1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống

54 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Vận Dụng Kiến Thức Chủ Đề Vi Sinh Vật - Sinh Học 10 Vào Thực Tiễn Đời Sống
Tác giả Võ Hồng Trinh
Trường học Trường THPT Nguyễn Chí Thanh
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2019
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động, sáng tạo trong học tập bộ môn Sinh học của học sinh thì việc gắn các kiến thức, ứng dụng thực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày trong giảng dạy Sinh học ở các trường THPT hiện nay ít được chú trọng.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG THPT NGUYỄN CHÍ THANH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

An Giang, ngày 25 tháng 02 năm 2019

BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

I Sơ lược lý lịch tác giả:

- Họ và tên: VÕ HỒNG TRINH Nam, nữ: nữ

- Ngày tháng năm sinh: 03/ 03/ 1987

- Nơi thường trú: Ấp Phú Thuận A, xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

- Đơn vị công tác: Trường THPH Nguyễn Chí Thanh

- Chức vụ hiện nay: Giáo viên

- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm sinh học

- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy sinh học

II Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:

Đặc điểm tình hình đơn vị:

Qua việc giảng dạy ở trường THPT Nguyễn Chí Thanh, tôi nhận thấy với các lớp đa số các em có lực học trung bình thì có nhiều học sinh còn lúng túng khi trình bày, nhiều học sinh chưa biết tự học, tự khai thác các kiến thức trong sách giáo khoa Với các lớp có đa số học sinh học lực khá giỏi, thì khả năng tự học, tự khai thác kiến thức trong sách giáo khoa cũng như các nguồn tài liệu khác rất tốt nhưng các em lại không mấy quan tâm đến các kiến thức thực tế, các kiến thức xã hội… vốn hiểu biết rất ít Có

Trang 2

nhiều học sinh không có biết mà các em đã được học ở bậc tiểu học và trung học cơ sở Bên cạnh đó thì các phương pháp giảng dạy truyền thống, với các câu hỏi đơn giản học sinh chỉ cần đọc sách giáo khoa là trả lời được… làm cho học sinh luôn thụ động trong quá trình tiếp thu kiến thức mới

Với đề tài này có thể thấy được cách vận dụng để giải thích các hiện tượng thực

tế có hệ thống qua một số bài, hỗ trợ giáo viên dạy học trong một số tiết, qua đó cung cấp cho học sinh những kiến thức bổ ích, thiết thực, tạo niềm tin vào khoa học, say mê học tập, vận dụng kiến thức vào đời sống và sản xuất

CHỦ ĐỀ VI SINH VẬT - SINH HỌC 10 VÀO THỰC TIỄN ĐỜI SỐNG

Lĩnh vực: Sinh học

III Mục đích, yêu cầu của sáng kiến:

1 Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến

Kiến thức sinh học ngày càng có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực của đời sống sản xuất, y tế, sức khỏe, Vì vậy, yêu cầu của việc dạy học sinh học phải gắn với thực tiễn, khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh tự tìm lấy được kiến thức cho mình và từ đó, biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống một cách có hiệu quả hơn Để làm được điều đó, ngoài việc cải các nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học còn phải đa dạng hóa các hình thức dạy học, để làm sao dạy học trên lớp gắn với thực tế nhiều hơn nhẳm phát huy tính tích cực của các em trong việc chiếm lĩnh tri thức

Những tưởng rằng, với một khối lượng kiến thức đồ sộ như vậy, thực tế cuộc sống của các em sẽ vô cùng phong phú, các em hoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình, việc vận dụng kiến thức của các em trong đời sống thức tế ở chính gia đình của mình, việc giải thích những hiện tượng xảy ra hàng ngày xung quanh các em chỉ là “vấn

đề đơn giản” Nhưng điều đó đã không diễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi

Trang 3

Sau khi học xong chương trình sinh học 10, nhiều học sinh còn ngỡ ngàng khi ăn sữa chua, các em không biết quy trình làm thế nào, thậm chí nhiều em còn chưa biết cả thành phần và tác dụng của nó

Với kiến thức về sinh học phân tử, sinh học tế bào, sinh học vi sinh vật, ở trên lớp các em có thể mô tả một cách đầy đủ và chính xác về Cấu trúc axit nucleic, cấu trúc protein, cấu trúc virut, nêu đúng những định nghĩa, khái niệm về sinh trưởng của vi sinh vật, cấu trúc các loại virut, bệnh truyền nhiễm Thế nhưng, với những câu hỏi đại loại như: “Lấy thêm một số thí dụ ứng dụng trong thực tế về phân giải vi sinh vật, bệnh do virut ”, cũng thực sự làm cho các em lúng túng Nhiều học sinh còn không thể giải thích được những hiện tượng rần gần gũi với đời sống: Tại sao khi muối dưa, cà nếu không để ráo nước trước khi muối thì dưa dễ bị nổi váng? hay tại sao virut HIV chỉ lây từ người này sang người khác mà không lây sang vật nuôi?

Các kiến thức sinh học về vi sinh vật lẽ ra phải là một trong các cơ sở tốt nhất để các em vận dụng vào thực tiễn, nhưng điều đó dường như vẫn còn “xa vời” đối với các

em Quan sát bao bì một loại bột giặt thấy trong thành phần có chứa enzim, chắc hẳn vẫn còn là một “điều lạ” đối với một bộ phận học sinh hiện nay! Tương tự như thế, chắc hẳn kiến thức về các quy luật, các khái niệm đối với học sinh phổ thông hiện nay có lẽ vẫn chỉ

là nội dung các khái niệm, cách giải các bài tập, chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trên những trang vở, chúng tôi có cảm giác vẫn còn thiếu một cái gì đó để có thể

“đánh thức” chúng dậy, làm cho chúng trở thành một trong những hành trang tốt trong cuộc sống của mỗi học sinh

Mặt khác học sinh THPT hiện nay học tập mang tính thực dụng, tức là các em chỉ tập trung học các môn phục vụ cho khối thi Đại học- cao đẳng Do xu thế xã hội về khả năng cơ hội việc làm nên ở những vùng thuần nông như trường THPT Nguyễn Chí Thanh chúng tôi số lượng học sinh theo khối B rất ít, chủ yếu đây là môn trong nhóm thi Khoa học tự nhiên mà bắt buộc các em phải thi để hoàn thành tốt nghiệp THPT quốc gia

Giải quyết thực trạng trên như thế nào? đó là một vấn đề khó Như đã nêu trên, Tôi chỉ xin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải pháp này có thể giúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm giúp học sinh hứng thú học tập thông qua thực tế bộ môn

Trang 4

2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến

Hiện nay, khoa học kĩ thuật có tốc độ phát triển cực kì nhanh chóng Cứ khoảng 4- 5 năm thì khối lượng tri thức lại tăng gấp đôi Trong sự phát triển chung đó thì Sinh học

có gia tốc tăng lớn nhất Sự gia tăng khối lượng tri thức, sự đổi mới khoa học Sinh học tất yếu đòi hỏi sự đổi mới về phương pháp dạy học, đào tạo thế hệ trẻ

Trên đà phát triển đó, nhu cầu của xã hội về những con người năng động, sáng tạo, biết làm việc, biết thích ứng trong mọi hoàn cảnh, đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải

cố gắng đổi mới không chỉ về kiến thức khoa học mà cả về phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá Môn sinh học là một môn khoa học tự nhiên rất cần gũi với thiên nhiên và đời sống con người, nên làm thế nào để tiết học đạt hiệu quả cao nhất, học sinh tích cực và chủ động chiếm lĩnh tri thức, làm thế nào để một giờ học luôn được các em mong đợi để được khám phá một điều gì đó thật lí thú, được bày tỏ quan điểm và những ý tưởng của mình Vì vậy, việc thiết kế các bài dạy, các chủ đề gắn với những tình huống rất gần gũi trong đời sống thực tiễn là điều cần thiết, để vừa tạo hứng thú trong học tập vừa rèn cho các em ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, là hành trang cho các em sau

này

Với bộ môn sinh học mà tính thực nghiệm được gắn liền với các bài giảng hàng ngày thì việc định hướng đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề tất yếu Nhằm nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động, sáng tạo trong học tập bộ môn Sinh học của học sinh thì việc gắn các kiến thức, ứng dụng thực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày trong giảng dạy Sinh học ở các trường THPT hiện nay ít được chú trọng, nếu không nói là bỏ quên Đối với môn Sinh học : các khái niệm, quy luật, các hiện tượng… nhiều khi rất trù tượng, khó hiểu, khô cứng làm học sinh khó tiếp thu, dễ nhàm chán, đặc biệt với các học sinh có

tư duy không tốt sẽ có xu hướng dẫn đến sợ bộ môn Sinh học

Xuất phát từ những thực tế đó và với kinh nghiệm trong giảng dạy bộ môn sinh học, tôi nhận thấy để nâng cao hứng thú học bộ môn Sinh học của học sinh, từ đó dần nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học ở trường phổ thông hiện nay , người giáo viên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các hiện tượng, ứng dụng thực tiễn trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong

Trang 5

học tập bộ môn Từ những lí do đó tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến

thức chủ đề vi sinh vật- sinh học 10 vào thực tiễn cuộc sống”

3 Nội dung sáng kiến:

Ứng dụng sinh học vào thực tế cuộc sống là một yếu tố đặc trưng trong hoạt động dạy học, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học sinh học ở trường phổ thông

Đối với học sinh THPT các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó Người giáo viên dạy sinh học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, trong đó phương pháp dạy học bằng cách khai thác các hiện tượng, ứng dụng sinh học thực tiễn trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn sinh học rất gần gũi với các em

2 Mục tiêu dạy học tích hợp gắn với thực tiễn đời sống:

2.1 Mục tiêu giáo dục:

Giáo dục thế hệ trẻ là nhiệm vụ mà tất các các quốc gia trên thế giới đều coi là chiến lược của dân tộc mình , “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, tương lai của một dân tộc, một quốc gia phải nhìn vào nền giáo dục của quốc gia đó

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáo dục vô cùng to lớn:

Trang 6

Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học

Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm cho học sinh nhàm chán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép các kiến thức thực tiễn vào đời sống, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải mái

để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn

B Các biện pháp để tiến hành giải quyết vấn đề:

B.1 Các phương pháp sử dụng:

1 Phương pháp dạy học theo nhóm:

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu

và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy, việc sử dụng phương pháp học nhóm giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não

Kết quả giảng dạy phụ thuộc rất lớn vào việc học sinh có nghiên cứu bài trước ở nhà hay không? Các em đã tiếp thu được những gì khi tự nghiên cứu bài mới và còn những thắc mắc gì? Những liên hệ thực tế nào của bài học liên quan đến thực tế mà các

em chưa hiểu rõ Từ những thắc mắc trên sẽ thoi thúc các em không ngừng đặt ra những

Trang 7

câu hỏi khi giáo viên giảng dạy bài mới và từ đó, các em sẽ tự mình chiếm lĩnh những chi thức mới

Để phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh thì giáo viên cần đưa ra những vấn đề tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm (mỗi nhóm khoảng 4-5 học sinh), giáo viên chủ động giao nhiệm vụ cho các em làm việc nhóm; các em có thể tìm những thông tin liên quan đến vấn đề giao viên giao việc qua sách vở, thông tin internet Sau đó, thảo luận đưa ra bài hoàn chỉnh cùng với những thông tin liên quan nộp sản phẩm cho giáo viên nhận xét và sửa chữa thành nội dung hoàn chỉnh trước khi diễn ra tiết học

3 Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học:

Phương tiện trực quan sẽ đóng vai trò chủ yếu và tích cực trong quá trình nhận thức khi chúng được sử dụng như một “nguồn” để dẫn tới kiến thức Ở đây học sinh độc lập quan sát dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên để đi tới những kết luận cũng là những kiến thức cần lĩnh hội Quan sát lúc này mang tính chất tìm tòi, nghiên cứu Nó có tác dụng phát huy tính chủ động, độc lập, phát triển óc quan sát, phát triển tư duy cho học sinh

Hình vẽ trong sách giáo khoa cũng được sử dụng làm phương tiện cung cấp thông tin về những ứng dụng của vi sinh vật mà học sinh phải tự tìm hiểu, tự nghiên cứu

và hoàn thành các bài tập có tính chất củng cố để nắm chắc kiến thức

Một điểm đáng chú ý hiện nay là với sự phát triển của công nghệ thông tin giáo viên có thể dễ dàng tìm được hình ảnh, những đoạn phim ngắn liên quan đến bài Qua đó,

Trang 8

với những hình ảnh sinh động mà học sinh trực tiếp quan sát được là nguồn động lực rất lớn để các em tự tìm tòi, nghiên cứu và rút ra những kết luận qua những hình ảnh quan sát được

Bên cạnh đó, việc tổ chức cho các em các buổi thực nghiệm cũng là vấn đề thiết yếu, thông qua những buổi thực hành (làm sữa chua, muối chua rau củ, lên men chưng cất siro từ hoa quả ), những buổi tham quan thực tế về mô hình ứng dụng làm nước mắm nhỉ qua hệ thống ánh nắng mặt trời từ đó, các em sẽ ghi nhớ kiến thức sâu hơn và tránh cách ghi nhớ máy móc như trước đây

4 Phương pháp vận dụng tích hợp câu hỏi thực tiễn đời sống thông qua bộ môn (liên hệ thực tế):

Để việc tích hợp thông qua bộ môn các câu hỏi thực tiễn đời sống vào bộ môn sinh học 10 – phần sinh học vi sinh vật đạt hiệu quả cao, tránh gò bó, ôm đồm đi quá đà ảnh hưởng đến nội dung bài dạy thì đòi hỏi giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ và đúng các quy trình của một tiết dạy Khâu dặn dò rất cần thiết nên giáo viên giành 3 phút để dặn dò các em Có dặn dò kĩ các em mới chuẩn bị bài tốt và như thế tiết học mới đạt hiệu quả cao.Và khâu chuẩn bị giáo án của giáo viên cũng được đổi mới Giáo viên phải đưa ra các câu hỏi có phát huy tính tích cực phù hợp với mọi đối tượng, thực tế, gần gũi với các

em thì mới có kết quả cao

Việc tích hợp các câu hỏi thực tiễn đời sống phải gắn liền với thực hành nhằm tạo động lực thúc đẩy các em tìm tòi, khám phá thực tiễn, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn “ học đi đôi với hành”, từ đó phát huy tính tích cực chủ động của các em Tuy nhiên, việc tích hợp cho học sinh được thực hiện xuyên suốt cả năm học nhưng để cô đọng tôi xin minh họa vấn đề này ở một số bài về mà tôi đã ứng dụng tích hợp liên quan đến đời sống thực tiễn Cụ thể như:

4.1 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp:

Với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực: Vật lí, Sinh học, Hóa học…nên chương trình đào tạo cũng được phân chia thành các mảng kiến thức tương đối tách rời, cô lập với những khái niệm chi tiết khó nhớ Xu hướng hiện nay trong dạy học sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nói chung, người ta cố gắng trình

Trang 9

bày cho học sinh thấy mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực không những của sinh học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khác nhau như: sinh học, toán học, vật lí,…Khi dạy kiến thức sinh học bất kể từ lĩnh vực nào: Sinh học tế bào, sinh học vi sinh vật, di truyền học …đều liên quan đến kiến thức vật lí, hóa học hay nhiều hiện tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức thành phần hóa học của tế bào: gluxit, lipit, protein,…đều liên quan đến kiến thức hóa học, nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các môn học với nhau

Ví dụ: khi học hóa học ta giải thích hiện tượng: Tại sao nước một số sông hồ có

màu đen đó là do H2S trong nước ao kết hợp với Fe để tạo thành FeS kết tủa, Thì với sinh học các em sẽ hiểu rõ hơn trong các môi trường kị khí như bùn trong các ao, sông, hồ một

số vi sinh vật phân giải chất hữu cơ bắt nguồn từ xác thực vật, vận chuyển Ion và electron đến chất nhận electron cuối cùng là SO4 2- được gọi là hô hấp sunphat Quá trình hô hấp này tạo ra khí H2S, khí này kết hợp với Fe có trong ao tạo ra Fes làm nước ao có màu đen

Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chót nhất của chương trình để giảng dạy còn phần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo Ngoài

ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn phù hợp với nội dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn

Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các hiện tượng, ứng dụng thực tiễn, ngoài giúp học sinh chủ động, tích cực say mê học tập còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó Đây cũng là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây

4.2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống

Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức sinh học có thể liên hệ được với các hiện tượng

Trang 10

tự nhiên xung quanh chúng ta

Ví dụ: Khi dạy bài 24 Thực hành: Lên men và Lactic

Bạn Nga thấy mẹ bạn Nga khi muối dưa chua thường bỏ thêm đường, nén chặt, ngập nước, đặt gần bếp, đậy kín, và bỏ muối thích hợp Bạn không hiểu vì sao mẹ làm như vậy

Bằng kiến thức đã học em hãy giải thích cho bạn Nga hiểu cơ sở khoa học của việc làm này ?

+Đặt gần bếp để giữ nhiệt độ ấm giúp vi khuẩn lactic phát triển

+Bỏ muối thích hợp : Tạo điều kiện để tạo môi trường ưu trương nhằm rút dịch tế bào ra cho vi khuẩn lactic hoạt động , đồng thời ngăn chặn vi khuẩn lên men thối

4.3 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định

bằng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống

Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽ nhàm chán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định kèm vào các phương pháp dạy để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh vừa tạo được môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn

Ví dụ: Khi học bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật- sinh

Trang 11

Ví dụ: Khi dạy bài 24, Lên men Êtilic và lên men Lactic

Ba bạn học sinh làm sữa chua theo ba cách như sau:

+Cách 1: Pha sữa bằng nước nóng, sau đó bổ sung ngay một thìa sữa chua Vinamilk, sau đó ủ ấm trong 6-8 giờ

+Cách 2: Pha sữa bằng nước nóng, sau đó để nguội bớt đến khoảng 40 độ C, bổ sung một thìa sữa chua vinamilk, cho thêm enzim lizozim, sau đó ủ ấm 6-8 giờ

+Cách 3: Pha sữa bằng nước nóng, sau đó để nguội đến khoảng 40 độ C, bổ sung một thìa sữa chua Vinamilk, ủ ấm 6-8 giờ

Trong 3 cách trên, theo em cách nào sẽ có sữa chua để ăn ? cách nào sẽ không thành công ? giải thích ?

Trả lời: Cách 3 làm đúng kĩ thuật Cách 1-2 không có sữa chua ăn vì:

+Ở cách 1 pha sữa bằng nước nóng , sau đó cho sữa chua Vinamilk vào thì vi khuẩn lactic trong sữa ở nhiệt độ cao sẽ chết , không còn tác nhân lên men

+Ở cách 2: do cho thêm enzim lizozim vào nên lizozim phá bỏ thành tế bào vi khuẩn lactic nên vi khuẩn lactic bị chết , quá trình lên men cũng không thành công

Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn

Trang 12

4.4 Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống

trong tiết dạy

4.4.1 Đặt tình huống vào bài mới

Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướng dẫn (giáo viên) rất nhiều Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ cuống hút được sự chú ý của học sinh trong tiết dạy

4.4.2 Lồng ghép tích hợp kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống về môi

trường vào bài dạy

Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất, đang được con người nhắc đến rất nhiều Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bất gặp như: nước thải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt ; khói bụi của các nhà máy xay lúa, các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch, có liên quan gì đến những diễn biến bất thường của thời tiết hiện nay không Giáo viên dạy học bộ môn sinh có thể lồng ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các sản phẩm sinh học , hay ứng dụng của một số vi sinh vật Ngoài việc gây sự chú ý của học sinh trong tiết dạy còn giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng học sinh Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụ thể và gần gủi với các em

4.4.3 Liên hệ kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài dạy

Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thì các em

sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn Do đó mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh Giáo viên cũng cần chú ý khi sử dụng các hiện tượng sinh học thực tiễn nên khéo léo trong giải thích vấn đề, vì cấp độ bộ môn sinh ở THPT nhiều khi chưa tìm hiểu sâu quá trình diễn biến của sự việc hay hiện tượng Do đó giáo viên phải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếu học sinh tỏ ra tìm tòi hơn chúng ta có thể khích lệ, mở ra hướng giáo dục vai trò quan trọng của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn

Trang 13

B.2 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng phần “ Sinh học- vi sinh vật”- Sinh học 10

1 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Câu 1: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta ngửi thấy

mùi khai ?

Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu đạm như

nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ… thì lượng urê trong các chất hữu cơ này sinh ra nhiều Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê bị phân hủy tiếp thành CO2

và amoniac NH3 theo phản ứng:

(NH2)2CO + H2O CO2+ 2NH3

NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động Như vậy khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa trong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu

Áp dụng: Khi dạy bài 24 – sinh học 10 cơ bản Giáo viên có thể nêu vấn đề để chuyển sang mục “Hô hấp và lên men” Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất

là vào mùa khô, nắng nóng

Câu 2: Vì sao không nên bón Phân đạm cùng với phân chuồng trên những ruộng

lúa ngập nước ?

Giải thích: Vi khuẩn phản nitrat hóa có khả năng dùng nitrat chủ yếu làm chất

nhận điện tử Tùy theo loài vi khuẩn mà sản phẩm của khử nitrat dị hóa là N2, N2O hay

NO, đây đều là những chất mà cây trồng không hấp thụ được Quá trình phản nitrat hóa xảy ra mạnh khi đất bị kị khí như khi dùng phân đạm (nitrat) cùng với phân chuồng trên những ruộng lúa ngập nước, phân nitrat dùng bón cho lúa bị nhóm vi khuẩn này sử dụng rất nhanh, nitrat có thể mất hết rất nhanh mà cây trồng không kịp sử dụng

Áp dụng: Bài 22: Dinh dưỡng, chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật- sinh học 10 cơ bản Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài

Trang 14

Câu 3: Chữ “sinh học” trong bột giặt sinh học là gì và tác dụng của nó?

Giải thích: Chữ “Sinh học trong bột giặt sinh học có nghĩa là bột giặt chứa một

hoặc nhiều loại enzim để tẩy sạch một số vết bẩn Các enzim đó là các enzim ngoại bào của vi sinh vật, có thể được sử dụng rộng rãi, ví dụ amilaza để loại bỏ tinh bột, proteaza loại bỏ protein, lipaza loại bỏ mỡ

Áp dụng: Giáo viên có thể sử dung câu hỏi này để dẫn dắt vào bài 23: quá trình

tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật - phần ứng dụng quá trình tổng hợp các chất ở

vi sinh vật- sinh học 10

Ngày nay người ta Sản xuất các chất xúc tác sinh học là các enzim ngoại bào của vi sinh vật được sử dụng phổ biến trong đời sống con người và trong nền kinh tế quốc dân trong đó có bột giặt và nhiều ứng dụng khác như:

- Amilaza (thuỷ phân tinh bột) được dùng khi làm tương, rượu nếp, trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo, công nghiệp dệt, sản xuất xirô

- Prôtêaza (thuỷ phân prôtêin) được dùng khi làm tương, chế biến thịt, trong công nghiệp thuộc da, công nghiệp bột giặt

- Xenlulaza (thuỷ phân xenlulôzơ) được dùng trong chế biến rác thải và xử lí các bã thải dùng làm thức ăn cho chăn nuôi và sản xuất bột giặt

- Lipaza (thuỷ phân lipit) dùng trong công nghiệp bột giặt và chất tẩy rửa…

Trang 15

Câu 4: Tại sao trâu bò lại đồng hóa được rơm, rạ, cỏ giàu chất xơ?

Giải thích: Trong dạ cỏ của trâu, bò chứa các vi sinh vật, trong các vi sinh vật đó

chứa các enzim có khả năng phân giải xenlulozo, hemixenlulozo và pectin trong rơm rạ thành các chất dơn giản mà cơ thể hấp thụ được

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng đặc điểm quá trình

phân giải và ứng dụng các chất ở vi sinh vật

Câu 5: Tại sao khi nướng bánh mì lại trở lên xốp?

Giải thích: Khi làm bánh mì, ngoài bột mì ra thì một thành phần không thể thiếu là

nấm men, đây là những vi sinh vật sinh sản nhanh và biến đường, ôxi có trong bột mì thành khí cacbonic, sinh khối và vitamin Khí cacbonic trong bột sẽ giãn nở và tăng thể tích khi nướng nên làm bánh mì nở, rỗng ruột và trở nên xốp hơn

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho bài 23: Quá trình phân giải các chất

ở vi sinh vật và ứng dụng nhằm giúp học sinh hiểu được lợi ích của vi sinh vật trong thực tiễn

Trang 16

Câu 6: Trong làm tương và làm nước mắm có sử dụng cùng một loại vi sinh vật

không?

Giải thích: Không, vì làm tương nhờ nấm vàng hoc cau là chủ yếu, loại nấm này

tiết ra proteaza để phân giải protein trong đậu tương Làm nước mắm nhờ vi khuẩn kị khí trong ruột cá là chủ yếu, chúng sinh ra proteaza để phân giải protein của cá

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng ứng dụng quá trình

phân giải protein bài 23

Câu 7: Người ta đã áp dụng hình thức lên men nào trong muối dưa, cà? Làm thế

nào để muối được dưa, cà ngon?

Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic

Muốn muối dưa, cà ngon phải tạo điều kiện ngay từ đầu vi khuẩn lactic lấn át được vi

Trang 17

khuẩn gây thối Do đó phải cho đủ muối, nhưng không được quá nhiều vì sẻ ức chế ngay

cả vi khuẩn lactic làm dưa không chua được

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên

hệ thực tế quá trình phân giải các chất ở vi sinh vật, bài 23 : Quá trình phân giải các chất ở

vi sinh vật

Câu 8: Tại sao rượu vang hoặc sâm panh đã mở thì phải uống hết?

Giải thích: Đã mở phải uống hết vì để đén hôm sau dễ bị chua, rượu nhạt đi do

axetic bị ôxi tạo ra giấm Đây là quá trình oxi hóa hiếu khí được thực hiện bởi nhóm vi khuẩn axetic thuộc chi Acetobacter Nếu để lâu nữa thì axit axetic bị ôxi hóa thành CO2 và nước làm giấm nhạt đi

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài thực

hành lên men Etilic, Khi dạy bài 24: Thực hành lên men Êtilic và Lactic

Trang 18

Câu 9: Tại sao những quả có vị ngọt như vải, nhãn để 3 đến 4 ngày thường có mùi

chua?

Giải thích: Vì trong dịch quả có nhiều đường, nấm men ở trên vỏ xâm nhập vào và

quá trình lên men diễn ra Sau đó các vi khuẩn chuyển hóa dường thành rượu, từ rượu thành axit khiến quả bị chua

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài thực hành

lên men Etilic

Câu 10: Tại sao dưa muối lại chua, ăn ngon và giữ được lâu?

Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic

Vị chua là vị của axit lactic Do vi khuẩn lactic và dung dịch muối ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây thối nên giữ được lâu

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề, giới hạn kiến thức

vào chương và bài học của phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Câu 11: Vì sao rượu trưng cất bằng phương pháp thủ công ở một số vùng dễ làm

người uống đau đầu?

Giải thích: Nấu rượu bằng nồi đồng xảy ra phản ứng:

C2H5OH + O2  CH3CHO + H2O

Sản xuất rượu thủ công không khử được anđêhit, nên khi uống vào gây đau đầu

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong mục tìm

hiểu quá trình phân giải các chất ở vi sinh vật

Trang 19

Câu 12: Ở tỉnh ta có đặc sản nem chua, ăn nem chua có đảm bảo sạch hay không

vì nem chua làm bằng thịt sống hoàn toàn mà không qua đun nấu

Giải thích: Làm nem chua dựa trên nguyên lí lên men lactic đảm bảo an toàn,

nhưng nếu trong quá trình làm không vệ sinh đúng thì các vi khuẩn lên men thối hoạt

động

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 24,

thực hành lên men láctic

2 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài

giảng thuộc Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật

Câu 1: Trong môi trường tự nhiên (đất, nước), pha lũy thừa có xảy ra không?

Giải thích: Pha lũy thừa xảy ra trong điều kiện vi sinh vật được ổn định vì đầy đủ

thức ăn Trong môi trường tự nhiên, vi sinh vật phải chịu tác động với điều kiện ngoại

cảnh luôn thay đổi: thành phần chất dinh dưỡng không đủ, sự thay đổi pH, nhiệt độ… và

sự cạnh tranh của các vi sinh vật khác Vì thế sinh trưởng của vi sinh vật trong môi trường

tự nhiên không thể diễn ra pha lũy thừa

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế mục “Sinh

trưởng của quần thể vi sinh vật, khi dạy bài 25: Sinh trưởng của vi sinh vật

Trang 20

Câu 2: Tại sao nói quá trình tiêu hóa từ dạ dày đến ruột của người là hệ thống nuôi

cấy liên tục đối với vi sinh vật

Giải thích: Nói tiêu hóa từ dạ dày đến ruột của người là hệ thống nuôi cấy liên tục

vì quá trình này được diễn ra liên tục: dạ dày thường xuyên được bổ sung thức ăn từ bên ngoài vào đồng thời thường xuyên thải các sản phẩm tiêu hóa ra ngoài, do đó tương tự như một hệ thống nuôi cấy liên tục

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần củng cố bài 25 “Sinh trưởng

của vi sinh vật” nhằm giúp cho học sinh biết cách vận dụng kiến thức để giải thích hiện tượng trong cuộc sống

Câu 3: Tại sao trong đường ruột của cơ thể người giàu chất dinh dưỡng nhưng các

vi khuẩn không thể sinh sản với tốc độ cực đại?

Giải thích: Trong đường ruột người có nhiều loại vi sinh vật khác nhau, chúng

cạnh tranh chất dinh dưỡng đồng thời tiết ra các chất kìm hãm nhau

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài 25 “Sinh

CO2 và các loại khí khác làm cho hộp thịt bị phồng lên, biến dạng

Áp dụng: Ngày nay vấn đề “An toàn thực phẩm” trở thành một vấn đề có ảnh

hưởng mang tính toàn cầu Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và tác

hại của việc sử dụng thực phẩm không an toàn Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy

tích hợp trong bài “Sinh sản của vi sinh vật”

Trang 21

Câu 5: Tại sao dưa, cà muối lại bảo quản được lâu?

Giải thích: Khi muối dưa, cà axit lactic do vi khuẩn lactic tiết ra cùng với nồng độ

muối cao kìm hãm sinh trưởng của các vi khuẩn khác, đặc biệt là vi sinh vật gây thối rau, quả

Áp dụng: Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽ

không biết Giáo viên có thể nêu vấn đề trên sau khi kết thúc bài 27: “Ảnh hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng của vi sinh vật”

Câu 6: Tại sao phải bảo quản thực phẩm ở nhiệt độ thấp?

Giải thích: Mục đích của việc bảo quản thực phẩm là giữ cho thực phẩm không bị

vi sinh vật có trên bề mặt thịt, cá (đặc biệt là vi khuẩn ưa nhiệt) xâm nhập làm hỏng thực phẩm bằng cách tạo điều kiện không thuận lợi (nhiệt độ thấp) để ức chế sự phát triển của

vi sinh vật

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài 27 “Ảnh

hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh trưởng của vi sinh vật”

Trang 22

Câu 7: Tại sao muốn bảo quản thịt, cá người ta có thể bảo quản bằng cách ướp

muối?

Giải thích: Khi ướp muối làm tăng áp suất thẩm thấu, rút nước trong tế bào vi

khuẩn là tác nhân gây hỏng thịt, cá và làm cho tế bào đó chết

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “Ảnh

hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh trưởng của vi sinh vật”

Câu 8: Vì sao trong sữa chua hầu như không có vi sinh vật gây bệnh?

Giải thích: Trong sữa chua lên men tốt (lên men đồng hình) chứa rất nhiều vi

khuẩn lactic, chúng tạo ra môi trường axit (pH thấp) ức chế hầu như mọi loại vi sinh vật gây bệnh (vì những VSV này quen sống trong môi trường pH trung tính) Do đó trong sữa chua hầu như không có vi sinh vật gây bệnh Có thể nói sữa chua là loại thực phẩm vừa bổ dưỡng, vừa vô trùng

Áp dụng: Đây là các câu hỏi nhằm kích thích tính tò mò của học sinh Học sinh

không lạ gì với hiện tượng trên nhưng để giải thích thì không phải dễ Giáo viên có thể

nêu vấn đề trên sau khi dạy xong mục bài : “Ảnh hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh

trưởng của vi sinh vật”

Câu 9: Người ta thường quảng cáo trên ti vi xà phòng thơm diệt được 90% vi

khuẩn có đúng không?

Trang 23

Giải thích: Xà phòng không phải là chất diệt khuẩn mà chi loại khuẩn nhờ bọt và

khi rửa vi sinh vật bị rửa trôi Do đó thông tin quảng cáo trên chỉ mang tính chất quảng bá

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “Ảnh

hưởng của các yếu tố hóa học đến sinh trưởng của vi sinh vật”

Câu 10: Tại sao cá biển giữ trong tủ lạnh dễ bị hư hỏng hơn cá sông?

Giải thích: Vi khuẩn biển thuộc nhóm ưa lạnh, nên trong tủ lạnh chúng vẫn hoạt

động gây hỏng cá

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế bài “Ảnh

hưởng của các yếu tố vật lí đến sinh trưởng của vi sinh vật”

Câu 11: Khi dạy bài 23 phần quá trình phân giải các chất ở vi sinh vật Giáo viên

có thể cho học sinh quan sát mô hình lên mem sản suất nước mắm bằng năng lượng mặt trời

Trang 24

Rút ngắn thời gian sản xuất, tăng lượng nước mắm cốt nhiều hơn 30%, bảo đảm

vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, giảm chi phí lao động… Đây là những

ưu điểm của công nghệ sản xuất nước mắm bằng năng lượng mặt trời một số cơ sở sản xuất nước mắm ở tỉnh ta

Hiện nay, do không yên tâm về chất lượng và độ an toàn của các sản phẩm nước mắm chế biến công nghiệp, người tiêu dùng đang có xu hướng chuyển sang các sản phẩm nước mắm truyền thống vừa bảo đảm hàm lượng dinh dưỡng cao, vừa đáp ứng tốt các tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, với phương thức sản xuất thủ công, các làng nghề làm nước mắm khó lòng đáp ứng được nhu cầu của thị trường cả về số lượng và chất lượng, hơn nữa, do sản xuất thủ công nên chi phí cao làm tăng giá bán, khó cạnh tranh với sản phẩm công nghiệp

Ở tỉnh ta, nước mắm chủ yếu được sản xuất bằng phương pháp lên men truyền thống, nhiệt độ là yếu tố quyết định thời gian chín, hương vị, màu sắc của nước mắm Mặt khác, người dân gặp khó khăn bởi chi phí lao động cao cho việc chiết, rút nước mắm, náo đảo và dang phơi, có thể gây ô nhiễm môi trường xung quanh, thời gian chế biến kéo dài, sản lượng thấp trong khi nguồn nguyên liệu tương đối dồi dào

Nhờ hiệu quả của các mô hình, nhiều người dân đã tìm đến tìm hiểu để áp dụng công nghệ mới này Mục tiêu của dự án là sẽ thay đổi tập quán sản xuất nước mắm truyền thống, áp dụng đại trà quy trình sản xuất mới cho người dân kể cả những hộ nhỏ lẻ

3 Hệ thống bộ câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống dùng cho các bài giảng thuộc Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm

Câu 1: Tại sao mỗi loại vi rút chỉ có thể nhiễm vào một loại tế bào nhất định? Giải thích: Trên bề mặt tế bào có các thụ thể dành riêng cho mỗi loại virut đo là

tính đặc hiệu

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực

tế bài “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ”

Câu 2: Thế nào là bệnh cơ hội và vi sinh vật gây bệnh cơ hội?

Giải thích:

- Một số vi sinh vật ở điều kiện bình thường thì không gây bệnh nhưng khi cơ thể

bị suy yếu hoặc hệ thống miễn dịch bị suy giảm thì chúng lại trở thành tác nhân gây bệnh Những vi sinh vật đó được gọi là vi sinh vật cơ hội, bệnh do chúng gây ra gọi là bệnh cơ hội

Trang 25

- Hiện nay nhiễm HIV/AIDS được coi là bệnh đại dịch toàn cầu, AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Tuy nhiên, người bị nhiễm HIV không phải bị chết vì virut HIV mà do các bệnh cơ hội khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị suy giảm

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực

tế mục II, bài 30 “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ”

Câu 3: Tại sao nói HIV gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải?

Giải thích:

- Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các mầm bệnh từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây bệnh Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải là sự suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể không phải do nguyên nhân di truyền mà do bị lây nhiễm bởi các tác nhân trong cuộc sống

- Virut HIV có khả năng gây nhiễm và phá hủy một số tế bào của hệ thống miễn dịch trong đó có tế bào Limpo T-CD4, sự giảm số lượng các tế bào này làm mất khả năng miễn dịch của cơ thể Vì vậy, HIV chính là một tác nhân gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực tế

mục II, bài 30 “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ”

Câu 4: Bài “HIV, AIDS, Đại dịch AIDS thảm họa của loài người”

-Ta có nên kỳ thị phân biệt đối xử với những người bị nhiễm HIV, AIDS hay không? Vì sao?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên điều chỉnh bổ sung và để tăng giáo dục, giáo viên cho học sinh đọc một lời tâm sự của nạn nhân AIDS

- Không phân biệt đối xử với họ

- Biết chia sẽ với nạn nhân AIDS

Trong cuộc sống ai cũng muốn mình khỏe mạnh, hạnh phúc nhưng không ai cũng có được điều đó Bệnh tật, tai nạn luôn rình rập hoặc do thiếu hiểu biết hay một

Trang 26

chút nông nổi đã mắc phải căn bệnh quái ác Thông qua chương trình sinh học 8 giáo dục các em biết cách bảo vệ mình và quan tâm, giúp đỡ mọi người chẳng may rơi vào các hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật hay lầm lỡ Giáo dục các em không phân biệt đối xử,

xa lánh những nạn nhân HIV, AIDS Hãy gần gũi, thông cảm chia sẽ để nạn nhân này sống có ích trong những ngày còn lại của đời mình

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ

thực tế mục II, bài 30 “Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ

Câu 5: Thuốc trừ sâu sinh học có chứa virut dựa trên cơ sở khoa học nào?

Giải thích: Một số loại virut kí sinh và gây bệnh cho côn trùng cũng như một số

vi sinh vật gây hại cho cây trồng Do có tính đặc hiệu cao nên một số loại virut chỉ gây hại cho một số sâu bệnh nhất định mà không gây độc cho người, động vật và côn trùng có ích Nhờ tính chất này mà một số loại virut được sử dụng để sản xuất các chế phẩm sinh học

có tác dụng như những thuốc trừ sâu để tiêu diệt sâu bệnh, bảo vệ mùa màng

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực

tế mục “Ứng dụng của virut trong thực tiễn”

Câu 6: Tại sao virut kí sinh trên thực vật không có khả năng tự nhiễm vào tế bào

thực vật mà phải nhờ côn trùng hoặc qua các vết xước?

Trang 27

Giải thích: Virut kí sinh trên thực vật không có khả năng tự nhiễm vào tế bào

thực vật mà phải nhờ côn trùng hoặc qua các vết xước, bởi vì: thành tế bào thực vật dày và không có thụ thể nên đa số virut xâm nhập vào tế bào thực vật nhờ côn trùng (chúng ăn lá, hút nhựa cây bị bệnh rồi truyền sang cây lành); một số virut khác xâm nhập qua các vết xước

Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề hoặc liên hệ thực

tế bài “ Viruts gây bệnh và ứng dụng của virut trong thực tiễn”

Câu 7: Lấy ví dụ về một số bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật gây ra trên cơ thể

con người?

Giải thích:

- Bệnh cúm do virut cúm gây ra, lây truyền qua đường hô hấp

- Bệnh AIDS do virut HIV gây nên, lây truyền qua đường máu, đường tình dục hoặctruyền từ mẹ sang con

- Bệnh tả, lị do vi khuẩn gây ra, lây truyền qua đường tiêu hóa

- Bệnh quai bị là bệnh do virus quai bị gây ra, lây truyền chủ yếu do các chất tiết của đường hô hấp

- Bệnh lao do vi khuẩn lao gây ra, lây truyền qua đường hô hấp

Tranh: Minh họa phổi của người bị bệnh lao

Ngày đăng: 13/11/2021, 17:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Trần Bá Hoành - Trịnh Nguyên Giao "Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học" NXB GDHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các phương pháp học tập tích cực trong bộ môn sinh học
Nhà XB: NXB GDHN
8. Hỏi đáp sinh học - Trần Ngọc Oanh ( Nhà xuất bản Giáo dục, 2006) 9. https://www.google.com Link
1. Sách giáo khoa Sinh học 10 – Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) –NXB Giáo dục Khác
2. Sách giáo viên Sinh học 10 – Nguyễn Thành Đạt (tổng chủ biên) –NXB Giáo dục Khác
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông - Môn Sinh học Lớp 10 (Cấp THPT) – Ngô Văn Hưng (Chủ biên) – Nguyễn Hải Châu - Lê Hồng Điệp – Nguyễn Thị Hồng Liên – NXB GD 2009 Khác
4. Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh học 10 – Phan Khắc Nghệ - Trần Mạnh Hùng (Giáo viên Trường THPT chuyên Hà Tĩnh - chủ biên) – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2017 Khác
5. Nguyễn Đức Thành (2005) "Chuyên đề tổ chức hoạt động học tập trong hoạt động dạy học sinh học ở trường trung học phổ thông&#34 Khác
7. Dạy học sinh học ở trường trung học phổ thông (Tập I, tập II). Nguyễn Đức Thành (chủ biên) Nguyễn Văn Duệ - Dương Tiến Sỹ NXB Giáo dục 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Câu 7: Người ta đã áp dụng hình thức lên men nào trong muối dưa, cà? Làm thế nào để muối được dưa, cà ngon?  - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
u 7: Người ta đã áp dụng hình thức lên men nào trong muối dưa, cà? Làm thế nào để muối được dưa, cà ngon? (Trang 16)
Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic. Muốn  muối dưa,  cà  ngon phải tạo điều kiện ngay từ đầu  vi khuẩn lactic  lấn át được  vi  - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
i ải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic. Muốn muối dưa, cà ngon phải tạo điều kiện ngay từ đầu vi khuẩn lactic lấn át được vi (Trang 16)
Giải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic. Vị chua là vị của axit lactic - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
i ải thích: Muối dưa, cà là hình thức lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩn lactic. Vị chua là vị của axit lactic (Trang 18)
Giải thích: Trong sữa chua lên men tốt (lên men đồng hình) chứa rất nhiều vi khuẩn lactic, chúng tạo ra môi trường axit (pH thấp) ức chế hầu như mọi loại vi sinh vật  gây bệnh (vì những VSV này quen sống trong môi trường pH trung tính) - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
i ải thích: Trong sữa chua lên men tốt (lên men đồng hình) chứa rất nhiều vi khuẩn lactic, chúng tạo ra môi trường axit (pH thấp) ức chế hầu như mọi loại vi sinh vật gây bệnh (vì những VSV này quen sống trong môi trường pH trung tính) (Trang 22)
2.2. Chuẩn bị của HS - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
2.2. Chuẩn bị của HS (Trang 31)
B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC Hoạt động 1: Chu trình nhân lên của virut   - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
o ạt động 1: Chu trình nhân lên của virut (Trang 32)
Các giai đoạn chính Hình minh họa Đặc điểm 1. Sự hấp phụ  - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
c giai đoạn chính Hình minh họa Đặc điểm 1. Sự hấp phụ (Trang 33)
Các giai đoạn chính Hình minh họa Đặc điểm - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
c giai đoạn chính Hình minh họa Đặc điểm (Trang 34)
5. Phóng thích - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
5. Phóng thích (Trang 34)
-GV chiếu hình các con đường lây nhiễm HIV - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
chi ếu hình các con đường lây nhiễm HIV (Trang 37)
Hãy nghiên cứu thông tin SG K, thảo luận nhóm và hoàn thành bảng sau: - Phát triển năng lực vận dụng kiến thức chủ đề Vi sinh vật - Sinh học 10 vào thực tiễn đời sống
y nghiên cứu thông tin SG K, thảo luận nhóm và hoàn thành bảng sau: (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm