can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ mang tính đồng bộ và có bằng chứng khoa học rõràng, mang lại kết quả cao, giúp trẻ tự kỉ có đƣợc các kĩ năng thiết yếu và cónhiều cơ hội hòa nhập xã hội sau n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
BÙI QUANG THUẬN
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ TỰ
KỈ TẠI CÁC TRUNG TÂM CHUYÊN BIỆT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục
Người hướng dẫn: PGS TS Đậu Minh Long
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nàokhác.
Quảng Ngãi, tháng 03 năm 2021
Tác giả luận văn
Bùi Quang Thuận
Trang 3Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến thầy Trưởng khoa và các thầy
cô khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điềukiện cho tôi thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGD.TS Đậu Minh Long, người đãđịnh hướng, tận tình hướng dẫn, chi ra nhiều vấn đề còn thiếu sót trong quátrình nghiên cứu để có được thành quả nghiên cứu như bây giờ
Xin trân trọng gửi lời cám ơn đến đội ngũ CBQL-GV tại các trung tâmchuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi đã bỏ chút thời gian, giúp đỡtôi trong quá trình khảo sát thực tiễn
Mặc dù đã nỗ lực hết mình, tuy nhiên với năng lực còn hạn hẹp khôngtránh khỏi những thiếu sót trong đề tài nghiên cứu Tác giả kính mong nhậnđược sự chỉ dẫn, góp ý của quý Thầy cô trong Hội đồng khoa học, của cácnhà khoa học và quý vị quan tâm đến đề tài nghiên cứu này
Quy Nhơn, ngày 16 tháng 03 năm 2021.
Bùi Quang Thuận
Trang 4Ngày nay, tự kỉ được coi là “căn bệnh của thời đại”, số lượng trẻ tự kỉ tănglên nhanh chóng ở tất cả các quốc gia trên thế giới, trẻ tự kỉ được báo cáo xảy
ra trong tất cả các nhóm chủng tộc, màu da, các dân tộc và nền kinh tế xã hộikhác nhau Ngày 30/3/2012 trên trang tin của Trung tâm phòng chống dịchbệnh của Mỹ (CDC - Centers for disease control and prevention) chính thứccông bố số liệu thống kê mới về Tự kỉ là hiện cứ 88 trẻ có 1 trẻ được xác địnhvới một rối loạn phổ Tự kỉ (ASD - Autism Spectrum Disorder); tỷ lệ trẻ traimắc chứng Tự kỉ cao gấp 5 lần so với bé gái
Ở Việt Nam, rối loạn phổ tự kỉ chỉ thực sự được biết đến ở những năm đầuthế kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ cũng chỉ được tiến hành trongkhoảng hơn mười năm trở lại đây Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành
trên các đối tượng trẻ tuổi mầm non, một số ít trên trẻ tiểu học
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi đang có 3 trung tâm chuyênbiệt thực hiện hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ; Và mỗi trung tâm chưa
có sự thống nhất trong cách quản lí hoạt động cũng như phương thức canthiệp sao cho mang lại hiệu quả cao, mà chỉ đang ở mức độ mò mẫm học hỏi
từ các tài liệu cũng như các khóa tập huấn ngắn hạn Vì vậy tôi thực hiện đềtài nghiên cứu này nhằm đề ra các biện pháp trong công tác quản lí hoạt động
Trang 5can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ mang tính đồng bộ và có bằng chứng khoa học rõràng, mang lại kết quả cao, giúp trẻ tự kỉ có đƣợc các kĩ năng thiết yếu và cónhiều cơ hội hòa nhập xã hội sau này.
Từ những phân tích lí luận và thực tiễn trên, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
“Quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ tại các trung tâm chuyên biệttrên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực trạng quản lí hoạt độngcan thiệp sớm trẻ tự kỉ tại các trung tâm chuyên biệt trên địa bàn thành phốQuảng Ngãi, tác giả đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động góp phần nângcao chất lƣợng hoạt động can thiệp cho trẻ tự kỉ
3 Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ ở các trung tâm chuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi
4 Giả thuyết nghiên cứu
Việc quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ tại các trung tâm chuyênbiệt trên địa bàn trong thời gian qua còn nhiều bất cập, chƣa có sự thống nhất
và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu về tƣ vấn, hỗ trợ và can thiệp sớm cho trẻ vàgia đình TTK Vì vậy, việc nghiên cứu dựa trên cơ sở lí luận và đánh giá thựctrạng quản lí hoạt động can thiệp sớm cho TTK hiện nay, từ đó đề ra các biệnpháp mang tính cần thiết và khả thi để nâng cao hiệu quả quản lí hoạt độngnày, đáp ứng đƣợc mục tiêu can thiệp cho TTK
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ.
Trang 65.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ tại các
trung tâm chuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ tại các
trung tâm chuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi về địa bàn nghiên cứu: Đề tài được triển khai, nghiên cứu tại
03 trung tâm chuyên biệt đang thực hiện hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉtrên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi (được lựa chọn theophương pháp chọn mẫu)
6.2 Phạm vi về đối tượng khách thể nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên
cứu: 35 cán bộ quản lí, giáo viên can thiệp và 98 phụ huynh của 3 trung tâmchuyên biệt
6.3 Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng, đánh giá và đưa
ra các biện pháp quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ ở các trung tâmchuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi trong năm 2020
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Bao gồm các PP: phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu, hệ thống hóa cáccác nguồn tài liệu khoa học, các văn bản, thông tư, nghị định,…nhằm xâydựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chúng tôi sử dụng phương pháp này
nhằm tìm hiểu thông tin làm căn cứ cho cơ sở lí luận
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi thiết kế mẫu nghiên cứu
tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ trong nhữngnăm qua, đánh giá hiệu quả quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ hiệnnay ở các trung tâm chuyên biệt và xác định tính cần thiết, tính khả thi của các
Trang 7biện pháp quản lí; gồm 2 mẫu phiếu (mẫu phiếu dành cho cán bộ quản lí, giáoviên và mẫu phiếu dành cho phụ huynh).
7.3 Phương pháp xử lí số liệu:
Chúng tôi sử dụng một số công thức toán học để xử lí số liệu đã thu thập được nhằm tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ tại các trung tâm chuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Các biện pháp quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ tại
các trung tâm chuyên biệt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP
SỚM CHO TRẺ TỰ KỈ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, “tự kỉ” đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từnhững năm cuối thế kỉ XIX, nhưng mãi cho đến năm 1943, nhà tâm thần họcngười Mỹ, Leo Kanner mới đưa ra lập luận rõ ràng về tự kỉ Có khoảng 1%dân số thế giới có rối loạn phổ tự kỉ (Theo trung tâm phòng chống dịch bệnh
Mỹ (CDC), 2014) Ở nhiều nước trên thế giới, “tự kỉ” trở nên phổ biến và trởthành một vấn đề mang tính xã hội Tại các nước phương tây như: Anh, Mỹ,Úc,…rối loạn phổ tự kỉ đã được xã hội hóa và hầu như mọi người đều cónhững hiểu biết nhất định về rối loạn này
Tỉ lệ trẻ mắc chứng rối loạn phổ tự kỉ thay đổi nhanh chóng trong nhữngnăm gần đây Theo ước tính của Mạng lưới theo dõi Người khuyết tật tự kỉ
và theo dõi Người khuyết tật của CDC tại Mỹ, tỉ lệ này vào năm 2000 là1/150 trẻ, năm 2010 là 1/68 tăng 119,4% và phổ biến hơn ở bé trai với tỉ lệ4,5 lần so với bé gái (1/41 và 1/189) (CDC, 2014) Tự kỉ là nhóm rối loạnphát triển nhanh nhất (CDC, 2008)
- Nghiên cứu về phát hiện trẻ Tự kỉ
Jean Marc Itard (1774 - 1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã” tên là
Victor Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạtngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, cách ứng xử xa lạ vớicuộc sống của xã hội loài người Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xãhội và không có khả năng nhận thức như trẻ bình thường Ngày nay, người tacho rằng Victor chính là TTK Để khắc phục tình trạng này Itard đã nghĩ
Trang 9rằng giáo dục TTK khác với những trẻ khác [1, trg.11].
Thuật ngữ Tự kỉ (Autism) được bác sỹ tâm thần người Thụy Sỹ EngenBleuler (1857 - 1940) đưa ra năm 1919 để mô tả giai đoạn bắt đầu của rốiloạn thần kinh ở người lớn, đây là hiện tượng mất nhận thức thực tế củangười bệnh khi cách ly với đời sống thực tại hằng ngày và nhận thức củangười bệnh có xu hướng không thống nhất với kinh nghiệm thông thường
của họ [1, trg.12].
Cho đến năm 1943 bác sỹ tâm thần người Mỹ là Leo Kanner mô tả trong
một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract” Ông cho
rằng TTK là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; cáchthể hiện các thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và có tính rập khuôn;không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thường rõ rệt (nóinhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi giao tiếp); rất thích xoay tròn các
đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng cao trong quan sát không gian và trí
nhớ “như con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác
nhau; thích độc thoại trong thế giới riêng của mình, khó khăn trong việc thựchiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề như cho búp bê ăn, nói chuyện điệnthoại, bác sỹ tiêm bệnh nhân; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói, thích tiếng động
và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu: giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát,mặc dù vẻ bề ngoài nhanh nhẹn, thông minh Kanner nhấn mạnh triệu chứng
tự kỉ có thể phát hiện được ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 thángđầu Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch
sử giáo dục TTK, ngày nay là cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều
nước thế giới, [1, trg.12].
Năm 1944, một bác sỹ tâm thần người Áo là Hans Asperger (1906 - 1980)
sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻtrai mà ông làm việc Mô tả của ông như sau: ngôn ngữ của trẻ phát
Trang 10triển bình thường, tuy nhiên trong cách diễn tả và cách phát âm nhiều cungđiệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách
sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “con, tôi” lẫn lộn với ngôi thứ hai và
ba Trẻ vẫn có những tiếp xúc về mặt xã hội nhưng có xu hướng thích côđơn, đơn độc Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luậnrườm rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội.Những trẻ này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán học và có khả năngnhớ tốt một cách lạ thường [17], [18], [19], mọi người lấy tên của ông để đặttên cho hội chứng này là Asperger
Cũng từ những năm 60 của thế kỉ XX, những hiểu biết về tự kỉ đã cónhững thay đổi hết sức lớn lao Đặc biệt, nghiên cứu của Michael Rutter đãchỉ ra rằng cách chăm sóc, giáo dục của cha mẹ không phải là nguyên nhânchính dẫn đến việc trẻ bị tự kỉ [17], [18]
Trong những năm 70 và 80 của thế kỉ XX, người ta bắt đầu xem xét đến
khái niệm phổ tự kỉ Trong cuốn sách “Hiện tượng Tự kỉ”, Lorna Wing (1978)
đã tìm ra những dấu hiệu rối loạn tự kỉ liên quan đến nhân vật “sư huynh Juniper”.
- Nghiên cứu về công cụ chẩn đoán, đánh giá trẻ tự kỉ
Năm 1996, Baron- Cohen, Allen và Gilber nghiên cứu công cụ sàng lọc Tự
kỉ Bộ câu hỏi này có tên “Bảng đánh giá tự kỉ ở trẻ nhỏ” (Checklist for
Autism in Toddler - CHAT) Bộ câu hỏi CHAT này (gồm 9 dấu hiệu) có tínhđặc hiệu cao
Năm 2001, Robin, Fein, Barton & Green bổ sung vào công cụ sàng lọc nàythêm 14 câu hỏi thuộc các lĩnh vực rối loạn vận động, quan hệ xã hội, bắtchước và định hướng Bộ câu hỏi bổ sung có tên là M-CHAT 2001, đượcdùng để sàng lọc TTK trong độ tuổi 18 - 24 tháng
Hội tâm thần học Mỹ, sau nhiều năm nghiên cứu năm 1994 đưa ra Sổ tay
Trang 11chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần DSM-IV, bao gồm các tiêuchuẩn chẩn đoán tự kỉ tìm ra những biểu hiện khiếm khuyết về chất lượngquan hệ xã hội, chất lượng giao tiếp và mẫu một số hành vi bất thường.
Tiếp theo đó, tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng đưa ra Bảng phân loạiquốc tế ICD (International Classification of Diseases) qui định những tiêuchuẩn chẩn đoán các bệnh tâm thần trong đó bao gồm các tiêu chí đánh giá đểchẩn đoán tự kỉ [3]
- Nghiên cứu về phương pháp dạy trẻ tự kỉ
Một nghiên cứu có ứng dụng tích cực trong can thiệp sớm cho TTK là
Ứng dụng phân tích hành vi (Aplied Behavior Analyis-ABA) Đây là kết quả
nghiên cứu của Ivar Lovaas vào năm 1990 ở Đại học Los Angeles –California
Andrew Bandy (nhà tâm lí Nhi) và Lori Frost (Nhà âm ngữ trị liệu) nghiêncứu phương pháp PECS (Hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi tranh - PictureExchange Communication System) ứng dụng vào can thiệp sớm cho TTK
Có thể nói, các nghiên cứu về Tự kỉ trên thế giới chủ yếu được thực hiện ởcác nước phát triển như Anh, Pháp, Nhật Bản, Úc, Thụy Điển và đặc biệt là
Mỹ Những nghiên cứu có đủ cả lí thuyết và thực nghiệm với nội dung chủyếu là phát hiện TTK, đưa ra các tiêu chí sàng lọc hay xác định tự kỉ, phươngpháp dạy cho TTK [3]
Tóm lại, nghiên cứu công tác chăm sóc, giáo dục cho trẻ tự kỉ là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở trên thế giới tuy nhiều nhưng chỉ tập trung vào nghiên cứu cách phát hiện, chẩn đoán TTK, phương pháp dạy TTK, có rất ít công trình đi sâu nghiên cứu
về quản lí giáo dục TTK Nếu được nghiên cứu sâu đề tài sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình chăm sóc, giáo dục nâng cao chất lượng cuộc sống cho TTK.
Trang 121.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, rối loạn phổ tự kỉ chỉ thực sự được biết đến ở những năm đầuthế kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ cũng chỉ được tiến hành trongkhoảng gần hai mươi năm trở lại đây Hầu hết các nghiên cứu dược tiến hành trêncác đối tượng trẻ bậc mầm non, một số ít trên trẻ bậc tiểu học Việc sử dụng cácchương trình và các phương pháp can thiệp chủ yếu được kế thừa từ các côngtrình nghiên cứu trên thế giới như: Phân tích hành vi ứng dụng (ABA), Hệ thốnggiao tiếp bằng trao đổi tranh ảnh (PECS), Trị liệu cảm giác, Trị liệu vận động(OT),…Bên cạnh đó, có hàng loạt các trung tâm, cơ sở thực hiện công tác canthiệp sớm dành cho trẻ tự kỉ ra đời, mở ra một hướng đi mới và không ngừng nângcao nhận thức trong cộng đồng
- Một số công trình nghiên cứu của các bác sỹ, nhà tâm lí, nhà chuyên gia đầungành đã nghiên cứu về phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ như:
Tác giả Nguyễn Văn Thành, một Việt kiều sống tại Thụy Sỹ, đã xuất bản
cuốn sách “Trẻ em tự kỉ phương thức giáo dục” [12] Tài liệu đã phổ biến kiến
thức về cách chăm sóc, nuôi dạy TTK
Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh (2007), “Tự kỉ - phát hiện sớm và can thiệpsớm”[5] Tài liệu nêu lên khái niệm, các đặc điểm cơ bản, cách thức phát hiệnsớm, các hình thức hay phương pháp tiếp cận giúp cho phụ huynh có cái nhìn
và định đúng đắn trong vấn đề can thiệp cho trẻ tự kỉ
Tác giả GS.TS BS Nguyễn Thanh Liêm, “Nuôi dạy trẻ có rối loạn phổ tự
kỉ trong môi trường gia đình” [7], được biên soạn nhằm cung cấp cho bố mẹ,ông bà của trẻ tự kỉ những kiến thức cơ bản nhất, thực tế nhất, dễ áp dụng nhất để có thể hướng dẫn, giáo dục can thiệp trẻ tại nhà
- Nghiên cứu về phương pháp dạy trẻ tự kỉ
Năm 2004, tác giả Đỗ Thị Thảo với đề tài “Xây dựng kế hoạch hỗ trợ giáo
viên và cha mẹ có con tự kỉ trong chương trình Can thiệp sớm tại Hà Nội” [13].
Trang 13Năm 2007, tác giả Nguyễn Nữ Tâm An với đề tài “Sử dụng phương pháp TEACCH trong giáo dục trẻ tự kỉ tại Hà Nội” [1], cho thấy được một góc
nhìn về vấn đề định hướng và điều trị trẻ Tự kỉ thông qua giao tiếp, cách vậndụng phương pháp TEACCH (Treatment and Education of Autistic andrelated Communication handicapped Children) vào trong quá trình can thiệpsớm cho trẻ tự kỉ
Năm 2009, tác giả Ngô Xuân Điệp trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức trẻ
tự kỉ tại Thành Phố Hồ Chí Minh” [4], đã cho thấy được thực trạng mức độ
nhận thức của trẻ tự kỉ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ quan vàkhách quan đến nhận thức của TTK
Nguyễn Thị Hoàng Yến (Chủ nhiệm đề tài), Nguyễn Xuân Hải, Đỗ ThịThảo, Trần Thị Minh Thành, Nguyễn Nữ Tâm An, Đinh Nguyễn Trang Thu
và Đào Thị Bích Thủy, Nghiên cứu biện pháp can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỉ ở nước ta hiện nay và trong giai đoạn 2011 - 2020, số
11/2011/HĐ-ĐTĐL, từ việc phân tích toàn diện thực trạng vấn đề trẻ tự kỉ,can thiệp sớm, giáo dục hoà nhập và bảo trợ xã hội cho trẻ tự kỉ ở Việt Nam,
đề tài xây dựng mô hình giải quyết vấn đề trẻ tự kỉ trên cơ sở sự phối hợp liênngành Y tế - Giáo dục - Bảo trợ xã hội Hệ thống các biện pháp về can thiệpsớm, giáo dục hoà nhập và các giải pháp về bảo trợ xã hội cho trẻ tự kỉ đãđược đề xuất Mô hình can thiệp sớm (tại gia đình, bệnh viện, trung tâmchuyên biệt, trung tâm hỗ trợ hoà nhập) và giáo dục hoà nhập (bậc mầm non,tiểu học) đã được thử nghiệm với những kết quả tích cực [20]
- Một số nghiên cứu về công tác quản lí
Nguyễn Mạnh Dũng (2016), Quản lí hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dụcđặc biệt trong trường mầm non trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc, Luận vănThạc sĩ quản lí giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam Đề tài nghiên cứu
về quản lý hoạt động của Phòng Hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường
Trang 14mầm non có trẻ khuyết tật học hòa nhập, đưa ra các giải pháp quản lý hoạtđộng của Phòng Hỗ trợ giáo dục đặc biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dụctrẻ khuyết tật tuổi mầm non.[21]
Phạm Thị Thơm (2015), Quản lí giáo dục hòa nhập cho trẻ tăng động trongtrường mầm non hòa nhập, Luận văn Thạc sĩ quản lí giáo dục, Trường Đạihọc Giáo dục, ĐHQGHN Đề tài nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lígiáo dục hòa nhập cho trẻ tăng động trong trường mầm non hòa nhập nhằmgiúp cho cán bộ quản lí nhà trường, giáo viên và phụ huynh có thể áp dụng đểnâng cao khả năng tham gia học hòa nhập cho các em.[22]
Hiện tại, đã có khá nhiều nghiên cứu về phát hiện, sàng lọc, đánh giá,phương pháp cũng như các hình thức can thiệp sớm dành cho trẻ tự kỉ.Nhưng vấn đề về công tác quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ saocho hiệu quả thì chưa được nghiên cứu nhiều Hy vọng đây là nghiên cứumang tính khai phá, mở đầu cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về công tácquản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ sau này
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm trẻ tự kỉ
Ngay từ những năm 1774, những ghi chép và mô tả về rối loạn phổ tự kỉ
đã được ghi lại bởi bác sĩ người Pháp Jean Marc Itard, với các biểu hiện nhưhạn chế trong việc hiểu và biểu đạt ngôn ngữ có lời cũng như không lời, khảnăng nhận thức và ngôn ngữ hạn chế, các hành vi thích ứng môi trường xungquanh không phù hợp với các tình huống xã hội Nhưng mãi đến năm 1943,khái niệm chính thức về“tự kỉ” mới được Kanner đưa ra với nội dung: Tự kỉ
là sự rút lui quá mức của một số trẻ em từ lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệuchứng đặc biệt của bệnh là những trẻ này không có khả năng trong việc thiếtlập các mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động mộtcách bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống
Trang 15Theo ICD-10 định nghĩa: “Tự kỉ là một rối loạn lan tỏa phát triển được xácđịnh bởi một sự phát triển không bình thường và hay giảm sút biểu hiện rõ rệttrước ba tuổi, bởi một hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực:tương tác xã hội, giao tiếp và những hành vi định hình lặp lại Rối loạn nàythường xuất hiện ở bé trai nhiều hơn.”
Khái niệm “tự kỉ” của Liên hiệp quốc trong nghị quyết A/RES/62/139ngày 21/01/2018: “Tự kỉ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời,thường được thể hiện ra ngoài trong ba năm đầu đời, là hệ quả của rối loạnthần kinh ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ, ảnh hưởng đến trẻ em ởnhiều quốc gia không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế -
xã hội, và được đặc trưng bởi khiếm khuyết trong tương tác xã hội, các vấn
đề về giao tiếp bằng lời nói và không lời, và có các hành vi, sở thích hạn hẹp
và định hình lặp lại.”
Các khái niệm tuy có khác nhau, nhưng đều đồng nhất trong các nội dungcốt lõi của khái niệm tự kỉ: Tự kỉ là một rối loạn phát triển, được đặc trưngbởi các khiếm khuyết cốt lõi như hạn chế về giao tiếp xã hội, hành vi bấtthường và sở thích mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại Mặc dù, rối loạn phổ tự
kỉ có những đặc điểm tương đối giống nhau nhưng phạm vi, mức độ, khởiphát và tiến triển của các triệu chứng có khác nhau [2, trag 17]
1.2.2 Khái niệm về can thiệp sớm
Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và giađình trẻ khuyết tật trước tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triểntối đa của trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáodục bình thường và cuộc sống sau này [8]
Can thiệp cho TTK càng sớm càng tốt và nên bắt đầu khi phát hiện ra trẻ
có những dấu hiệu bất thường Can thiệp sớm giảm thiểu ảnh hưởng của tậtđối với sự phát triển của TTK và tận dụng tối đa cơ hội cho trẻ tham gia các
Trang 16hoạt động bình thường từ khi còn nhỏ Can thiệp sớm thể hiện chức năngchữa bệnh như ngăn chặn các điều kiện, rủi ro hoặc những phát triển bấtthường do ảnh hưởng của khuyết tật, can thiệp sớm có thể ngăn ngừa nhữngnhân tố gây nguy hiểm tới đứa trẻ hay những nguyên nhân dẫn tới sự chậmphát triển hoặc rối loạn chức năng Điều này có thể đạt được bằng cách chotrẻ có được sự kích thích bằng các phương tiện hỗ trợ và sự tác động qua lạivới môi trường xung quanh ngay ở giai đoạn đầu của sự phát triển Can thiệpsớm sẽ giảm ảnh hưởng của những bệnh mãn tính và khuyết tật chức năng lâudài, ngăn chặn sự xuất hiện của một tật thứ hai do hậu quả của tật thứ nhất gâynên.
1.2.3 Khái niệm hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Hoạt động CTS cho TTK về bản chất đó là tập hợp con của hoạt động giáodục Bởi hoạt động GD cho người tự kỉ là hoạt động xuyên suốt cuộc đời củangười tự kỉ Ở gốc độ của đề tài này chỉ nghiên cứu một giai đoạn trong quátrình ấy
- Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh
nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người
- Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục
có thể hoà nhập và thích ứng với sự phát triển của xã hội
Nói chung, hoạt động can thiệp sớm cho TTK là những hoạt động
Trang 17thường bắt nguồn từ khả năng và những hạn chế của trẻ, nhằm cải thiện vànâng cao khả năng tương tác xã hội, khả năng thích ứng trong các môi trườngkhác nhau Với các hình thức hoạt động can thiệp sau:
- Hoạt động can thiệp cá nhân
- Hoạt động can thiệp theo nhóm
- Hoạt động khác: Hoạt động trải nghiệm, giao lưu, văn nghệ, thể dục thể thao,…
1.2.4 Khái niệm quản lí giáo dục
"Quản lí là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [14].
Nếu xem quản lí là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xãhội, thì quản lí giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáodục có mục đích
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí giáo dục, song thường người tađưa ra quan niệm quản lí giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và vimô
a Quản lí cấp vĩ mô
Quản lí vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lí một nền giáo dục (hệ
thống giáo dục) và quản lí vi mô tương ứng với khái niệm về quản lí một nhàtrường
Ở cấp độ vĩ mô, quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục
tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia [14].
Như vậy, quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành,
Trang 18phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vậnhành theo đường lối nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng vàhiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra.Chủ thể quản lí điều khiển các thành tố trong hệ thống quản lí thông quahoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống đó.
Tính chất chỉ huy - chấp hành là đặc trưng nổi trội trong quan hệ quản lí.Tuy nhiên, chủ thể quản lí và đối tượng quản lí đều có mục đích chung
Quản lí giáo dục có nhiệm vụ tạo ra và duy trì một môi trường thuận lợi đểmỗi cá nhân có thể hoạt động đạt được hiệu quả cao trong quá trình đạt đếnmục đích chung
b Ở cấp độ vi mô
"Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu
đã xác định với hiệu quả cao nhất" [14].
Tiếp cận theo góc độ điều khiển học, có thể hiểu quá trình quản lí giáo dục
là hoạt động tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục nhằm thực hiện có hiệuquả mục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo khái niệm trên, quá trình quản lí giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lí, đối tượng quản lí, nội dung, phương pháp quản lí, mục tiêu quản lí Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau,
đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế,chính trị, xã hội xung quanh
Trang 191.2.5 Khái niệm quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ.
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu hoạt động CTS cho TTK được hiểu
là quá trình tác động có mục đích của đội ngũ quản lí lên các đối tượng quản
lí TTK ở các trung tâm nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động canthiệp cho TTK trên cơ sở tối ưu hóa các nguồn lực
Trong hoạt động can thiệp cho TTK có nhiều khía cạnh cần quan tâm, đó
là nội dung chương trình can thiệp, PP can thiệp, hình thức can thiệp, các lựclượng tham gia can thiệp… Vì vậy công tác quản lí hoạt động can thiệp choTTK cần tiến hành một cách đồng nhất trên tất cả các lĩnh vực nhằm đem lạihiệu quả cao nhất
1.3 Lí luận về hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Mục tiêu của hoạt động CTS cho TTK là giúp trẻ thích ứng với các môitrường khác nhau như: gia đình, nhà trường và xã hội Cụ thể nó hướng đếncác mục tiêu sau:
* Giúp trẻ phát triển kĩ năng tương tác xã hội
Tương tác xã hội là bao gồm các kĩ năng bắt chước, giả vờ, đóng vai hayhội thoại và luôn đi cùng với kĩ năng giao tiếp, giúp trẻ có sự tác động qua lạivới những người xung quanh Phát triển kĩ năng tương tác xã hội giúp trẻ tự
kỉ có thể tự điều chỉnh được hành vi, kĩ năng, thái độ và giao tiếp với mọingười một cách phù hợp
* Giúp trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là điều kiện tiên quyết trong quá trình phát triển của trẻ
tự kỉ Với trẻ tự kỉ thì đây là một trong những khiếm khuyết cốt lõi cần khắcphục, vì vậy cần tập trung rèn luyện các kĩ năng: nghe hiểu, thực hiện mệnhlệnh, diễn đạt, hội thoại…giúp trẻ về cơ bản có thể giao tiếp với những ngườixung quanh
Trang 20* Giúp trẻ phát triển nhận thức – ngôn ngữ
Muốn trẻ có thể giao tiếp với mọi người thì trước tiên phải dạy trẻ khảnăng nhận thức tư duy, xử lí những tình huống thông qua các mệnh lệnh, yêucầu đơn giản, sau đó sẽ phát triển ngôn ngữ, tăng cường nhận thức- ngôn ngữcho trẻ thông qua các chủ đề, chủ điểm và thế giới xung quanh
* Giúp trẻ giảm thiểu các hành vi bất thường
Hầu hết trẻ tự kỉ điều có những hành vi bất thường, có những hành vi chỉmang tính xoa dịu cảm giác mà không gây tổn hại gì, có những hành vi có thểgây tổn hại đến bản thân và những người xung quanh, gây trở ngại cho việchòa nhập của trẻ sau này Điều cần làm là điều chỉnh các hành vi gây tổn hại
có thể loại bỏ hoặc chuyển hướng qua các hành vi có lợi, chấp nhận được
* Giúp trẻ điều hòa cảm giác
Rối loạn cảm giác ở một hay nhiều giác quan là khiếm khuyết cốt lõi củatrẻ tự kỉ, rối loạn này làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận thông tin và xử
lí thông tin ở trẻ, mục tiêu của hoạt động can thiệp là giúp các em điều hòacảm giác ở ngưỡng cho phép và điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với quytắc ứng xử trong quá trình giao tiếp
* Giúp trẻ có thể tự phục vụ bản thân
Đa số trẻ tự kỉ không thể tự phục vụ cho bản thân, còn phụ thuộc nhiều vàogia đình và khó thích nghi với môi trường mới, điều này làm rào cản cho khảnăng hòa nhập cộng đồng sau này Nên việc hình thành các kĩ năng tự phục
vụ và thích nghi với các môi trường khác nhau là rất cần thiết đối với trẻ tựkỉ
* Giúp trẻ có thể sống độc lập
Mục tiêu sau cùng là định hướng cho trẻ có thể sống độc lập sau này màkhông phụ thuộc vào gia đình, bằng cách trang bị các kĩ năng mềm, kĩ năngsinh tồn thiết yếu cho trẻ ngay trong giai đoạn can thiệp sớm
Trang 211.3.2 Nội dung của hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
1.3.2.1 Các nguyên tắc cơ bản của can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
* Mọi trẻ em đều có thể học được
Bất kì trẻ nào cũng có thể tham gia việc học, không có bất cứ lí do gìchúng không được học cả Ngày nay, vấn đề này đã được đưa vào luật giáodục, là trẻ khuyết tật đều có quyền được vui chơi, học tập như bao trẻ embình thường khác
* Trẻ tự kỉ cũng phải học các kĩ năng mà trẻ bình thường học và sử dụng
Trẻ tự kỉ trước hết là một đứa trẻ và nguyên tắc giáo dục là một đứa trẻ cónhu cầu đặc biệt cần được nhìn nhận trước hết là một đứa trẻ, những nhu cầuđặc biệt hoặc khuyết tật là thứ hai Sự phát triển của trẻ tự kỉ cũng tuân theotiến trình, quy luật như trẻ bình thường, tuy nhiên có chậm hơn ở những khíacạnh
* Những năm đầu tiên rất cần để can thiệp
Những năm đầu tiên trong cuộc đời của đứa trẻ là rất quan trọng Đây làthời gian cho nền tảng của cuộc sống được hình thành Một nền tảng tốt tạocho đứa trẻ cơ hội để có một cuộc sống hạnh phúc và ý nghĩa, đồng thời đểchúng có thể trở thành những thành viên có ích cho xã hội
* Cha mẹ là những người quan trọng nhất đối với sự phát triển của trẻ
Mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái có ý nghĩa quan trọng cho sự thànhcông của công tác can thiệp sớm Phụ huynh không chỉ là người tiếp xúc vớitrẻ nhiều nhất mà còn là người hiểu trẻ, chăm sóc trẻ bằng cả tình thươngruột thịt
1.3.2.2 Quy trình thực hiện can thiệp sớm cho trẻ tự
kỉ Bước 1: Sàng lọc
Các PP sàng lọc TTK: Phỏng vấn thông tin từ phía gia đình trẻ thông qua phỏng vấn tiểu sử, sự phát triển và các vấn đề mà cha mẹ trẻ lo lắng; Quan sát
Trang 22trẻ; tương tác trực tiếp với trẻ; sử dụng các công cụ sàng lọc,… để đảm bảochất lượng cho việc sàng lọc, cần chuẩn bị trước cho hoạt động sàng lọc; sổ
và bút để viết; các trắc nghiệm sàng lọc phù hợp; một ít đồ chơi; một ít sáchtruyện, bút, giấy màu; một ít đồ ăn;…
Bước 2: Đánh giá chẩn đoán
Đánh giá chẩn đoán là một tiến trình mà trong đó người đánh giá sử dụngcác PP bao gồm: Trắc nghiệm tâm lí, quan sát cấu trúc và bán cấu trúc, phỏngvấn sâu các khách thể có liên quan giúp thu thập thông tin của trẻ và xác địnhtriệu chứng hay vấn đề của trẻ Mục đích của đánh giá chẩn đoán là chỉ ra vấn
đề chính xác của trẻ nhằm xác định hướng đi đúng và cách thức can thiệp phùhợp cho trẻ
Bước 3: Can thiệp
a Lập kế hoạch
Dựa vào kết quả đánh giá của trẻ giúp xác định:
- Mức độ cần hỗ trợ: Hỗ trợ toàn phần hay chỉ hỗ trợ một phần
- Các rối loạn hay các vấn đề đi kèm khác:
+ Rối loạn cảm giác, tăng động giảm chú ý, rối loạn ngôn ngữ,…
+ Hành vi gây rối: tăng động/ xung động
+ Khuyến nghị từ người đánh giá: Thời gian can thiệp, lĩnh vực cần tập trung can thiệp trước mắt
- Mức độ phát triển hiện tại của trẻ
- Khả năng và mức độ thành thạo các kĩ năng của trẻ
Điểm mạnh của trẻ
- Lưu ý khi làm việc với trẻ (tính cách, thói quen, sở thích,…)
- Xác định chương trình/ mô hình/ kĩ thuật can thiệp phù hợp
Sau đó, Nhà quản lí và giáo viên can thiệp cần trao đổi lại với gia đình trẻ toàn bộ nội dung sẽ thực hiện và có sự điều chỉnh nếu có sự thống nhất giữa
Trang 23các bên Kế hoạch can thiệp cụ thể theo từng kì, tháng, tuần và
ngày b Thực hiện và giám sát kế hoạch
Thực hiện theo đúng kế hoạch đã được đề ra trước đó và có sự giám sátcủa quản lí chuyên môn Trong quá trình can thiệp, cần có sự trao đổi thườngxuyên giữa GV can thiệp và gia đình trẻ thông qua sổ liên lạc (hàng tuần) vàtrò chuyện ngắn trực tiếp Với các nội dung sau:
- Những nội dung trẻ được học trong tuần
- Kết quả đạt được sau một tuần, những thứ trẻ đã học được, những gì cần củng cố thêm và những hạn chế,…[2, trg 172, 173]
Bước 4: Đánh giá, chuyển tiếp
Thời gian trẻ được tiếp nhận can thiệp đều được theo dõi cẩn thận Sau 6tháng, trẻ cần được đánh giá lại các kĩ năng để xác định sự thay đổi nhằm có
sự thay đổi trong kế hoạch hiện tại sao cho phù hợp Đồng thời định hướngcho các can thiệp và mục tiêu cần đạt trong tương lai
Khi trẻ đã có thể tự chăm sóc cho bản thân (vẫn còn cần phải hỗ trợ mộtphần) và kiểm soát được hành vi, cảm xúc ở mức cơ bản đủ để không gây ảnhhưởng đến những người xung quanh, TTK nên được đưa ra học hòa nhập tại
hệ thống GD quốc dân Lúc này, có những trẻ hầu như không cần sự hỗ trợhoặc cần ít sự hỗ trợ thông qua nhiều hình thức khác nhau: có người đi kèm
hỗ trợ tại trường hoặc học nửa buổi ở phổ thông và nửa buổi ở trung tâmchuyên biệt [2, trg 174]
1.3.2.3 Nội dung chương trình can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Nội dung chương trình can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ về cơ bản là dựa trênchương trình giáo dục mầm non hiện hành và trên cơ sở khả năng và nhu cầucủa từng TTK mà các nhà chuyên môn lựa chọn các nội dung can thiệp phùhợp, để giúp trẻ có thể cải thiện những hạn chế, chuẩn bị cho bậc học tiếp theo
và tiến tới hòa nhập với gia đình, nhà trường, xã hội một cách độc lập
Trang 24nhất được thể hiện rõ trong kế hoạch giáo dục cá nhân.
Phát triển thể chất
* Kĩ năng vận động thô: là sự vận động của toàn bộ cơ thể có sự tham gia của
các nhóm cơ lớn để thực hiện các chức năng hàng ngày, ví du: đi, đứng, chạy,nhảy, đá bóng, nhảy lò cò,…
Can thiệp vận động thô giúp cho TTK: Giải phóng nguồn năng lượng dưthừa trong cơ thể, giúp TTK cải thiện sự tập trung chú ý; Giúp phát triển sựkhéo léo, linh hoạt trong các hoạt động hàng ngày; Cải thiện khả năng xử lícảm giác: xúc giác, cảm thụ bản thể và tiền đình; Giúp trẻ tăng khả năng giữthăng bằng và điều hợp,…
* Kĩ năng vận động thô: là sự phối hợp giữa các nhóm cơ nhỏ về các vận
động liên quan đến sự đồng bộ của bàn tay, ngón tay với mắt (phối hợp tay – mắt).Đặc trưng của TTK là hạn chế trong việc tập trung chú ý quá lâu vào một hoạtđộng nào đó, dẫn đến khó thực hiện trong các hoạt động mang tính tinh tế và khéoléo…
Can thiệp vận động tinh giúp cho TTK: Biết kết hợp sự khéo léo của đôibàn tay; Tăng cường sự tập trung chú ý lâu hơn trong các hoạt động; Giúp trẻ
có được các kĩ năng tiền học đường phục vụ cho việc học tập sau này: kĩnăng cầm bút tô màu, vẽ các nét theo yêu cầu, vẽ có hình dạng đơn giản,…
Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp
Hạn chế cốt lõi của TTK là ngôn ngữ và giao tiếp TTK thường chậm nói,khả năng hiểu ngôn ngữ và tương tác trong giao tiếp còn nhiều hạn chế Theocác nghiên cứu của Mỹ, thì 50% TTK có ngôn ngữ và 50% TTK sẽ không cóngôn ngữ, …Vì vậy vấn đề phát triển ngôn ngữ luôn được sự quan tâm của cácbậc PH, cũng như là mục tiêu của các trung tâm can thiệp cần hướng đến;Trước khi dạy ngôn ngữ và giao tiếp cho TTK thì đầu tiên phải can thiệp các
Trang 25kĩ năng: Nâng cao khả năng chú ý, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng bắt chước, luânphiên, chờ đợi, chơi và hiểu được các cử chỉ không lời,…
Phát triển nhận thức
Nhận thức của TTK thường hạn chế hơn so với các bạn cùng trang lứa.TTK khó khăn khi nhận thức chính bản thân mình, nhận thức về thế giới xungquanh, khó khăn trong việc nhận diện các tình huống hội thoại thông thường.TTK thường được can thiệp để có thể hiểu được các mệnh lệnh hay yêu cầu
cơ bản thiết yếu, nhận biết các chủ đề quen thuộc xung quanh em, …cao nhất
có lẽ là nhận thức được cái chữ cái, nhận thức được các con số,…để sau nàyTTK có thể ứng dụng vào điều kiện hoàn cảnh thực tiễn của cuộc sống, giúpcác em có thể thích nghi và hòa nhập ngay trong chính gia đình mình
Giảm thiểu các hành vi không mong muốn
Trẻ tự kỉ có những hành vi tự xâm hại bản thân chẳng hạn: tự gây hại,thịnh nộ, hành hung người khác,… những hành vi lặp lại như: xoay tròn, lắctay, vê vê đồ vật tròn, đi nhón gót Những hành vi này rất nguy hiểm cho trẻ
và đôi khi ảnh hưởng đến người xung quanh trẻ Mặt khác trong quá trìnhgiáo dục, trẻ có thể chống đối lại cha mẹ hoặc nhà chuyên môn, trẻ không hợptác như khóc quấy, la hét Điều này gây bất lợi đến quá trình giáo dục Do đó
để việc chăm sóc giáo dục tiến hành hiệu quả, điều trước hết phải làm giảmthiểu hoặc loạt bỏ các hành vi tiêu cực, từng bước hình thành hành vi tích cực
để thay thế dần dần các hành vi tiêu cực của trẻ
Phát triển kĩ năng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của TTK là không biết tạo lập mối quan hệ
xã hội Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ ứng xử với mọi người xung quanh.Vịêc hình thành kĩ năng xã hội sẽ giúp trẻ được mọi người chấp nhận và tôntrọng
Trong quan hệ tương tác giữa trẻ em và các thành viên khác thuộc môi
Trang 26trường gia đình và xã hội, TTK mang dấu hiệu như: Các em thu hẹp hay làđóng kín mình, trong vũ trụ hoàn toàn riêng tư của mình; Các em không tìmcách tạo quan hệ gắn bó, hay là tác động qua lại hai chiều, với người lớnchung quanh, hoặc với trẻ em khác cùng lứa tuổi.
Trẻ tự kỉ không nhìn nhận và đón nhận người khác như một chủ thể giốngnhư mình, có khả năng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, cùng bao nhiêu kinhnghiệm và cảm nghiệm, trong đời sống thường ngày Chính vì những lý dovừa được liệt kê, bốn động tác “Xin, cho, nhận và từ chối”, một cách thanhthản, hài hòa, trong lĩnh vực quan hệ giữa người với người là bốn bài học rất
cơ bản, nhưng rất khó học và khó làm, đối với tất cả mọi người, không trừ sótmột ai
Kĩ năng mặc, cởi quần áo một cách độc lập, kĩ năng chuẩn bị để ăn uống, kĩnăng cơ bản về đi vệ sinh, kĩ năng vệ sinh cá nhân
1.3.3 Phương pháp và hình thức can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
1.3.3.1 Nhóm phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỉ
Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp trị liệu dùng trong can thiệpsớm đối với TTK đã được xây dựng và ứng dụng Các nghiên cứu tổng quan
về điều trị lâm sàng cho thấy, không có một phương pháp cụ thể nào có thểcải thiện tất cả triệu chứng tự kỉ hay có hiệu quả điều trị đối với tất cả TTK.Tuy nhiên, nhiều phương pháp đã được thực chứng về hiệu quả trị liệu, can
Trang 27thiệp và giáo dục một số triệu chứng rối loạn phổ tự kỉ căn bản.
Nhóm phương pháp can thiệp về y sinh
- Phản hồi thần kinh (Neurofeedback)
- Trị liệu tế bào gốc (Stem Cell therapy)
- Ô-xi cao áp (Hyperbaric oxygen - HBO)
Đây là nhóm PP liên quan nhiều về y học, nên tôi chỉ điểm qua chứ không đi sâu vào từng PP trên
Nhóm phương pháp dựa trên can thiệp hành vi
* Phương pháp ABA (Applied Behavior Analysis - Phân tích hành vi ứng dụng) có thể coi là PP phổ biến nhất, đƣợc sử dụng nhiều nhất, có nhiều biến
thể nhất, có nhiều nghiên cứu nhất, và nói chung là đƣợc coi là PP hiệu quả chocan thiệp RLPTK Các nghiên cứu cho thấy, ABA hiệu quả trong cải thiện khảnăng nhận thức, kĩ năng ngôn ngữ, hành vi thích nghi ABA đƣợc xem là một yếu
tố cần thiết và một PP có hiệu lực mang tính khoa học để can thiệp và giáo dụcTTK
Dựa trên những nguyên lí của can thiệp hành vi của ABA, can thiệp hành
vi tích cực từ sớm (Early Intensive Behavioral Intervention - EIBI) nhận đƣợcnhiều chú ý Một số nghiên cứu cho thấy EIBI có hiệu quả trong cải thiện khả năngnhận thức, kĩ năng ngôn ngữ, hành vi thích nghi ở trẻ
Can thiệp hành vi tạo đà (Pivotal Response Treatment - PRT) là PP canthiệp dựa trên hành vi đƣợc nghiên cứu tốt nhất, dựa trên ABA PRT là PP can thiệp dựa trên việc chơi với trẻ, do trẻ khởi đầu Mục tiêu của PP này là
Trang 28phát triển giao tiếp, ngôn ngữ và các hành vi xã hội tích cực và giảm hành vi
tự kích thích Mohammadzaheri và cộng sự (2014) đã tiến hành một thửnghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh giữa hai quy trình can thiệp hành vi ứngdụng ABA - một cách tiếp cận mang tính ngẫu nhiên và PRT - một cách tiếpcận có cấu trúc trong môi trường trường học Kết quả nghiên cứu cho thấy,cách tiếp cận PRT hiệu quả hơn trong việc cải thiện các mục tiêu và các lĩnhvực sau ba tháng can thiệp
Can thiệp hành vi nhận thức (Cognitive Behavior Intervention - CBI) chothấy, hiệu quả trong đào tạo kĩ năng, các rối loạn lo âu,… Tuy nhiên, cách canthiệp này chỉ áp dụng được ở những người RLPTK chức năng cao (tức ngườiRLPTK có khả năng trí tuệ tốt)
Mô hình can thiệp sớm Denver (ESDM) là sự kết hợp giữa các kĩ thuật dạy
đã được nghiên cứu và chứng minh hiệu quả của ABA và tập trung vào pháttriển mối quan hệ tổng hòa với mức độ phát triển của trẻ ESDM là một PPcan thiệp hành vi toàn diện từ sớm cho trẻ RLPTK từ 12 đến 48 tháng Đây là
mô hình khá triển vọng, đã chứng minh được hiệu quả trong cải thiện khảnăng nhận thức, ngôn ngữ, hành vi thích nghi và giảm các triệu chứngRLPTK (Dawson và cộng sự, 2010; Dawson và cộng sự, 2012)
Can thiệp hành vi ngôn ngữ (Verbal Behavior - VB) là cách dạy giao tiếpthông qua các nguyên lí của ABA sử dụng các lí thuyết của B F Skinner.Can thiệp hành vi ngôn ngữ khuyến khích trẻ học ngôn ngữ thông qua hiểuchức năng của chúng, hay nói cách khác, hiểu được tác động của ngôn ngữtới những người xung quanh trẻ
Trên đây là những PP can thiệp hành vi khá tiêu biểu và đang được ápdụng trong can thiệp cho trẻ RLPTK Mỗi PP trên xét về phương diện nào đóđều hữu ích, có những mặt ưu điểm và tồn tại những mặt hạn chế Kết quả từnhóm nghiên cứu về nhóm PP can thiệp hành vi trong can thiệp và giáo dục
Trang 29RLPTK đã cho thấy bằng chứng về những hiệu quả nhất định của các PP nàynhư cải thiện các triệu chứng, khả năng nhận thức, ngôn ngữ, hành vi thíchnghi, các kĩ năng,… Cho đến bây giờ, nhóm PP dựa trên ABA vẫn dượcchứng minh là mang lại hiệu quả rõ rệt nhất trong can thiệp TTK [11].
Nhóm can thiệp liên quan đến giao tiếp
* Hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi hình ảnh (Picture Exchange
PECS là một công cụ tốt giúp trẻ giao tiếp không lời PECS cho phép trẻlựa chọn và giao tiếp nhu cầu khi trẻ có thể giao tiếp và thể hiện nhu cầu củachúng, thông thường các hành vi có thể giảm nhẹ và trẻ trở nên vui vẻ hơn.PECS có thể được dùng trong nhiều cách khác nhau để giao tiếp Điểnhình PECS là các bức tranh về đồ vật (thức ăn, đồ chơi…) Khi trẻ muốn mộttrong những thứ đó, trẻ đưa tranh cho đối tượng giao tiếp như bố, mẹ, nhà trịliệu, người trông nom hoặc đứa trẻ khác Đối tượng giao tiếp sau đó sẽ đưacho trẻ đồ chơi hoặc thức ăn để củng cố giao tiếp Cuối cùng các bức ảnh cóthể được thay thế bằng các từ và câu ngắn
Việc sử dụng PECS là một quá trình kéo dài và phức tạp, trải qua nhiềutháng để hoàn thiện Đối với cuộc sống hàng ngày với một đứa trẻ không cóngôn ngữ nói và cũng không sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, PECS có thể hoàntoàn là một sự trợ giúp cho sự thiếu “phương tiện” giao tiếp
Ưu điểm của PECS là: Sự rõ ràng, cố ý, trẻ chủ động; Phát triển giao tiếpchức năng nhanh; Có thể mở rộng trình độ giao tiếp; Phát triển lời nói Nhượcđiểm: Cần nhiều thời gian chuẩn bị tài liệu và hình ảnh; Chỉ tập trung vào khảnăng giao tiếp; Không phải chương trình bao gồm các lĩnh vực xã hội, vận động
* Trị liệu và giáo dục cho TTK và khuyết tật giao tiếp (Treatment and Education of Autistic and Communication related Handicapped Children - TEACCH).
Trang 30TEACCH là PP giáo dục hướng TTK kĩ năng sống tự lập, hòa nhập khitrưởng thành PP này do Eric Schopler đưa ra vào thập niên 70 Schoplerkhẳng định rằng, PP dạy dỗ và hướng dẫn TTK cần xây dựng dựa trên sởtrường, sở thích và nhu cầu của các em Tư tưởng cốt lõi của TEACCH làcấu trúc hóa hoạt động can thiệp; cấu trúc hóa môi trường vật chất, lịch bằnghình ảnh, cấu trúc hóa hoạt động, hình ảnh hóa và cấu trúc hóa thông tin.
Nhóm phương pháp trị liệu giác quan, trị liệu hoạt động
* Trị liệu cảm giác (Sensory Therapy - ST)
Theo các chuyên gia nghiên cứu về TTK, hầu hết TTK ít nhiều có rối loạncảm giác tùy theo mức độ khác nhau và ở những giác quan khác nhau Cónhững trẻ chỉ bị rối loạn một vài giác quan nào đó nhưng có thể bị rối loạn ởtất cả các giác quan Do cảm giác là cơ quan thụ cảm, là đầu vào của các hoạtđộng nhận thức nên nếu cảm giác bị rối loạn tất yếu bị rối loạn nhận thức,đồng thời sẽ gây ra rối loạn phát triển Do đó, trong trị liệu cho TTK, trị liệucảm giác rất quan trọng
* Trị liệu hoạt động (Occupational Therapy - OT)
Trị liệu hoạt động là một chuyên ngành y tế và cũng có thể được tiếp cậntrong giáo dục ở những phạm vi nhất định, khi được vận dụng trong can thiệpRLPTK, PP này nhằm giúp cá nhân RLPTK thực hiện những chức năng hàngngày vốn rất quan trọng
Nhóm phương pháp can thiệp khác
* Âm nhạc trị liệu (Music Therapy - MT)
Mục tiêu mà âm nhạc trị liệu hướng tới là làm giảm bớt các hành vi khôngmong muốn, tăng cường các tương tác xã hội thông qua âm nhạc
* Mỹ thuật trị liệu (Art therapy - AT)
Đây là hoạt động mang tính sáng tạo, dễ thực hiện, không quá coi trọng tính đúng sai của sản phẩm, phát huy khả năng tự do tưởng tượng của trẻ
Trang 31Ngoài âm nhạc và mỹ thuật trị liệu, hiện có một số phương pháp bổ trợ khácđang được nghiên cứu vận dụng tại Việt Nam như múa/ chuyển động trị liệu,yoga,…[11].
1.3.3.2 Các hình thức can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Can thiệp cá nhân
Can thiệp cá nhân cho TTK là hình thức can thiệp mà ở đó:
- Người can thiệp – người được can thiệp: Một hoặc hai cán bộ can thiệp –một TTK
- Thời gian can thiệp: 0.5 – 1.5 giờ (tối đa 2 giờ) can thiệp/ 1 buổi (sáng/ chiều/ tối)
- Nội dung can thiệp: Tùy vào đặc trưng và khó khăn của trẻ, nhưng nhìnchung đối với TTK, nội dung can thiệp sẽ tập trung vào các hoạt động theo thứ tự
ưu tiên như sau (có thể được điều chỉnh):
+ Tương tác qua lại giữa người – người, tạo thói quen chủ động chú ý
và chơi với những người xung quanh
+ Ngôn ngữ và giao tiếp: Thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ, tăng vốn từ Nếu trẻ nói được nhiều, dạy trẻ nói đúng mục đích và đúng tình huống
+ Hiểu lời người khác và có phản hồi/ đáp ứng phù hợp (bằng lời và không lời)
+ Điều chỉnh các vấn đề đi kèm (rối loạn cảm giác, hành vi gây rối, tăng động/ xung động,…)
+ Can thiệp toàn diện các lĩnh vực phát triển, bao gồm cả giao tiếp, kĩ năng sinh hoạt hằng ngày, xã hội hóa, nhận thức và vận động
- Không gian can thiệp lí tưởng:
+ Có phòng riêng với đầy đủ công cụ phục vụ cho quá trình can thiệp;+ Ánh sáng đầy đủ, yên tĩnh;
+ Nhiệt độ phòng phù hợp, đảm bảo sức khỏe;
Trang 32+ Một phòng chỉ can thiệp một trẻ.
- Người giám sát: Cán bộ can thiệp trong quá trình can thiệp cho trẻ phải
có người giám sát Người giám sát là người có chuyên môn về những hiểu biết và
kĩ năng can thiệp cho TTK
- Đánh giá lên chương trình và kế hoạch can thiệp: Trước khi can thiệp cánhân, trẻ cần được đánh giá toàn diện các kĩ năng để xây dựng mục tiêu và kếhoạch can thiệp cụ thể Kế hoạch can thiệp cần bao gồm: Kế hoạch trong 6 tháng,
kế hoạch 1 tháng, kế hoạch tuần và chia nhỏ thành các hoạt động dạy hằng ngày.Sau 6 tháng, trẻ cần được đánh giá lại để xem xét sự thay đổi của trẻ, dựa vào đó,chương trình và kế hoạch can thiệp sẽ có sự điều chỉnh phù hợp với trẻ
- Sự trao đổi thường xuyên giữa cán bộ can thiệp và gia đình: Sự tham giacủa gia đình vào quá trình can thiệp vì sự tiến bộ của trẻ là điều không thể thiếu
Do đó, gia đình cần được biết tình trạng của trẻ khi can thiệp, những nội dung trẻhọc trong buổi can thiệp cá nhân Và dựa vào nội dung trẻ được học với cán bộcan thiệp, cha mẹ sẽ củng cố bài học để giúp trẻ thực hành thêm, đồng thời kháiquát các kĩ năng của trẻ trên nhiều đối tượng và môi trường khác nhau
Những TTK đang học theo hình thức can thiệp cá nhân thì hiện đang theohọc tại các trường hòa nhập Đa số các em ở dạng nhẹ, do thiếu hụt ở những
kĩ năng cơ bản như: giao tiếp, tương tác với bạn còn hạn chế,…[2]
Can thiệp theo nhóm
Can thiệp theo nhóm cho TTK là hình thức can thiệp mà ở đó:
- Người can thiệp – người được can thiệp: 2/3 cán bộ can thiệp – một nhómtrẻ (3-5) có rối loạn phát triển (bao gồm TTK) thường có đặc điểm tương đồng nhau,
ví dụ: độ tuổi, khả năng ngôn ngữ, mức độ các hành vi không phù
hợp, khả năng đáp ứng,…
Trang 33- Thời gian can thiệp:
+ Dao động từ 15 phút đến 1.5 giờ/ ngày
+ Hàng ngày đối với trẻ can thiệp chuyên biệt tại các cơ sở can thiệpcho TTK
+ 2-3 ngày/ tuần đối với trẻ đang học hòa nhập tại các trường học
- Nội dung can thiệp: Tùy vào nhu cầu của trẻ mà nội dung can thiệp sẽkhác nhau
+ Đối với trẻ can thiệp chuyên biệt: Ngoài giờ can thiệp cá nhân, thờigian còn lại trẻ sẽ được chia theo nhóm và nội dung can thiệp thường bao gồmtoàn diện các kĩ năng (hành vi thích ứng)
Kĩ năng sinh hoạt hằng ngày
- Không gian can thiệp lí tưởng:
+ Có phòng riêng và rộng rãi với đầy đủ công cụ phục vụ cho quá trìnhcan thiệp bao gồm các thiết bị điện tử (tivi, loa,…)
+ Ánh sáng đầy đủ và yên tĩnh, có thể cách âm
+ Nhiệt độ phòng phù hợp, đảm bảo sức khỏe
- Người giám sát: Tương tự với hình thức can thiệp cá nhân
- Chương trình và kế hoạch can thiệp nhóm: Trước khi xây dựng kế hoạchcan thiệp, trẻ cần được phân vào các nhóm khác nhau Từ đó, kế hoạch sẽ đượcthiết lập theo nhu cầu của nhóm trẻ đó Cần có sự đánh giá và điều chỉnh thườngxuyên vì sự thay đổi ở mỗi trẻ là khác nhau [2]
Trang 341.3.4 Các lực lượng tham gia hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Xây dựng được đội ngũ chuyên gia đa chức năng hỗ trợ cho trẻ tự kỉ làmột mô hình lí tưởng mà chúng ta cần hướng tới trong quá trình hỗ trợ trẻ tự
kỉ Mỗi lực lượng đóng vai trò quan trọng khác nhau đem lại hiệu quả to lớntrong việc giúp trẻ tự kỉ có thể hòa nhập xã hội Các lực lượng tham gia hoạtđộng CTS cho TTK bao gồm:
Các thành viên trong gia đình trẻ
Bao gồm cha mẹ và những người thân trong gia đình, họ là những ngườiđầu tiên tiếp xúc với trẻ là những người gần gũi nhất với tình yêu thương vàđem lại cho trẻ sự tin tưởng Gia đình có vai trò giúp trẻ chuẩn bị tâm thếtham gia vào hoạt động can thiệp và giúp trẻ ứng dụng các kiến thức, kĩ năng
đã được học vào cuộc sống
Nhân viên y tế:
Là đội ngũ y tá, bác sĩ, nhân viên y tế tại bệnh viện, trung tâm phục hồichức năng, trung tâm can thiệp sớm giữ vai trò theo dõi tình hình sức khỏe,thể chất và phục hồi chức năng cho trẻ
Chuyên gia tâm lí
Là những người được đào tạo về tâm lí học, tâm lí trẻ em, tâm lí trẻ cónhu cầu đặc biệt… làm việc tại các trường đại học hay các trung tâm canthiệp sớm, trung tâm phục hồi chức năng Các chuyên gia tâm lí thường cótrách nhiệm xác định rõ chức năng nhận thức, cảm xúc, cảm giác và hành vicủa trẻ, đồng thời có thể thiết kế các chiến lược để giải quyết các vấn đề hành
vi xã hội và học tập của trẻ
Giáo viên can thiệp
Là những người được đào tạo về giáo dục đặc biệt, giáo dục trẻ tự kỉ, trựctiếp lên kế hoạch và tiến hành can thiệp, hỗ trợ về giáo dục cho trẻ tự kỉ tạicác trung tâm can thiệp sớm
Trang 35 Nhà quản lí chuyên môn
Là những người có chức năng điều hành hoạt động can thiệp tại các trungtâm CTS, mọi sự thành bại đều trông cậy vào năng lực của nhà quản lí: kĩnăng lập kế hoạch, triển khai tổ chức, giám sát, kiểm tra đánh giá của tất cảcác hoạt động tại trung tâm
Giáo viên tại trường hòa nhập
Là những người giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học, trung học,…củatrẻ tự kỉ tại các trường hòa nhập Họ có trách nhiệm phối hợp với giáo viêncan thiệp và những lực lượng khác trong việc triển khai kế hoạch hỗ trợ trẻtại trường hòa nhập, đồng thời theo dõi và đưa ra các đề xuất phù hợp với trẻ
tự kỉ tham gia hoạt động tại trường
1.3.5 Kiểm tra, đánh giá hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong chu trình quản lí Mục đíchcủa kiểm tra, đánh giá là thu thập các thông tin để điều chỉnh các hoạt độngcan thiệp, giúp hoạt động này đạt hiệu quả cao, đạt được mục tiêu can thiệp.Đối với các trung tâm can thiệp thì việc kiểm tra đánh giá sẽ góp phần đánhgiá chất lượng giáo dục của trung tâm Đối với giáo viên thì việc kiểm trađánh giá phản ánh sự phát triển chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu can thiệpngày càng đa dạng của trẻ tự kỉ, giúp họ tự rèn luyện năng lực, kĩ năng nghiệp
vụ về can thiệp cho trẻ tự kỉ để hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với cán
bộ quản lí thì việc đánh giá sự tiến bộ của trẻ tự kỉ nhằm nắm bắt tình hìnhcũng như đưa ra các quyết định mới trong việc điều chỉnh định hướng canthiệp nhằm phát huy tối đa năng lực của trẻ và hạn chế đến mức thấp nhất cáckhiếm khuyết thứ phát do khuyết tật mang lại
Để thực hiện hiệu quả việc kiểm tra đánh giá hoạt động can thiệp cho TTKtại trung tâm:
- Nhà quản lí kiểm tra đột xuất và định kỳ việc thực hiện nhiệm vụ can
Trang 36thiệp trẻ tự kỉ trong các giờ dạy của giáo viên, buổi sinh hoạt của tổ chuyên môn về giáo dục trẻ tự kỉ;
- Nhà quản lí tổ chức lấy ý kiến phản hồi của phụ huynh trẻ tự kỉ định kỳtheo tuần, tháng về hiệu quả can thiệp trẻ tự kỉ tại cơ sở chuyên biệt của mình;
- Nhà quản lí tổ chức kiểm tra đột xuất và định kỳ giáo án, hồ sơ theo dõi giáo dục cá nhân trẻ tự kỉ của giáo viên;
- Nhà quản lí tổ chức kiểm tra chất lượng giáo dục cho trẻ tự kỉ trong các giờ học;
- Nhà quản lí kiểm tra, đánh giá phương tiện và điều kiện đảm bảo hoạt động giáo dục trẻ tự kỉ
1.4 Lí luận về quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
1.4.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Tầm nhìn của một nhà lãnh đạo ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt độngcũng như sự phát triển của một trung tâm Điều này thể hiện rõ ở chính khâuđầu tiên là kĩ năng lập kế hoạch tổ chức hoạt động can thiệp sớm cho TTK ởtại trung tâm, lập kế hoạch là liệt kê tất cả những công việc cần làm, tất cả cácmục tiêu cần hướng đến theo một trình tự nhất quán và có thời gian hạn định.Tầm quan trọng của việc lập kế hoạch là gì? Và phải tuân thủ theo nhữngnguyên tắc nào? Trước tiên, lập kế hoạch là nêu ra các mục tiêu, các phươngthức cần đạt được mục tiêu đó trong một thời gian nhất định Việc lập kếhoạch sẽ giúp hình thành các tiêu chuẩn, thuận lợi trong việc kiểm tra tiến độ
và có nhiều động lực để hoàn thành tiến độ công việc
1.4.2 Tổ chức triển khai các nội dung, hình thức hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ.
Quản lí việc tổ chức triển khai các nội dung hoạt động can thiệp
Việc tổ chức triển khai các nội dung hoạt động can thiệp được thể hiện trong bản kế hoạch hoạt động của năm học và được triển khai thông qua toàn
Trang 37thể hội đồng trung tâm, chia nhỏ thành nhiều nhiệm vụ khác nhau về cho các
tổ trưởng ở tất cả các mảng hoạt động và theo sự phân công của tổ trưởng.Sau khi trẻ đã được sàng lọc, chẩn đoán và đánh giá, giai đoạn tiếp theo làthực hiện các nội dung can thiệp dựa trên bảng đánh giá khả năng nhu cầu vớimục tiêu trọng tâm theo năm học và được xây dựng thành các bản kế hoạchgiáo dục cá nhân theo từng năm học, học kì, tháng, tuần và được chia nhỏthành các tiết học Nội dung can thiệp phải được thảo luận với những người
có liên quan (nhà quản lí, người đánh giá – giám sát, giáo viên can thiệp) phảiđược trao đổi và có sự thống nhất của phụ huynh
Quản lí việc tổ chức triển khai các hình thức hoạt động can thiệp
- Tổ chức theo hình thức nhóm lớp: Phân chia nhóm lớp theo độ tuổi, mức
độ khó khăn Mỗi lớp trung bình từ 7 – 10 trẻ/ 1 nhóm lớp/ 1 giáo viên can thiệp
- Tổ chức theo hình thức cá nhân: 1 trẻ - 1 giáo viên can thiệp
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thực nghiệm: Hoạt động thực nghiệmđược thực hiện theo từng tuần và được tổ chức vào cuối tuần, nhằm rèn luyện các
kĩ năng thiết yếu cho TTK Hoạt động trải nghiệm được thực hiện vào các dịp lễtrong năm và theo kế hoạch năm học như: Ngày tết thiếu nhi, tết nguyên đán,Ngày khuyết tật Việt Nam 18/4,…
- Tổ chức các hoạt động khác: Các hoạt động giao lưu văn nghệ, thể dục thể thao,…giữa các trung tâm với các đơn vị bạn
1.4.3 Chỉ đạo phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Với gia đình
Phối hợp với gia đình trong công tác tư vấn về cách chăm sóc, giáo dục trẻtại nhà Định kì trao đổi với phụ huynh về kết quả can thiệp qua sổ liên lạc, kếhoạch cá nhân, phiếu đánh giá theo từng tuần, tháng, giữa học kì và cuối năm
Trang 38học Để phụ huynh có thể kịp thời nắm bắt được tiến độ học tập của con emmình tại trung tâm, thuận tiện cho việc ứng dụng các kiến thức, kĩ năng đãhọc vào thực tiễn trong môi trường gia đình Đảm bảo sự phối hợp nhịpnhàng giữa phụ huynh và trung tâm trong vấn đề can thiệp cho trẻ tự kỉ.
Tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức, kiến thức cho phụ huynh về các PPchăm sóc - giáo dục trẻ tại gia đình, thông qua các sinh hoạt hằng ngày Qua
đó gia đình thấy sẽ vai trò và vị trí quan trọng của mình trong vấn đề giáo dụctrẻ
Với các trường hòa nhập
Sau khi trẻ đã hoàn thành khóa học can thiệp kĩ năng tại các trung tâm, thìcác nhà quản lí có nhiệm vụ là chuyển tiếp đưa trẻ ra các trường phổ thông
để trẻ có thể theo học lên các bậc học tiếp theo Nhà quản lí phải giữ mối liên
hệ chặt chẽ với các nhà quản lí ở trường phổ thông để giúp cho giáo viên nắmđược khả năng, nhu cầu, đặc điểm tâm sinh lí của trẻ, tạo cơ hội để trẻ có thểhọc hòa nhập được tốt hơn
Với cộng đồng xã hội
Huy động các nguồn lực, các ban ngành chức năng trong vấn đề nâng caonhận thức cho cộng đồng về vấn đề giáo dục TTK Hỗ trợ trong công tác pháthiện sớm, huy động trẻ đến trường nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất trong hoạtđộng CTS TTK
Xã hội hóa giúp tăng cường sức mạnh từ các tổ chức, đơn vị, cùng chungtay trong hoạt động can thiệp cho trẻ tự kỉ, bằng cách vận động nguồn tàichính xã hội hóa nhằm nâng cao điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bịphục vụ cho việc chăm sóc, giáo dục cho trẻ tự kỉ đạt hiệu quả tốt nhất
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
Kiểm tra, đánh giá là việc theo dõi, quan sát, thu nhận thông tin về việcthực hiện kế hoạch giúp công việc được mục tiêu đã đề ra Kiểm tra, đánh giá
Trang 39là một chức năng quan trọng của nhà quản lí nhằm thu nhận thông tin phảnhồi về tình hình thực hiện các quyết định quản lí Từ đó, nhà quản lí mới biếtđược việc thực hiện đang gặp hạn chế ở đâu, thiếu phương tiện, điều kiện gì
để hỗ trợ hoặc điều chỉnh các chỉ đạo kịp thời, giúp đạt hiệu quả cao trongquản lí Nếu thiếu kiểm tra, hoặc không nắm vững các nguyên tắc kiểm tra,không có phương pháp kiểm tra khoa học, hợp lí, công việc sẽ gặp nhiều khókhăn, hiệu quả sẽ không cao
- Nhà quản lí kiểm tra đột xuất và định kỳ việc thực hiện nhiệm vụ giáo dụctrẻ tự kỉ trong các giờ dạy của giáo viên, buổi sinh hoạt của tổ chuyên môn về giáodục trẻ tự kỉ;
- Nhà quản lí tổ chức lấy ý kiến phản hồi của phụ huynh trẻ tự kỉ định kỳtheo tuần, tháng về hiệu quả can thiệp trẻ tự kỉ tại cơ sở chuyên biệt của mình;
- Nhà quản lí tổ chức kiểm tra đột xuất và định kỳ giáo án, hồ sơ theo dõi giáo dục cá nhân trẻ tự kỉ của giáo viên;
- Nhà quản lí tổ chức kiểm tra chất lượng giáo dục cho trẻ tự kỉ trong các giờ học;
- Nhà quản lí kiểm tra, đánh giá phương tiện và điều kiện đảm bảo hoạt động can thiệp sớm trẻ tự kỉ
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động can thiệp sớm cho trẻ tự kỉ
1.5.1 Yếu tố chủ quan
Tầm nhìn, sứ mạng phát triển của các trung tâm.
Việc xác định đúng tầm nhìn, sứ mạng hướng phát triển của trung tâm trongviệc can thiệp, hỗ trợ TTK Dựa trên những định hướng này, các nhà quản lí sẽhoạch định các hoạt động cụ thể để hiện thực hóa các tầm nhìn, sứ mạng Mỗitrung tâm điều cá những tầm nhìn và sứ mạng riêng, nhưng nhìn chung điều lấy
sự phát triển toàn diện giúp trẻ hòa nhập tốt sau này làm trọng tâm
Trang 40 Năng lực quản lí của nhà quản lí
Đây là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí hoạt độngCTS TTK Trong hoạt động quản lí hoạt động CTS nhà quản lí giỏi phảiđảm bảo:
- Lập kế hoạch quản lí hoạt động CTS TTK: đảm bảo cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn và thiết thực với cơ sở giáo dục của mình quản lí
- Tổ chức và huy động tốt các yếu tố tham gia vào hoạt động can thiệp
- Chỉ đạo kịp thời các bộ phận, các yếu tố tham gia vào hoạt động CTS TTK tại cơ sở chuyên biệt
- Kiểm tra, giám sát hiệu quả hoạt động giáo dục trẻ tự kỉ
- Có tinh thần, thái độ trách nhiệm, sát sao trong quản lí hoạt động giáo dụctrẻ tự kỉ Quan tâm đến hoạt động can thiệp TTK của giáo viên để kịp thời giải quyết những tồn đọng trong quá trình quản lí
Năng lực chuyên môn của giáo viên can thiệp
Năng lực chuyên môn của giáo viên có vai trò quan trọng trong hoạt động can thiệp và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí hoạt động CTS TTK Năng lực giáo dục chuyên biệt của giáo viên thể hiện:
- Giáo viên xác định chính xác mục tiêu; lập hồ sơ cá nhân và giáo án riêngcho từng trẻ;
- Vận dụng hợp lí có hiệu quả các hình thức, phương pháp, trị liệu can thiệp
cho TTK;
- Thu thông tin và xử lí thông tin kiểm tra, đánh giá TTK một cách chính xác,khách quan làm cơ sở cho việc điều chỉnh thường xuyên, liên tục quá trình dạy -
học
Để có năng lực giáo dục chuyên biệt cho trẻ tự kỉ, giáo viên cần:
- Nhận thức đúng về hoạt động giáo dục chuyên biệt nói chung, và giáo dục