đấu nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với làng quê thân yêu. – Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sót run người, trang phục phong phanh giữa mùa đông buốt giá (áo rách, quần vá, chân không giày). Những gian lao, thiếu thốn càng làm sáng lên nụ cười của họ (miệng cười buốt giá). – Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí, đồng đội keo sơn, thắm thiết. Tình đồng chí sưởi ấm lòng người chiến sĩ, tiếp cho họ sức mạnh, vượt lên tất cả, chiến đấu và chiến thắng. Hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ kết tinh và tỏa sáng trong đoạn cuối bài thơ. Tình đồng chí xuất phát từ tình yêu nước và là cội nguồn của chiến thắng, kết tinh những tình cảm xã hội cao đẹp, làm nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sĩ. Đó cũng là truyền thống cao đẹp của quân đội ta. Cảm nhận bài thơ Đồng chí từ nhiều góc nhìn Ý kiến của Nguyễn Đức Quyền (…) Câu thơ hai chữ Đồng chí Gần như đứng giữa bài thơ, riết cái thân bài thơ thành một cái lưng ong, nửa trên là một mảng quy nạp (như thế này là đồng chí), nửa dưới là một diễn dịch (đồng chí còn là như thế này nữa) một kết cấu chính luận cho một bài thơ trữ tình lạ. Chủ đề dồng chí lại hiện lên trong từng cấu truc ngôn ngữ, nghĩa là trong từng tế bào thơ. Tôi với anh khi thì xếp dọc: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Khi thì xếp ngang: Tôi với anh đôi người xa lạ Khi thì điệp điệp (nét thẳng của ý chí và nét cong của tình cảm): Súng bên súng, đầu sát bên đầu Để đến đêm rét trùm chung một cái chăn thì nhập lại thành đồng chí. Và cái chăn đắp lại thì tâm sự mở ra. Họ soi vào nhau, anh hiểu tôi, tôi hiểu đến nỗi lòng sâu kín của anh: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay (…) Họ hiểu nhau đến chiều sâu như thế là để dựa vào nhau mà đi đến chiều cao này: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Chung nhau một cái chăn là một cái chăn là một cặp đồng chí, nắm cả bàn tay và ấm cả đôi bàn chân là một cặp đòng chí. Đêm nay, rừng hoang sương muối “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” là một cặp đồng chí. Và lãng mạn thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí: Đầu súng trăng treo Cặp đồng chí này nói về cặp đồng chí kia, nói được cái cụ thể và gợi đến cái vô cùng. Súng và trăng, cứng rắn và hiền dịu, súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí: (Nguyễn Đức Quyền, Báo Văn nghệ số 301134 ngày 2771985) Ý kiến của Vũ Nho “Những dòng thơ cuối cùng cũng như một tượng đài sừng sững cho tình cảm đồng chí thiêng liêng. Trên nền hùng vĩ thiên nhiên, cánh rừng trải rộng, bầu trời lồng lộng, người chiến sĩ đứng với khẩu súng và vầng trăng. Đây là những hình ảnh thực trong những đêm phục kích giặc của tác giả, nhưng chính tầm cao tư tưởng và lí tưởng chiến đấu của quân đội cách mạng đã tạo cho hình ảnh có một vẻ đẹp khái quát, tượng trưng”. (Vũ Nho, Để cảm hiểu và thưởng thức những bài thơ ở lớp 8 và lớp 9, 1991) Đề tài đồng chí là một nỗi ám ảnh với hồn thơ Chính Hữu. Trong bài “Giá từng thước đất”, Chính Hữu đã viết: Năm mươi sáu ngày đêm bom ầm pháo dội Ta mới hiểu thế nào là đồng đội Đồng đội ta là hớp nước uống chung Nắm cơm bẻ nửa Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa Chia khắp anh em một mẩu tin nhà Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết. III.Tìm hiểu văn bản Hình ảnh anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháptrong bài thơ “Đồng chí” của ChínhHữu. Dàn ý đại cương Dàn ý chi tiết 1.Mở bài: Giới thiệu vài nét Chính Hữu là nhà thơ quân đội hoạt động trong hai cuộc kháng về nhà thơ Chính chiến chống Pháp. Thơ ông hầu như chỉ viết về người lính và chiến Hữu tranh. Giới thiệu về bài thơ “Đồng chí” Giới thiệu vấnđề nghị luận Bài thơ “Đ ồng chí” được ông viết năm 1948,in trong tập “Đầu súng trăng treo”. Đến với bài thơ, người đọc cảm phục và yêu quí người lính cách mạng thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp 2.Thân bài: a. Người lính giản dị, mộc mạc… Họ là những người nông dân b. Họ cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu. c. Ý chí nghị lực phi thường, vượt lên gian khó. Đọc bài thơ, cảm nhận đầu tiên của chúng ta là hình ảnh người lính hiện lên rất chân thực như cuộc sống còn nhiều vất vả và lo toan của họ. Ngỡ như từ cuộc đời thực họ bước thẳng vào trang thơ, trong cái môi trường quen thuộc bình dị thường thấy ở làng quê đất Việt: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Ngôn ngữ thơ giản dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân quê. Tác giả tuy không chỉ đích danh, bản quán nơi cư ngụ từng người, song ta bắt gặp thành ngữ quen thuộc “nước mặn đồng chua” và “đất cày lên sỏi đá” thể hiện rõ nhất nguồn gốc xuất thân của những người lính. Họ đến từ mọi miền Tổ quốc, từ những vùng đồng bằng châu thổ quanh năm ngập lụt đến vùng đồi núi trung du khô cằn sỏi đá. Quê hương xa cách nhau, mỗi người mỗi nơi nhưng giống nhau ở cái nghèo, sự lam lũ, khó nhọc của người dân quê Việt Nam. Chính sự đồng cảnh ấy đã khiến họ xích lại gần nhau, để từ những người xa lạ, họ tập hợp lại trong hàng ngũ cách mạng và trở thành quen biết, thân thiết với nhau: Súng bên súng, đầu sát bên đầu Những hình ảnh thơ rất thực nhưng cũng đầy sức gợi. Câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên đầu” là câu thơ giàu ý nghĩa. Điệp từ “bên” cùng nghệ thuật sóng đôi có tác dụng khẳng định sự gắn bó khăng khít giữa những người lính. Họ cùng chung nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc “súng bên sung”, cùng chung lí tưởng, suy nghĩ “đầu sát bên đầu”. Dù gian khổ đến đâu, dù nguy hiểm, sóng gió đến nhường nào, các anh vẫn trung thành với con đường của mình đã chọn. Đọc câu thơ, ta không nhận ra “anh” và “tôi” nữa màhọ đã trở thành “những anh”, “những tôi” nhòa đi sau những khẩu súng,những máiđầu. >Thì ra cuộc kháng chiến chống Pháp đã trở thành cuộc “gặp gỡ” của bao người yêu nước. Mới đây thôi, họ đã “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” làm cuộc cách mạng tháng Tám thành công. Giờ đây họ lại sát cánh bênnhau thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Chính lí tưởng chung của thời đại đã gắn kết họ với nhau trong hàng ngũ quân đội cáchmạng. Ở nơi chiến trường đầy khói bom thuốc súng, người chiến sĩ phải chống chọi với cái rét: Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Cái rét ở rừng già Việt Bắc đã nhiều lần vào trong thơ bộ đội chống Pháp vì đó là một thực tế ai cũng nếm trải trong những năm chinh chiến ấy: d. Tình đồng chí, đồng đội… e. Tình yêu quê hương, đất nước của người lính Thái độ ra đi cứu nước dứt khoát, kiên quyết Nỗi nhớ quê hương h. Càng gian khó, họ càng yêu thương nhau. Ý nghĩa của cái nắm bàn tay Tâm hồn lãng mạn, baybổng. k. Vẻ đẹp hiện thực và lãng mạn. Gian khó là nơi thử thách tình đồng chí Ý nghĩa biểu tượng của hìnhảnh “Đầu súng trăng treo”. Nhận xét đánh gi 3.Kết bài: + Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế Gió qua rừng đèo Khế gió sang. + Đêm mưa rình giặc tai thao thức Mùa lại mùa qua rét nhức xương. ( Tố Hữu – “Lên Tây Bắc”) Nhưng câu thơ của Chính Hữu nói đến cái rét gợi cho người đọc một cảm giác ấm cúng của tình đồng đội, nghĩa đồng bào. Cái hay của nhà thơ là đã biết đem “đêm rét chung chăn” vào bài thơ, sưởi ấm mối tình đồng chí lên thành mức độ tri kỉ. Những người lính đến với nhau nhẹ nhàng, bình dị, vừa có cái chung của lí tưởng lớn, vừa có cái riêng của một đôi bạn ý hợp tâm đầu. Và cứ giản dị như thế, những con người cùng chung gian khó ấy trở thành đồng chí của nhau: Đồng chí Câu thơ chỉ có hai tiếng và kết thúc bằng dấu chấm than tạo một nốt nhấn, vang lên như một sự phát hiện, lời khẳng định. Đồng thời như một chiếc bản lề khép mở sự lí giải cội nguồn của tình đồng chí ở sáu câu thơ trước với những biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí trong những câu thơ tiếp theo của bài thơ. => Nếu coi bài thơ như một cơ thể sống thì hai tiếng “Đồng chí” như một trái tim hồng nuôi sống cả bài thơ. Nó có sức vang dội và ngân nga mãi trong lòng người đọc. => Tám mươi năm nô lệ nay mới được gọi nhau là đồng chí sung sướng và kiêu hãnh biết bao Từ nay tình cảm gì cũng phải nâng lên thành tình đồng chí, phải đo bằng tình đồng chí. Tình cảm cao đẹp này đã trở thành nguồn cảm hứng lớn nhất, dồi dào nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này. => Chính Hữu đã có lời nhận xét: “Những năm đầu cách mạng từ “đồng chí” mang ý nghĩa thiêng liêng và máu thịt vô cùng. Nơi khó khăn, cuộc sống của người này trở nên cần thiết với người kia. Một người có thể thay thế cho gia đình, cho cha mẹ, vợ con đối với một người khác. Hơn nữa, họ còn bảo vệ nhau trước mũi súng của kẻ thù, cùng nhau đi qua cái chết, chống lại cái chết, cùng nhau thực hiện một lí tưởng cách mạng. Đó là ý nghĩa thiêng liêng của tình đồng chí bấy giờ”. Những người lính, những đồng chí ấy ra đi chiến đấu với tinh thần tự nguyện: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Từ bao đời nay, ai cũng biết rằng ruộng nương và nhà cửa là những tài sản quý giá nhất đối với người nông dân vì họ phải tốn biết bao mồ hôi nước mắt mới có được. Cho nên họ vô cùng gắn bó sâu nặng, gìn giữ, trân trọng với những thứ của cải ấy.Vậy mà họ lạidễdàng gạtbỏlạisaulưng,lênđườngtheotiếnggọicủaquê hương, đất nước. Từ “mặc kệ” mộc mạc như cách nói của người dân quê vang lên, ẩn chứa một thái độ ra đi kiên quyết, dứt khoát, mạnh mẽ vào chốn sa trường vì họ hiểu rằng: nước nhà chưa yên, thì gia đình họ, cuộc sống ở chốn làng quê cũng không thể yên được. Bỏ lại chuyện riêng tư như người trí thức thành thị “xếp bút nghiên lên đường”, họ sẵn sàng hi sinh cho dân tộc. Ai ngờ những người nông dân quê mùa, hiền lành như hạt lúa, củ khoai, cả đời chỉ biết cầm cày gieo lên mầm xanh, nhân lên sự sống cho quê hương đất nước lại dễ dàng từ bỏ xóm làng đến thế Các anh đã biết đặt tình cảm chung lên tình cảm cá nhân, đặt tình yêu nước lêntrên tình cảm gia đình. Hai tiếng “mặc kệ” không phải hiểu theo nghĩa phó mặc mà trong ngôn ngữ giản dị của người lính là “Cứ chờ đó, cách mạng thành công mọi chuyện sẽ làm lại sau”. Đó mới chính là ngôn ngữ, là ý tưởng mà họ muốn thể hiện trong hành động “dứt áo” ra đi củamình. Vì thế quê hương luôn khiến họ trào dâng nỗi nhớ: Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Đã bao lần ta bắt gặp hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình trong ca dao xưa nhưng vẫn thật mới mẻ trong thơ Chính Hữu. Biện pháp nghệ thuật hoán dụ “Giếng nước gốc đa” gợi ta nhớ tới nơi hò hẹn của những người dân quê, nhắc đến những kỉ niệm một thời gắn bó trên mảnh đất quê hương. Song hai hình ảnh này còn được nhân hóa. Nói “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là tấm lòng của người ra đi không nguôi nhớ về quê hương. “Giếng nước gốc đá” cồn cào đến chừng nào Đời sống tình cảm của họ với làng quê da diết vô cùng. Bao tình cảm sâu nặng như đều dồn tụ trong tiếng “nhớ” giản dị ấy =>Song, góc nhớ thương đó không làm cho các anh mềm lòng, mất đi ý chí cứu nước mà nó thôi thúc, động viên người lính nông dân bền gan vững chí, cầm chắc tay súng lập công. Bởi lẽ nước nhà sớm độc lập thì các anh mới sớm được trở về với quê hương, xóm làng… Đọc bài thơ, chúng ta còn cảm phục người lính nông dân ở tinh thần vượt khó, vượt khổ: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Địa bàn chiến đấu của người lính thời kì lúc bấy giờ ở nơi rừng thiêng nước độc, chướng khí âm u nên hầu như người lính nàocũng bị mắc căn bệnh sốt rét ác tính. Căn bệnh quái ác này làm cho họ tóc rụng da xanh, gầy còm yếu ớt, thậm chí tử vong nữa. Ai đã từng nói: “Đánh trận tử vọng ít, sót rét tử vongnhiều”. Nhưng đó không phải là gian khổ duy nhất mà người lính phải trải qua. Họ còn phải chịu đựng cái lạnh giá, trong khi quân phục lại không đủ đầy: người lính thường xuyên phải mặc “áo rách”, “quần vá” và “chân không giày”. Vậy mà họ vẫn không một lời kêu ca, không một tiếng phàn nàn, một lời than thở… => Từ một dân tộc nô lệ với gậy tầm vong giáo mác, chúng ta vùng lên chọi lại xe tăng đại bác của kẻ thù. Trong cuộc chiến đấu một mất một còn này, anh bộ đội là người trực tiếp chịu đựng biết bao gian khổ. Hơn nửa thế kỉ trôi qua, đọc lại những vần thơ của Chính Hữu mấy ai mà không cầm được nước mắt, mấy ai không thán phục sức chịu đựng phi thường của các anh. Viết về hiện thực cuộc sống của người lính nông dân, Chính Hữu khôngphảiđịnhkểkhổđểlàmbàithơtrởnênbithảm,lòngngười bi quan mà chỉ để ngợi ca người lính: họ biết đồng cam cộng khổ: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Câu thơ giản dị, nhẹ nhàng, đậm chất lính. Hai tiếng “Thương nhau” đặt lên đầu câu khiến cho nhịp thơ như lắng lại. “Thương” chứ không phải là “yêu”. Trong “Thương” không chỉ có tình yêu mà còn có cả sự cảm thông, xót xa cho nhau. Chính trong tâm thế đó, người lính tìm đến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa. + Đó là cái nắm tay thân mật, thắm thiết, siết chặt tình đồng chí keo sơn, truyền cho nhau hơi ấm để giúp đồng đội vượt qua cái giá lạnh nơi núi rừng cũng là cái nắm tay truyền ý chí chiến đấu, truyền ngọn lửa tình cách mạng. Cái bắt tay âm thầm lặng lẽ không ồn ào, không cần lời nói hoa mĩ, họ trao nhau hơi ấm từ lòng bàn tay, hơi ấm từ trái tim, vì họ đã hiểu rõ lòng nhau, vì họ “thương nhau”. Hơi ấm lan tỏa cả hai người, làm hai người nở một nụ cười, dù là “buốt giá”. + Đây là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh bất diệt của người lính Việt Nam trong kháng chiến. Những người nông dân vốn chỉ lo “côi cút làm ăn” ( Nguyễn Đình Chiểu), quanh năm gắn bó với ruộng đồng, con trâu…N hưng tình yêu quê hương lên tiếng giục giã họ cất bước lên đường. Những gian khổ là nhiều, những hi sinh là không ít, nhưng tình yêu Tổ quốc và tình đồng chí thiêng liêng cao đẹp đã tiếp thêm sức mạnh để người lính vượt qua những khó khăn thử thách đó, đểhọ vững tay súng, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệTổ quốc. Ba câu kết khắc họa thật đẹp bức chân dung của người lính trong một đêm canh gác ở rừng: Đêm nay rừng hoang sươngmuối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăngtreo. Ba câu thơ ngắn là sự kết tinh tình đồng chí. Giữa nơi chiến trường khốc liệt, thiên nhiên khắc nghiệt ( “rừng hoang”, “sương muối”) hình ảnh những người lính kề vai nhau ngời sáng đẹp biết bao Họ truyền cho nhau hơi ấm sức mạnh và niềm tin để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn Tổ quốc. Có thể nói chính hoàn cảnh khắcnghiệt của núi rừng hoang lạnh, hiểm nguy lại là nơi thử thách tình đồng đội thiêng liêng cao cả của những người lính. Hình ảnh người lính tỏa sáng trong câu thơ kết bất ngờ, độc đáo: “Đầu súng trăng treo”. Trăng như treo trên đầu súng gợi ra vẻ đẹp hư ảo, gần mà xa, thực mà mộng, một không gian bát ngát bao la có cái gì cứ bông bênh khó tả. Họ đã vượt lên gian khổ, vượt lên thiếu thốn, hiểm nguy để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của trăng, của thiên nhiên đất trời ban tặng. Ánh trăng lúc này như người bạn tri âm tri kỉ đối với người lính. Vầng trăng trên bầu trời như xuống thấp, soi sáng đôi bạn, muốn ngợi ca, soi rõ tình đồng đội thiêng liêng cao cả của họ. Chỉ một nét vẽ khéo léo, một sự tưởng tượng hết sức diệu kì, Chính Hữu đã xóa đi bao ám ảnh của rừng hoa sương muối, của cái chết, của trận đánh sắp bắt đầu, nâng hình ảnh người lính cao hơn, sáng hơn, và ngàn lần đẹp hơn. => Hóa ra cuộc đời người lính nông dân mộc mạc, chân chất kia, tâm hồn cũng rất lãng mạn bay bổng biết bao Họ không chỉ biết siết cò súng mà còn biết làm thơ nữa Tâm hồn chiến sĩ hòa quyện với tâm hồn thi si đã tạo nên nét đẹp độc đáo của người lính nông dân. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” còn mang ý nghĩa tượng trưng. “Súng” là biểu tưởng cho sắt thép, lửa đạn chiến tranh, khiến cho nhân loại căm giận lên án. Còn “trăng” biểu tượng cho hòa bình, hạnh phúc – ước mơ ngàn đời con người muốn vươn tới. => Chính Hữu đã liên kết hai hình ảnh đối lập trong một câu thơ để diễn tả một ý tưởng sâu sắc: người chiến sĩ của chúng ta quyết tâm cầm chắc cây súng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình. Để cho em thơ ngủ ngon, để cho nhân dân hạnh phúc, yên bình, để vầng trăng kia sáng mãi, các anh chỉ có cách duy nhất: cầm súng. Với cây súng các anh đã trở thành linh hồn của đất nước, của không gian và thời gian. Với cây súng các anh đã thêu dệt nên những bản tình ca không thể nào quên trong những năm tháng không thể nào quên của dân tộc. =>“Đầu súng trăng treo” là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất viết về người chiến sĩ trong thời kì chống Pháp: gian khổmà anh dũng, hiện thực mà thơmộng. Chủ đề của bài thơ được nâng cao và lắng sâutrong lòng người đọc cũng là nhờ hình ảnh thơ tuyệt đẹp này. Và Chính Hữu cũng đã lấy hình ảnh thơ này làm tựa đề cho tập thơ gồm hai mươi tư bài của mình. Thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị mộc mạc, bút pháp hiện thực, không một chút tô vẽ đắp điểm, không bình luận, thuyết minh. Bài thơ thiên về khai thác đời sống nội tâm tình cảm của người lính. Vẻ đẹp của “Đồng chí” là vẻ đẹp đời sống tâm hồn người lính mà nơi phát ra vầng sáng lung linh nhất là mối tình đồng đội, đồng chí hòa quyện vào tình giai cấp. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” ở cuối bài nâng vẻ đẹp người lính lên đến đỉnh cao khái quát, trong đó có sự hài hòa giữa hiện thực và lãng mạn, đồng thời mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. III.ĐỌC HIỂU BÀI TẬP 1: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí Câu 1: Em hãy nêu tóm tắt nội dung của đoạn trích trên? Trả lời: Đoạn trích trên thể nói tới cơ sở hình thành tình đồng chí: + Chung cảnh ngộ, hoàn cảnh xuất thân nghèo khó. + Cùng chung hoàn cảnh, lý tưởng chiến đấu. + Hình thành trên sự sẻ chia, đồng cảm mọi gian lao, mọi niềm vui nỗi buồn. Câu 2: Em hãy nêu một thành ngữ có trong đoạn thơ trên. Giải thích nghĩa của thành ngữ đó. Trả lời: Thành ngữ được sử dụng trong đoạn thơ trên: “Nước mặn đồng chua”: vùng đất nghèo ven biển nhiễm phèn, nhiễm mặn khó làm ăn. “Đất cày lên sỏi đá”: nơi đồi núi, trung du, đất đá bị ong hóa, khó canh tác. → Hai thành ngữ này để nhằm chỉ ra sự tương đồng về cảnh ngộ, xuất thân nghèo khó là cơ sở hình thành tình đồng chí. Câu 3: Nêu cấu trúc câu thơ sóng đôi được sử dụng trong đoạn thơ trên và nêu tác dụng của cấu trúc đó trong việc thể hiện nội dung đoạn thơ. Trả lời: Hai câu thơ đối ứng nhau về ý: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá Sự đối ứng “quê hương anh làng tôi”; “nước mặn đồng chua” – đất cày lên sỏi đá”khắc họa được sự nghèo khó về xuất thân, cảnh ngộ, đó là cơ sở hình thành tình đồng chí, tạo nên sự nhịp nhàng đồng điệu giữa những người lính. Súng bên súng, đầu sát bên đầu Câu thơ đối xứng nhau ngay trong từng vế câu, làm nổi bật hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt nhưng những người lính vẫn sát cánh bên nhau, cùng nhau chiến đấu, cùng nhau đối diện với hiểm nguy. Câu 4: Có bạn viết: “Chỉ với 7 câu văn đã cho người đọc thấy được sự tương đồng và gắn bó của những người lính trong cuộc kháng chiến chống Mĩ”. Câu văn trên bạn viết sai ở đâu, hãy sửa lại cho đúng và chuyển câu trên thành câu bị động. Trả lời: Sửa câu: “Chỉ với bảy câu thơ người đọc thấy được sự tương đồng và gắn bó của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp”. Câu 5: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”, nêu tác dụng của biện pháp đó. Trả lời: Biện pháp điệp từ được sử dụng trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” nhằm tạo nên sự đối ứng trong một câu thơ: + Gợi lên sự khắc nghiệt, nguy hiểm của chiến tranh (hình ảnh súng sẵn sàng chiến đấu). + Thể hiện sự chung sức, cùng nhau đoàn kết, chiến đấu. Câu 6: Từ “tri kỉ” trong bài có ý nghĩa gì? Em hãy chép chính xác một câu thơ trong bài em đã học cũng sử dụng từ tri kỉ, ghi rõ tên tác giả tác phẩm.So sánh hai từ tri kỉ đó. Trả lời: Từ “tri kỉ” có nghĩa: thấu hiểu mình, hiểu bạn như hiểu bản thân mình. Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy có chứa từ tri kỉ: “Vầng trăng thành tri kỉ” Từ tri kỉ trong bài đồng chí diễn tả sự thấu hiểu giữa 2 người lính cùng chiến tuyến, cùng lý tưởng chiến đấu, cùng hoàn cảnh chiến đấu. Từ tri kỉ trong bài Ánh trăng diễn tả sự đồng điệu thấu hiểu của trăng với con người, của con người với chính quá khứ của mình. Tri kỉ trong bài Đồng chí tuy hai nhưng một. BÀI TẬP 2. Cho câu thơ: “Quê hương anh nước mặn đồng chua” a) Chép tiếp 5 câu thơ tiếp theo. Cho biết đoạn thơ nằm trong bài thơ nào? Của ai? Hoàn cảnh sáng tác. b) Câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng? c) Đoạn thơ gợi cho em nhớ tới bài thơ nào cũng viết về tình đồng chí, đồng đội của người lính trong chương trình Ngữ văn 9. Chép lại câu thơ thể hiện cử chỉ thân thiện và tình cảm của những người lính cách mạng. Cho biết tên tác giả, tác phẩm. d) Viết đoạn văn khoảng 12 dòng theo cách diễn dịch. Phân tích đoạn thơ trên để thấy được cơ sở bền chặt hình thành tình đồng chí . Gợi ý : a, Tự trả lời b) Câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ, hoán dụ. Cách nói hàm súc, giàu hình tượng, vừa tả thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng. Nghệ thuật hoán dụ “súng”, “đầu”: “súng” biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu. “Đầu” biểu tượng cho lí tưởng. Tả thực tư thế chiến đấu của người linh khi có giặc, tượng trưng chung hành động và lí tưởng của người lính. Tác dụng: Chính Hữu sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ, hoán dụ trong câu thơ “Súng bên súng đầu sát bên đầu” cho ta thấy sự đoàn kết, gắn bó keo sơn của tình đồng đội, sự gắn kế trọn vẹn cả về lí trí, lẫn lí tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc. c) Câu thơ thể hiện cử chỉ thân thiện và tình cảm của người lính cách mạng: “Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi” Thuộc tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến Duật. d) Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn có độ dài khoảng 12 dòng theo lối diễn dịch, qui nạp, hay tổng phân hợp, có một câu ghép Yêu cầu về nội dung: Cần làm nổi bật nội dụng sau: Sự gắn bó của những con người từ những vùng quê nghèo khổ khác nhau: xa lạ tri kỉ Họ cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu Chú ý vào các từ ngữ hình ảnh giàu sức gợi: chung chăn, tri kỉ, súng bên súng, đầu sát bên đầu. Đoạn văn tham khảo: Đoạn thơ trên trích trong văn bản “Đồng chí” – Chính Hữu sáng tác năm 1946 đã rất thành công trong việc thể hiện được cơ sở bền chặt hình thành tình đồng chí. Mở đầu là hai câu thơ:“Quê hương anh nước mặn đồng chua, Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Nghệ thuật đối xứng “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” giúp ta hình dung ra những người lính đều là con em của những người nông dân từ các miền quê nghèo khó, hội tụ về đây trong đội ngũ chiến đấu. “Anh với tôi đôi người xa lạ, Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Từ “đôi” chỉ hai người, hai đối tượng chẳng thể tách rời nhau, thể hiện sự đoàn kết, gắn bó keo sơn kết hợp với từ “xa lạ” làm cho ý xa lạ được nhấn mạnh hơn. Từ phương trời tuy chẳng hẹn quen nhau nhưng họ là những người cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ, trong trái tim của họ nảy nở lên những ý chí quyết tâm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tình đồng chí – tình cảm ấy không chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lí trí lẫn lí tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc. “Súng bên súng đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Chính Hữu sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp từ qua từ “súng”, “đầu”, “bên” và nghệ thuật hoán dụ “súng, đầu” đã thể hiện điều đó.Từ “chung” ở đây bao hàm nhiều nghĩa: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát vọng, …“Tri kỉ” cho thấy họ là những đôi bạn thân thiết, luôn sát cánh bên nhau không thể tách rời. Tóm lại, những người lính tuy xuất thân từ những vùng quê nghèo khó nhưng họvẫn chung mục đích, chung một lí tưởng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. BÀI TẬP 3: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Anh với tôi hai người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí (Theo Chính Hữu, Đồng chí, trong Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, 2005, trang 128) 1. Trong những câu thơ trên có một từ bị chép sai. Đó là từ nào ? Hãy chép lại chính xác câu thơ đó. Việc chép sai từ như vậy ảnh hưởng đến giá trị biểu cảm của câu thơ như thế nào ? 2. Câu. thứ sáu trong đoạn thơ trên có từ tri kỉ. Một bài thơ đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 9 cũng có câu thơ dùng từ tri kỉ. Đó là câu thơ nào ? Thuộc bài thơ nào ? Về ý nghĩa và cách dùng từ tri kỉ trong hai câu thơ đó có điểm gì giống nhau, khác nhau ? 3. Xét về cấu tạo và mục đích nói, câu thơ Đồng chí lần lượt thuộc các kiểu câu gì? câu thơ này có gì đặc biệt? Nêu ngắn gọn tác dụng của việc sử dụng kiểu câu đó trong văn cảnh? 4. Câu thứ bảy trong đoạn thơ trên là một câu đặc biệt. Hãy viết đoạn văn khoảng 10 câu phân tích nét đặc sắc của câu thơ đó. Gợi ý : 1. Trong đoạn thơ có từ bị chép sai là hai, phải chép lại là đôi :Anh với tôi đôi người xa lạ. Chép sai như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá trị biểu cảm của câu thơ :Hai là từ chỉ số lượng còn đôi là danh từ chỉ đơn vị. Từ hai chỉ sư riêng biệt, từ đôi chỉ sự không tách rời. Như vậy, phải chăng trong xa lạ dã có cơ sở của sự thân quen ? Điều đó tạo nền móng cho chuyển biến tình cảm của họ. 2. Câu thơ trong bài Ánh trăng của Nguyễn Du có từ tri kỉ : hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ Từ tri kỉ trong hai câu thơ cùng có nghĩa chỉ đôi bạn thân thiết, hiểu nhau. Nhưng trong mỗi trường hợp cụ thể, nét nghĩa có khác : ở câu thơ của Chính Hữu, tri kỉ chỉ tình bạn giữa người với người. Còn ở câu thơ của Nguyễn Duy, tri kỉ lại chỉ tình bạn giữa trăng với người. 3. Tác dụng: – Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu, là bản lề khép mở ý thơ… Về nội dung: Giúp thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà thơ: biểu hiện sự cô đặc, dồn thụ sức nặng tư tưởng, cảm xúc của tác giả…) 4. Viết đoạn văn : Về nội dung, cần chỉ ra được : Câu thơ chỉ có hai tiếng và dẩu chấm than, là nốt nhấn, là lời khẳng định. Gắn kết hai đoạn của bài thơ, tổng kết phần trên và mở ra hướng cảm xúc cho phần sau : cội nguồn của tình đồng chí và những biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí. Về hình thức : không quy định cụ thể, nên có thể tự lựa chọn cấu trúc đoạn cho phù hợp. Đoạn văn tham khảo: Bài thơ ” Đồng chí” của Chính Hữu ca ngợi tình cảm cao đẹp của những người lính anh bộ đội cụ Hồ trong đó tính hàm xúc của bài thơ được đặc biệt thể hiện ở dòng thơ thứ 7 trong bài thơ ” Đồng chí”, dòng thơ chỉ có một từ kết hợp với dấu chấm than, đứng riêng thành một dòng thơ và có ý nghĩa biểu cảm lớn, nhấn mạnh tình cảm mới mẻ thiêng liêng – tình đồng chí. Đây là tình cảm kết tinh từ mọi cảm xúc, là cao độ của tình bạn, tình người, có nghĩa được bắt nguồn từ những tình cảm mang tính truyền thống, đồng thời là sự gắn kết của bài thơ, nó là bản lề khẳng định khép lại cơ sở hình thành tình đồng chí của sáu câu thơ trước, còn với những câu thơ phía sau là sự mở rộng, sự triển khai biểu hiện cụ thể của tình đồng chí, với ý nghĩa đặc biệt như vậy nên dòng thơ thứ 7 đã được lấy làm nhan đề cho bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. BÀI TẬP 4: Cho đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi : (…) Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. (…) 1, Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm nào? Của ai? Từ Đồng chí nghĩa là gì? Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên bài thơ của mình là Đồng chí? 2, Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” 3, Nêu những khó khăn mà người lính phải trải qua. 4, Qua đoạn thơ trên, em có suy nghĩ gì về sức mạnh của tình đồng đội, đồng chí. 5, Dựa vào đoạn thơ trên, hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 câu) theo cách lập luận tổng hợp – phân tích – tổng hợp trong đó có sử dụng phép thế và một phủ định để làm rõ sự đồng cảm, sẻ chia giữa những người đồng đội. (Gạch dưới câu phủ định và những từ ngữ dùng làm phép thế). Gợi ý: 1, Trích từ tác phẩm “Đồng chí” của Chính Hữu. Đồng chí : người có cùng chí hướng, lí tưởng. Người cùng ở trong một đoàn thể chính trị hay một tổ chức cách mạng thường gọi nhau là “đồng chí”. Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, “đồng chí” trở thành từ xưng hô quen thuộc trong các cơ quan, đoàn thể, đơn vị bộ đội. Bài thơ được đặt tên “Đồng chí” nhằm nhấn mạnh sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng – những người có cùng chung cảnh ngộ, lí tưởng chiến đấu, gắn bó keo sơn trong chiến đấu gian khổ thời chống Pháp. Tình đồng chí vừa là tình chiến đấu, vừa là tình thân. Cả hai đều là máu thịt, hữu cơ, nó là sinh mạng con người cầm súng. Nó còn là lời nhắn gửi, lời kí thác của nhà thơ với người, với mình, nó là tiếng gọi sâu thẳm, thiêng liêng, nó là vật báu phải giữ gìn trân trọng. 2, Hoán dụ kết hợp nhân hóa cho ta thấy nỗi nhớ 2 chiều: quê hương, hậu phương nhớ người lính và người lính cũng 1 lòng gắn bó yêu mến quê hương 3, Những khó khăn, thiếu thốn của người lính: Áo anh: rách vai Quần tôi: vài mảnh vá Chân: không giày => Bằng bút pháp tả thực + liệt kê, nhà thơ đã làm nổi bật lên những khó khăn, thiếu thốn về quân trang, quân dụng của những người lính. 4, Yêu cầu • Hình thức: từ 57 dòng, đảm bảo đủ 3 phần chính của đoạn văn. • Nội dung Đồng chí, đồng đội là cùng nhau chia sẻ khó khăn, thiếu thốn: “Anh với tôi”“từng cơn ớn lạnh, sốt run người...” “miệng cười buốt giᔓthương nhau tay nắm lấy bàn tay” => Sức mạnh của tình đồng đội, đồng chí giúp người lính hoàn thành nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn để hướng về tương lai tốt đẹp 5, Tình đồng chí cao đẹp đã mang lại sự đồng cảm, chia sẻ sâu sắc giữa những người đồng đội (1). Tuy xuất thân từ những làng quê cụ thể khác nhau nhưng những người chiến sĩ ấy đã có cùng một cảnh ngộ (2). Họ đã phải từ giã ruộng nương, làng mạc để bước chân vào quân ngũ (3). Họ để lại sau lưng những người thân với cuộc sống khó khăn, vất vả, với những tình cảm nhớ thương tha thiết (4). Bước chân vào cuộc chiến đấu trong giai đoạn đầu gian khổ, những người lính không có cả những trang phục bình thường, quen thuộc của một người bộ đội (5). Áo thì rách vai, quần thì có vài mảnh vá, chân thì không giày (6). Nhưng tinh thần của họ vẫn lạc quan : miệng cười buốt giá (7). Họ lại yêu thương, đoàn kết, gắn bó nhau trong hoàn cảnh thiếu thốn ấy : “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” (8). Tình đồng chí như một ngọn lửa nồng đã sưởi ấm tâm hồn, cuộc sống của những người vệ quốc quân Việt Nam (9). Chính tình đồng chí cao đẹp đó đã mang lại sức mạnh và làm nên chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp (10). (1) : Tổng hợp nêu nội dung chính của cả đoạn. Các câu từ câu (2) câu (9) : Phân tích nêu những biểu hiện của tình đồng chí: đồng cảm, sẻ chia. Câu (10) : Tổng hợp tổng kết và nâng cao, khẳng định giá trị của tình đồng chí. BT5: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi phía dưới: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo Câu 1: Trong câu thơ “Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”, vì sao Chính Hữu lại dùng từ “chờ” mà không dùng từ “đợi”? Câu 2: Hình ảnh “đầu súng trăng treo” cho thấy cảm xúc gì được thể hiện trong bài thơ? Qua đó em hiểu thêm gì về tâm hồn của những người lính trong kháng chiến chống Pháp? Câu 3: Viết đoạn văn cảm nhận về vẻ đẹp của ba câu thơ cuối trong bài có sử dụng câu cảm thán? Gợi ý: Câu 1: Đối diện cảnh núi rừng lạnh lẽo và hoang vu và hoàn cảnh chiến đấu nguy hiểm, những người lính cùng sát cánh bên cạnh nhau. + Nhiệm vụ canh gác, đối mặt với hiểm nguy trong gang tấc cũng chính nơi đó sự sống cái chết cách nhau trong gang tấc. + Trong hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm tình đồng đội thực sự thiêng liêng, cao đẹp Tâm thế chủ động, sẵn sàng “chờ giặc tới” thật hào hùng: + Những người lính sát cánh bên nhau vững chãi làm mờ đi khó khăn, nguy hiểm trực chờ phía trước của cuộc kháng chiến gian khổ. → Ca ngợi tình đồng chí, sức mạnh đồng đội giúp người lính vượt lên khắc nghiệt về thời tiết và nỗi nguy hiểm trên trận tuyến. Câu 2: Hình ảnh “đầu súng trăng treo” là hình ảnh độc đáo, bất ngờ, cũng chính là điểm nhấn của toàn bài thơ. + Hình ảnh thực và lãng mạn. + Súng là hình ảnh đại diện cho chiến tranh, khói lửa. + Trăng là hình ảnh của thiên nhiên trong mát, thanh bình. Sự hòa hợp giữa trăng với súng tạo nên vẻ đẹp tâm hồn của người lính và đồng đội , nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc chiến tranh vệ quốc. → Câu thơ như nhãn tự của toàn bài thơ, vừa mang tính hiện thực, vừa mang sắc thái lãng mạn, là một biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí. Câu 3: Yêu cầu về hình thức: một đoạn văn theo lối viết nào cũng được, có câu cảm thán Yêu cầu về nội dung: Đảm bảo nội dung sau: + Bức tranh đẹp về tình đồng chí + Biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ Đoạn văn tham khảo: Ba câu thơ trên được trích trong văn bản “ Đồng chí” của tác giả Chính Hữu đã rất thành công trong việc miêu tả biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ, về tình đồng chí. Hai người lính luôn kề vai sát cánh bên nhau, sưởi ấm lòng nhau, xua đi cái rét ở chiến tranh Việt Bắc. dù thời tiết có khắc nghiệt đến đâu họ luôn trong tư thế sẵn sàng chờ giặc tới. Trong đêm phục kích, vầng trăng trên đầu trở thành người làm chứng cho tình đồng chí trong các anh. Trong lúc chờ giặc tới, trong không khí căng thẳng của giờ phút xuất kích sắp đến họ vẫn tràn đầy một tâm hồn lãng mạn, họ đã nhận ra “ đầu súng trăng treo”. Câu thơ vừa có nghĩa tả thực, vừa giàu nghĩa tượng trưng: súng và trăng vốn là hai sự vật rất xa nhau nhưng trong con mắt người chiến sĩ chúng lại rất gần nhau. Súng và trăng là gần và xa, là thực và mộng, là chiến tranh và hòa bình là chiến sĩ và thi sĩ. Hình ảnh thơ khép laị đã trở thành một biểu tượng đẹp của người chiến sĩ cách mạng với sự đan cài: cuộc sống chiến đấu của họ dù khó khăn, gian khổ nhưng trong họ tràn đầy sự lãng mạn. Hình tượng đó trở thành nền thơ ca cách mạng Việt Nam cảm hứng hiện thực lãng mạn. Ôi, yêu biết mấy những người lính cụ Hồ TÌM HIÊU, PHÂN TÍCH VĂN BẢN. ĐỒNG CHÍ (BÀI 2) 1, Những cơ sở của tình đồng chí( 7 câu thơ đầu) a) Cơ sở thứ nhất: Cùng chung hoàn cảnh xuất thân Những chiến sĩ xuất thân từ những người nông dân lao động. Từ cuộc đời thật họ bước thẳng vào trong trang thơ và tỏa sáng một vẻ đẹp mới, vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội. Ngay từ những câu thơ mở đầu, nhà thơ lí giải cơ sở hình thành tình đồng chí thắm thiết, sâu nặng của “anh” và “tôi”, của người lính và ngườilính: “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá” + Thủ pháp đối
Trang 1Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm: Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6.7.8.9 để tải bài cho tiện
nhé
TRỌN BỘ ÔN HSG VĂN 9 GỒM
1 Bộ đề ôn HSG chia theo tác phẩm,chủ đề hơn 200 đề có hướng dẫn chấm.
2 Tài liệu ôn HSG cuốn chiếu theo chuyên đề,văn bản.
3.Một số cách viết mở bài các dạng đề chứng minh,giải thích 1 ý kiến, nhận định… 4.Lí luận văn học.
5 Bộ đọc hiểu kết hợp Nlxh theo chủ đề, bộ nlxh
* Giáo án chính khóa CV5512, Papoi ,dạy thêm ,phụ đạo.
* Giáo án Ngữ văn 6 bộ kết nối tri thức, chân trời sáng tạo nếu th cô cần.
Trang 2CẤU TRÚC MỘT ĐỀ HỌC SINH GIỎI THƯỜNG GẶP
A.DẠNG ĐỀ CÓ PHẦN ĐỌC HIỂU.
1 Các văn bản trong phần đọc hiểu thường lấy ngữ liệu ở đâu?những khía cạnh nào?
Ngữ liệu đọc hiểu là 1 đoạn văn bản có thể thuộc bất cứ loại văn bản nào, từ văn bản khoa học,báo chí, nghị luận, đến văn bản nghệ thuật… miễn là văn bản ấy được viết bằng ngôn từ Cácvăn bản ấy có thể trong hoặc không nằm trong chương trình đã học hay trong SGK mà hoàntoàn mới lạ Các văn bản này thường được lấy từ nhiều nguồn, như các tài liệu tham khảodành cho học sinh, tác phẩm của các tác giả nổi tiếng, các bài báo hay các công trình nghiêncứu có ý nghĩa
Các em nên chú ý đến các văn bản có liên quan, hoặc đề cập đến các vấn đề sau: bảo vệ vănhóa dân tộc; thói sùng ngoại, bài ngoại, thói tham ô lãng phí; biển đảo và trách nhiệm của thế
hệ trẻ với biển đảo của đất nước …thực phẩm bẩn đang đầu độc người dân ý thức con người
về biến đổi khí hậu; ngập mặn, hạn hán ,vai trò của nguồn nước trong cuộc sống, lòng tựtrọng, lòng nhân ái khoan dung, lí tưởng, lẽ sống, phẩm chất, sự thành đạt của tuổi trẻ, nghịlực sống của con người, cho và nhận…… (qua các vấn đề thường nhật,câu chuyện, tấmgương) … …
2.Những kiểu câu hỏi thường sử dụng ở phần Đọc hiểu
- Ở dạng câu hỏi nhận biết: Thường hỏi xác định phương thức biểu đạt, tìm từ ngữ, hình ảnh,
xác định cách trình bày văn bản…
- Ở dạng câu hỏi hiểu: Thường hỏi học sinh hiểu như thế nào về một câu nói trong văn bản;
hỏi theo học sinh thì vì sao tác giả lại cho rằng, nói rằng…(kiểu hỏi này là để xem học sinh vàtác giả có đồng quan điểm hay không); Kiểu câu hỏi theo tác giả… Ba kiểu hỏi này thường lặp
đi lặp lại
- Ở dạng câu hỏi vận dụng: Thường yêu cầu học sinh rút ra thông điệp có ý nghĩa, điều tâm
đắc hoặc chỉ ra những việc làm cụ thể của bản thân
* Phần đọc hiểu
- Đề bài người ta thường đưa một khổ thơ hoặc một đoạn và yêu cầu học sinh đọc và trả lờicác câu hỏi
- Các câu hỏi thường gặp:
+Xác định thể thơ, kiểu bài
+Nội dung chính của khổ thơ,đoạn trích là gì? (Câu chủ đề của đoạn trích là gì – với đoạn văn)+Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được sử dụng chủ yếu trong khổ thơ, đoạn trích? Tác dụngcủa chúng?
* VÍ DỤ:
2.1 Với thơ
Trang 3- Câu hỏi 1:
+ Xác định thể thơ bằng cách đếm số chữ trong từng câu thơ Thông thường trong bài người
ra đề sẽ cho vào các thể thơ bốn chữ/ năm chữ/ bảy chữ/ lục bát
+ Các thể thơ trung đại như thất ngôn bát cú (7 chữ/ câu, 8 câu/bài), thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ/ câu, 4 câu/ bài)… xác định bằng cách đếm số chữ trong một câu và số câu trong một bài (Các thể thơ thuộc giai đoạn trung đại trong đề thường ít cho nhưng phải nắm được cách
xác định)
+ Xác định phương thức biểu đạt
- Câu hỏi 2: Đưa nội dung chính của khổ thơ, tức là dụng ý cuối cùng của tác giả.
- Câu hỏi 3: Các biện pháp tu từ từ vựng và các biện pháp nghệ thuật, giá trị biểu đạt của các
BPTT trong đoạn thơ
- Câu hỏi 4:(NLXH) Trình bày suy nghĩ của em về vấn đề được gợi ra từ nội dung đoạn thơ
hay ý thơ
B.Dạng đề nghị luận về một vấn đề gợi ra từ một bức tranh hoặc hình ảnh
Đây là dạng đề thường xuất hiên trong các đề thi những năm gần đây, nhất là trong các kì thiOlimpic Đề thi có sự khác biệt, không chỉ là văn bản ngôn từ mà có thêm hình ảnh Trongcuộc sống, việc đọc hiểu rất đa dạng, đa phương thức như sơ đồ, bảng biểu…Xu hướng ra đềthi đa dạng, ra đề bằng hình ảnh không hề xa lạ trong đề khảo sát năng lực đọc hiểu của hs Tùy vào năng lực và trải nghiệm của học sinh mà mỗi người sẽ có cách trình bày quan điểmkhác nhau Cấu trúc bài làm cần linh hoạt sử dụng một trong các dạng trên Tuy nhiên, cái khócủa dạng đề này là thường gợi mở nhiều vấn đề, người viết do đó cần có năng lực khái quátthành một vấn đề chung nhất, bao quát nhất, đồng thời phải có bản lĩnh khi nghị luận về vấnđề
Người học có thể đọc thông điệp theo nhiều hướng khác nhau mà đáp án không hề khuôn mẫuhay áp đặt hệ thống ý có trước, miễn là luận giải theo hướng tích cực phù hợp với chuẩn mựcđạo đức và pháp luật Ở đây, không chỉ đánh giá năng lực đọc hiểu mà còn là năng lực làm văncủa người học, nên tùy đối tượng học sinh sẽ có cách phân tích vấn đề khác nhau Vì thế, hoàntoàn phù hợp để kiểm tra dành cho học sinh giỏi
1.Bày tỏ suy nghĩ của anh chị về bài học cuộc sống rút ra từ bức tranh.
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận:
* Thân bài: Giải quyết vấn đề:
– Trình bày cách hiểu về bức tranh:
⇒ Ý nghĩa của bức tranh: Phần này thí sinh có thể rút ra nhiều bài học khác nhau nhưng phải
có lập luận thuyết phục
– Bàn luận:
– Liên hệ bản thân, rút ra bài học:
Trang 4* Kết bài: Kết thúc vấn đề: Khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của hành động.
2.3.Cách làm bài văn nghị luận mang tính đối thoại, bộc lộ suy nghĩ riêng về vấn đề đặt
ra từ nội dung câu chuyện.
1.Dàn bài, gợi ý
Đây là dạng đề mới nhất thường được lựa chọn trong một vài năm gần đây Dạng đề này lại thường thiên về bộc lộ suy nghĩ, quan điểm về một vấn đề thiên về hiện tượng đời sống Cấu trúc làm bài có thể cụ thể hóa như sau:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề
* Thân bài:
1 Giải thích vấn đề:
2 Trao đổi, bàn luận, đối thoại (phần này phụ thuộc vào nhận thức và sự hiểu biết của bản thân, nhận thức và đánh giá vấn đề đó đúng/sai,phải/trái, đồng tình/không đồng tình…)
3.Trình bày quan điểm sống của bản thân (gần với bài học nhận thức và hành động)
Kết bài: Đánh giá chung về vấn đề
C NGHỊ LUẬN VĂN HỌC: ĐỐI VỚI ĐỀ THI HSG VĂN 9 THƯỜNG RA DƯỚI DẠNG PHÂN TÍCH, LÀM SÁNG TỎ MỘT Ý KIẾN, MỘT NHẬN ĐỊNH.
CẤU TRÚC MỘT BÀI NGHỊ LUẬN PHÂN TÍCH MỘT Ý KIẾN, NHẬN ĐỊNH
Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học:
Dàn ý chung phần thân bài như sau:
Thao tác Nội dung Mức độ tư duy:
1 Mở bài: Tùy theo yêu cầu của đề để có những hướng tiếp cận mở bài khác nhau.
2 Thân bài:
2.1 Giải thích:
– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình ảnh khó hiểu trong nhận định
– Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề cần bàn ở đây là gì? (Đọc – Hiểu)
22 Bàn luận:
– Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải vấn đề nghị luận
– Trả lời cho câu hỏi “vì sao?” (Vận dụng Tổng hợp)
2.3 Chứng minh:
– Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các biểu hiện của vấn đề nghị luận (Phân tích)
+Luận điểm 1:
Trang 5+Luận điểm 2:
+Luận điểm 3:
…………
2.4 Đánh giá:
– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị luận
– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có) (Đánh giá)
Yêu cầu về kĩ năng (1đ)
– Biết cách làm bài nghị luận văn học; bố cục và cách trình bày hợp lí
– Hệ thống ý (luận điểm) rõ ràng và được triển khai tốt; dẫn chứng phùhợp
– Diễn đạt suôn sẻ; mắc ít lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp
Yêu cầu về nội dung (11,0đ)
(Học sinh có thể sắp xếp, trình bày theo nhiều cách nhưng cần hướngtới nội dung cơ bản sau):
Trang 6– Gốc của thơ là tình cảm: nhấn mạnh tư tưởng tình cảm là then chốtquyết định giá trị của một bài thơ.
=>Hai ý kiến là hai cách định nghĩa về thơ có sự nối tiếp những quan niệm trước đó Một bên khẳng định sức mạnh của thơ là ở ngôn từ, một bên khẳng định sức mạnh của thơ nằm ở tư tưởng, tình cảm chứ không phải ở ngôn từ.
* Lý giải,Khẳng định tính đúng đắn của vấn đề (6đ ) – Nói thơ hay là bữa tiệc ngôn từ bởi vì: một bài thơ ngôn ngữ trúc
trắc, sáo rỗng, tầm thường thì không thể gọi là thơ hay Ngược lại, bàithơ hay là khi nó bày ra trước độc giả một “bữa tiệc ngôn từ”, vớinhững ngôn từ được nhà thơ công phu lựa chọn, tổ chức, biến nó từ lờibình thường trở thành nghệ thuật {vừa thể hiện tâm hồn thi nhân; vừachính xác hàm súc; vừa có dấu ấn riêng của tác giả }
– Gốc của thơ là tình cảm bởi vì: thơ là chuyện của tâm hồn, của
lòng người cho nên việc thể hiện tất cả mọi vui buồn trong cuộc đời làmột nhu cầu bức thiết của thơ Hơn nữa tình cảm ấy thường tiêu biểu,điển hình, khơi dậy trong trái tim người đọc những rung động sâu xa,những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt vời
–=>Mỗi ý kiến đều xác đáng nhưng chưa toàn diện, chưa khái quátđược đặc trưng thơ ca vì:
+ Nếu người nghệ sĩ chỉ chú ý rèn câu đúc chữ mà không chú ý đếnnội dung tư tưởng của tác phẩm thì sáng tác thơ ca chỉ là những kỹ xảovờn vẽ, là lối thơ chuộng hình thức Thơ ca chỉ neo đậu vững chắctrong bạn đọc khi nó có nội dung tư tưởng sâu sắc, hình thức thể hiệnđộc đáo
+ Gốc của thơ là tình cảm, sức sống của thơ là tư tưởng, nhưng các nhàthơ từ xưa đến nay nếu không muốn lặp lại người khác và lặp lại chínhmình thì quá trình sáng tác đòi hỏi người nghệ sĩ phải tìm đến “bữatiệc ngôn từ”
=>Tóm lại một tác phẩm hay,có giá trị phải đầy đủ hai yếu tố:bữa tiệcngôn từ và gốc của thơ ca là tình cảm.Bài thơ về tiểu đội xe khôngkính hội tụ cả hai yếu tố đó
* Phân tích, chứng minh.
Luận điểm1 Bài thơ về tiểu đôi xe không kính là bữa tiệc ngôn từ.
- Nhan đề bài thơ khá dài,thu hút người đọc ở vẻ mới lạ, độc đáo.
+Bài thơ có cách đặt đầu đề hơi lạ Bởi rõ ràng đây là một bài thơ, vậy
mà tác giả lại ghi là “bài thơ” - cách ghi như thế có vẻ hơi thừa Lẽ thứhai là hình ảnh tiểu đội xe không kính Xe không kính tức là xe hỏng,không hoàn hảo, là những chiếc xe không đẹp, vậy thì có gì là thơ Vì
đã nói đến thơ, tức là nói đến một cái gì đó đẹp đẽ, lãng mạn, baybổng Vậy, đây rõ ràng là một dụng ý nghệ thuật của Phạm Tiến Duật.Dường như, tác giả đã tìm thấy, phát hiện, khẳng định cái chất thơ, cái
Trang 7đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất, thậm chí trầntrụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của chiếntranh.
+Tiếp đến là hình ảnh độc đáo, gây ấn tượng mạnh là những chiếc xekhông kính Từ bài thơ có vẻ như hơi thừa, nhưng thực ra từ đó lạinằm trong chủ định của tác giả và tạo nên sự liên kết giữa hai sự vật có
vẻ xa lạ nhau: “bài thơ” và “xe không kính” Xe không kính thì chẳng
có gì làm nên thơ cả, vậy mà nó đã trở thành hình ảnh trung tâm củamột bài thơ Tác giả đã tìm ra chất thơ ở những điều tưởng chừng rấtkhô khan, trần trụi Đó chính là chất thơ từ hiện thực gian khổ, ác liệt ởnơi chiến trường
=>Chính chất liệu chân thực từ cuộc sống ấy đã làm nên sức sống lâubền của bài thơ Cách đặt nhan đề tự nhiên thể hiện sâu sắc phong cáchthơ Phạm Tiến Duật: tinh nghịch, sôi nổi, tràn đầy niềm tin vào cuộcsống và chiến đấu Tác giả đã tìm thấy, phát hiện và khẳng định cáichất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thường nhất.Thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ácliệt của chiến tranh Đó cũng là bút pháp của nền văn học kháng chiếnchiến chống Mĩ cứu nước, vừa tự nhiên, sôi động vừa đậm chất sử thihào hùng
- Xây dựng hệ thống ngôn ngữ tự nhiên, giọng điệu sôi nổi, chất liệu thơ chân thực,gần gũi, mang đạm tính khẩu ngữ, tự nhiên gợi cảm.
+Thành công đầu tiên của Phạm Tiến Duật trong Bài thơ về tiểu đội xekhông kính là đã xây dựng được một hệ thống ngôn ngữ tự nhiên,giọng điệu sôi nổi, chất liệu thơ chân thực, gần gũi, gợi cảm Ngôn ngữcủa bài thơ gần gũi với lời nói thường, mang tính khẩu ngữ, tự nhiên,sinh động và khỏe khoắn:
“Không có kính không phải vì xe không có kính”
=>Ngôn ngữ và giọng điệu ấy rất phù hợp với việc khắc họa hình ảnhnhững chiến sĩ lái xe trẻ trung hiên ngang, bất chấp nguy hiểm, khókhăn Đó là những người lính tươi trẻ, yêu cuộc đời, yêu đất nước, tinhthần tràn đầy niềm tin tưởng, quyết chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải
Trang 8phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
+Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phânbua của các chàng trai lái xe dũng cảm Chất thơ của câu thơ này hiện
ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ Phạm TiếnDuật đã không hề cầu kì hay thi vị hóa đơn điệu hình ảnh những chiếc
xe không kính và hình tượng người lính lái xe Bởi với ông, cuộc đời
ấy đã quá đẹp, rất thơ, rất mạnh mẽ, không cần tô vẽ gì mà vẫn tỏasáng
+Tác giả còn kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ, tạo cho bài thơ
có điệu thơ gần với lời nói tự nhiên, sinh động và linh hoạt trong nghệthuật biểu hiện Những yếu tố về ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ đãgóp phần trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyếnđường Trường Sơn một cách chân thực và sinh động
+Điệp ngữ “lại đi” và hình ảnh “trời xanh thêm” tạo âm hưởng thanhthản, nhẹ nhàng, thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng của người lính về sựtất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ Câu thơ trong vắt như tâmhồn người chiến sĩ, như khát vọng, tình yêu họ gửi lại cho cuộc đời
=>Những câu thơ giản dị như lời nói thường, với giọng điệu thảnnhiên, ngang tàn, hóm hỉnh Cấu trúc:“không có…”; “ừ thì…”, “chưacần” được lặp đi lặp lại, các từ ngữ “phì phèo”,”cười ha ha”,”mau khôthôi”… làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lên mộtcách tự nhiên giữa gian khổ,hiểm nguy của cuộc chiến đấu Ở họ,những trở ngại của thiên nhiên và điều kiện chiến đấu không thể làm
họ sờn lòng Ngược lại, nó càng làm cho họ thêm hứng thú, quyết tâmvươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy
“ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật điệp ngữ vớitừ“nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai Lời thơ nhấnmạnh tư thế ung dung, bình tĩnh, tự tin của người lính lái xe
Cuộc sống chiến đấu của người lính tràn đầy niềm vui ngay trong hoàncảnh khắc nghiệt, hiểm nguy
=>Qua nghệ thuật biểu hiện, tác giả đã tìm thấy, phát hiện, khẳng địnhcái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình thườngnhất, thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội,
ác liệt của chiến tranh
Luận điểm2 Gốc của thơ là tình cảm,trong bài thơ về tiểu đội xe không kính còn thể hiện ở sự ngợi ca ngợi những vẻ đẹp tâm hồn người lính.
_ Tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh, tự tin:
+ Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết.Không có kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanhnên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm:nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy
Trang 9thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột,bất ngờ như sa, như ùa- rơi rụng, va đập, quăng ném vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình Dường nhưchính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồnglái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinhđộng và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thựcđến thế.
+ Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách Songngười chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt, trái lại tư thếcác anh vấn hiên ngang, tinh thần các anh vẫn vữngvàng “ung dung nhìn thẳng Hai câu thơ “ungdung thẳng” đã nhấn mạnh tư thế ngồi lái tuyệt đẹpcủa người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính Đảongữ “ung dung” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tưthế ung dung, thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tincủa người làm chủ, chiến thắng hoàn cảnh Bầu khôngkhí căng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họvẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phía trước của mộtcon người luôn coi thường hiểm nguy Nhịp thơ 2/2/2với những dấu phẩy ngắt khiến âm điệu câu thơ trở nênchậm rãi, như diễn tả thái độ thản nhiên đàng hoàng.Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trênđường thành niềm vui thích Chỉ có những người lính lái
xe với kinh nghiệm chiến trường dày dạn, từng trải mới
có được thái độ, tư thế như vậy
⇒ Vậy đấy, hai khổ thơ mở đầu tả thực những khó khăn gian khổ mànhững người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đã trải qua Trong khó khăn,các anh vẫn ung dung, hiên ngang bình tĩnh nêu cao tinh thầntrách nhiệm, quyết tâm gan góc chuyển hàng ra tiềntuyến Không có kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫnlăn bánh bình thường Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy nhưnhững chiếc xe vun vút chạy trên đường
-Thái độ bất chấp khó khăn, coi thường gian khổ, tinh thần lạc quan hồn nhiên, yêu đời của người lính trẻ.
- Nếu như hai khổ trên là những cảm giác về những khókhăn thử thách dù sao cũng vẫn mơ hồ thì đến đây, thửthách, khó khăn ập tới cụ thể, trực tiếp Đó là “bụi phuntóc trắng” và “mưa tuôn xối xả” (gió, bụi, mưa tượngtrưng cho gian khổ thử thách ở đời) Trên con đường chiviện cho miền Nam ruột thịt, những người lính đã nếm
Trang 10trải đủ mùi gian khổ.
+ Trước thử thách mới, người chiến sĩ vẫn không naonúng Các anh càng bình tĩnh, dũng cảm hơn “mưatuôn, mưa xối xả”, thời tiết khắc nghiệt, dữ đội nhưngđối với họ tất cả chỉ “chuyện nhỏ”, chẳng đáng bậntâm, chúng lại như đem lại niềm vui cho ngườilính.Chấp nhận thực tế, câu thơ vẫn vút lên tràn đầyniềm lạc quan sôi nổi: “không có kính ừ thì có bụi, ừ thìướt áo” Những tiếng “ừ thì” vang lên như một tháchthức, một chấp nhận khó khăn đầy chủ động, một thái
độ cứng cỏi Dường như gian khổ hiểm nguy của chiếntranh chưa làm mảy may ảnh hưởng đến tinh thần của
họ, trái lại họ xem đây là một dịp để thử sức mình nhưngười xưa xem hoạn nạn khó khăn để chứng tỏ chí làmtrai
+ Sau thái độ ấy là những tiếng cười đùa, những lờihứa hẹn, quyết tâm vượt gian khổ hiểm nguy:”Chưacần rửa khô mau thôi” Cấu trúc câu thơ vẫn cân đối,nhịp nhàng theo nhịp rung cân đối của những bánh xelăn Câu thơ cuối 7 tiếng cuối đoạn có đến 6 thanh bằng
“mưa ngừng gió lùa khô mau thôi” gợi cảm giác nhẹnhõm, ung dung rất lạc quan, rất thanh thản Đó làkhúc nhạc vui của tuổi 18 – 20 hoà trong những hìnhảnh hóm hỉnh: “phì phèo châm điếu thuốc – nhìn nhaumặt lấm cười ha ha” ý thơ rộn rã, sôi động như sự sôiđộng hối hả của đoàn xe trên đường đi tới Những vầnthơ ít chất thơ nhưng càng đọc thì lại càng thấy thíchthú, giọng thơ có chút gì nghịch ngợm, lính tráng Tanghe như họ đương cười đùa, tếu táo với nhau vậy Có
lẽ với những năm tháng sống trên tuyến đường TrườngSơn, là một người lính thực thụ đã giúp Phạm tiến Duậtđưa hiện thực đời sống vào thơ ca – một hiện thực bộn
bề, một hiện thực thô tháp, trần trụi, không hề trauchuốt, giọt rũa Đấy phải chăng chính là nét độc đáotrong thơ Phạm Tiến Duật Và những câu thơ gần gũivới lời nói hàng ngày ấy càng làm nổi bật lên tính cáchngang tàng của những anh lính trẻ hồn nhiên, yêu đời,trẻ trung Đó cũng là một nét rất ấn tượng của ngườilính lái xe Trường Sơn Cái cười sảng khoái vô tư, khácvới cái cười buốt giá trong bài thơ “Đồng chí”, nụ cườihồn nhiên ấy rất hiếm khi gặp trong thơ ca chống Pháp,
Trang 11nụ cười ngạo nghễ của những con người luôn luôn chiếnthắng và tràn đầy niềm tin.
Tình đồng chí, đồng đội thắm thiết.
- Sau mỗi trận mưa bom bão đạn cùng với những chiếc
xe bị tàn phá nặng nề hơn, họ lại gặp nhau trong nhữngphút dừng chân ngắn ngủi tạo thành một “tiểu đội xekhông kính” – tiểu đội những chàng trai lái xe quả cảm,hiên ngang mà hồn nhiên tinh nghịch Hình tượng ngườichiến sĩ lái xe thêm một nét đẹp nữa về tâm hồn vàtình cảm Đấy là tình cảm gắn bó, chia sẻ ngọt bùi củanhững chàng trai vui vẻ, sôi nổi, yêu đời Cái bắt tayđộc đáo là biểu hiện đẹp đẽ ấm lòng của tình đồng chí,đồng đội đầy mộc mạc nhưng thấm thía : “bắt tay quacửa kính vỡ rồi”, cái bắt tay thay cho lời nói Chỉ cónhững người lính, những chiếc xe thời chống Mĩ mới cóthể có những cái bắt tay ấy, một chi tiết nhỏ nhưngmang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng
- Lúc cắm trại, các anh trò chuyện, ăn uống, nghỉ ngơithoải mái, xuềnh xoàng, nhường nhịn nhau như anh emruột thịt: chung bát,chung đũa, mắc võng chôngchênh chỉ trong một thoáng chốc Tình cảm gia đìnhngười lính thật bình dị, ấm áp thân thương tạo nên sứcmạnh, nâng bước chân người lính để rồi các anh lại tiếptục hành quân: “Lại đi lại đi trời xanh thêm”, đi đếnthắng lợi cuối cùng.Trong tâm hồn họ, trời như xanhthêm chứa chan hi vọng lạc quan dào dạt Câu thơ baybay, phơi phới, thật lãng mạn, thật mộng mơ Nhịp điệucâu thơ vừa sôi nổi, vừa nhịp nhàng cùng với điệp từ
“lại đi” được lặp lại hai lần gợi tả nhịp sống chiến đấu
và hành quân của tiểu đội xe không kính mà không mộtsức mạnh đạn bom nào có thể ngăn cản nổi Sự sốngkhông chỉ tồn tại mà còn tồn tại trong một tư thế kiêuhãnh, hiên ngang – tư thế của người chiến thắng
- Lòng yêu nước, nhiệt huyết của tuổi trẻ quyết tâm giải phóng miền nam…
Hai câu đầu là hình ảnh những chiếc xe không cònnguyên vẹn về phương tiện kĩ thuật, dồn dập nhữngmất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do đườngtrường gây ra: những chiếc xe bị hư hỏng nhiều hơn
“không kính, không mui, không đèn, thùng xe có
Trang 12xước ” và biết bao chiến sĩ đã dũng cảm hi sinh Ấyvậy mà những chiếc xe mang trên mình đầy thươngtích đó lại như những chiến sĩ kiên cường vượt lên trênbom đạn, hăm hở lao ra tiền tuyến với một tình cảmthiêng liêng:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe
có một trái tim”
- Vậy là đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn,hăm hở tiến ra phía trước, hướng ra tiền tuyến lớn vớimột tình cảm thiêng liêng “vì Miền Nam”, vì cuộc chiếnđấu giành độc lập thống nhất đất nước đang vẫy gọi.Bởi vì trong những chiếc xe đó lại nguyên vẹn một tráitim dũng cảm Hình ảnh trái tim là một hình ảnh hoán
dụ tuyệt đẹp gợi ra biết bao ý nghĩa Trái tim là hìnhảnh hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của ngườichiến sĩ lái xe Trái tim nồng cháy một lẽ sống cao đẹp
và thiêng liêng: tất cả vì Miền Nam thân yêu, trái timchứa đựng bản lĩnh hiên ngang, lòng dũng cảm tuyệtvời Trái tim mang tinh thần lạc quan và một niềm tinmãnh liệt vào ngày thống nhất Bắc Nam Thì ra cộinguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ, phẩm chấtanh hùng của người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở cái
“trái tim” gan góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chanchứa tình yêu thương này Nhà văn đã tô đậm nhữngcái “không” để làm nổi bật cái “có” để làm nổi bật chân
lí của thời đại: bom đạn, chiến tranh có thể làm méo
mó những chiếc xe, huỷ hoại những giá trị vật chấtnhưng không thể bẻ gẫy được những giá trị tinh thầncao đẹp….để rồi một nước nhỏ như Việt Nam đã chiếnthắng một cường quốc lớn
⇒ Điệp ngữ “không có”, các từ ngữ tương ứng “vẫn … chỉcần có” đã làm cho giọng thơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ,hào hùng Vẫn là cách nói thản nhiên ngang tàng củalính nhưng câu thơ lại lắng sâu một tinh thần tráchnhiệm và có ý nghĩa như một lời thề thiêng liêng Quyếttâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người lính không
có đạn bom nào của kẻ thù có thể làm lay chuyển được
Tác phẩm đích thực là sự kết hợp của hai yếu tố trên {bữa tiệc ngôn từ
và tình cảm} mới có thể tạo nên sự xuất thần cho thơ.Nhà thơ khôngngừng trải nghiệm lắng nghe rung cảm của đời để tạo được cái gốctình cảm cho thơ, và không ngừng mài dũa để thực sự trở thành bậc
Trang 13thầy về ngôn từ.Người tiếp nhận phải sáng suốt linh hoạt, không nêncực đoan trong tiếp nhận một quan niệm mà đi đến phủ nhận nhữngquan điểm còn lại.
*Đáng giá tổng hợp.
- Mỗi ý kiến trên đều xác đáng nhưng chưa toàn diện,chưa khái quáthết được đặc trưng thơ ca của một tác phẩm tuy nhiên bài thơ về tiểuđội xe không kính đã đáp ứng được hai yếu tố trên
- Bài học đối với người cầm bút:nhà thơ là nhà thư kí trung thành củatrái tim, thời đại nên không ngừng trải nghiệm, lắng nghe, rung cảm đểtạo nên gốc tình cảm của thơ ca, không ngừng học hỏi để trau dồi ngôntừ
- Bài học đối với người tiếp nhận:hiểu hơn về hoàn cảnh của cuộckháng chiến, vẻ đẹp của người lính, niềm tự hào……
Kết bài: Khẳng định, đánh giá lại ý kiến
MỤC LỤC ĐỀ ÔN HỌC SINH GIỎI VĂN 9 HƠN 200 ĐỀ
( ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC ÔN THEO TỪNG TÁC PHẨM, CHUYÊN ĐỀ)
Qua hai trích đoạn “Cảnh ngày xuân” và “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Truyện
Kiều - Nguyễn Du), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
2 Hình tượng người phụ nữ Việt Nam qua các tác phẩm văn học trung đại mà em
được học ở THCS
3 Viết về Nguyễn Du, nhà thơ Xuân Diệu có nhận định:
……….
(Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập 1, tr.787, Nxb Văn học, 1981)
Anh/chị hiểu nhận định trên như thế nào? Bằng những hiểu biết về tác phẩm
Truyện Kiều, hãy làm sáng tỏ nhận định.
4 Một trong những phương diện thể hiện tài năng của người nghệ
Trang 14Viễn viết………
Bằng những câu thơ, đoạn thơ trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
được học trong chương trình Ngữ Văn lớp 9, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
6 Nói về hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến, người ta hay nhắc đếnbài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Có mối liên tưởng nào giữa bài thơ “Bánh trôi nước” với hai tác phẩm
“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ và “Truyện Kiều” (qua các đoạn trích đã học) của Nguyễn Du?
Hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em
7 Một tác phẩm văn học có giá trị vừa là chứng tích của một thời, vừa là hiện thân chân lý giản dị của mọi thời.
Bằng những hiểu biết về tác phẩm
……… em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
8 Tâm và Tài của Nguyễn Du trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (“Truyện
Kiều”-SGK Ngữ văn 9 - Tập một - NXBGD, năm 2010).
9 Đánh giá về hình ảnh người phụ nữ trong văn học VN có ý kiến cho rằng
……… em hãylàm sáng tỏ nhận định trên
1
0
Nhận xét về cách kết thúc “Chuyện người con gái Nam Xương”
……… Hãy trình bày ngắn gọn suy nghĩ của em về hai ý kiến trên
2 Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn học (Tố Hữu)
Hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua một truyện ngắn hiện đại Việt Nam được học trong chương trình Ngữ văn 9
1
5
Trong tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" (Nguyễn Dữ), nhân vậtTrương Sinh vội tin câu nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương,ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi Vũ Nương bị oan ức nên nhảy xuống sông tựvẫn
Theo em khi kể chuyện tác giả có hé mở chi tiết nào trong truyện để có thể tránh
Trang 15được thảm kịch đau thương cho Vũ Nương Suy nghĩ của em về cái chết của VũNương?
1
6
Có người khi đọc "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ và
……… Hãy trìnhbày quan điểm của em ý kiến trên
2
0
……… Qua tácphẩm “Chuyện người con gái Nam Xương ”của Nguyễn Dữ hãy làm sáng tỏ.2
2
3
Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (Trích
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du).
2
4
Khi bàn đến ngôn ngữ Truyện Kiều, trong bài Nguyễn
Du……… Hãy cho thấy tài năng ngôn ngữ của Nguyễn Du qua một số câu thơ trong Truyện Kiều
2
5
“Có thể nói thiên nhiên trong Truyện Kiều cũng là một nhân vật, một nhân vật
thường kín đáo, lặng lẽ nhưng không mấy khi không có mặt và luôn luôn thấm đượm tình người.” (Hoài Thanh)
Bằng những hiểu biết của em về các đoạn trích đã học trong Truyện Kiều,
hãy làm rõ ý kiến trên
……… Bằng hiểubiết của em về một số tác phẩm hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
Trang 169 “Giá trị vĩnh hằng của thơ là những vấn đề mang tính nhân văn, thuộc về con người, thuộc về nhân loại”.
(Trần Hoài Anh - Thanh Thảo và thơ - nhavantphcm.com.vn)Dựa ………
để thấy tính nhân văn của từng tác phẩm
3
0 Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng
ra thương cả muôn vật, muôn loài…
(Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương,
SGK Ngữ văn 7, T2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, Tr.60)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua tác
Nhà văn Nguyễn Dữ đã kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương bằng chi tiết
Vũ Nương hiện về gặp chồng rồi sau đó biến mất
Có ý kiến cho rằng: giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống hạnh phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn Có người lại nhận xét: cách kết thúc của tác giả như vậy là hợp lí.
Suy nghĩ của em về hai ý kiến trên
Nhận xét về truyện Kiều của Nguyễn Du, Mộng Liên Đường Chủ Nhân - Nhà phê
viết………
Dựa vào đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Trích Truyện Kiều -Nguyễn
Du - SGK Ngữ văn 9 tập 1 - NXBGDVN năm 2010 trang 93-94) hãy làm sáng tỏ
ý kiến trên
3
7
“Tinh thần nhân đạo trong văn học trước hết là tình yêu thương con người”
(Đặng Thai Mai – “Trên đường học tập và nghiên cứu” - NXB Văn học 1969) Chứng minh ý kiến trên qua tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” củaNguyễn Dữ (SGK, Ngữ văn 9, tập I)
Trang 178
“ Văn học trung đại nước ta sau những vấn đề đấu tranh xã hội ,còn thường
đề cập đến vấn đề đạo đức gia đình ,đặc biệt là luôn đề cao những tấm gương hiếu thảo với cha mẹ ”
Qua một số tác phẩm văn học trung đại mà em đã học trong chương trình ngữ văn 9 hãy làm sáng tỏ nội dung “ Văn học nước ta luôn đề cao những tấm gươnghiếu thảo đối vơi cha mẹ ”
Theo em ,trong thời đại ngày nay ,vấn đề đạo đức gia đình có còn quan trọng không ? Vì sao ?
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích giá trị tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ để làm sáng tỏ ý kiến trên
Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” (Trích Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ) đã phản ánh bi kịch và khát vọng muôn thuở của con người Hãyphân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện để làm sáng tỏ điều đó./
3 MỤC LỤC ĐỀ ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ ( 15 ĐỀ - 58 TRANG)
4 MỤC LỤC ĐỀ BẾP LỬA ( 12 ĐỀ - 42 TRANG)
Trang 1810 SANG THU (6 ĐỀ 20 TRANG)
11 NÓI VI CON ( 6 TRANG)
12 NHỮNG NGÔI SAO XA XÔI ( 2 ĐỀ- 6 TRANG)
(Thời gian làm bài: 150 phút không tính thời gian phát đề)
I PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (6,0 điểm)
Câu 1 Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu dưới đây:
" Những bữa cơm độn sắn, độn khoai trong mùa giáp hạt đó là chuyện thường xuyên.
Ba anh em tôi luôn được bố mẹ nhường phần cơm Bố mẹ ăn phần sắn và khoai lang, chúng tôi cứ vô tư ăn ngon lành Và những bữa cơm như thế, bố mẹ luôn ngồi đầu nồi, nhiều hôm tôi thấy bố mẹ thở dài Hai đứa em tôi không để ý đến những hành động đó Trong bữa cơm, thường có một bát mắm tôm đồng, hoặc sang hơn có thêm bát sườn lợn được mẹ bằm thật nhỏ
và kho thật mặn Một nồi canh rau tập tàng Chỉ đơn sơ vậy thôi, là anh em tôi thấy ngon biết mấy.
Những mùa giáp hạt, vai mẹ lại gầy đi vì những đêm thức trắng, trằn trọc với biết bao
lo lắng Tóc bố ngày một thêm bạc như thể có khói thuốc trên đầu Anh em tôi cứ thế lớn lên trên đôi vai gầy của mẹ Lớn lên trên những sợi tóc bạc của bố, lớn lên trong tình thương yêu,
Trang 19đùm bọc của gia đình Lớn lên trong những mùa giáp hạt, lớn lên trong nồi cơm độn khoai sắn Bây giờ ngồi ôn lại những kỷ niệm, ôn lại những mùa giáp hạt, trong lòng không khỏi cảm thấy rưng rưng."
(Nguyễn Trung Thành, Báo Giáo dục và thời đại số 100, ra ngày 26/4/2018)
a Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì? (0,5 điểm).
b Đặt nhan đề cho văn bản trên (0,5 điểm).
c Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ nổi bật trong những câu văn sau: "Anh em tôi cứ
thế lớn lên trên đôi vai gầy của mẹ Lớn lên trên những sợi tóc bạc của bố, lớn lên trong tình thương yêu, đùm bọc của gia đình Lớn lên trong những mùa giáp hạt, lớn lên trong nồi cơm
độn khoai sắn" (1,0 điểm).
d "Trong bữa cơm, thường có một bát mắm tôm đồng, hoặc sang hơn có thêm bát sườn lợn
được mẹ bằm thật nhỏ và kho thật mặn Một nồi canh rau tập tàng Chỉ đơn sơ vậy thôi, là anh em tôi thấy ngon biết mấy" Trong đoạn văn trên tác giả nhắc đến những món ăn nào? Tại
sao những món ăn ấy lại được cảm nhận là: anh em tôi thấy ngon biết mấy (1,0 điểm).
đ Qua đoạn văn, tác giả thể hiện được tình cảm gì với gia đình (1,0 điểm).
II PHẦN TẠO LẬP VĂN BẢN (14,0 điểm):
Câu 1 (4,0 điểm): Từ ngữ liệu phần Đọc - hiểu trên, viết đoạn văn khoảng 200 chữ) trình bày
suy nghĩ của em về câu nói sau của G.Welles: “Thử thách lớn nhất của con người là lúc thành công rực rỡ”.
Câu 2 (10 điểm): Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người
ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều, những việc mà ai cũng biết cả rồi”.
(Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, 1998)
Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên qua bài thơ Nói với con của Y Phương Liên hệ với truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao để chỉ ra cách nhìn mới và tình cảm mới của hai văn bản.
-Hết -HƯỚNG DẪN CHẤM
1 a Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là Tự sự 0,5
b Nhan đề văn bản: Thương nhớ mùa giáp hạt, Kỷ niệm không quên;
Bữa cơm mùa giáp hạt,
0,5
c Biện pháp tu từ nổi bật: điệp ngữ "lớn lên"
- Tác dụng: nhấn mạnh cội nguồn nuôi dưỡng Đó là sự hy sinh của cha
mẹ, là những vất vả tảo tần bố mẹ đã gánh chịu để đem đến cho con
những ấm no dù đã vào mùa giáp hạt Không chỉ nuôi dưỡng về thể xác,
"anh em tôi" còn được nuôi dưỡng về tâm hồn, được sống trong tình yêu
thương đùm bọc của gia đình Tất cả đã trở thành kỷ niệm không thể
quên
0,250,75
d Những món ăn được tác giả nhắc đến là: mắm tôm đồng, sườn lợn kho
mặn, canh rau tập tàng
- Những món ăn ấy được anh em tôi thấy ngon biết mấy vì:
+ Những món ăn đạm bạc, đơn sơ luôn được chế biến từ đôi bàn tay
khéo léo, sự vun vén tảo tần của mẹ;
+ Chứa đựng tình yêu thương và mong muốn con ăn ngon miệng;
quakỷniệmtuổithơtrong
Trang 20+ Chan chứa không khí gia đình đầm ấm sum họp;
+ Những món ăn được tái hiệ
trẻo.0,250,75
đ Tác giả thể hiện tình cảm với gia đình: sự biết ơn với cha mẹ, tình cảm
anh em, nỗi niềm thương nhớ gia đình sâu sắc qua những hồi tưởng về
những gian khổ thời thơ ấu
1,0
a Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ: Có đủ các phần mở
đoạn, phát triển đoạn, kết đoạn Mở đoạn nêu được vấn đề, phát triển
đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn kết luận được vấn đề
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận về một tư tưởng đạo lí: Thành
công lớn cũng có thể trở thành trở ngại, rào cản đòi hỏi con người phải
có bản lĩnh, nghị lực thì mới vượt qua
0,25
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các
thao tác lập luận; các phương thức biểu đạt, nhất là nghị luận; kết hợp
chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động
- Thử thách: những khó khăn, cản trở do cuộc sống, công việc đặt ra trên
con đường tìm kiếm thành công
- Thành công rực rỡ: thành công lớn đem lại cả tiếng vang và lợi ích,
đáng để tự hào và kiêu hãnh
=> Thành công lớn cũng có thể trở thành trở ngại, rào cản đòi hỏi con
người phải có bản lĩnh, nghị lực thì mới vượt qua
+ Khi ấy, thành công sẽ trở thành vật cản và triệt tiêu động lực phấn đấu
của bản thân trên hành trình tiếp theo (dẫn chứng )
- Thành công sẽ trở thành động lực cho mỗi người khi:
+ Con người có bản lĩnh, có tầm nhìn xa và tỉnh táo trước kết quả đã đạt
được để nhận thức để nhìn rõ cơ sở dẫn đến thành công, nhìn rõ các mối
quan hệ trong đời sống
+ Đặt ra mục tiêu mới, lên kế hoạch hành động để không lãng phí thời
gian và nhanh chóng thoát ra khỏi hào quang của thành công trước đó
1,5
Trang 21+ Mở rộng tầm nhìn để nhận ra thành công của mình dù rực rỡ cũng
không phải là duy nhất, quan trọng nhất
3 Bàn luận mở rộng:
- Phê phán thái độ chủ quan, kiêu căng, tự mãn trước thành công
- Liên hệ: những trải nghiệm của chính bản thân
0,5
4 Bài học nhận thức và hành động phù hợp:
- Thành công hay thất bại chỉ là kết quả cụ thể của một quá trình cụ thể,
nó có thể xảy ra với bất kì ai, bất kì lúc nào nên cần coi nó là điều bình
thường
- Điều quan trọng nhất không phải là thành công hay thất bại mà là thái
độ và cách ứng xử của con người trước những thành bại của đời mình
0,75
* Kết đoạn: Khẳng định vấn đề, liên hệ bản thân. 0,25
d Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới
e Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt
câu
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận văn học:
+ Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu vấn đề nghị luận;
+ Thân bài: Triển khai được vấn đề nghị luận;
+ Kết bài: Khái quát được vấn đề
0.5
- Có thể giải quyết vấn đề theo hướng sau:
1 Giải thích ý kiến của Nguyễn Đình Thi:
- “Cách nhìn nhận mới” (còn gọi là cái nhìn): chỉ thái độ, lập trường của
người nghệ sĩ trước hiện thực cuộc sống Cái nhìn mới mẻ, độc đáo luôn
được coi là dấu hiệu bản chất nhất của phong cách nghệ thuật
- “Tình cảm mới” là những cảm xúc mãnh liệt, được thể hiện theo một
cách riêng của người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác
=> Ý kiến của Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh: Chỉ khi có những khám phá
và thể hiện mới mẻ về con người, cuộc đời của nhà văn mới tạo nên tác
phẩm lớn, làm phong phú thêm cho nền văn học và tác phẩm mới tìm
được chỗ đứng trong lòng độc giả
0.5
2 Phân tích, chứng minh qua bài thơ Nói với con:
- Giới thiệu qua tác giả và tác phẩm: Nhà thơ Y Phương là một nhà thơ
đặc trưng cho người dân tộc, thơ ông là tiếng nói được phát từ sâu thẳm
trái tim, vừa gần gũi, giản dị nhưng cũng chứa đựng nhiều giá trị nhân
văn sâu sắc
- Bài thơ “Nói với con” là một tác phẩm hay của Y Phương nói lên tình
cảm thiêng liêng giữa cha và con Một thứ tình cảm cao quý đáng nâng
niu trân trọng
- Bài thơ giống như lời chia sẻ, trò chuyện của một người đi trước với
5,0
Trang 22người đi sau, của một người cha dành cho đứa con máu mủ của mình,những kỷ niệm khó quên.
+ Ngay từ những câu đầu tiên, lời thơ đã giống như một lời tự sự:
“Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười”
+ Một đứa trẻ khi ngày từ khi được hình thành lên từ trong bụng mẹ đãmang rất nhiều tâm sự, yêu thương, bao bọc của những người thân yêu,của cha mẹ
+ Hình ảnh một em bé chập chững biết đi những bước chân đầu tiên trênđường đời luôn được sự cổ vũ động viên từ những người thương yêuchính là cha mẹ
+ Trong những câu thơ tiếp theo tác giả lại gieo vào lòng người đọcnhững tình cảm thân thuộc, tình cảm đồng bào, tình làng nghĩa xóm đầyquý mến, trân trọng
“Người đồng mình thương lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”
+ Trong những câu thơ này tác giả đã kể về những kỷ niệm, những cánhrừng đầy hoa, những con đường thân thuộc gần gũi, giản dị, nhưng sâusắc chứa đựng biết bao tình nghĩa
+ Tác giả muốn qua những câu thơ này để gợi nhớ cho con phải biết yêuthương xóm làng, yêu thương những con người gắn bó với mình, nhữngngười tuy không cùng chúng giòng máu nhưng lại thân thiết hơn cả ruộtthịt
“Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn”
+ Tình cảm người cha muốn gửi tới con dù cuộc sống có nhiều khó khăn,vất vả, nhưng những con người nơi đây luôn tràn đầy nhiệt huyết Tácgiả Y Phương muốn nhắn nhủ tới con mình về những chặng đường phíatrước
“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc”
Những câu thơ đầy tình nghĩa tác giả răn dậy con mình không được quên
Trang 23gôc rễ nguồn cội.
“Người đồng mình thô sơ da thịt Chằng mấy ai nhỏ bé đâu con”
Trong hai câu thơ này tác giả muốn truyền cho người con của mình có
thêm lòng tin sức mạnh vào cuộc sống
- Mở rộng: Trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, rất nhiều
người đồng bào dân tộc chính là nơi nuôi quân, chiến đấu vô cùng anh
dũng
- Bài thơ “Nói với con” là một bài thơ mang những lời tâm sự, chia sẻ,
gửi gắm của một người cha tới người con yêu thương của mình Những
lời dạy sâu sắc về tình nghĩa, tình người, về ý chí trên đường đời Bài thơ
nhẹ nhàng, chân thật, như chính nỗi lòng của tác giả đã để lại trong lòng
người đọc nhiều cảm xúc khó phai
3 Liên hệ với truyện ngắn Lão Hạc:
- Nhân vật lão Hạc trong Lão Hạc là người có tình yêu thương con sâu
sắc:
+ Trước tình cảnh và nỗi đau của con, lão luôn là người thấu hiểu, tìm
cách chia sẻ, tìm lời lẽ an ủi, giảng giải cho con hiểu,
+ Những ngày sống xa con, lão không nguôi nỗi nhớ thương, niềm mong
mỏi tin con từ cuối phương trời Mặc dù anh con trai đi biền biệt năm,
sáu năm trời nhưng mọi kỉ niệm về con vẫn luôn thường trực trong lão
Trong câu chuyện với ông giáo, lão không quên nhắc tới đứa con trai của
mình
- Tình cảm của người cha đối với con trong truyện ngắn Lão Hạc thể
hiện sự bế tác của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng
Tám
1,0
4 Điểm chung và điểm riêng:
- Điểm chung: Cả hai văn bản Nói với con và Lão Hạc đều có những nét
chung về nội dung tư tưởng Hai tác phẩm đều viết về tình yêu thương
sâu sắc của người cha đối với con
- Điểm riêng: Hai tác phẩm viết về tình cha con trong hai thời kì lịch sử
khác nhau:
+ Lão Hạc là truyện ngắn hiện thực trước Cách mạng tháng Tám, viết về
người nông dân nghèo khổ, bế tắc, yêu thương con nhưng đành chấp
nhận sự thực phũ phàng phải sống xa con, phải hi sinh để con có cuộc
sống tốt đẹp hơn
+ Nói với con viết về tình yêu thương con của một người cha dân tộc
thiểu số có nhận thức mới mẻ, trong thời kì đất nước hòa bình, có nhiều
đổi mới Tình yêu thương con gắn liền với niềm tự hào về cội nguồn gia
đình, quê hương, mong ước cho con tiếp tục kế thừa, phát huy những
truyền thống tốt đẹp của quê hương, gia đình
0,75
Trang 245 Đánh giá, mở rộng, nâng cao:
- Ý kiến của Nguyễn Đình Thi khẳng định giá trị của một tác phẩm văn
học lớn; giúp người nghệ sĩ hiểu được vai trò, sứ mệnh của họ trên con
đường nghệ thuật
- Qua ý kiến của Nguyễn Đình Thi, người đọc hiểu sâu sắc hơn về tình
cảm của người cha trong bài thơ Nói với con và truyện ngắn Lão Hạc;
khơi dậy và bồi đắp thêm cho người đọc những tình cảm tốt đẹp trong
cuộc sống: tình yêu thương con, tình cảm gia đình, tình cảm cội nguồn
và tình yêu quê hương, xứ sở
Mà hương đồng cứ rập rờn trong mây
Khúc II.
Nghìn năm trên dải đất này
Cũ sao được cánh cò bay la đà
Cũ sao được sắc mây xa
Cũ sao được khúc dân ca quê mình!
Khúc III.
Cò bay bằng cánh trắng tinh Lúa thơm bằng phấn hương lành ai ơi Mây trôi bằng gió của trời
Là ta, ta hát những lời của ta!
(Nguyễn Duy, Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, 1973).
Câu 1 Xác định thể thơ và phương thức biểu đạt của bài thơ trên.
Câu 2 Hình ảnh Con cò bay lả bay la/ Theo câu quan họ bay ra chiến trường diễn tả điều gì?
Câu 3 Em hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Nghìn năm trên dải đất này
Cũ sao được cánh cò bay la đà
Cũ sao được sắc mây xa
Cũ sao được khúc dân ca quê mình!
Trang 25Câu 4 Cảm nhận của em về tình cảm của tác giả thể hiện qua khổ thơ cuối.
II LÀM VĂN (14.0 điểm).
Câu 1 (4.0 điểm).
Từ nội dung bài thơ trên, em hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ, tương
đương 20 – 25 dòng) nêu suy nghĩ về vai trò của quê hương trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 2 (10.0 điểm).
“Người đọc thơ muốn rằng thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay.”
(Xuân Diệu, Toàn tập, Tập 5, NXB Văn học)
Qua bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên Liên hệ với bài thơ Quê hương của Tế Hanh để thấy điểm gặp gỡ về tâm hồn, trí tuệ của hai nhà thơ.
3 Khuyến khích những bài viết sáng tạo, có kiến giải riêng nhưng phải thuyết phục
II Hướng dẫn cụ thể:
2 Là hình ảnh của quê hương yên ả, thanh bình trong hành trang ra trận
của người chiến sĩ
+ Khẳng định những câu hát dân ca không bao giờ lạc hậu, xưa cũ
+ Thể hiện niềm tin vào sức sống bền bỉ mãnh liệt của dân ca nói riêng
và những giá trị văn hóa truyền thống nói chung
+ Tạo cho lời thơ âm điệu tha thiết
(HS chỉ ra đúng mỗi biện pháp tu từ, cho 0.5đ; phần nêu hiệu quả đáp
ứng được 2/3 yêu cầu, cho 0.75đ).
1.0
1.0
4
Khổ thơ thể hiện sự yêu quý, tự hào từ những quy luật của tự nhiên
đến trách nhiệm, niềm vui tự hát của tác giả đối với quê hương, với tuổi
thơ Đó cũng là biểu hiện của tình cảm gắn bó với nguồn cội, với đất
nước
(HS đáp ứng được ½ yêu cầu, cho 1.0đ; đáp ứng được cả 2 yêu cầu cho
2.0đ HS có thể trả lời các ý ngoài đáp án, nếu đáp ứng tốt yêu cầu câu
hỏi, vẫn cho điểm tối đa).
2.0
Trang 26N II
1 Nghị luận xã hội (4.0 điểm)
a Đảm bảo cấu trúc của một đoạn văn nghị luận: Mở đoạn giới thiệu
vấn đề nghị luận; Thân đoạn làm rõ vấn đề nghị luận, triển khai được
luận điểm; Kết đoạn khái quát được nội dung nghị luận
0.25
c HS triển khai vấn đề nghị luận cụ thể, rõ ràng Có thể trình bày theo
định hướng sau:
- Vị trí, vai trò của quê hương trong đời sống của mỗi con người:
+ Mỗi con người đều gắn bó với quê hương, mang bản sắc, truyền thống,
phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương Chính vì thế, tình cảm dành
cho quê hương ở mỗi con người là tình cảm có tính chất tự nhiên, sâu
nặng
+ Quê hương luôn bồi đắp cho con người những giá trị tinh thần cao quí
(tình làng nghĩa xóm, tình cảm quê hương, gia đình sâu nặng )
+ Quê hương luôn là điểm tựa vững vàng cho con người trong mọi hoàn
cảnh, là nguồn cổ vũ, động viên, là đích hướng về của con người
- Bàn bạc mở rộng:
+ Phê phán một số người không coi trọng quê hương, không có ý thức
xây dựng quê hương, thậm chí quay lưng, phản bội quê hương, xứ xở
+ Tình yêu quê hương cũng đồng nhất với tình yêu đất nước, Tổ quốc
- Phương hướng, liên hệ:
+ Xây đắp, bảo vệ quê hương, phát huy những truyền thống tốt đẹp của
quê hương là trách nhiệm, là nghĩa vụ thiêng liêng của mổi con người
+ Là học sinh, ngay từ bây giờ phải tu dưỡng, tích lũy kiến thức để sau
này xây dựng, bảo vệ quê hương
a.Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Có đầy đủ phần Mở bài,
thân bài, kết bài Mở bài giới thiệu vấn đề nghị luận; Thân bài làm rõ
được nhận định, triển khai được các luận điểm; kết bài khái quát được
nội dung nghị luận
0.25
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự nhận
thức sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt
chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng
1 Mở bài:
Cách 1:
* Giới thiệu chung về vấn đề nghị luận.
- Dẫn dắt vấn đề nghị luận, trích dẫn nhận định
- Khẳng định vấn đề trong tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận,
liên hệ tác phẩm Quê hương của Tế Hanh
0.5
Trang 272 Thân bài.
* Triển khai làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.
1 Giải thích nhận định:Ý kiến của Xuân Diệu nêu lên một cách khái
quát yêu cầu của người đọc thơ đối với thơ ca:
+ "Thơ phải xuất phát từ thực tại": thơ được sinh ra từ trong hiện thực,
cuộc đời, cái đẹp trong thơ phải mang dấu ấn của cái đẹp trong cuộc
sống: "Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan"
+ Nội dung của thơ ca phải thể hiện "một tâm hồn, một trí tuệ": thơ ca
phải thể hiện được tình cảm và tư tưởng của thi nhân để rồi đưa tình
cảm, tư tưởng đó đến với mỗi người đọc Thơ ca chính là tiếng nói của
một cái tôi cá nhân với cuộc đời
+ Nghệ thuật sáng tạo thơ ca "càng cá thể, càng độc đáo, càng hay": Thơ
ca phải mang dấu ấn sáng tạo và thể hiện phẩm chất riêng biệt của thi
nhân
=> Ý kiến của Xuân Diệu khẳng định: một tác phẩm thơ cần bắt nguồn
từ hiện thực cuộc sống, thể hiện những tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, sâu sắc,
độc đáo cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật để đem lại giá
trị thẩm mĩ
9,0
1.0
2 Chứng minh nhận định qua tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá
* Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm
8.0đ
0,5
* Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá xuất phát từ hiện thực đời sống những
năm miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội Bài thơ được viết vào giữa
năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền
Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới
Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh
- Bài thơ là không khí lao động khẩn trương, hăng say trước cuộc sống
mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt trước cuộc sống mới
0,5
*Tâm hồn, trí tuệ của bài thơ cảm xúc dào dạt tin yêu của nhà thơ trước
cuộc sống mới qua hành trình một chuyến ra khơi của đoàn thuyền đánh
cá từ lúc hoàng hôn đến lúc bình minh
- Mở đầu bài thơ là cảm xúc của nhà thơ trước cảnh đoàn thuyền đánh cá
ra khơi trong buổi hoàng hôn
+ Cảnh biển đẹp, kì vĩ, tráng lệ mênh mang không gian bao la, mặt trời
đang từ từ xuống biển đỏ như quả cầu lửa khổng lồ Cảnh biển trước
hoàng hôn không nặng nề, tăm tối mà mang vẻ đẹp tráng lệ, rực rỡ
Thiên nhiên vũ trụ qua hình ảnh ẩn dụ trở nên gần gũi với con người
+ Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên kì vĩ là hình ảnh đoàn thuyền đánh
cá căng buồm lướt sóng ra khơi Tâm trạng náo nức của người lao động
hòa trong khúc hát lên đường đầy khí thế, nhiệt tình và khẩn trương
- Cảm hứng lãng mạn đã giúp tác giả phát hiện những vẻ đẹp của cảnh
đánh cá giữa biển đêm trăng, trong niềm vui phơi phới , khỏe khoắn, làm
chủ công việc của mình
3,5
Trang 28+ Sự giao thoa hai nguồn cảm hứng giữa thiên nhiên vũ trụ và con
người lao động đã tạo ra cảnh bắt cá của đoàn thuyền dưới đêm trăng
tuyệt đẹp, hùng tráng, mơ mộng; con thuyền nhỏ nhoi trước vũ trụ bao la
trở nên kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ
+ Các loài cá trên biển đẹp rực rỡ, tráng lệ như bức tranh sơn mài lung
linh huyền ảo được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng bằng sự quan
sát hiện thực
+ Không gian bao la lại tạo ra bức tranh trời nước với những ngôi sao
lấp lánh, trăng chan hòa sắc vàng không gian, mây cao, gió lộng buồm
căng thấm đẫm ánh trăng Biển đẹp và sống động: "Đêm thở: sao lùa
nước Hạ Long", "gõ thuyền đã có nhịp trăng cao"
+ Hình ảnh con người lao động là trung tâm của bức tranh được nhà thơ
khắc họa bằng nét bút giàu chất tạo hình Thân hình chắc khỏe, gân
guốc, cơ bắp cuồn cuộn; con người giao hòa, tạo nên bức tranh đánh bắt
cá trên biển đêm trăng vừa hùng tráng vừa thơ mộng
- Cảm xúc của tác giả trước cảnh bình minh và đoàn thuyền đánh cá trở
về trong niềm vui chiến thắng
+ Biển trời bao la, sự vận động của thiên nhiên trên biển thật kì vĩ, mát
mẻ, trong trẻo, tinh khôi, khoáng đãng Con người chạy đua cùng thời
gian trong niềm vui lao động Nghệ thuật đầu cuối tương ứng diễn tả vẻ
đẹp hào hùng đầy hứng khởi của con người từ lúc ra đi đến lúc trở về
vẫn trong niềm vui chiến thắng
+ Hình ảnh màu mới, huy hoàng vừa tả thực vừa gợi lên màu cuộc sống
huy hoàng với niềm tin về một cuộc đời tươi đẹp
*Bài thơ thành công bởi sự sang tạo, làm nên nét cá thể hóa, độc đáo
của bài thơ:
+ Sáng tạo hình ảnh rộng lớn, tráng lệ; bút pháp lãng mạn, phóng đại,
khoa trương với nhiều hình ảnh lớn lao, kì vĩ đã làm hiện thực thêm kì
ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có trong tự nhiên
+ Thể thơ 7 chữ, đặc biệt cách gieo vần có nhiều biến hóa linh hoạt, các
vần trắc xen vần bằng, vần liền xen vần cách Các vần trắc tạo sức dội,
sức mạnh, các vần bằng tạo sự vang xa, bay bổng góp phần biểu hiện
niềm say sưa, hào hứng và những ước mơ bay bổng của con người muốn
hòa hợp với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên bằng công việc lao
động của mình
* Liên hệ trí tuệ, tâm hồn trong tác phẩm Quê hương: Hình ảnh quê
hương làng chài hiện về trong nỗi nhớ tha thiết của người xa quê
- Khổ đầu bài thơ Quê hương là cảnh đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong
buổi bình minh Đó là những câu thơ đẹp, mở ra cảnh tượng bầu trời cao
rộng, trong trẻo, nhuốm nắng hồng bình minh; trên đó, nổi bật lên hình
ảnh đoàn thuyền băng mình ra khơi
+ Hình ảnh so sánh Chiếc thuyền hăng như con tuấn mã và một loạt các
động từ mạnh: hăng, phăng, vượt diễn tả thật ấn tượng khí thế băng tới
dũng mãnh của con thuyền ra khơi, làm toát lên một sức sống mạnh mẽ,
0,5
Trang 29một vẻ đẹp hùng tráng đầy hấp dẫn Bốn câu thơ vừa là phong cảnh thiên
nhiên tươi sáng, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi và dào dạt sự
sống
+ Hai câu tiếp theo miêu tả cánh buồm căng rất đẹp, một vẻ đẹp lãng
mạn với sự so sánh bất ngờ:
+ Cánh buồm bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng và rất thơ mộng Hình
ảnh so sánh vừa vẽ ra chính xác cái hình, vừa cảm nhận được cái hồn
của tạo vật, gợi vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao Con thuyền, cánh
buồm đã trở thành linh hồn của làng chài
+ Khổ cuối bài thơ là hình ảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong không
khí lao động ồn ào, tấp nập, đày ắp niềm vui, sự sống Hình ảnh con
người với vẻ đẹp vạm vỡ, nhuộm nắng gió, nồng thở vị xa xăm của biển
khơi
những bài thơ hay, đánh dấu trong sự nghiệp sáng tác của mỗi người
* Điểm tương đồng và khác biệt:
- Điểm gặp gỡ về tâm hồn và trí tuệ của hai bài thơ: khắc họa được sắc
nét cảnh vật thiên nhiên và con người lao động giữa biển trời Đều xuất
phát từ hai nguồn cảm hứng về thiên nhiên và con người lao động, thể
hiện tình yêu, sự gắn bó với thiên nhiên và cuộc sống lao động của con
người Cả hai bài thơ đều vẽ lên những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, làm
nền cho vẻ đẹp của con người trong hành trình chinh phục biển khơi Cả
hai bài thơ đều khắc họa tâm thế hào hứng và niềm lạc quan phơi phới
của người lao động
- Điểm khác biệt là hai bài thơ ra đời trong hai giai đoạn khác nhau với
hoàn cảnh sáng tác riêng Quê hương thuộc phong trào Thơ mới, sang
tác (1938) trong hoàn cảnh nhà thơ xa quê, gửi tình yêu và nỗi nhớ của
người con phương xa về với quê nhà Còn Đoàn thuyền đánh cá ra đời
năm 1958, trong giai đoạn miền Bắc xây dựng CNXH, nhà thơ có dịp đi
thực tế vùng mỏ Quảng Ninh, cùng sống trong không khí lao động khẩn
trương, chứng kiến niềm vui phơi phới của con người lao động mới làm
chủ cuộc đời
=> Tuy ra đời trong hai giai đoạn với hoàn cảnh sáng tác riêng, song hai
nhà thơ cùng xuất phát từ hiện thực đời sống, đi qua tâm hồn, trí tuệ của
nhà thơ để sáng tạo nên
2,5
* Đánh giá, nâng cao
- Ý kiến trên khẳng định, sức hấp dẫn của một bài thơ chính là từ nội
dung và nghệ thuật của bài thơ đó Đoàn thuyền đánh cá và Quê hương
đã tác động sâu sắc đến người đọc, khơi gợi từ tình yêu thiên nhiên, tình
lao động đến tình yêu tổ quốc
- Bài học đối với người sáng tác và người tiếp nhận thơ ca:
+ Nhà thơ cần trau dồi vốn sống, sống sâu sắc với thế giới nội tâm của
mình, lao động công phu, nỗ lực không ngừng trong hoạt động sáng tạo
+ Bạn đọc cần tiếp nhận tác phẩm bằng toàn bộ thế giới tinh thần của
mình trên tinh thần đối thoại, đồng sáng tạo với nhà thơ
0,5
Trang 303 Kết bài.
d Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị
luận
0,25
e Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ
nghĩa tiếng Việt
0,25
Đề 57:
“Giá trị vĩnh hằng của thơ là những vấn đề mang tính nhân văn, thuộc về con người, thuộc về nhân loại”.
(Trần Hoài Anh - Thanh Thảo và thơ - nhavantphcm.com.vn)
Dựa vào một số đoạn trích trong truyện Kiều đã được học (SGK Ngữ Văn 9, tập 1,
NXB Giáo Dục Việt Nam) và sự hiểu biết thêm của em về tác phẩm Truyện Kiều, hãy làm
sáng tỏ ý kiến trên.Liên hệ đoạn trích Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố (SGK Ngữ Văn 8, tập
1, NXB Giáo dục Việt Nam) để thấy tính nhân văn của từng tác phẩm
Hướng dẫn làm bài
Nội dung
a Đảm bảo cấu trúc một bài văn nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần: Mở
bài, Thân bài, Kết bài Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần
Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm
sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức
của cá nhân
0.25
b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tính nhân văn của Nguyễn Du được
thể hiện trong các đoạn trích Truyện Kiều và liên hệ với tính nhân văn trong đoạn
trích Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố
0,25
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm
được triển khai theo trình tự hợp lí, có liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác
lập luận để triển khai các luận điểm Học sinh có thể giải quyết vấn đề theo
- Giới thiệu về “Truyện Kiều”: là kiệt tác của Nguyễn Du, là tác phẩm kinh điển
của văn học Việt Nam và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới
- Giới thiệu vị trí đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” và “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
- Giá trị nhân văn được thể hiện ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ thông qua bức
chân dung của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân và sự đồng cảm chia sẻ với tâm
trạng nàng Kiều, đồng thời tố cáo xã hội phong kiến với những thế lực tàn bạo
+ Giá trị vĩnh hằng của thơ: Giá trị đích thực của tác phẩm, làm nên sức hấp dẫn
và sức sống trường tồn của tác phẩm trong lòng công chúng
+0,5
Trang 31+ Tính nhân văn: ?
-> Điều làm nên giá trị đích thực, bất biến muôn đời của tác phẩm thơ nói riêng
và tác phẩm văn học nói chung, chính là những giá trị nhân văn, những vẻ đẹp và
khát vọng muôn đời của con người được gửi gắm trong tác phẩm
- Lí giải: Vì sao “giá trị vĩnh hằng của thơ là những vấn đề mang tính nhân văn,
thuộc về con người, thuộc về nhân loại”?
- Đối tượng phản ánh của văn học chính là con người ?
Một số đoạn trích trong truyện Kiều… đã thể hiện tính nhân văn tạo nên giá trị
vĩnh hằng cho tác phẩm…
* Phân tích, chứng minh:
1 Tính nhân văn trong các đoạn trích Truyện Kiều:
- Sự trân trọng ?
+ Vẻ đẹp của nhan sắc: Trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều, với bút pháp ước lệ
tượng trưng và nghệ thuật so sánh, nhân hóa, đòn bẩy, sử dụng điển tích và thành
ngữ dân gian, Nguyễn Du đã trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao,
trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh
thần”
Vẻ đẹp chung của hai chị em: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”.Vóc dáng mảnh
mai, tao nhã như mai, tâm hồn trong trắng như tuyết Đó là vẻ đẹp hoàn hảo cả
hình thức lẫn tâm hồn Hai chị em đều tuyệt đẹp với vẻ đẹp “mười phân vẹn
mười” song mỗi người lại mang nét đẹp riêng khác khau “mỗi người một vẻ”.
Thúy Vân có vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp hòa
hợp của thiên nhiên, với trăng, ngọc, mây, tuyết (Phân tích dẫn chứng để làm
sáng tỏ)
Nếu như Thúy Vân có vẻ đẹp hoàn hảo thì Thúy Kiều lại càng vượt trội trên cái
đẹp hoàn hảo ấy: sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn Một vẻ đẹp “nghiêng
nước nghiêng thành”, có một không hai của một tuyệt thế giai nhân (Phân tích
dẫn chứng để làm sáng tỏ)
+ Vẻ đẹp của đức hạnh: Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du
không chỉ nhan sắc tuyệt vời mà còn đức hạnh khuôn phép, đoan trang, đúng
mực.(Phân tích dẫn chứng)
Ở Thúy Kiều còn sáng lên vẻ đẹp của đạo hiếu, ý thức sâu sắc về phẩm giá, đức
tính thủy chung, có tấm lòng trọng ân nghĩa, một tấm lòng bao dung, độ lượng
(Phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ)
+ Vẻ đẹp của tài năng: Tạo hóa không chỉ ban cho Thúy Kiều vẻ đẹp tuyệt thế
giai nhân mà còn phú cho nàng trí tuệ thông minh tuyệt đối.Tài năng của Kiều đạt
tới mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến, đủ cả cầm - kì - thi - họa
Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả “ làu bậc ngũ âm” Nàng đã soạn riêng
một khúc Bạc mệnh mà ai nghe cũng não lòng Đây chính là biểu hiện của một
con người có trái tim đa sầu, đa cảm Tả sắc, tài của Thúy Kiều là Nguyễn Du
muốn ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp: sắc tài
-tình đều đạt đến mức tuyệt vời (Phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ)
+2,5
Trang 32- Sự dự cảm của nhà thơ về cuộc đời tài hoa của con người.
+ Vẻ đẹp nhân vật
+ Chân dung Thúy Kiều là bức chân dung mang tính cách số phận Vẻ đẹp “chim
sa cá lặn” của nàng khiến cho tạo hóa ghen hờn, đố kị Tài hoa, trí tuệ thiên bẩm
và tâm hồn đa sầu, đa cảm khiến nàng khó tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã Thi
nhân dự báo số phận Thúy Kiều sẽ phải chịu nhiều éo le, đau khổ bởi “Lạ gì bỉ
sắc tư phong / Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” Nhất là cung bàn bạc
mệnh đầy khổ đau, sầu não do Kiều soạn riêng cho mình như báo trước cuộc đời
hồng nhan, bạc phận Dự cảm về kiếp người tài hoa, bạc mệnh cũng là biểu hiện
của tấm lòng thương cảm sâu sắc đối với con người, là biểu hiện của cảm hứng
nhân văn mà Nguyễn Du dành cho nhân vật Thúy Kiều ngay từ những vần thơ
mở đầu tác phẩm - đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”
- Sự đồng cảm, sẻ chia, đau xót với những bất hạnh của con người.
+ Đau xót cho thân phận con người bị chà đạp, khinh rẻ, bị biến thành một món
hàng để cân đo đong đếm (Phân tích dẫn chứng đoạn trích Mã Giám Sinh mua
Kiều để làm sáng tỏ).
+ Đau xót cho cảnh ngộ côi cút, đơn độc nơi lầu Ngưng Bích “khóa xuân”
+ Nguyễn Du nhập thân vào nhân vật để cảm nhận hết nỗi đau của nhân vật, tác
phẩm viết ra như có “máu chảy trên đầu ngọn bút”, thương cảm cho tương lai bất
định, nhiều bất an của Kiều nơi lầu Ngưng Bích.(Phân tích dẫn chứng để làm
sáng tỏ)
- Thái độ lên án, tố cáo những thế lực chà đạp lên con người.
Nguyễn Du đã sử dụng ngòi bút hiện thực để vạch trần bản chất xấu xa của những
kẻ bất nhân trong xã hội xưa, những kẻ “buôn thịt bán người”, kiếm sống trên
thân xác của những cô gái vô tội, tiêu biểu là Mã Giám Sinh Ông đã bóc trần cái
mác “giám sinh” của họ Mã để cho thấy tính cách vô học, thô thiển của hắn.Đồng
thời ông cũng phẫn nộ trước bản chất con buôn của họ Mã (Phân tích dẫn chứng
để làm sáng tỏ)
2 Tính nhân văn trong các đoạn trích Truyện Kiều chính là dấu ấn nghệ thuật
đặc sắc của tài năng bậc thầy Nguyễn Du.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật (qua lời thoại, qua ngoại hình, qua tính cách) đặc
- Giới thiệu khái quát tác giả Ngô Tất Tố và đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”, dẫn vào
tính nhân văn được thể hiện trong đoạn trích với các ý chính:
Ngợi ca những vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội thực dân nửa phong kiến
tiểu biểu là chị Dậu - người phụ nữ thương yêu chồng con tha thiết, đảm đang
tháo vát, luôn tiềm tàng một sức mạnh phản kháng
Cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của chị
Tố cáo lên án xã hội thực dân nửa phong kiến…
- Điểm tương đồng:
+0,5