1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

The abstracts of master’s theses in english a genre based analysis

58 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu thu thập số liệu về hình thái giải phẫu, đặc điểm dinh dưỡng,đặc điểm sinh trưởng và đặc điểm sinh sản của cá Thát lát phân bố ở đầm Trà Ổ, tỉnh Bình Định

Trang 1

ĐẶNG THỊ THẠCH TRÚC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

CỦA CÁ THÁT LÁT (Notopterus notopterus) PHÂN

Trang 2

Thát lát (Notopterus notopterus) phân bố tại đầm Trà Ổ, tỉnh Bình Định”

là công trình nghiên cứu của bản thân, được thực hiện dưới sự hướng dẫnkhoa học của TS Võ Văn Chí Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trìnhbày trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứunào trước đây

Học viên Đặng Thị Thạch Trúc

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đầm Trà Ổ thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định thuộc một trong 12đầm phá lớn của miền Trung và là một trong 3 đầm phá lớn nhất ở Bình Định.Đầm có diện tích mặt nước lên đến 2000 ha và thay đổi theo mùa, giáp với 4

xã (Mỹ Thắng, Mỹ Lợi, Mỹ Châu, Mỹ Đức) Hằng năm, đầm mang lại chocộng đồng dân cư ở khu vực này một khối lượng lớn các sản phẩm thủy sản.Trong đó, nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, góp phần giải quyết nhu cầuđời sống của đại bộ phận dân cư ven đầm và đóng góp vào sự phát triển kinh

tế xã hội chung của địa phương và của tỉnh Bình Định

Đầm Trà Ổ là một đầm nước ngọt tự nhiên, mang tính đặc trưng của hệthống đầm phá ven biển miền Trung Việt Nam Trong đầm, hệ động, thực vậtphù du rất phong phú tạo nguồn thức ăn ban đầu cho các loài thủy sản Nơiđây có nhiều giống loài thủy đặc sản rất có giá trị, như chình mun, chìnhbông, cá thát lát, rạm, tôm, cua,….Vì vậy, đây chính là nơi cung cấp các mónđặc sản tươi sống cho thị trường trong và ngoài tỉnh

Cá Thát lát ở đầm là một trong những đối tượng có giá trị kinh tế đượcngười dân quan tâm Cá Thát lát có thịt ngon, đặc biệt thịt có độ dẻo nênthường dùng để chế biến món chả cá, là một món đặc sản rất được ưa chuộng

ở huyện Phù Mỹ nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung Vì thế, nhu cầu tiêuthụ cá Thát lát ở đầm Trà Ổ ngày càng gia tăng Đây là một trong những nguyênnhân góp phần gia tăng sự khai thác quá mức, làm cho sản lượng loài cá này ngoài

tự nhiên giảm nghiêm trọng, kích cỡ cá thương phẩm ngày càng nhỏ dần Vì vậy,việc thực hiện các nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về đặc

điểm sinh học của cá Thát lát, đặc biệt là sinh học dinh dưỡng và sinh sản làrất cần thiết để góp phần bảo tồn hiệu quả loài có giá trị kinh tế này Ngoài ra,việc nghiên cứu những đặc điểm sinh học cơ bản của cá Thát lát sẽ làm cơ sở

Trang 4

cho nuôi thuần dưỡng và tiến xa hơn là sản xuất giống đối tượng này tại địaphương, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường và giảm áp lực lên khai thácđối với nguồn lợi cá tự nhiên, đồng thời đa dạng hóa đối tượng nuôi mới tạiBình Định.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm sinhhọc của loài cá này ở khu hệ đầm Trà Ổ được thực hiện Vì vậy, chúng tôi

thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Thát lát

(Notopterus notopterus) phân bố tại đầm Trà Ổ, tỉnh Bình Định”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập số liệu về hình thái giải phẫu, đặc điểm dinh dưỡng,đặc điểm sinh trưởng và đặc điểm sinh sản của cá Thát lát phân bố ở đầm Trà

Ổ, tỉnh Bình Định để làm cơ sở cho việc bảo vệ nguồn lợi cũng như nhângiống và nuôi thương phẩm loài cá này

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

 Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung những dẫn liệu khoa học quan trọng về

đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm dinh dưỡng và đặc điểm sinh sản của

cá Thát lát ở đầm Trà Ổ làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếptheo về sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm, nhằm giảm áp lực khaithác nguồn lợi loài cá này trong tương lai

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Điều kiện tự nhiên của đầm Trà Ổ

1.1.1 Vị trí địa lý

Đầm Trà Ổ nằm ở phía Bắc huyện Phù Mỹ, là một trong ba đầm lớn củatỉnh Bình Định, có diện tích mặt nước giáp các xã: Mỹ Đức, Mỹ Châu, MỹThắng, Mỹ Lợi thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

1.1.2 Địa hình, khí hậu, thủy văn

Đầm Trà Ổ có diện tích mặt nước lên đến 2000 ha và thay đổi theo mùa,

độ sâu không đáng kể Chỉ đôi chỗ theo dòng chảy chính có độ sâu trên 2 m.Đầm được thông ra biển qua cửa Hà Ra Trước khi đổ ra biển nước đầm phải

di chuyển trên một kênh dẫn hẹp và uốn khúc gọi là sông Châu Trúc với chiềudài khoảng 5 km Trắc diện đáy đầm có cấu tạo bất đối xứng và chia thành haibậc địa hình: bậc độ sâu 0 – 1 m và bậc sâu trên 1 m [1]

Đầm Trà Ổ mang tính chất của nền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, với haimùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng

12 Nhiệt độ trung bình hằng năm 25,70C Độ ẩm tại vùng đầm chỉ đạt 79 –81% ứng với mùa mưa Độ ẩm cực đại khoảng 83 – 84% vào tháng 11, 5, 6

Độ ẩm cực tiểu là 71 – 81% vào tháng 7 và tháng 1 Độ ẩm trung bình nhiềunăm là 79% [1] Tại khu vực đầm Trà Ổ lượng mưa bắt đầu vào tháng 8, kếtthúc vào tháng 12 với khoảng 1650mm, chiếm khoảng 80% lượng mưa cảnăm Lượng mưa lớn nhất tập trung vào 3 tháng 9, 10, 11; lượng nước chiếmkhoảng 83% (1320mm) tổng lượng nước mùa mưa và khoảng 67% lượngmưa cả năm Các tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 2, 3 và 4, chiếm 2-5%lượng mưa cả năm

Đầm Trà Ổ thông với biển qua một đoạn sông ngắn là sông Châu Trúcdài khoảng 5 km và thông ra biển qua cửa Hà Ra, cửa này chỉ mở tạm vàomùa lũ và bồi cạn trong mấy tháng mùa khô Trên lưu vực có các sông suối

Trang 6

nhỏ bắt nguồn từ các dãy núi cao bao quanh đổ vào đầm, như suối Núi Miếu,suối Sổ, suối Đập Thầy, suối Cạn, suối Ông Diệu Vào mùa mưa, nước lũ từthượng nguồn đổ về mang theo một lượng phù sa lắng đọng lại trong đầm.Tùy thuộc vào lượng nước từ nguồn đến theo mùa, diện tích mặt nước đầmTrà Ổ lúc rộng nhất khoảng 2000 ha, trung bình 1000 – 1200 ha Vào mùakhô kiệt mặt nước có thể thu hẹp, còn lại khoảng 200 – 300 ha [1].

1.1.3 Thành phần các loài sinh vật trong đầm Trà Ổ

Đầm Trà Ổ là một trong 3 đầm phá lớn nhất ở Bình Định, thể hiện nhữngnét đặc trưng về một hệ sinh thái của vùng đất ngập nước ở khu vực miềnTrung Việt Nam Đầm Trà Ổ có chế độ môi trường nước và thủy văn thuậnlợi đã tạo điều kiện cho nhiều loại ấu trùng, hải sản đến đây sinh sống và pháttriển, là vườn ươm của các loài tôm, cua, cá và các loài nhuyễn thể

như mắm (Avicennia) và những loại cây đi theo như ô rô (Acanthus), cói (Cyperus), mái đầm (Cryptocoryne)…[1].

1.1.3.2 Thực vật lớn trong đầm

Thực vật lớn trong đầm gồm tảo đa bào, các loài thuộc dương xỉ (chua

me, bèo ong, bèo tấm…) Thực vật có hoa một lá mầm (nghể, súng…) và hai

lá mầm (rong nhám, cỏ hẹ, lục bình, sậy, cói…) Những loài phát triển mạnhtrong đầm là cỏ hẹ (cỏ tóc tiên), rong lá, rong chân chó, đuôi chồn, rong

Trang 7

nhám, tảo vàng, năng, lác ba cạnh Ưu thế nhất trong chúng là cỏ hẹ, rong lá,rong chân chó Cỏ hẹ có ở khắp đầm, mật độ khá dày và tương đối thuần loại,tập trung 2/5 đầm về phía Châu Trúc hướng ra đập Khoảng 3/5 đầm còn lạirong lá phát triển mạnh mẽ hơn cỏ hẹ Kích thước của 2 loại này khá lớn,vươn cao trong tầng nước 60 – 80 cm Chúng mọc xen nhau, dày đặc cùng vớirong chân chó, đuôi chồn… cản trở sự đi lại của thuyền trên đầm Ở nhữngnơi nước rút cạn, những loài rong này trải ra một lớp xốp dày 5 – 10 cm, thốinhũng [1].

1.1.3.3 Thực vật nổi

Thực vật nổi là thức ăn cho các động vật nổi và cá nổi Khi chết cùng vớisản phẩm đang phân hủy của xác tạo nên nguồn thức ăn cặn vẩn cho các sinhvật ăn cặn vẩn (tôm, thân mềm, cá…)

Qua khảo sát vào năm 1996 tại đầm Trà Ổ phát hiện 73 loại tảo thuộc 4

ngành: Khuẩn Lam (Cyanobacteriophyta), tảo Mắt (Euglenophyta), tảo Lục (Chlorophyta) và tảo Silic (Bacillariophyta) (Bảng 1.1) Tảo Silic giàu nhất,

chiếm đến 41% tổng số, sau là tảo Lục, khuẩn Lam và tảo Mắt Trong số tảoSilic thì tảo Silic lông chim chiếm ưu thế, đặc trưng cho khu hệ tảo nước ngọt

với nhiều đại diện thuộc các chi Achannanthes, Cocconeis, Navicula,

Gyrosygma, Pleurosigma, Suirella, Synedra… Tảo Silic trung tâm (Centricea) ít loài hơn song cũng là những loài sống trong nước ngọt như: Actynocyclus ehrenbergi, Melosira granulate, Coscinodiscus rothii, Cyclotella kutzingiana.v.v… Ngành khuẩn Lam (Cyanobacteiophyta) và tảo

Mắt (Euglenophyta) khá đa dạng loài, tập trung vào một số chi như

Oscilatoria, Spirulina, Euglens… thường hay phát triển mạnh ở khu vực giàu

chất hữu cơ, bắt đầu nhiễm bẩn Trong thành phần tảo của đầm Trà Ổ còn cómặt một số loài ưa độ muối thấp thuộc vùng cửa sông và biển ven bờ, phân bốrộng từ cửa sông Hồng đến vùng ven biển Ninh Thuận – Minh Hải như:

Trang 8

Nitzschi longgissima, N.paradosa, N.pungense, N.sigma, Surirella biserita, S.rubosa, Cymbella turgida, Cocconeis placentula [1].

Bảng 1.1 Số lượng loài của các ngành tảo trong đầm Trà Ổ

Tên Cyanobacteriophyta Euglenophyta Chlorophyta Bacillariophyta

Theo nghiên cứu của Nguyễn Cao Huần và Đặng Trung Thuận (1998)

[1], ghi nhận được 34 loài, 5 dạng ấu trùng của muỗi Anopheles và giáp xác thuộc các giai đoạn Nauplius, Zoea, Mysis, Copedodid (Bảng 1.2).

Bảng 1.2 Số lượng và tỷ lệ các nhóm động vật nổi trong đầm Trà Ổ

Ấu

Nhóm Protozoa Rotatoria Cladocera Copepoda Hydrozoa trùng Tổng

các loại

Trang 10

là Copepoda và Rotatoria (Bảng 1.2) Rotatoria mặc dù sinh vật lượng thấp,

kích thước nhỏ nhưng là nguồn thức ăn quan trọng cho ấu trùng các loài tôm,

cá được sinh ra trực tiếp trong đầm Nhóm Copepoda và Cladocera là sinh vật

tiêu thụ thực vật nổi, đồng thời là thức ăn cho các loài cá nổi khác

( Nguồn: Nguyễn Cao Huần, Đặng Trung Thuận, 1998) [1]

1.1.3.6 Thành phần các loài cá trong đầm

Theo kết quả điều tra khảo sát của Nguyễn Cao Huần và Đặng TrungThuận (1998), trong đầm có 65 loài cá thuộc 28 họ, 11 bộ Trong đó, họ cá

Chép (Cyprinidae) (bộ Cá Chép Cypriniformes) có hơn 20 loài, chiếm đến

33,4% tổng số loài Những loài cá từ nguồn gốc biển có tới 25 loài, chiếm đến

38,5% tổng số loài, gồm các loài thuộc họ Cá Úc (Ariidae) (bộ Cá Nheo

Siluriformes), họ Cá Chình rắn (Ophichthidae) (bộ Cá Chình Anguilliformes),

Trang 11

họ Cá Đối (Mugilidae) (bộ Cá Đối Mugiliformes), 2 họ của bộ Cá Kìm (Beloniformes) và khoảng 10 họ của bộ Cá Vược (Perciformes)[1] (Bảng 1.4).

Bảng 1.4 Cấu trúc khu hệ cá đầm Trà Ổ

1 Osteoglossiformes (Bộ Cá Rồng hay bộ Cá 1 3,6 1 1,5 Thát Lát)

( Nguồn: Nguyễn Cao Huần, Đặng Trung Thuận, 1998) [1]

1.2 Thành phần loài và sự phân bố của cá Thát lát

Theo Rainboth (1996), họ cá Thát lát (Notopteridae) có 4 loài phân bố ở Nam Á và Đông Nam Á, gồm các loài: cá Thát lát (Notopterus notopterus), cá Nàng hai (cá Còm) (Chitala chitala), cá Đao cọp (Chitala blanci), cá Vây mao (Chitala lopis) [27].

Cá Thát lát (Notopterus notopterus) phân bố ở Ấn Độ, Thái Lan, Đông

Dương Ở Việt Nam, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long,vùng sông Đồng Nai và các tỉnh miền Trung (Lê Thị Nam Thuận, Ngô Thị

Trang 13

Cá cũng gặp ở cửa sông và các đầm nước lợ ven biển Giới hạn cao nhất của

cá Thát lát về phía Bắc là lưu vực sông Lam (Nghệ An) (Vũ Trung Tạng,Nguyễn Đình Mão, 2005) [8]

Trong tự nhiên, cá Thát lát cườm (hay cá Còm, cá Nàng hai) (Chitala

chitala) phân bố ở nhiều nước trên thế giới như Myanmar, Thái Lan,

Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia Ở Việt Nam, cá phân bố chủ yếu ởvùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk,Kom Tum) Mùa nước lũ, cá đi vào các đồng ruộng ngập nước sinh sống, mùakhô, cá ra sống ở các rạch lớn, sông chính, các vực nước sâu Cá Thát látcườm sống được ở vực nước có lượng oxy thấp, nhờ cơ quan hô hấp phụ.Trong điều kiện tự nhiên, cá sống ở tầng giữa và tầng đáy Ban ngày cáthường ẩn nấp trong đám thực vật thuỷ sinh Ban đêm cá hoạt động nhiềuhơn, cá bơi lội chậm nhẹ nhàng, vây hậu môn hoạt động liên tục như làn sóng,

cá thích sống trong môi trường có nhiều thực vật thuỷ sinh lớn, pH nước 6,5 –

7, nhiệt độ thích hợp cho cá từ 26 – 280 C (Dương Nhựt Long, 2003) [4]

1.3 Tình hình về nghiên cứu sinh học cá

Ở Việt Nam, các loài cá nói chung và cá kinh tế nói riêng mang nhữngđặc tính điển hình của các loài cá nhiệt đới Phần lớn cá có kích thước nhỏ vàtrung bình; tuổi thành thục đến sớm, thường từ 1 – 3 tuổi Cá thường đẻ nhiềuđợt trong năm, tuy nhiên mùa đẻ tập trung vào các tháng xuân hè, khi nhiệt độnước được nâng cao, nguồn thức ăn trong các thủy vực trở nên phong phú.Sức sinh sản của cá phụ thuộc vào đặc tính của từng loài (Vũ Trung Tạng,Nguyễn Đình Mão, 2005) [8]

1.3.1 Nghiên cứu về hình thái cá

Nghiên cứu về hình thái cá là một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu

cá, cung cấp những thông tin chủ yếu cho các nghiên cứu về phân loại và tiến

Trang 14

hóa của cá Những đặc điểm của loài như hình dáng, kích cỡ, màu sắc, sự sắpxếp của vi, vảy và các chỉ tiêu hình thái khác là tiêu chuẩn trợ giúp cho việcnhận dạng, định danh và phân loại cá (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định,2004) [5].

Môi trường sống của cá là nước, do đó hình thái bên ngoài của cá thíchnghi với đời sống ở nước Để thích nghi với các thủy vực khác nhau, cá cócấu tạo hình dạng nhất định Chính vì vậy, hình dạng cơ thể cá rất đa dạng.Dạng hình thoi là dạng hình phổ biến nhất của cá, những loài cá có dạng hình

thoi (cá Thu Scomber, cá Măng Etopichtthys bambusa,…) có thể sống và

phân bố ở các tầng nước, ở các thủy vực khác nhau, nhiều loài thuộc bọn cá

dữ, cá có tập tính di cư Những loài cá có dạng hình dẹt bên (cá Chim đen

Formio niger, cá Dìa Sọc Siganus guttatus,…) thường phân bố ở vùng hạ lưu

các sông, đầm, hồ, vịnh, chúng sống ở tầng nước giữa hoặc gần đáy, nơi có

dòng nước chảy yếu hoặc yên tĩnh Cá có dạng hình bẹt (ví dụ: Cá Đuối Raji)

phần lớn sống ở tầng đáy hoặc gần sát đáy, ít bơi lội, di chuyển chậm chạp

Cá có dạng thân hình ống dài (cá Chình Anguilla , Chạch Bùn Misgunus,…)

thường sống chui rúc trong bùn, sống ở hang, do đó thân không có vẩy, cácvây tiêu giảm, thân tiết nhiều chất nhầy, di chuyển trong nước bằng cách uốnthân lượn sóng (Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão, 2005) [8]

* Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái của cá Thát lát

Cá Thát lát (Notopterus notopterus) là loài cá xương nước ngọt, thân rất

dẹt, đuôi rất nhỏ, toàn thân phủ vảy nhỏ; đường bên chạy giữa thân, tương đốilớn Cá đực có thân hình thon dài, bụng lép; gai thịt nhỏ nhọn (có thể xem nhưgai sinh dục), có kích thước 1,5 – 2 cm Cá cái có bụng lớn hơn, phình rộng

do mang trứng, lỗ sinh dục màu hồng và không có gai sinh dục (Lê Thị NamThuận, Ngô Thị Hương Giang, 2013) [10]

Trang 15

Cá Còm hay cá Nàng hai (Chitala chitala) có hình dạng bên ngoài rất giống với cá Thát lát (Notopterus notopterus) nhưng trên thân có nhiều đốm

tròn đen với viền trắng và phân bố dọc theo vây hậu môn Cá trưởng thành có

4 - 10 đốm đen, viền trắng nằm dọc phía trên vây hậu môn Lúc cá còn nhỏthân có 10 - 15 sọc đen ngang thân Khoảng 2 tháng tuổi phần dưới của cácsọc này xuất hiện các đốm nâu tròn Cá càng lớn, đốm càng rõ nét, trong khicác sọc mờ dần rồi mất hẳn (Dương Nhựt Long, 2003) [4]

1.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng của cá

Dinh dưỡng là một trong những khâu quan trọng nhất trong đời sống của

cá, chi phối đến mọi hoạt động sống khác Nhờ hoạt động này vật chất vànăng lượng được tích lũy trong cơ thể, đảm bảo cho cá thực hiện được cácchức năng sinh học khác như sự tăng trưởng, phát dục và tái sản xuất nhữngthế hệ mới (Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão, 2005) [8] Nhờ hoạt động của

hệ tiêu hóa mà các chất dinh dưỡng từ môi trường ngoài được chuyển vào cơthể dưới dạng thức ăn nhằm cung cấp dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chấtcủa cơ thể (Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010) [2]

Các nghiên cứu về thức ăn và tập tính dinh dưỡng của cá thì rất phức tạp

và đòi hỏi nhiều công đoạn phân tích trong phòng thí nghiệm Do không thểquan sát trực tiếp tập tính bắt mồi của cá trong tự nhiên nên cách tốt nhất đểxác định tập tính dinh dưỡng của cá là phân tích thành phần thức ăn có trongruột (dạ dày) của cá (Phạm Thanh Liêm, Trần Đắc Định, 2004) [5]

Theo Biswas (1993), thức ăn tự nhiên của cá chia thành 4 nhóm chính:

sinh vật phù du (plankton), sinh vật tự bơi (nekton), sinh vật đáy (benthos) và chất vẩn (detritus) Sinh vật phù du gồm tảo, động vật có kích thước nhỏ, ấu

trùng của nhiều loại côn trùng, sống trôi nổi trong nước, chia thành 2 nhóm

chính: thực vật phù du (phytoplankton) và động vật phù du (zooplankton).

Trang 16

Sinh vật tự bơi là nhóm động vật có kích thước lớn, sống và bơi lội tự dotrong các tầng nước của thủy vực; bao gồm giáp xác, thân mềm, cá,….Sinhvật đáy là nhóm sinh vật sống ở nền đáy của thủy vực, có thể là thực vật đáy

(phytobenthos) hay động vật đáy (zoobenthos) [17].

Nói chung, nguồn thức ăn của cá trong các thủy vực rất đa dạng và

phong phú, từ chất hữa cơ hòa tan, đến các cơ thể sinh vật như vi sinh vật, cácloài thực vật và động vật Tuy nhiên, tùy vào đặc tính của từng loài hay từnggiai đoạn phát triển cá thể, tùy thuộc vào các thủy vực hay những khoảng thờigian khác nhau (ngày, đêm, mùa)… mà thành phần thức ăn của cá cũng rấtkhác nhau Dựa vào thành phần thức ăn, cá có thể được chia thành các nhómsinh thái dinh dưỡng sau: Cá ăn thực vật, cá ăn động vật, cá ăn mùn bã, cá ăntạp và cá dữ ăn cá [8] Theo Das và Moitra (1963), cá ăn thực vật (thành phầnthức ăn chiếm hơn 75% là các loại thực vật), cá ăn tạp (cá ăn được cả thức ănthực vật và động vật) và cá ăn thịt (thành phần thức ăn động vật chiếm hơn80%) Những loài ăn tạp có loài ăn thiên về thức ăn thực vật, có loài ăn thiên

về thức ăn động vật [18]

Trong thủy vực nói chung, mỗi loài cá đều ăn một số loài thức ăn xácđịnh Dựa vào phổ thức ăn, cá được chia thành 3 nhóm: Cá rộng thực có thànhphần thức ăn đa dạng, cá hẹp thực có số loài làm thức ăn không nhiều và cáđơn thực thường chọn cho mình một loại thức ăn Trong thành phần thức ăn

mà cá sử dụng có những loài là thức ăn cá ưa thích, có những loài là thức ănthứ yếu và có những loài chỉ xuất hiện ngẫu nhiên trong ống tiêu hóa Điều đónói lên rằng, cá cũng như các loài động vật khác đều có khả năng lựa chọnthức ăn cho mình (Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão, 2005) [8]

Để đánh giá khả năng lựa chọn thức ăn, đơn giản nhất là sử dụng chỉ số

“tần số độ gặp”, tức là tỷ số (%) của một đối tượng thức ăn nào đó xuất hiệntrong các ống tiêu hóa có chứa thức ăn được nghiên cứu Dựa vào đó người ta

Trang 17

chia ra: Thức ăn rất ưa thích (chiếm trên 75%), thức ăn ưa thích (từ 50 –75%), thức ăn thứ yếu (từ 5 – 50%) và thức ăn ngẫu nhiên (chỉ dưới 5%) [8].Tập tính dinh dưỡng của cá cũng có thể phân chia theo vị trí của loạithức ăn sẵn có hay nơi mà loại thức ăn ưa thích của cá xuất hiện nhiều nhất.Theo đó cá được chia thành: cá ăn tầng mặt, cá ăn tầng giữa, cá ăn đáy hoặc

cá ăn ven bờ [8]

Khi xác định tập tính ăn của cá, ngoài việc phân tích thành phần thức

ăn tự nhiên có trong ruột (dạ dày) cá, chúng ta còn có thể căn cứ vào đặc điểmcủa cơ quan tiêu hóa (tập trung vào các cơ quan như miệng, răng, lược mang,ruột) để xác định Theo Nguyễn Bạch Loan (2003), cá hiền thường có miệngnhỏ, hẹp; cá dữ thường có miệng rộng, lớn Cá ăn động vật kích thước nhỏ córăng nhỏ, mịn; cá ăn động vật kích thước lớn có răng to, bén [6] Theo VũTrung Tạng và Nguyễn Đình Mão (2005), cá ăn động vật kém di động như ốc,giun thì lược mang ngắn và tương đối thưa Những loài cá ăn sinh vật phù duthì lược mang dày, dài để lọc các sinh vật nhỏ Cá ăn động vật thì lược mangngắn, thưa nhưng sắc, nhọn Những loài ăn mùn bã hữu cơ thì lược mang còndấu vết Các loài cá dữ thường có lược mang sắc, nhọn hoặc trên lược mang

có gai Chiều dài ruột tùy thuộc vào tính ăn của cá, những loài cá ăn thực vậthay mùn bã hữu cơ thì ruột dài gấp 3 lần trở lên [8]

Có thể dựa vào chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân(chỉ số RLG – Relative length of the gut) để dự đoán tính ăn của cá Cá thuộcnhóm ăn động vật khi RLG < 1, cá ăn tạp khi RLG = 1 – 3 và cá ăn thực vậtkhi RLG > 3 (Nikolsky, 1963) [26]

* Những nghiên cứu về dinh dưỡng ở cá Thát lát

Theo Mai Đình Yên (1983), cá Thát lát (Noptopterus notopterus) thuộc

nhóm ăn tạp, trong ống tiêu hóa của chúng đã bắt gặp côn trùng, giáp xác,

Trang 18

phiêu sinh thực vật, rễ thực vật thủy sinh, cá con, nhuyễn thể và bùn đáy [14].

Trong dạ dày cá Thát lát (Notopterus notopterus) cỡ cá 99 – 281 mm có

25,09% là giáp xác và 17,41% là cá;14,95% côn trùng; 14,51% mùn bã hữucơ; 20,18% mảnh thực vật; 0,4% tảo; 0,11% nguyên sinh động vật và 0,47%động vật thân mềm (Hossain và cộng sự, 1990) [21] Trong khi đó, thức ăn ưa

thích của cá Thát lát cườm (cá Còm, cá Nàng hai) (Chitala chitala) là giáp

xác, côn trùng, nhuyễn thể và cá Cá và tép là loại thức ăn ưa thích nhất củachúng Cá chiếm tỷ lệ từ 20,05 – 40,65% trong dạ dày cá Còm, còn giáp xácchiếm 3,5 – 38,39% và các tỷ lệ này phụ thuộc vào các vùng sinh sống khácnhau của cá Còm ở Ấn Độ (Sarkar và Deepak, 2009) [28]

1.3.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng

Sinh trưởng của cá thể được hiểu là sự gia tăng kích thước và khối lượng

cơ thể trong quá trình phát triển

Sự tăng trưởng kích thước và cơ thể cá được kiểm soát bởi nguồn nănglượng đi vào cơ thể thông qua hoạt động dinh dưỡng.Trong mùa xuân hè ấm

áp, cơ sở thức ăn của thủy vực phong phú, cá tăng trưởng nhanh, nhưng trongmùa đông, cá hầu như không tăng trưởng [8] Đặc tính sinh trưởng của cá làsinh trưởng liên tục trong suốt đời sống và có tính chu kì trong năm Vào mùa

ấm, cá đồng hóa thức ăn trong môi trường tốt hơn mùa lạnh nên sinh trưởngnhanh hơn Về mùa lạnh, đôi khi nhiệt độ hạ xuống thấp, cá ăn ít, thậm chíngừng dinh dưỡng, kết quả cá sinh trưởng chậm [12]

Tăng trưởng của cá bao gồm mối quan hệ tăng trưởng giữa kích thước vàkhối lượng của cơ thể Ở giai đoạn đầu, trước khi đạt kích thước sắp thànhthục, cá tăng nhanh về chiều dài, sau đó tốc độ giảm dần, nhường cho sự tăngtrưởng khối lượng để bước vào giai đoạn thành thục sinh dục Sự tăng nhanhkích thước ở giai đoạn đầu giúp cho cá tránh được sự săn bắt của vật dữ, còn

Trang 19

tăng trưởng về khối lượng ở giai đoạn trưởng thành giúp cho cá tích lũy vậtchất và năng lượng cho quá trình tái sản xuất cá thể mới Những cá thể tăngtrưởng càng chậm thì tuổi phát dục đến càng muộn, ngược lại, những cá thểtăng trưởng nhanh đạt được trạng thái thành thục ở tuổi sớm hơn [8].

* Những nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cá Thát lát

Theo Dương Nhựt Long (2003), cá Thát lát (Notopterus notopterus)

thường có kích thước nhỏ, tăng trọng thấp, thông thường cá sau 1 năm tuổi cóchiều dài trung bình khoảng 16 cm và nặng từ 40 – 60 g [4]

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nam Thuận (2015), cá Thát lát

(Notopterus notopterus) khai thác ở các thủy vực nước ngọt phân bố ở các

huyện và thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế có kích thước trung bình 88 –

352 mm tương ứng khối lượng 5 – 427 g thuộc 4 nhóm tuổi Cá có tốc độ tăngtrưởng thấp, sự thay đổi chiều dài của cá thuộc nhóm tuổi 1+, 2+, 3+ lần lượt là217,5 mm, 42,1 mm và 44,1 mm Cá tăng nhanh về chiều dài ở nhóm tuổithấp và khi đạt đến kích thước nhất định cá chủ yếu tăng về khối lượng [12]

1.3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh sản cá

Sinh sản là một chức năng rất quan trọng của bất kỳ sinh vật nào nhằmduy trì nòi giống và phát huy vị thế của mình trong sinh giới Đặc tính sinhsản của loài là sự thích nghi với những điều kiện xác định của sự sinh sản vàphát triển của đàn con non, tạo nên sự bổ sung cần thiết để duy trì số lượng.Thích nghi với sinh sản ở cá không chỉ liên quan với lối sống của cá thểtrưởng thành mà còn phụ thuộc vào đặc tính dinh dưỡng, sự sinh trưởng vàphát triển, sự di cư cũng như các khâu chủ yếu khác của đời sống cá thể (VũTrung Tạng, Nguyễn Đình Mão, 2005) [8]

Cá sinh sản không chỉ ở tuổi xác định mà còn ở một kích thước xác định.Những loài cá có kích thước nhỏ, tuổi sinh sản lần đầu đến sớm hơn so với

Trang 20

những loài cá có kích thước lớn Ngay trong quần thể của một loài, những cáthể phát triển nhanh cũng sinh sản sớm hơn những cá thể phát triển chậm [8].

Sự chín muồi sinh dục của các loài cá không chỉ phụ thuộc vào điều kiệnnhiệt độ của vùng địa lý xác định mà còn vào chế độ dinh dưỡng Điều kiệndinh dưỡng tốt, cá sinh sản tốt và tăng số lần đẻ trứng trong năm Chính vìvậy, ở cùng vĩ độ thấp, điều kiện thức ăn phong phú và ổn định nên cá dinhdưỡng quanh năm và sinh sản thường không phải một lần trong mùa đẻ trứng[8]

Sự sinh sản của cá thường mang tính chu kỳ, các thông tin về chu kỳthành thục và thoái hóa của tuyến sinh dục sẽ giúp chúng ta hiểu biết nhiềuhơn và có thể dự đoán trước được những thay đổi và phát triển của một quầnthể cá trong tự nhiên Sự thay đổi về hình thái và có tính chu kỳ của tuyếnsinh dục thường được sử dụng để đánh giá giai đoạn thành thục của cá.Phương pháp thông thường để đánh giá giai đoạn thành thục của cá là xácđịnh giai đoạn thành thục của từng cá thể theo bậc thang thành thục, trong đócác đặc điểm khác biệt có thể nhận biết được bằng mắt thường Bậc thangthành thục cho phép đánh giá nhanh mức độ thành thục và khả năng sinh sảncủa một số lượng lớn cá thể (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) [5].Rất nhiều tác giả đưa ra các bậc thang thành thục sinh dục của cá như Qasim(1957), Keseven (1960), Nikolsky (1963), Xakun và Buskaia (1968),…Ở đâychúng tôi sử dụng bậc thang thành thục sinh dục của Nikolsky (1963) (gồm 6giai đoạn) để xác định các giai đoạn thành thục của cá

Cùng với việc xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, cácnhà ngư loại còn sử dụng hệ số thành thục để đánh giá tình trạng thành thụccủa cá Hệ số thành thục (GSI - Gonadosomatic index) là một chỉ số để dựđoán mùa vụ sinh sản của cá Sự thay đổi theo mùa của khối lượng tuyến sinh

Trang 21

dục có thể thấy rõ ràng ở trên cá cái do gia tăng nhanh chóng khối lượng sảnphẩm sinh dục Hệ số thành thục được tính toán cho từng tháng với thời gian

ít nhất là một năm và được tính toán riêng biệt cho từng giới (Phạm ThanhLiêm và Trần Đắc Định, 2004) [5]

Dựa trên việc xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục và hệ

số thành thục đối với một quần thể cá nào đó ta có thể xác định được thời gian

đẻ trứng, đề xuất nhiều vấn đề trong sản xuất và bảo vệ nguồn lợi cá (chọnthời kỳ hạn chế hay cấm đánh bắt đối với đàn sinh sản) [8]

* Những nghiên cứu về sinh sản ở cá Thát lát

Theo Vũ Trung Tạng và Nguyễn Đình Mão (2005), cá Thát lát

(Notopterus notopterus) thành thục vào tuổi 1+ ứng với cỡ 20 cm, khối lượnggần 100 g Mùa đẻ từ tháng 5 đến tháng 7 Số lượng trứng trung bình 10.000cái Cá có tập tính làm tổ, đẻ trứng bám và được cá đực bảo vệ [8]

Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nam Thuận và Ngô Thị HươngGiang (2013), ở các thủy vực nước ngọt tại Thừa Thiên Huế, cá Thát lát

(Notopterus notopterus) đẻ trứng vào mùa xuân – hè; tập trung vào tháng 3

đến tháng 6; cá đẻ rộ vào tháng 4 và 5 Cá có quá trình chuyển hóa và tích tụvật chất cho các sản phẩm sinh dục vào tháng 1, 2; tháng 3 cá bước vào giaiđoạn sinh sản và kéo dài cho đến tháng 6, 7 trong năm [10]

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng nghiên cứu

Cá Thát lát (Notopterus notopterus) phân bố tại đầm Trà Ổ, tỉnh Bình

Định

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2019 - 7/2020

- Địa điểm thu mẫu: Thu mẫu cá ở đầm Trà Ổ, huyện Phù Mỹ, tỉnh BìnhĐịnh

- Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm Khoa học vật nuôi, Khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Quy Nhơn

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đặc điểm hình thái

- Đặc điểm hình thái ngoài: hình dạng thân, màu sắc thân, các vây

- Đặc điểm phân biệt giới tính về hình thái

2.3.2 Đặc điểm sinh học dinh dưỡng

- Mô tả đặc điểm hình thái hệ tiêu hoá: Miệng, răng, lưỡi, lược mang, thực quản, dạ dày, ruột

- Xác định tập tính ăn của cá thông qua chỉ số tương quan giữa chiều dàiruột và chiều dài thân (RLG – Relative length of the gut) theo Nikolsky (1963)[26]

- Phân tích thành phần thức ăn tự nhiên của cá

2.3.3 Đặc điểm sinh học sinh trưởng

Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá

2.3.4 Đặc điểm sinh học sinh sản

- Xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

- Xác định tỷ lệ giới tính của cá Thát lát

Trang 23

- Hệ số thành thục (GSI), hệ số tích lũy năng lượng (HSI).

- Dự đoán mùa vụ sinh sản của cá ngoài tự nhiên dựa vào sự phát triển của tuyến sinh dục, hệ số thành thục, hệ số tích lũy năng lượng

- Xác định sức sinh sản của cá Thát lát: Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu và xử lý mẫu cá

- Mẫu được thu định kỳ mỗi tháng tại đầm Trà Ổ với các kích cỡ khácnhau Dựa vào sự phân nhóm kích thước trong các mẫu cá thu được, chúng tôiphân cá thành 3 nhóm < 15 cm, 15 – 18 cm và > 18 cm

- Sau khi thu, cá sẽ được ướp lạnh và đem về phòng thí nghiệm Khoahọc vật nuôi, Khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Quy Nhơn để phân tíchtrong ngày hoặc cố định trong dung dịch formol 5 - 10% để phân tích sau

- Số lượng mẫu thu để phân tích các đặc điểm sinh học cá Thát lát:

 Số mẫu phân tích đặc điểm hình thái: Mô tả đặc điểm hình thái ngoài là

10 cá thể, xác định đặc điểm phân biệt giới tính về hình thái là 72 cá thể (ở giaiđoạn thành thục sinh dục)

 Số mẫu phân tích đặc điểm sinh học sinh trưởng: 426 cá thể

 Số mẫu phân tích đặc điểm sinh học dinh dưỡng: Mô tả đặc điểm của

hệ tiêu hóa là 10 cá thể, xác định chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiềudài chuẩn (RLG) là 426 cá thể (nhóm kích cỡ < 15 cm là 54 cá thể, nhóm kích cỡ

15 – 18 cm là 243 cá thể, nhóm kích cỡ > 18 cm là 129 cá thể), phân tích thànhphần thức ăn tự nhiên và xác định các thông số cơ bản về tính ăn của cá là 403 cáthể (có chứa thức ăn trong dạ dày)

Trang 24

 Số mẫu phân tích đặc điểm sinh học sinh sản: Xác định các giai đoạnphát triển của tuyến sinh dục theo nhóm kích cỡ và theo thời gian là 426 cá thể,xác định tỷ lệ giới tính của cá Thát lát là 397 cá thể (đã phân biệt được đực cáithông qua khảo sát tuyến sinh dục), xác định hệ số thành thục (GSI) và hệ số tíchlũy năng lượng (HSI) là 260 cá thể (có tuyến sinh dục từ giai đoạn III đến giaiđoạn V), xác định sức sinh sản của cá là 30 cá thể (có buồng trứng ở giai đoạn IV).

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học cá

2.4.2.1 Phương pháp phân tích đặc điểm hình thái

Dựa vào các tài liệu của Phạm Thanh Liêm, Trần Đắc Định (2004) [5] và

Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão (2005) [8] để phân tích đặc điểm hình tháicá

- Quan sát và mô tả đặc điểm hình thái ngoài của cá: hình dạng thân,màu sắc thân, các vây (vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn, vây

đuôi)

- Quan sát hình thái bên ngoài, kết hợp giải phẫu và quan sát tuyến sinhdục cá Thát lát để xác định được những điểm khác nhau cơ bản về hình thái của cáThát lát đực và cái

2.4.2.2 Phương pháp phân tích đặc điểm sinh học sinh trưởng

- Xác định chiều dài tổng (cm): Là khoảng cách được xác định theođường thẳng từ mút đầu miệng cá đến cuối của vây đuôi Chiều dài cá được

đo bằng thước có độ chính xác 1mm

- Xác định khối lượng cá (g): Sử dụng cân điện tử có độ chính xác 0,01g

để xác định khối lượng cá

Trang 25

- Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thân cá: Dựavào chỉ số đo chiều dài và khối lượng cá để xác định mối tương quan theo côngthức:

W=a.L b (Jennings et al., 2001) [24]

Trong đó: W : khối lượng thân cá (g)

L : Chiều dài tổng của cá (cm) a, b : là các hệ số tăng trưởng

2.4.2.3 Phương pháp phân tích đặc điểm sinh học dinh dưỡng

- Mô tả đặc điểm của hệ tiêu hóa (tập trung vào các cơ quan như miệng,răng, lược mang, ruột) bằng việc kết hợp quan sát các đặc điểm bên ngoài và giải phẫu

- Xác định tập tính ăn của cá: Tập tính ăn của cá được xác định thôngqua chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài chuẩn (RLG - Relative

RLG = Li / Ls

Trong đó: Li: Chiều dài ruột (cm)

Ls: Chiều dài chuẩn đo từ chót mõm đến cuống vi đuôi (cm)

- Phân tích thành phần thức ăn tự nhiên của cá:

+ Giải phẫu cá để phân tích thức ăn tự nhiên trong dạ dày cá Sử dụngkính hiển vi soi nổi và kính hiển vi hai mắt để phân tích và nhận dạng con mồi.Sau đó, sử dụng các tài liệu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001)

[7] và Nguyễn Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2012) [9] để định danh con mồiđến cấp phân loại thấp nhất có thể

Trang 26

+ Xác định các thông số cơ bản về tính ăn của cá theo Hyslop (1980)[20]:

 Tần số xuất hiện con mồi trong dạ dày của cá:

Oi % = (Số dạ dày chứa mồi i / Tổng số dạ dày phân tích) x 100

 Phần trăm về số lượng con mồi:

Ni % = (Tổng số lượng mồi i / Tổng số lượng mồi) x 100

 Phần trăm về khối lượng con mồi:

Wi % = (Tổng khối lượng con mồi i / Tổng khối lượng tất cả con mồi) x 100

 Tầm quan trọng tương đối của con mồi:

 Phần trăm tầm quan trọng tương đối của con mồi:

% = ( ∑ ) × (Cortes, 1996) [19] 2.4.2.4 Phương pháp phân tích đặc

điểm sinh học sinh sản

- Xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục:

Giải phẫu, quan sát tuyến sinh dục của cá Thát lát bằng mắt thường vàkính lúp Từ đó xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục ở cá Thátlát theo thang 6 giai đoạn của Nikolsky (1963) [26]

- Xác định tỷ lệ giới tính của cá Thát lát: Xác định tỷ lệ đực, cái trong quần thể cá

- Hệ số thành thục (Gonadosomatic index – GSI ) được tính toán theo công thức:

GSI (%) = (GW / Wn) x 100 (Josep và Hans-Joachim, 2000)

[25] Trong đó: + GW: Khối lượng tuyến sinh dục (g)

- Hệ số tích lũy năng lượng (HSI) được tính theo công thức:

HSI (%) = (Wgan / Wn) x 100 (Josep và Hans-Joachim, 2000) [25]

Trang 27

Trong đó: + Wgan: Khối lượng gan cá (g).

- Xác định sức sinh sản của cá:

+ Sức sinh sản tuyệt đối: Được xác định bằng số lượng trứng có trongbuồng trứng cá ở giai đoạn IV và tính theo công thức của Banegal (1967) [16]:

F = (n G) /g

Trong đó: F : Sức sinh sản tuyệt đối của cá (trứng / cá cái)

n : Số lượng trứng trong mẫu lấy ra để đếm G : Khối lượng buồng trứng (g)

g : Khối lượng mẫu trứng được lấy ra để đếm (g)

+ Sức sinh sản tương đối: Fa = F/W

F : Sức sinh sản tuyệt đối (trứng / cá cái) W : Khối lượng

cá (g)

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2007 để tính toán các giá trị trungbình, sai số chuẩn, giá trị tối thiểu, giá trị tối đa, phân tích tương quan thôngqua phương trình hồi quy

Trang 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Đặc điểm hình thái

3.1.1 Đặc điểm hình thái ngoài

Cá Thát lát có phần đầu to; mắt to, tròn, nằm giữa phần đầu; phía trên ổmắt có hõm màu vàng nhạt kéo dài đến nắp mang Miệng tương đối to, cómõm ngắn bằng; rạch miệng kéo dài đến trước ổ mắt Thân dài, dẹt, vảy nhỏphủ toàn thân, thường có màu xám ở lưng và màu trắng bạc ở bụng, đườngbên tương đối lớn chạy giữa thân Hai vây ngực nằm phía dưới viền nắpmang, một vây lưng nằm giữa lưng, vây hậu môn kéo dài dính liền với vâyđuôi Phần đuôi rất nhỏ (Hình 3.1) Cá có thân dẹt bên phù hợp với đặc điểmphân bố ở vùng đầm, thường sống ở tầng nước giữa hoặc gần đáy, nơi códòng nước chảy yếu hoặc yên tĩnh

Cá Thát lát có đặc điểm hình thái bên ngoài rất giống với loài cá Còm

(hay còn gọi là cá Nàng hai) (Chitala chitala) trong cùng họ Notopteridae.

Nhưng khác với cá Thát lát, trên thân cá Còm có nhiều đốm tròn đen với viềntrắng, phân bố dọc theo vây hậu môn (Hình 3.1) Theo Dương Nhựt Long(2003), cá trưởng thành thường có 4 - 10 đốm nằm dọc phía trên vây hậu môn[4]

Hình 3.1 Cá Thát lát (Notopterus notopterus) (A) và Cá Còm

(Chitala chitala) (B)

Trang 29

3.1.2 Đặc điểm phân biệt giới tính về hình thái

Qua quan sát hình thái bên ngoài, kết hợp với giải phẫu và quan sát tuyếnsinh dục của các mẫu cá Thát lát ở giai đoạn thành thục sinh dục (giai đoạnIV), chúng tôi đã xác định được những điểm khác nhau cơ bản về hình tháigiữa cá Thát lát đực và cái Cá đực có thân hình thon dài, bụng lép; gai sinhdục nhỏ nhọn, phần đầu điểm hồng (Hình 3.2) Cá cái có thân hình mập mạp,bụng to nhô ra hai bên hông; gai sinh dục to, có màu hồng đỏ, phần đầu tù(Hình 3.3) Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nam Thuận và Ngô ThịHương Giang (2013) ở các thủy vực nước ngọt tại Thừa Thiên Huế, ở cá Thátlát cái không có gai sinh dục [10] Theo chúng tôi, có thể là do các tác giả này

sử dụng các mẫu cá chưa thành thục để phân tích hình thái nên không thấyđược gai sinh dục của cá cái

Ngày đăng: 14/11/2021, 09:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w