Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm giúp học sinh nắm chắc các sự kiện một cách toàn diện và thấu hiểu được bản chất của vấn đề; đối chiếu các sự kiện trong cùng một thời điểm, tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện với nhau. Từ đó học sinh sẽ hiểu bài và nhớ lâu hơn, sẽ giải được các dạng bài tập trắc nghiệm ở các mức độ khác nhau mà không cần phải học thuộc lòng kiến thức. Có như vậy mới đạt hiệu quả cao trong các kì thi, đặc biệt là kì thi THPT Quốc gia.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 25 tháng 02 năm 2019
BÁO CÁO Kết quả thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
ĐỀ TÀI: RÈN LUYỆN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1954-1975 TRONG ÔN THI THPT QUỐC GIA
I-Sơ lược lý lịch tác giả:
-Họ và tên: Trần Thị Kim Thoa Nữ
-Ngày tháng năm sinh: 1982
-Nơi thường trú: Xã Tân Trung, huyện Phú Tân, Tỉnh An Giang
-Chức vụ hiện nay: Tổ trưởng Tổ lịch sử
-Lĩnh vực công tác: Giảng dạy lịch sử
II.Tên sáng kiến: RÈN LUYỆN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1954-1975 TRONG ÔN THI THPT QUỐC GIA
III Lĩnh vực: môn lịch sử- khối 12
IV Mục đích yêu cầu khi áp dụng sáng kiến
1 Thực trạng ban đầu
Lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cho học sinh, rèn
tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử mà rút ra kinh nghiệm quý giá để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa; tự hào về các anh hùng dân tộc; về quê hương đất nước, con người Việt Nam Đồng thời hiện nay môn lịch sử trở thành 1 trong 3 môn thuộc tổ hợp môn Khoa học xã hội( Sử- Địa- Gíao dục công dân) xếp vào môn thi THPT Quốc gia để xét tốt nghiệp và xét vào các trường Đại học hoặc Cao đẳng tương ứng với các khối, tổ hợp môn như: khối C00( Văn- sử- địa), A03( Toán-Hóa- Sử), A07(Toán- Sử-Địa), B01(Toán- Sinh- Sử), C03( Văn- Toán- Sử); C10( Văn- Sinh- Sử) với đa dạng ngành nghể: ngành Công an, ngành Báo chí, ngành Xã hội học, ngành quản trị nhân lực, ngành Đại học Luật, ngành Sư phạm, ngành Tài chính- ngân hàng Nhưng đáng buồn là kết quả học tập bộ môn lịch sử còn thấp Đều này thể hiện rõ qua kết quả thi THPT Quốc gia trong hai năm gần đây:
Trang 2Môn Năm học Tỉ lệ dưới trung bình
Bảng thống kê tỉ lệ dưới trung bình trong kỳ thi THPT Quốc gia
Vậy nguyên nhân là do đâu?
Về khách quan:
Thứ 1- Nhiều học sinh chọn thi môn lịch sử cho việc xét tốt nghiệp dẫn đến học sinh
có thể không làm các câu khó nên chỉ cần qua điểm liệt ( tức là chỉ trên 1,25 điểm là được);
Thứ 2- Đối với tổ hợp môn khoa học xã hội không đa dạng ngành nghề để học sinh lựa chọn như khoa học tự nhiên nên các em không quan tâm nhiều đến môn lịch sử;
Thứ 3- Dù đã thay đổi hình thức thi không sử dụng hình thức thi truyền thống tự luận mà thay vào đó là thi trắc nghiệm 100% với 4 phương án có sẵn( A, B, C, D) nên học sinh có tâm lí chỉ cần học qua loa không cần phải học kỷ;
Thứ 4- Hiện nay, tình trạng sinh viên thất nghiệp không có việc làm ngày càng đông
đa số các em khối C hoặc làm không đúng ngành nghề nên rút kinh nghiệm của các đàn anh chị đi trước mà không sai mê để tìm hiểu nghiên cứu lịch sử;
Thứ 5-Các em chọn lịch sử là chủ yếu do yếu các môn khoa học tự nhiên( Lý- Hóa- Sinh) và có học lực trung bình,yếu;
Thứ 6- Tuy hiện nay số lượng học sinh đăng ký thi môn Sử rất đông nhưng với khối lượng kiến thức nhiều dàn trải( bao gồm chương trình khối 10,11 chủ yếu kiến thức 12) sẽ tạo tâm lí ngán ngẫm, học không nổi chỉ tập trung quan tâm đến các đề thi thử, đề kiểm tra nên cuối cùng chỉ nắm được những tri thức tản mạn rời rạc, thiếu hệ thống mà không nắm được tiến trình thời gian sự kiện, không nắm được sự biến động của tình hình thế giới sẽ tác động đến Việt Nam;
Thứ 7- Với hình thức thi trắc nghiệm nên bất kì nội dung nào trong sách giáo khoa cũng là câu hỏi Đều đó đòi hỏi người dạy không bỏ hay lướt qua bất kỳ nội dung kiến thức nào không nằm trong giới hạn giảm tải của phân phối chương trình trong khi thời lượng không thay đổi Vì thế để kịp chương trình, thời lượng, nội dung kiến thức, người dạy phải sử dụng phương pháp truyền thống là truyền thụ kiến thức một chiều, thầy giảng trò nghe thầy đọc trò chép để đảm bảo đầy đủ kiến thức Chính vì thời lượng không cho phép nên các em không có dịp để tranh luận, để bài tỏ nhận xét của mình về vấn đề hoặc
sự kiện đó nên không phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh khi học lịch
sử, không tạo đam mê với môn học này để rồi lượng kiến thức cũ ngày càng mai mọt hoặc nhầm lẫn các sự kiện với nhau nên kết quả thi lại không cao Trong khi môn lịch sử là một môn học đặc thù với những chuổi sự kiện, diễn biến đã diễn ra trong quá khứ đòi hỏi người dạy muốn khôi phục lại bức tranh quá khứ phải linh hoạt các phương pháp trong
Trang 3giảng dạy, thu hút sự chú ý tìm tòi sáng tạo của học sinh ngay khi truyền thụ kiến thức mới cũng như trong ôn thi THPT Quốc gia
Về chủ quan:
- Phương pháp giảng dạy còn cứng nhất, mang tính rập khuôn chưa thực sự thu hút học sinh Đồng thời, việc truyền tải một lượng kiến thức lớn tương đối phức tạp như môn Lịch sử, nhưng chưa có phương pháp phù hợp giúp học sinh hệ thống kiến thức là một vấn
đề còn bỏ ngõ
Thấy được 2 nguyên nhân khách quan và chủ quan như trên, tôi nhận định rằng: Với vai trò là giáo viên môn Lịch sử, trước hết tôi phải có trách nhiệm giải quyết vấn đề chủ quan trước Vì thế, tôi luôn tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu các giải pháp giúp học sinh hệ thống kiến thức lĩnh hội được một cách có tổ chức, và ứng dung thành công trong kỳ thi
THPT Quốc Gia Và rồi, “Rèn luyện học sinh làm bài tập” là phương pháp tôi đã xây
dựng để khắc phục vấn đề này
Trong quá trình dạy ôn thi THPT Quốc gia tại trường THPT Chu Văn An, tôi thường
sử sụng phương pháp “Rèn luyện học sinh làm bài tập” Phương pháp này nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh giúp học sinh nắm chắc các sự kiện một cách toàn diện và thấu hiểu được bản chất của vấn đề; đối chiếu các sự kiện trong cùng một thời điểm, tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện với nhau Từ đó học sinh sẽ hiểu bài và nhớ lâu hơn, sẽ giải được các dạng bài tập trắc nghiệm ở các mức độ khác nhau mà không cần phải học thuộc lòng kiến thức Có như vậy mới đạthiệu quả cao trong các kì thi , đặc biệt là kì thi THPT Quốc gia Đồng thời các em thấy được niềm tự hào về quê hương đất nước, về các anh hùng dân tộc, về nguồn gốc lịch sử nước nhà, tránh những luận điệu xuyên tạc của
kẻ thù; về sự biến đổi của tình hình thế giới tác động đến đất nước ta trong quá khứ cũng như trong hiện nay Với ưu điểm của phương pháp này, tôi quyết định chọn đề tài “ Rèn luyện học sinh làm bài tập lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 trong ôn thi THPT Quốc gia”
2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Năm học 2016-2017 được sự phân công của Ban Gíam Hiệu trường THPT Chu Văn An
về dạy ôn thi THPT Quốc gia, tôi dạy 1 lớp KHXH( Xã hội 1) với số lượng 43 học sinh( ghép từ 4 lớp đại trà 12c1+ 12c2 + 12c3 + 12c4) Đến năm học 2017-2018, ngay từ đầu nhà trường đã phân loại học sinh theo tổ hợp môn( trong đó KHXH gồm 4 lớp, tôi được phân công dạy 2 lớp( 12c8- chủ yếu khối D; 12c10 chủ yếu khối C) Năm học 2018-2019, dạy 1 lớp xã hội( 12c10)
KHTN (Lý- Hóa- Sinh)
KHXH ( Sử- Địa- GDCD)
GV:Trần Thị Kim Thoa dạy các lớp:
Trang 4Một trong những nguyên nhân làm cho học sinh chọn tổ hợp môn KHXH ít hơn KHTN là do: kiến thức cần phải học nhiều quá,lại khô khan Riêng đối với bài học lịch sử thường rất dài, học sinh khó nhớ, phân phối tiết chương trình lại ít, học sinh đa phần có học lực trung bình yếu nên việc nắm được kiến thức một cách hệ thống, khoa học là đều rất khó đối với học sinh Vì vậy người thầy phải sử dụng đa dạng phương pháp trong đó trọng tâm là rèn luyện học sinh làm bài tập thường xuyên, nhuần nhuyễn Rèn luyện học sinh làm bài tập lịch sử giúp học sinh có suy nghỉ độc lập, nhận thức, rèn luyện kỹ năng thực hành, hiểu sâu nhớ lâu sự kiện lịch sử, hiểu được vấn đề lịch sử, khắc phục tình trạng học thuộc lòng, xâu chuổi được các sự kiện lại với nhau không còn lúng túng khi xác định
và trả lời các phương án nhiễu Biến lịch sử trở thành môn học yêu thích, môn thế mạnh không còn khô khan và ngán ngẫm như đã nhận định trước đây
Vậy thế nào là bài tập lịch sử? Bài tập lịch sử là một hệ thống thông tin xác định về tổ chức quá trình dạy học ở trường phổ thông khi triển khai, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh trên các khía cạnh: nhận thức, tình cảm, kỹ năng, kỹ xảo Bài tập lịch sử gồm các đặc điểm sau:
- Bài tập lịch sử được xem là 1 hệ thống thông tin qui định nhiệm vụ học sinh phải thực hiện hay mục đích mà học sinh và giáo viên cần hoàn thành trong quá trình dạy học lịch sử
- Bài tập lịch sử được tiến hành ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học: nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức, vận dụng kiểm tra đánh giá kiến thức, cảm xúc, kỹ năng, kỹ xảo
- Bài tập lịch sử là phương tiện thúc đẩy nổ lực tự học của học sinh, giúp các em dần dần tiếp cận với phương pháp tư học, tự nghiên cứu
Như vậy bài tập lịch sử là 1 khâu quan trọng của bài học và chương trình sách giáo khoa, góp phần từng bước hoàn thành mục tiêu môn học Làm bài tập lịch sử là điều tất yếu và bắt buộc trong quá trình học lịch sử Là 1 trong những biện pháp để nâng cao tính tích cực học tập của học sinh Thế là trong quá trình ôn thi THPT, tôi đã sử dụng phương pháp rèn luyên học sinh làm bài tập, đặc biệt bài tập lịch sử việt nam giai đoạn 1954-1975 Đây là thời kì dân tộc Việt Nam kháng chiến chống Mĩ cứu nước gần 21 năm, là cuộc chiến tranh cứu nước dài ngày nhất, ác liệt và phức tạp nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Trong cuộc chiến lâu dài ấy, đế quốc Mĩ đã tiến hành 4 chiến lược chiến tranh ở miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc 2 lần và nhân dân ta đã trải qua năm giai đoạn, mỗi giai đoạn có chủ trương ,khẩu hiệu khác nhau, phản ánh từng bước phát triển, bước chuyển biến về chất của cuộc kháng chiến, cuối cùng thực hiện bước nhảy vọt lớn nhất giành thắng lợi hoàn toàn , kết thúc oanh liệt cuộc kháng chiến
+ Giai đoạn 1( 1954-1960): đế quốc Mĩ thực hiện chính sách thực dân kiểu mới ở miền Nam thông qua chế độ độc tài Ngô Đình Diệm Ta ra sức ổn định củng cố miền Bắc, xây dựng miền Bắc theo hướng XHCN, làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; nhân dân miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ Đồng
Trang 5thời ra sức tìm phương pháp đấu tranh thích hợp để vừa đẩy mạnh cách mạng miền Nam vừa bảo vệ được miền Bắc, bảo vệ hệ thống XHCN, bảo vệ hòa bình thế giới
+ Giai đoạn 2( 1961-1965): Đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt”- cuộc chiên tranh bằng quân đội Sài gòn là chủ yếu dưới sự chỉ huy cố vấn Mĩ cùng với phương tiện chiến tranh hiện đại bởi những cuộc hành quân càn quyét, bình định miền Nam Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, đánh địch bằng 3 mũi giáo công trên cả 3 vùng chiến lược, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân ở miền Nam để đánh bại chiến lược “ Chiến tranh Đặc biệt” của đế quốc Mĩ và tay sai
+ Giai đoạn 3( 1965-1968): Đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “ Chiến tranh Cục bộ” đưa quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam , đẩy mạnh chiến tranh phá loại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Cả nước ta trực tiếp đánh Mĩ, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân phát triển đến trình độ cao trên cả 2 miền đánh thắng “ Chiến tranh Cục bộ” tạo bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
+ Giai đoạn 4( 1969-1973): Đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “ Việt nam hóa chiến tranh”, xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh Mĩ về nước nhưng kéo dài cuộc chiến tranh và mở rộng chiến tranh sang Đông Dương Quân và dân ta phối hợp với quân
và dân Lào, Campuchia đánh bại một bước quan trọng trong chiến lược Việt nam hóa chiến tranh và học thuyết Nichxơn ở Đông Dương; miền Bắc đánh bại lần thứ 2 cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc mà định cao là cuộc tập kích đường không chiến lược, bởi trận Điện Biên Phủ trên không buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari, rút hết quân Mĩ và quân các nước đồng minh ra khỏi miền Nam Việt nam
+ Giai đoạn 5( 1973-1975): Sau Hiệp định Pari, Mĩ tiếp tục chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, chỉ huy ngụy quân, ngụy quyền tiến hành cuộc chiến tranh lấn chiếm và bình định Ta tạo lực, tạo thế , tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Qua khái quát 5 giai đoạn, chúng ta thấy dân tộc Việt Nam trải qua 21 năm kháng chiến chống Mĩ với rất nhiều sự kiện, hiện tượng lịch sử Vậy làm sao để học sinh nhớ mà không phải nhầm lẫn các sự kiện với nhau, làm sao để so sánh các sự kiện, nhận dạng từ khóa của
sự kiện, hiện tượng, làm sao để khắc sâu kiến thức cho học sinh, làm sao để kết quả thi THPT Quốc gia đạt kết quả cao Thế là tôi tiến hành rèn luyện cho học sinh làm bài tập bằng nhiều cách: bài tập tạo biểu tượng lịch sử ; bài tập trả lời ngắn; bài tập so sánh và cuối cùng là bài tập trắc nghiệm khách quan với 4 phương án Bốn phương pháp này nhằm giúp học sinh nắm chắc sự kiện, nhớ lâu kiến thức, hiểu được vấn đề lịch sử, khắc phục tình trạng học thuộc lòng, nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sẽ đạt hiệu quả cao trong thi cử
3 Nội dung sáng kiến
a Tiến trình và thời gian thực hiện
Trang 6Bắt đầu năm học 2016-2017, do đây là năm Bộ Giáo dục thay đổi hình thức thi THPT Quốc gia dưới dạng trắc nghiệm đối với tất cả các môn thi ngoại trừ môn văn, nên nội dung kiến thức khá nhiều, phải truyền đạt tất cả kiến thức có trong sách giáo khoa dù đó là đoạn chữ lớn hay đoạn chữ nhỏ trong sách, đồng thời với 4 phương án khá giống nhau nhưng chỉ chọn 1 đáp án đúng cho nên Ban giám hiệu nhà trường, ngay từ đầu năm học tăng 2 tiết/ tuần đối với môn Sử lớp 12 Hai tiết tăng này dùng để ôn tập củng cố kiến thức, tiếp cận với các dạng câu hỏi và bài tập trắc nghiệm khách quan Thế là để hoc sinh nắm chắc sự kiện, xâu chuổi các sự kiện, tôi đã sử dụng 4 phương pháp để rèn luyện cho học sinh làm bài tập, đặc biệt khi ôn tập Lịch sử Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ giai đoạn 1954-1975( bài tập tạo biểu tượng lịch sử; bài tập trả lời ngắn; bài tập so sánh và cuối cùng là bài tập trắc nghiệm khách quan với 4 phương án) sau khi các em học xong lý thuyết Từ năm 2017-2019, tôi cũng áp dụng 4 loại bài tập này trong thời gian ôn thi sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 đối với lớp 12c10.Cụ thể như sau:
* Bước 1: Ôn từng bài
+ Sau khi cung cấp xong lý thuyết từng bài trong giờ chính khóa( bài 21: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam 1954-
1960, bài 22: Nhân dân 2 miền trực tiếp chiến đấu chống Mĩ 1965-1973, bài 23: Khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội ở miến Bắc và giải phóng hoàn toàn miền Nam 1973-1975) thì đến giờ trái buổi tôi cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm khách quan với 4 phương án theo từng bài( 2 tiết/ bài)
+ Phương pháp bài tập tạo biểu tượng lịch sử và bài tập so sánh được thực hiện trong khoảng thời gian 2 tiết khi giải xong bài tập trắc nghiệm của 3 bài
+ Bài tập trả lời ngắn được thực hiện trong khoảng 15 phút đầu giờ ôn tập từng bài
* Bước 2: Sau học kì 2, tôi ôn theo từng giai đoạn lịch sử Đối với giai đoạn Sử Việt Nam 1954-1975 sử dụng chủ yếu 2 phương pháp( bài tập trả lời ngắn và bài tập trắc nghiệm với
4 phương án )cùng 1 lúc
* Bước 3: giải đề thi thử: bao gồm tất cả kiến thức Sử 12( Thế giới + Việt Nam) và kèm theo Sử 11
b Biện pháp tổ chức
b1 Bài tập tạo biểu tượng lịch sử bằng cụ thể hóa thời điểm xảy ra sự kiện lịch sử
Tạo biểu tượng lịch sử là cơ sở để học sinh hiểu sâu sắc các sự kiện, sự nhập thân vào lịch sử , giúp các em hình thành những khái niệm lịch sử, giúp học sinh tránh được những sai lầm về hiện đại hóa lịch sử, những nhận thức thiếu chủ quan, nhận định tình hình thiếu
cơ sở khoa học.Có nhiều biện pháp để tạo biểu tương lịch sử cụ thể như sau:
* Tạo biểu tượng lịch sử bằng cách nhớ niên đại rõ ràng Ví dụ để học sinh ghi nhớ những thắng lợi quân sự quan trọng như sự kiện Đông xuân 1964-1965, Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968, Tiến công chiến lược 1972, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân
Trang 71975 thì giáo viên tạo biểu tượng như sau: Những thắng lợi quân sự tiêu biểu diễn ra vào thời điểm màu Xuân trong lịch sử dân tộc Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Tương tự như vậy giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ: trong thời kì kháng chiến chống Pháp giao đoạn 1954-1954 có những thắng lợi quân sự nào tiêu biểu diễn ra vào thời điểm mùa Xuân dưới sự lãnh đạo của Đảng( Tiến công chiến lược Đông xuân 1953-1954, đỉnh cao Điện Biên Phủ 1954)
* Tạo biểu tượng lịch sử bằng nêu đặc trưng của thời điểm diễn ra sự kiện đó
Ví dụ 1: Trong kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta từ 1954-1975 có 2 sự kiện mở ra 2 bước ngoặt của cuôc kháng chiến, học sinh ghi nhớ đó là Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968- đánh dấu bước ngoặt ( bước ngoặt đầu tiên) buộc Mĩ tuyên bố “ phi mĩ hóa chiến tranh” thừa nhận sự thất bại chiến lược chiến tranh Cục bộ, buộc Mĩ phải ngừng các hoạt động chống phá miền Bắc, phải đến đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; Hiệp định Pari 1973- đánh dấu bước ngoặt mới( bước ngoặt thứ hai) của cuộc kháng chiến, Mĩ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, phải rút quân về nước như vậy với Hiệp định Pari 1973 Mĩ đã cút khỏi Việt Nam tạo điền kiện để ta đánh cho “Ngụy nhào” giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Ví dụ 2: Thắng lợi mở đầu của quân dân Việt Nam có khả năng đánh bại chiến lược chiến tranh Đặc biệt( trận Ấp Bắc 1963); có khả năng đánh bại chiến tranh cục bộ( trận Vạn Tường 1965), Vạn Tường được coi là Ấp Bắc -mở đầu cao trào tìm mĩ mà đánh lùng ngụy
mà diệt
* Tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh nắm thời điểm lịch sử quan trọng:
Vào lúc 11giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi thấy lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, các chiến sĩ, xe tăng vô cùng vui sướng với những tiếng súng nổ làm rung chuyển bầu trời- “11giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975”- mãi mãi đi vào lịch
sử dân tộc như móc vàng chói lọi Bởi vì để có giờ phút lịch sử đó, cả dân tộc Việt Nam phải mất 21 năm chịu nổi đau chia cắt, 21 năm hàng triệu nhân dân 2 miền đánh đổ xương máu để đổi lấy hòa bình, độc lập và thống nhất
- Năm 1955, Pháp rút khỏi đảo Cát Bà( Hải Phòng) đánh dấu ( miền Bắc giải
phóng)
Trang 8- Năm 1959, Ngô Đình Diệm đề ra Luật 10/59 nhằm mục đích chính ( đặt
Đảng cộng sản ngoài vòng pháp luật)
- 1960, Phong trào Đồng khởi thắng lợi, đánh dấu bước phát triển cách mạng miền
Nam (từ thế giữ gìn lực lượng sang tiến công)
- Kết quả phong trào Đồng khởi dẫn đến thành lập Mặt trận đoàn kết dân tộc mang
tên (Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam việt nam 20/12/1960)
- Đại hội đại biểu lần thứ 3 của Đảng( 1960) họp tại nơi nào ( Hà Nội)
- Nội dung chủ yếu của Đại hội 3 (1960) là ( nêu ra nhiệm vụ chiến lược cả
nước và nhiệm vụ từng miền)
- Thắng lợi quân sự mở đầu chống chiến tranh Đặc biệt ( trận Ấp Bắc 1963)
- Chiến thắng làm phá sản cơ bản chiến tranh Đặc biệt ( trận Bình Gĩa 1964- (đánh
bại trực thăng vận, thiết xa vận))
- Chiến thắng làm phá sản hoàn toàn chiến tranh Đặc biệt ( trận Đồng Xoài 1965)
- Vai trò miền bắc trong thời kì chống Mĩ ( quyết định nhất cả nước)
-Vai trò miền Nam trong thời kì chống Mĩ ( Quyết định trực tiếp miền nam)
- Thắng lợi làm phá sản hoàn toàn chiến tranh Cục bộ là ( Tổng tiến công
1968)
- Thắng lợi buộc Mĩ tuyên bố “ phi Mĩ hóa chiến tranh” (Tổng tiến công 1968)
- Thắng lợi buộc Mĩ phải tuyên bố “mĩ hóa trở lại” chiến tranh ( Tiến cộng chiến lược
1972)
- Mĩ kí hiệp định Pari 1973 sau khi bị thất bại tại trận ( Trận Điên Biên phủ trên
không 1972( đánh bại cuộc tập kích chiến lược B52))
- Sự kiện đánh dấu bước ngoạt mới trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ( Hiệp định Pari
1973)
- Chiến thắng phước Long đầu 1975 có ý nghịa như ( trận trinh sát chiến lược)
-3/1975 Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi đánh dấu cách mạng miền nam từ ( tiến
công chiến lược sang tổng tiến công chiến lược)
- 4/1917 Chiến dịch Huế- Đà Nẵng giành thắng lợi đánh dấu cách mạng miền nam (
đưa cuộc tổng tiến công phát triên lên bước mới)
- Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi (30/4/1975)đánh dấu (Miền Nam giải phóng) -Tỉnh cuối cùng ở miền Nam giải phóng ( Châu Đốc)
- Sự kiện có tầm quan trọng quốc tế, có tính thời đại sâu sắc đó là ( kháng chiến
chống Mĩ)
Trang 9-Xương sống của Mĩ trong chiến tranh Đặc biệt ( Ấp chiến lược)
-Âm mưu cơ bản của mĩ trong chiến tranh Đặc biệt (dùng người việt đánh người việt) -1/1960 diễn ra sự kiện gì ở miền Nam ( Trung ương cục miền Nam ra đời)
-Quân giải phóng miền Nam thành lập 1961 trên cơ sở hợp nhất ( lực lượng vũ
trang)
- Phong trào thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công được phát động sau sự kiện ( chiến
thắng Ấp Bắc)
- Mĩ phát động chiến lược chiến tranh Cục bộ nhằm mục đích ( giành thế chủ động)
-Nhân dân miền Nam Việt Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
thời kì ( thời kì 1954-1975)
-Đặc điểm độc đáo nhất( sáng tạo nhất) của Đảng ta trong thời kì 1954-1975 là tiến hành
đồng thời ( hai nhiệm vụ chiến lược ở 2 miền)
b3 Bài tập so sánh sự kiện lịch sử bằng hình thức tự luận
Bài tập so sánh là hình thức so sánh 2 vấn đề lịch sử có nội dung tương đương nhau diễn ra trong những thời điểm khác nhau nhằm rút ra những điểm giống và khác nhau giữa
2 vấn đề từ đó tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, vì sao có sự khác nhau đó, sự khác nhau đó có ý nghĩa như thế nào? Sự khác nhau đó có thể là tiến bộ đồng thời củng có thể là tiêu cực Ví
dụ 1: So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa “Chiến tranh Đặc biệt”, “Chiến tranh Cục
bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”
Nội dung Chiến đặc biệt tranh
Chiến tranh cục bộ
VN hóa chiến tranh
Giống nhau Âm mưu, bản
chất
- Đều là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới
của Mĩ, nhằm biến MN thành thuộc địa kiểu mới của
Mĩ
- Đều thực hiện âm mưu đàn áp và chống lại CM và nhân dân MN( chiếm đất, giành dân)
- Đều đẩy mạnh các hoạt động chống phá miền Bắc
- Đều sử dụng vũ khí và phương tiện chiến tranh của
Mĩ -Dựa vào lực lượng quân sự Mĩ
Tiến hành bằng
quân đội Mĩ,
quân đồng minh của Mĩ và quân
Mĩ, quân Mĩ giữ vai trò phối hợp chiến đấu và yểm trợ
Quy mô chiến tranh Diễn ra mở MN
Mở rộng cả hai miền Nam và
Không chỉ ở
MN, phá hoại ra
Trang 10Bắc MB, cả Lào và
CPC
Biện pháp
Hành quân càn quyét, coi “ấp chiến lược” là quốc sách
Mở những cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định”
Đẩy mạnh hoạt
định”, lợi dụng mâu thuẫn của
LX và TQ để hạn chế sự giúp
Ví dụ 2: So sánh 2 lần Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc
- Bối cảnh: Mĩ phá hoại miền Bắc lần 2 sau khi Mĩ thất bại chiến lược VN hóa chiến tranh)
- Cứu nguy cho chiến lược Việt nam hóa chiến tranh
-Tạo thế mạnh trên bàn đàm phán( thông qua cuộc tập kích chiến lược B52 cuối 1972)- mưu đồ chính trị ngoại giao mới
Ví dụ 3: So sánh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 1968 với tiến công 1972
Tổng tiến công và nổi dậy
Trang 11Địa bàn tiến công chủ yếu Các đô thị miền Nam Quảng Trị
Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
-Mở ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
- Buộc Mĩ tuyên bố Mĩ hóa
trở lại CT
Ví dụ 4: So sánh chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 với chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Chiến dịch Điện Biên Phủ 13/3-7/5/1954
Chiến dịch Hồ Chí Minh
26-30/4/ 1975 giống nhau - Đều là trận quyết chiến chiến lược
- Đỉnh cao của 2 cuộc tiến công( đông xuân
1953-1954 và Xuân 1975)
- Tập trung lực lượng đến mức cao nhất
-Bao vây, tổ chức tiến công
Phương châm
Đánh chắc tiến chắc thần tốc, táo bạo , bất
ngờ, chắc thắng( đánh nhanh thắng nhanh) thời gian Dài hơn( 56 ngày ) ngắn hơn(5 ngày) Hình thức tiến công quân sự( lực
lượng vũ trang)
kết hợp tiến công( lực lượng vũ trang) và nổi dậy( quần chúng)
Đối tượng cách mạng
b4 Bài tập trắc nghiệm khách quan với 4 phương án
Phương pháp này nhẳm giúp học sinh hiểu được bản chất của sự kiện, mối liên hệ giữa các sự kiện Ví dụ:
Trang 12Câu 1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) diễn ra trong bối cảnh
lịch sử
A Cách mạng hai miền Nam-Bắc có những bước tiến quan trong
B Cách mạng miền Nam Việt Nam đang đứng trước những khó khăn
C.Cách mạng ở Miền Bắc đang chống lại sự phá hoại nặng nề của Mĩ
D Cách mạng miền Nam gặp khó, cách mạng miền Bắc thành công
Câu 2 Nội dung “bình định miền Nam trong 2 năm” , là kế hoạch quân sự nào sau đây
của Mĩ?
A Kế hoạch Xtalây Taylo B Kế hoạch Giônxơn Mac-namara
C Kế hoạch định mới của Mĩ D Kế hoạch Đờ-Lát Đờ-tát-Xi-nhi
Câu 3 Ngày 17-1-1960 tại Bến Tre nổ ra phong trào đấu tranh nào ?
A Chống bình định B Phá ấp chiến lược C Đồng khởi D Trừ gian diệt ác
Câu 4 Nhiệm vụ của Cách mạng miền Nam Việt Nam sau 1954 là
A chống lại sự bắn phá và ném bom ác liệt của chính quyền Mĩ-Diệm
B hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế
C tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà
D tiến hành đấu tranh vũ trang để đánh bại chiến tranh xâm lược của Mỹ, Diệm
Câu 5 Quyết định cơ bản của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 15 (1-1959) là
gì?
A.Dùng đấu tranh ngoại giao để đánh đổ ách thông trị Mĩ - Diệm
B.Nhờ sự giúp đỡ của các nước ngoài để đánh Mĩ - Diệm
C.Giành chính quyền bằng con đường đấu tranh hòa bình
D.Nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ quyền Mĩ - Diệm
Câu 6 Chiến thắng Bình Giã (2-12-1964) là thắng lợi của quân dân miền Nam chống
chiến lược chiến tranh nào của Mĩ ?
A Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” B Chiến lược “chiến tranh cục bộ”
C Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” D Chiến lược “chiến tranh đơn phương”
Câu7 Âm mưu cơ bản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ tiến hành ở miền
Nam Việt Nam là gì?
A Dùng người Việt đánh người Việt B.Tiêu diệt lực lượng của ta.
C.Kết thúc chiến tranh D.Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh
Câu 8 Ngày 16-05-1955 lực lượng nào rút khỏi miền Bắc nước ta?
A Quân Anh B Quân Pháp C Quân Trung hoa dân quốc. D Quân Nhật Bản
Câu 9 Thắng lợi nào dưới đây không góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở miền Nam Việt Nam?
A Vạn Tường B An Lão. C Đồng Xoài D Ba Gia
Câu 10 Thắng lợi nào dưới đây chứng tỏ quân dân miền Nam có khả năng đánh bại chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ?
A.Chiến thắng Bình Giã B.Chiến thắng Ấp Bắc C.Chiến thắng Vạn Tường D
Chiến thắng Đồng Xoài
Câu 11 Chiến thắng nào của quân và dân ta đánh dấu sự phá sản cơ bản của “Chiến tranh
đặc biệt” (1961-1965) của Mĩ?
A.Ba Gia B An Lão C Ấp Bắc D Bình Giã
Câu 12 Âm mưu của Mĩ đối với miền Nam Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ 1954 là