1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tư tưởng tự do kinh tế được thể hiện như thế nào trong quá trình hình thành và phát triển các học thuyết kinh tế từ giai đoạn Cổ điển (Tư sản Cổ điển) tới hiện tại (đầu thế kỷ XX)

7 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 25,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Tự do kinh tế trong kinh tế học là môi trường xã hội trong đó người dân được tự do sản xuất, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa hay dịch vụ mà không ép buộc, hoặc giới hạn bởi các

Trang 1

YÊU CẦU

1 Viết một bài luận ngắn (tiểu luận) với chủ đề sau:

Tư tưởng tự do kinh tế được thể hiện như thế nào trong quá trình

hình thành và phát triển các học thuyết kinh tế từ giai đoạn Cổ điển (Tư sản Cổ điển) tới hiện tại (đầu thế kỷ XX)

Lưu ý: Phần này sinh viên được viết tối đa 2000 chữ

2 Sinh viên đưa ra nhận xét (ý kiến cá nhân của mình) về Tư tưởng

tự do kinh tế ở phần trên

Lưu ý: Phần này sinh viên viết tối đa 250 chữ.

BÀI LÀM

Phần 1: Tư tưởng tự do kinh tế

I Khái niệm

Tự do kinh tế trong kinh tế học là môi trường xã hội trong đó người dân được

tự do sản xuất, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa hay dịch vụ mà không ép buộc, hoặc giới hạn bởi các nhân tố khác hay chính phủ

II Quá trình hình thành và phát triển

Cuối TK XIX đầu TK XX, quan hệ sản xuất phát triển mạnh, thị trường ngày càng lớn, vai trò cá nhân được khẳng định Mâu thuẫn nội tại và những khó khăn về kinh tế của CNTB: Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, mâu thuẫn giai cấp Để bảo vệ lợi ích của mình giai cấp tư sản đã phải xây dựng lý luận kinh tế mới

1) Giai đoạn Tư sản cổ điển

Nói đến kinh tế chính trị tư sản cổ điển là nói đến quan điểm Giá trị - Lao động Mặt khác, họ ủng hộ tự do kinh tế để tạo khả năng phát triển dòng chu chuyển kinh tế, chống lại sự can thiệp của nhà nước, nhấn mạnh quyền tài sản, xem xét, nghiên cứu sự vận động của phương thức sản xuất đơn thuần do các quy luật tự nhiên điều tiết

1.1. Tư tưởng tự do kinh tế - Thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith

Trang 2

+ Điểm quan trọng của lý thuyết này là đưa ra phạm trù “Con người kinh tế” Ông quan niệm động lực thúc đẩy con người là lợi ích cá nhân, khi chạy theo tư lợi thì “Con người kinh tế” còn chịu sự tác động của “Bàn tay vô hình” buộc con người làm việc không nằm trong dự kiến là đáp ứng nhu cầu xã hội

+ “Bàn tay vô hình” là sự hoạt động tự phát của các quy luật kinh tế khách quan chi phối hoạt động của con người, điều khiển các quá trình trong nền kinh tế, làm cho nền kinh tế có khả năng tự điều chỉnh tạo sự cân bằng Đó là một “Trật tự tự nhiên”

+ Để có “Trật tự tự nhiên” thì phải có những điều kiện nhất định Đó là

sự tồn tại, phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá, tự do kinh tế, quan hệ bình đẳng về kinh tế Theo ông chỉ có trong CNTB mới có các điều kiện này Quan điểm này đề cao vai trò cá nhân, ủng hộ sở hữu tư nhân, ca ngợi cơ chế tự điều tiết của thị trường, thực hiện tự do cạnh tranh Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế Phải tôn trọng Trật tự tự nhiên, tôn trọng Bàn tay vô hình và Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, hoạt động kinh tế vốn có thế giới của nó

2) Giai đoạn Tân cổ điển

II.1 Lý thuyết “Lợi ích cận biên” của trường phái Vienne (Áo)

Khái niệm lợi ích cận biên (MU) của một hàng hoá là sự thay đổi của tổng lợi ích do tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hoá đó với điều kiện giữ nguyên mức tiêu dùng các hàng hoá khác, tức là mức độ thoả mãn và hài lòng do tiêu dùng một đơn vị sau cùng của hàng hoá đó mang lại MU được quy định bởi hai nhận tố: Cường độ thỏa mãn nhu cầu và tính khan hiếm của nó Sản phẩm cuối cùng để thỏa mãn nhu cầu là “Sản phẩm biên”, lợi ích của nó là “Lợi ích biên” sẽ quyết định lợi ích chung của tất cả sản phẩm khác “Giá trị biên” là giá trị của sản phẩm biên, nó quyết định giá trị của tất cả các sản phẩm trước đó Khi số lượng sản phẩm tăng lên thì giá trị biên sẽ giảm dần tuân theo quy luật “Lợi ích cận biên giảm dần” Vì thế muốn có nhiều

Trang 3

giá trị phải tạo ra sự khan hiếm, từ đó con người tập trung sản xuất hàng hóa để tư lợi cá nhân đồng thời thúc đẩy kinh tế như “Con người kinh tế” đã đề cập

Lý thuyết trên ủng hộ tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, tin tưởng cơ chế thị trường sẽ tự điều tiết nền kinh

tế thăng bằng cung cầu và có hiệu quả

II.2 Lý thuyết “Năng suất cận biên” của trường phái Colombia (Mỹ)

John Bates Clark đã đưa ra lý thuyết năng suất cận biên, lý thuyết phân phối để xác định giới hạn của việc tăng quy mô sản phẩm

Lý thuyết năng suất cận biên: Năng suất cận biên của các nhân tố sản xuất trên cơ sở quy luật về xu hướng giảm của năng suất lao động và

tư bản

Khi tăng thêm một yếu tố sản xuất trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì năng suất của yếu tố tăng thêm sẽ giảm Lợi ích của các yếu tố sản xuất thể hiện ở năng suất của nó Năng suất lao động của các yếu tố giảm dần thì đơn vị yếu tố được sử dụng cuối cùng là đơn

vị yếu tố sản xuất biên Sản phẩm của nó là sản phẩm biên, năng suất của nó là năng suất biên Đơn vị yếu tố sản xuất cuối cùng quyết định năng suất của tất cả các đơn vị yếu tố sản xuất khác Dựa vào lí thuyết năng suất cận biên, sử dụng lí thuyết năng lực chịu trách nhiệm của các yếu tố sản xuất theo đó, thu nhập là năng lực chịu trách nhiệm của các yếu tố sản xuất Ông đưa ra lí thuyết về tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô Cụ thể:

+ Người lao động – Tiền lương = SP biên của lao động

+ Nhà tư bản – Lợi tức = SP cận biên của Tư bản

+ Chủ đất – Địa tô = SP cận biên của đất đai

+ Nhà kinh doanh – Lợi nhuận = Thặng dư của người sử dụng yếu tố sản xuất

+ CP bất biến + CP khả biến = Tổng CP

+ CP biên = CP sau – CP trước

Trang 4

Từ đó chứng minh rằng phân phối là bình đẳng không còn bốc lột nữa, ủng hộ tự do kinh tế và Nhà nước không can thiệp đến nền kinh tế

II.3 Lý thuyết “Giá cả” của trường phái Cambridge (Anh)

Nổi danh với đại biểu Alfred Marshall với lý thuyết cung cầu và giá

cả, ông quan tâm đến phân tích cân bằng từng phần Marsall cho rằng cầu được định hình bởi lợi ích hay độ thỏa dụng mà người ta nhận được từ việc tiêu dùng một hàng hóa cụ thể nào đó còn cung được định hình từ chi phí sản xuất Cả cung và cầu cùng nhau quyết định giá và sản xuất và cạnh tranh sẽ đầy giá thực tế đến giá cân bằng Giá cả: là hình thức của quan hệ về lượng mà trong đó hàng hóa và tiền tệ được trao đổi với nhau Giá cả được hình thành trên thị trường

do kết quả sự va chạm giá cả người mua - người bán Trong điều kiện

tự do kinh tế, giá cả người mua giảm cùng với mức tăng số lượng hàng hóa cung ứng trên thị trường Thời gian là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến cung cầu và giá cả Đưa ra khái niệm “Độ co giãn của cầu” để chỉ sự phụ thuộc của cầu vào mức giá cả, sức mua và nhu cầu mua sắm Tóm lại nền kinh tế vẫn vận hành theo quy luật cung-cầu tự nhiên và không có sự can thiệp của Nhà nước

II.4 Lý thuyết “Cân bằng tổng quát” của trường phái Lausanne

(Thụy Sỹ)

Trái ngược với Marshall thì Leon Walras của trường phái Lausanne quan tâm đến phân tích tổng quát Ông cho ra “Lý thuyết cân bằng tổng quát”, đây được xem là lý thuyết phản ánh sự phát triển tư tưởng

“Bàn tay vô hình” Theo Walras có 3 loại thị trường:

+ TT sản phẩm

+ TT tư bản

+ TT lao động

Trang 5

Ba thị trường độc lập với nhau, độc lập với Nhà nước, nhưng nhờ hoạt động của doanh nghiệp nên có quan hệ với nhau Khi bán sản phẩm doanh nghiệp có lãi, để mở rộng việc kinh doanh thì phải đi vay tư bản và thuê thêm lao động làm cho thị trường sản phẩm và lao động tăng kết quả là chi phí sản xuất tăng theo Mặt khác, sản xuất tăng làm giá cả hàng hóa giảm vì thế thu nhập giảm Khi giá cả hàng hóa tăng ngang bằng chi phí sản xuất thì doanh nghiệp không có lời nên không mở rộng sản xuất nữa Từ đó làm cho giá cả và lao động

ổn định Cuối cùng ba thị trường đều về trạnh thái cân bằng Nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tổng quát

3) Các lý thuyết kinh tế của Chủ nghĩa tự do mới

Sự khác nhau giữa trường phái Tự do mới và Tự do cũ

Là trào lưu tư tưởng tư sản hiện

đại, kết hợp tự do cũ, trọng

thương mới, học thuyết Keynes

để điều tiết nền kinh tế TBCN

thập niên 70 TK XX đến nay

Nền kinh tế là hệ thống tự động,

tự điều tiết do quy luật các kinh

tế khách quan, từ thập niên 30

TK XX trở về trước

Thị trường nhiều hơn, Nhà nước

ít hơn dựa theo nguyên tác tương

hỗ và tương hợp

Nhà nước không tham gia điều tiết nền kinh tế

Tư tưởng chủ đạo: cơ chế thị

trường có sự điều tiết của Nhà

nước ở mức độ nhất định

Tư tưởng chủ đạo: Tự do kinh tế,

tự do kinh doanh, nhà nước không can thiệp nền kinh tế Nhấn mạnh yếu tố tâm lý của cá

nhân quyết định sản xuất và tiêu

dùng

Tuân thủ lý thuyết “Bàn tay vô hình”

4) Trường phái Chính hiện đại – Nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson

Trường phái chính hiện đại đã vận dụng một cách tổng hợp các lí thuyết và phương pháp của các trường phái kinh tế trong lịch sử nhằm đưa ra lí thuyết

Trang 6

làm cơ sở cho các hoạt động của doanh nghiệp và chính sách kinh tế của Nhà nước tư sản Theo mô hình nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson thì nền kinh tế thị trường cần có sự điều tiết của Nhà nước “Muốn vỗ tay phải vỗ bằng cả hai bàn tay” là Cơ chế thị trường (bàn tay vô hình): xác định giá cả, sản lượng trong nhiều lĩnh vực Sự điều tiết của Chính phủ (bàn tay hữu hình): bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ Samuelson cho rằng điều hành một nền kinh tế không có thị trường hay chính phủ chẳng khác nào như “Vỗ tay bằng một bàn tay” Chức năng của chính phủ là để khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường Thiết lập khuôn khổ pháp luật, quy định về tài sản, hợp đồng, quan hệ kinh tế Đảm bảo sự công bằng về thuế

và phúc lợi Ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định cung-cầu, lao động Sửa chữa những thất bại của thị trường như vấn đề độc quyền, ô nhiễm, cạnh tranh hiệu quả

Kết luận: Theo dòng phát triển của lịch sử thì không ngừng những lý thuyết được đưa

ra đề cập đến nhiều vấn đề nhằm điều tiết nền kinh tế Đa số các lý thuyết từ giai đoạn

Cổ điển và Tân cổ điển điều không đề cập đến vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết kinh tế mà chỉ tập trung vào cơ chế tự do kinh tế Từ giai đoạn Chủ nghĩa tự do mới trở đi thì Nhà nước đóng vai trò thiết yếu để cùng thị trường điều tiết nền kinh tế

Phần 2: Ý kiến cá nhân về tư tưởng Tự do kinh tế

Tôi không đồng ý về tư tưởng Tự do kinh tế bởi lý do:

+ Nền kinh tế tuân theo “Trật tự tự nhiên”, khi có sự tăng hoặc giảm các yếu tố trong thị trường quá mức giới hạn thì nó sẽ trở về vị trí cân bằng nhưng sẽ mất một khoảng chu kỳ thời gian lớn và tốn nhiều chi phí để nền kinh tế trở về trạng thái cân bằng + Nhà nước là nhân tố đứng bên ngoài nền kinh tế thì thị trường sẽ hỗn loạn do thiếu

sự quản lý về thuế, phúc lợi, sự cạnh tranh không công bằng, sẽ không có khuôn khổ pháp luật Từ đó nền kinh tế sẽ trở nên hỗn loạn do chằng có gì để răn đe

Trang 7

Tài liệu tham khảo

1 Khái niệm tự do kinh tế Truy cập từ: (https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB

%B1_do_kinh_t%E1%BA%B)

2 Tập bài giảng lịch sử các học thuyết kinh tế - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (2009) Truy cập từ:

(http://www.dl.ueb.vnu.edu.vn/bitstream/1247/10590/1/Lich%20su%20cac%20hoc

%20thuyet%20kinh%20te.pdf)

3 TS Nguyễn Thị Thu Hường E-learning trung tâm đào tạo trực tuyến viện Đại học

Mở Hà Nội Khái niệm lợi ích cận biên Truy cập từ:

(http://lms.moocs.ehou.edu.vn/pluginfile.php/1678/mod_resource/content/1/B

Ngày đăng: 13/11/2021, 21:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w