Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học hành.
Trang 1
= D>-eSK oS =
SO GIAO DUC & DAO TAO AN GIANG
TRUONG THPT NGUYEN HUU CANH
BAO CAO SANG KIEN
BIEN PHAP GIUP HOC SINH
TU ON TAP CHUONG MON VAT LY THPT
Ho va tén : TRAN ANH DIEN Tổ: Vật lý - KTCN
NĂM HỌC 2018-2019
“—==EE› «CC CE=E—=E_—-«+#emmm———————————
Trang 2SO GIAO DUC VA DAO TAO CONG HOA XA HOI CHU NGHIA VIET NAM
TRUONG THPT NGUYEN HUU CANH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 20 tháng 02 năm 2016
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cái tiễn, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng
dụng tiễn bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Trần Anh Điền Nam, nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh: 28/08/1984
- Nơi thường trú: Số 07, tô 1, ấp Long Thượng, xã Kiến An, Chợ Mới, An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
- Lĩnh vực công tác: Dạy lớp
H.- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
1 Thuận lợi
+ Được sự quan chỉ đạo sâu sát của Ban lãnh đạo nhà trường
+ Cơ sở vật chất tương đối day du tao diéu kién cho hoat dong day hoc
+ Đây là phương pháp học tập mới, mang lại sự thoải mái, vui vẻ và sáng tạo
cho HS
+ Chương trình môn Vật lý có nhiều nội dung phù hợp với phương pháp giảng
dạy dùng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức
+ Phương pháp sử dụng sơ đồ trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh
lý lứa tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền thống Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích cực
2 Khó khăn
+ Đây là phương pháp dạy học mới nên HS không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng sử dụng, đòi hỏi GV phải chuẩn bị chu đáo
+ GV khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng HS
+ Năng lực HS không đồng đều nên đôi khi việc lập sơ đồ trong học tập là sự máy móc không hiệu quả
Trang 3- Tên sáng kiến/đề tài giải pháp: Biện pháp giúp học sinh tự ôn tập chương môn Vật lý THPT
- Lĩnh vực: Phương pháp dạy học
IH Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến:
1 Thực trạng ban dau trước khi áp dụng sáng kiến
Đề thực hiện mục tiêu và nội dung dạy hoc, van dé đối mới phương pháp dạy
học theo triết lý lay người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết Bản chất của dạy học lay người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học Đề làm được điều đó thì vẫn để đầu tiên ma người GV cần nhận thức rõ ràng là quy luật nhận thức của người học Người học là chủ thể hoạt
động chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa
kiến thức” một cách thụ động
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn
thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy HS chỉ
học bài nào biết bài đây, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên
hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống
Sử dụng bản đồ tư duy (Sơ đồ) giúp các em giải quyết được các vẫn đề trên và nâng
cao hiệu quả học tập
2 Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đảo tạo
trong đó nhân mạnh: "7øo chuyền biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng lốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu
cẩu học tập của nhân dán CGiáo dục con người Việt Nam phat triển toàn diện và phái
huy tốt nhất tiêm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống lốt và làm việc hiệu quả" Mục tiêu đôi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Ngành Giáo dục
phải liên tục đôi mới nham đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện
Điều 28 của Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục phô thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bôi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
Trang 4nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh `
Quá trình đôi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phố thông mà tâm điểm là đối mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được mục tiêu
việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học sinh (HS) trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại Trọng tâm của đôi mới chương trình và
sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực
hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo của HS với sự tô chức và
hướng dẫn thích hợp của giáo viên (GV), nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần
hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập
tạo niềm tin và vui thích trong học hành
Phương pháp dạy học bộ môn Vật lý đã và đang có những đổi mới nhất định
Định hướng dạy học tích cực, lay hoc sinh HS lam trung tam, day hoc theo chu đề, chú
trọng phát triển năng lực HS, tăng khả năng tự học Tuy nhiên, khả năng tự học của
nhiều học sinh còn hạn chế, nhất là khi học qua hết một chương Học sinh không thể tự
lực thực hiện việc ôn tập mà luôn cân sự trợ giúp của giáo viên
Tôi thiết nghĩ cần có những biện pháp dạy học sao cho tập dần cho học sinh khả năng tự học nói chung, tự ôn tập chương môn Vật lý nói riêng Từ những lý do nêu trên tôi lựa chọn đề tài của mình là: "Biện pháp giúp học sinh tự ôn tập chương môn Vat ly THPT"
3 Nội dung sáng kiến
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
3.1.1 Phương pháp tự học bằng sơ đồ hoá kiến thức
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc
tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của HS Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn Băng nhiều hình thức khác nhau, cân luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong
bộ môn Phương pháp sử dụng sơ đồ kiến thức được nhiều môn học sử dụng Riêng
môn Vật lý được tôi sử dụng hướng dẫn cho học sinh tự học theo cách riêng của mình.
Trang 5So đồ là hình thức ghi chép sử dụng dạng cây thư mục dé hệ thống hoá kiến
thức, mở rộng và đảo sâu các nội dung Sơ đồ như một công cụ tô chức tư duy nền
tảng, là một sự kết hợp các đường nét phù hợp với cấu trúc nội dung kiến thức, giúp
học sinh tự học tốt kiến thức lý thuyết Vật lý Cơ chế hoạt động của sơ đồ chú trọng
tới các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) có liên quan với nhau Vì vậy, có thể vận
dụng sơ đồ vào hỗ trợ dạy học ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương
Sơ đồ giúp học sinh có được phương pháp tự học Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà
còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn chưa hiệu quả, nhất là môn Vật lý riêng và môn khoa học tự nhiên nói chung Các
em này thường học bài nào biết bài đó, học phần sau đã quên phần trước và không biết
liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào
những phân sau Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử
dụng thành thạo sơ đồ trong học tập sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo, phát triển tư duy từ đó học tốt hơn
Sơ dé giúp học sinh học tập một cách tích cực Cùng một lúc giáo viên có thể
kiểm tra bài cũ của tất cả học sinh trong lớp thay vì trả bài theo cách truyền thông là vấn đáp từng em
Sơ đồ giúp học sinh ghi chép có hiệu quả Do đặc điểm của sơ đồ là ngắn gọn
nên sơ đồ chỉ sử dụng từ khoá có chọn lọc, sắp xép, bố cục để ghi thông tin cần thiết
nhất và lôgic nhất Đề ghi chép sơ đồ hiệu quả nhất, giáo viên cần hướng dẫn học sinh dùng từ khóa và ý chính, viết cụm từ, không viết thành câu, dùng các từ viết tắt, có tiêu đề, đánh số các ý, liên kết ý nên dùng mũi tên
3 1.2 Các bước khi lập sơ đồ ôn tập chương
- Tờ giấy nên đặt năm ngang Viết tên nội dung cấp 1 là tên chương Tên chương sẽ bắt đầu từ bên trái
- Viết tên nội dung cấp 2 là tên bài hoặc nhóm bài Viết thêm các tiêu đề được liệt kê từ tên chương Dùng các mũi tên tỏa ra một cách cân đối
- Viết tên nội dung cấp 3 là tên từng nội dung thành phần của bài Tên các khái
niệm, định nghĩa, định luật được liệt kê.
Trang 6- Nội dung cấp 4 để trống Đây là phần nội dung được học sinh rút gọn kiến
thức cụ thể và phải tự ghi vào
- Thêm các đường nối liên kết giữa những kiến thức có liên quan
3.1.3 Biện pháp giúp học sinh tự ôn tập chương môn Vật lý bang sơ đồ
Trước hết, giáo viên cần phải năm vững chủ trương đối mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, việc sử
dụng các phương tiện dạy học, các hình thức tô chức dạy học phải phù hợp, thích ứng
với từng hoạt động giúp HS tích cực trong tìm tòi, tiếp thu lĩnh hội kiến thức
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy rằng sơ đồ là một công cụ phối hợp các phương pháp khác đề thực hiện giảng dạy thêm phần hiệu quả, không phải là một giải pháp có thể thay thế tất cả các phương pháp khác Vì vậy, tôi đã đưa ra và áp dụng nhiều giải pháp có hiệu quả trong đó có việc sử dụng sơ đồ để dạy ôn tập chương
Trước khi tiến hành ôn tập chương, giáo viên cần cho học sinh đọc nhanh nội dung của chương đó để tìm cách chia nhóm kiến thức toàn chương thành các đơn vị
kiến thức chính Số lượng các tiêu đề chính có thể dựa vào các bài hoặc nhóm một số
bài lại với nhau Việc học nhanh trong thời gian ngắn giúp học sinh có thói quen tư
duy tích cực, hiệu quả học tập cao
Giáo viên gởi cho mỗi học sinh một sơ đỗ mà trong đó còn trống các đơn vị kiến thức, yêu cầu học sinh làm việc cá nhân để bố sung vào ô trông cho đây đủ thông tin Giáo viên quan sát để có thể hỗ trợ kịp thời Theo nội dung từng chương mà giáo viên có thể linh hoạt thay đổi hình thức tổ chức để tránh sự nhàm chán
Kiến thức cả chương được hiền thị lên một trang giấy A4 nên cần dùng hình vẽ
đơn giản, triển khai các nhánh nên bố trí sao cho dễ viết nhất, hạn chế viết chéo, viết ngược sẽ rất khó đọc Mẫu chốt vẫn đề là làm sao lựa chọn được các từ khóa ngăn gon,
súc tích nhất, có thể viết tắt các từ thông dụng Kinh nghiệm cho thấy nếu đặt tên chương ở giữa trang giấy còn các nhánh lang ra mọi phía thì chữ viết chéo sẽ khó viết
và khó đọc Chữ nên viết ngang, từ trái qua phải, nếu dài thì xuống dòng rồi từ đó phân ra các nhánh thứ cấp Tên chương nên đặt sát bên trái, các nhánh tiễn dần sang bên phải như dạng "cây thư mục" đã quá quen thuộc đối với học sinh khi học môn Tin
học Để từ đó khi làm bài, các em có thể diễn đạt chỉ tiết từ nội dung chính mà mình đã
ghi nhớ
Trang 7Sơ đồ kiến thức của một chương phải đặt gọn trong một trang giấy Khi học, các em sẽ nhìn thấy bức tranh kiến thức tổng thể của một chương, phân biệt được những điểm gân giống nhau Đó là những yêu cầu rất cần thiết khi làm bài trắc nghiệm lý thuyết Việc ôn tập nhẹ nhàng hơn vì dễ ghi nhớ kiến thức
Dé tăng khả năng tự học bằng sơ đô, giáo viên nên thường xuyên cho học sinh
luyện tập tại lớp và tại nhà Khi thay học sinh đã thành thạo, giáo viên nên để một vài tiết cho học sinh tự nghiên cứu, trao đôi để vẽ sơ đồ Giáo viên điều chỉnh, uốn năn,
sửa sai và có thể đánh giá cho điểm Trong những giờ dạy như thế tôi quan sát thấy
học sinh làm việc rất tốt, rất tích cực
Tóm lại việc sử dụng sơ đồ trong từng tiết dạy ô tập chương mang lại nhiều lợi
ích cho học sinh: giúp các em dễ năm bài, dễ ghi nhớ, tạo điều kiện để phát huy năng lực sáng tạo, khả năng phân bố không gian, từng bước rèn luyện năng lực tự học, tự
chọn lọc thông tin để ghi nhớ một cách khoa học
3.2 Một số minh chứng cho giải pháp mới
3.2.1 Sử dụng sơ đồ trong việc kiểm tra kiến thức cũ
- Việc chuẩn bị cho kiểm tra miệng: Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác
định thật chính xác cần kiểm tra những gì Giáo viên cân xác định được mức độ tối
thiêu kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã thu nhận được trong quá trình học tập Câu hỏi đặt ra cho học sinh phải chính xác, rõ để học sinh không hiểu thành hai nghĩa khác
nhau dẫn đến việc trả lời lạc đề Giáo viên phải thiết kế lại các yêu câu, bài tập trong
sách giáo khoa hay ra các bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng sự hướng dẫn
trong các sách học tốt, sách bài tập nhằm đối phó với giáo viên
- Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng: Tạo điều kiện thuận
loi dé HS có thê bộc lộ một cách tự nhiên đây đủ nhất những hiểu biết của các em Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành của HS mà phát hiện được tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng của các em Thái độ và cách đối xử của GV
với HS có ý nghĩa to lớn trong khi kiểm tra miệng GV cần biết lắng nghe câu trả lời,
biết theo dõi hoạt động của HS và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của HS Sự hiểu biết của GV về cá tính HS, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong
nhiều trường hợp là những yếu tô cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức và
kĩ năng của HS được kiểm tra Trong quá trình HS đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không có lí do gì cần thiết GV cũng không nên ngắt lời của HS Cùng là
Trang 8một sai sót nhưng GV phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên đợi HS trả lời xong
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều HS, tránh để tình trạng HS có tâm lý đã trả bài rồi thì không cần phải học bài
Băng cách sử dụng sơ đồ bỏ trông để trả bài tiết ôn tập chương đối với tất cả HS là một biện pháp tốt Sử dụng sơ đồ trong kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên
Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp HS học tập có hiệu quả hơn Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà GV có thể áp dụng thêm cách kiểm tra miệng khác
- Sử dụng sơ đồ vừa giúp GV kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của HS đối với bài học cũ Vì thời gian kiểm tra bài cũ tương đối ngắn nên các sơ đồ tôi thường sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu HS điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét
về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm
Ví dụ: Kiểm tra kiến thức toàn chương "dao động cơ", Vật lý 12 băng sơ
đồ sau:
TS TT TTT~x~~~~~~~~ ¬ Li độ I Vận tốc | Giatốc | |
¡ Ten: ¡
—_————=—====—=d
„| D.đệng điệu hòa | | Vii die bie | :
| Tân sô sóc |
> Conme
Chương 1:
| Tan sô 0C
Cônzhương Biên đô Pha ban dau
„| Tông hợp
Dao déng tat dan ông J —
1
4
Ke |
Trang 9- Với kiểu kiểm tra bài cũ này để hoàn thành trọn ven thì tôi thường xuyên hướng dẫn HS cách lập bản đồ, cách ghi chép, cùng HS hoàn thiện những nội dung kiến thức đã học bằng sơ đồ nhằm đưa ra đúng, đủ những tri thức mà HS cần nắm vững Sau đó, HS phải trình bảy được những nội dung cân nắm vững trong bài học,
HS dưới lớp tham gia nhận xét bỗ sung và GV là người chốt lại kiến thức
- Phần kiểm tra bài cũ này tôi còn cho HS hoàn thành trọn vẹn sơ đồ dưới hình thức cuộc thi (học mà chơi, chơi mà học), HS nào nhanh nhất, chính xác nhất
sẽ được tuyên dương và điểm cao Qua đó, tôi thấy rằng ngay từ đầu HS đã rất hào hứng và nhiệt tình tham gia, làm cho phần trả bài không còn là áp lực với HS, các em
không phải chỉ còn đọc thuộc lòng từng câu chữ, công thức mà có sự thấu hiểu, biết
phương pháp học
3.2.2 Sử dụng sơ đồ trong việc củng cô kiến thức
Củng cố bài học là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tổ dẫn đến sự thành công của bài giảng Củng cô bải giảng giúp HS nhớ lại và khắc sâu
kiến thức hơn Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, HS còn có thể tự đánh giá
kết quả học tập của mình Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương pháp học sao cho phù hợp Băng các phương pháp củng cố bài giảng cụ thể, GV sẽ giúp HS phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy cho HS Củng cô bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa GV và HS
Điều đó tạo hứng thú học tập cho HS, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện
để HS phát biểu ý kiến
Một số phương pháp củng cố bài thường dùng:
- Củng cô bài giảng bằng thiết kế và sử dụng các sơ đô, bảng biểu Biện pháp củng cố này giúp HS hiểu được kiến thức thông qua khả năng phân tích, so sánh và móc nỗi các kiến thức Thường áp dụng với những bài mang tính so sánh hay tổng
quát, có thể sử dụng các sơ dé, bang biéu dé hé thong lại kiến thức
- Củng cô bài giảng bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập Biện pháp này
đánh giá việc học của HS, rèn cho HS khả năng diễn đạt Nhưng sẽ tạo áp lực cho các
HS tiếp thu chậm và không hiểu bài ngay tại lớp Phương pháp áp dụng đối với những
bài học nhiều lý thuyết
Trang 10- Củng cô bài giảng băng việc tổ chức các trò chơi Biện pháp này tạo sự vui vẻ, hứng khởi cho HS đối với môn học Nhưng có hạn chế là tốn nhiều thời gian để tổ chức cho lớp tham gia trò chơi Nguyên tắc cơ bản là trò chơi phải đơn giản, đi sâu vào van dé trong tam của bài
- Củng cô bài giảng bằng cách cho HS tự tông kết kiến thức Biện pháp củng cố này rèn cho HS kĩ năng trình bay van đề trước đám đông và kĩ năng tóm lược vẫn đề Phương pháp áp dụng với những bài nội dung đơn giản, dễ tông kết lại kiến thức
Trên đây là một vài phương pháp củng cố bài học mà tôi và các GV chắc chắn đã dùng trong các tiết dạy của mình Mỗi phương pháp có một ưu nhược điểm riêng và khi dùng sơ đồ, chúng ta có thể khắc phục các nhược điểm, phát huy tối đa các ưu điểm Sử dụng sơ đồ gần như là một biện pháp có thể kết hợp các phương pháp trên với nhau một cách linh hoạt, hiệu quả Đó là trò chơi, là
sơ đồ tông kết, có những câu hỏi củng có Tôi nhận thấy rằng sơ đồ là công cụ
tư duy mang tính tự nhiên, nếu vận dụng vào dạy học sẽ gây cảm hứng và niềm say
mê học tập cho HS Đặc biệt, sơ đồ rất phù hợp cho việc đọc, ôn tập, ghi chú Từ đó, tôi đã mạnh đạn vạch ra kế hoạch để hướng dẫn HS học tập theo sơ đồ này
Ví dụ: Củng có kiến thức sau khi học xong bài “Từ trường", Vật lý 11 như sau:
NC -NC
Tương tác từ NC - dòng điện
Dòng điện -
dong điện
Định nghĩa
Từ trường »ị Ttuưởng -
Quy ước chiêu
Định nghĩa
Vi dụ về đ.sức
Tuy nhiên, sau khi HS đã năm được cách thức, nguyên tắc xây dựng sơ đồ thì không phải tiết nào cũng củng có bài như vậy vì sẽ gây nhàm chán và mất thời gian
Do đó, một biện pháp khác tôi đưa ra là củng cô băng việc làm bài tập và trả lời các câu hỏi phân Qua nhiêu bài củng cô như cách thực hiện ở trên, tôi nhận thây các em
10