Các chế tài thương mại đượ quy định tại Mục 1 Chương VII Luật thương mại 2005 LTM bao gồm: i buộc thực hiện đúng hợp đồng; ii phạt vi phạm; iii buộc bồi thường thiệt hại; iv tạm ngừng th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỌC PHẦN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
Đề 7: “Khái niệm, đặc điểm, bản chất, điều kiện áp dụng của các chế tài thương mại;
phân biệt các loại chế tài thương mại; Các trường hợp miễn trách theo quy định của pháp luật Việt Nam; các bất cập (nếu có) trong quy định của pháp luật hiện hành.”
Sinh viên: Tô Hoàng Minh Trang MSSV: 17031817
Lớp: Luật kép K11
Hà Nội, năm 2021
Trang 21
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1 CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2
1.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất, điều kiện áp dụng của các chế tài thương mại 2
1.1.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 3
1.1.2 Phạt vi phạm 3
1.1.3 Bồi thường thiệt hại 4
1.1.4 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng 5
1.1.5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng 5
1.1.6 Hủy bỏ hợp đồng 6
1.2 Mối quan hệ giữa các chế tài 6
1.3 Các trường hợp miễn trách nhiệm 6
CHƯƠNG 2 BẤT CẬP TRONG VIỆC ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 7
2.1 Bất cập trong việc áp dụng chế tài thương mại 7
2.1.1 Về chế tài buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng 7
2.1.2 Về chế tài phạt vi phạm hợp đồng 8
2.1.3 Về chế tài bồi thường thiệt hại 8
2.1.4 Về chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng 9
2.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về chế tài thương mại 9
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 32
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chiếm tỉ lệ khá lớn trong tổng số doanh nghiệp trên cả nước1, nhưng khi ràng buộc mình vào các mối quan hệ kinh tế, doanh nghiệp vẫn chưa có sự quan tâm với việc thiết lập một hợp đồng chỉn chu làm cơ sở thực hiện giao dịch và hạn chế tranh chấp Đặc biệt, khi gặp vấn đề khó khăn khi thực hiện giao dịch, doanh nghiệp Việt Nam vẫn theo đuổi lợi nhuận mà vi phạm hợp đồng thay vì chú trọng phát triển hình tượng Để hạn chế đổ vỡ trong các mối quan hệ kinh doanh thương mại đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của mình, đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu về các chế tài có thể vận dụng trong trường hợp đối tác vi phạm hợp đồng Vì vậy, trong bài viết này, người viết lựa
chọn chủ đề “Khái niệm, đặc điểm, bản chất, điều kiện áp dụng của các chế tài thương mại; phân biệt các loại chế tài thương mại; Các trường hợp miễn trách theo quy định của pháp luật Việt Nam; các bất cập (nếu có) trong quy định của pháp luật hiện hành” Từ đó làm rõ
các quy định của pháp luật liên quan đến chế tài thương mại, liên hệ thực tiễn và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất, điều kiện áp dụng của các chế tài thương mại
Các chế tài thương mại đượ quy định tại Mục 1 Chương VII Luật thương mại 2005 (LTM) bao gồm: i) buộc thực hiện đúng hợp đồng; ii) phạt vi phạm; iii) buộc bồi thường thiệt hại; iv) tạm ngừng thực hiện hợp đồng; v) đình chỉ thực hiện hợp đồng; vi) hủy bỏ hợp đồng;
và vii) các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
Các chế tài thương mại, với bản chất là bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan
hệ thương mại, đều có các đặc điểm chung sau:2
1 Tính đến 26/8/2020, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 96.7% tổng số doanh nghiệp cả nước
Viện hàn lâm KH&XH Việt Nam, Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam,
https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/Phat-trien-doanh-nghiep-nho-va-vua, truy cập 21/06/202
2 Trần Thị Kim Oanh (2014), “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về các thể loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương
mại”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr 17 - 22
Trang 43
Thứ nhất, chỉ áp dụng khi có vi phạm hợp đồng;
Thứ hai, có tính cưỡng chế bằng sức mạnh nhà nước bằng cách buộc chủ thể vi phạm
hợp đồng phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình; và
Thứ ba, bên vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi khi có hành vi vi phạm hợp đồng
1.1.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Khái niệm buộc thực hiện đúng hợp đồng được quy định tại khoản 1 Điều 297 LTM, theo đó, buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để thực hiện hợp đồng
Để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên vi phạm phải có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng Không thực hiện đúng hợp đồng được hiểu là việc bên vi phạm thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng Biện pháp này
áp dụng, giúp đưa các bên trở lại quan hệ hợp đồng, đảm bảo bên vi phạm thực hiện những cam kết của mình Bên bị vi phạm có thể gia hạn cho bên vi phạm một khoảng thời gian hợp
lý để bên vi phạm khắc phục hành vi vi phạm của mình
Trong trường hợp bên bị vi phạm phát sinh thêm chi phí do hành vi vi phạm, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm với khoản phí này Theo quan điểm của người viết, không có bất
kỳ quy định nào quy định không được áp dụng đồng thời phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; hai chế tài này một là sử dụng để đưa các bên trở lại quan hệ hợp đồng, một sử dụng nhằm khắc phục lại những tổn thất mà bên bị vi phạm phải chịu Do đó, khoản phí này phải được hiểu là khoản bồi thường thiệt hại bên vi phạm phải trả do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra đối với bên còn lại Khoản phí này sẽ bao gồm cả khoản phí phát sinh do thời gian gia hạn hợp đồng thêm (nếu có)
1.1.2 Phạt vi phạm
Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền do vi phạm hợp đồng Khoản tiền phạt vi phạm này phải đã được hai bên thỏa thuận trước trong hợp đồng nhưng không được quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm
Phạt vi phạm được xem là một biện pháp nhằm củng cố hợp đồng thương mại, nâng cao ý thức thiện chí thực hiện hợp đồng của các bên Bởi bản chất của chế tài này là phạt do hành vi vi phạm nên không cần phải có thiệt hại mới được áp dụng Trường hợp có thiệt hại
Trang 54
gây ra bởi hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm có thể áp dụng đồng thời chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đói với bên vi phạm
Luật thương mại đưa ra mức tối đa phạt vi phạm là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm
Do đó, trường hợp thỏa thuận mức phạt thấp hơn 8%, mức phạt thỏa thuận sẽ được áp dụng Tuy nhiên, trong trong trường hợp hai bên thỏa thuận mức phạt lớn hơn 8%, có hai quan điểm
về vấn đề này Quan điểm thứ nhất cho rằng thỏa thuận về phạt vi phạm này vô hiệu; Quan điểm thứ hai cho rằng, việc thỏa thuận vượt quá 8% chỉ vô hiệu một phần đối với mức phạt vượt quá 8% còn điều khoản phạt vi phạm hợp đồng hoàn toàn có hiệu lực, trong trường hợp này, mức phạt được áp dụng sẽ là 8%3 Trong đó, quan điểm thứ hai nhận được nhiều sự đồng tình trong xét xử tại Tòa án hơn Người viết đồng quan điểm với quan điểm thứ hai, bởi lẽ, điều khoản phạt vi phạm trong hợp đồng được điều chỉnh bởi hai quy định pháp luật khác nhau Theo đó, yêu cầu phạt vi phạm phải được thỏa thuận trong hợp đồng (Điều 300) và mức phạt vi phạm (Điều 301) Khi thỏa thuận quy định mức phạt cao hơn 8%, thỏa thuận này chỉ
vi phạm quy định về mức phạt vi phạm nên vẫn phải được công nhận một phần
1.1.3 Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại được hiểu là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành
vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm (khoản 1 Điều 302) Điều kiện áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại bao gồm: i) có hành vi vi phạm hợp đồng; ii) có thiệt hại; và iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, tức là hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại Yếu tố lỗi không phải là một điều kiện áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
Giá trị bồi thường thiệt hại được xác định là những tổn thất thực tế, trực tiếp từ hành vi
vi phạm gây ra cho bên bị vi phạm và khoản lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ sẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Pháp luật không cấm các bên thỏa thuận về giá trị bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Tuy nhiên, thỏa thuận này có thể không có hiệu lực do không phù hợp với bản chất của bồi thường thiệt hại Cả Bộ luật dân sự 2015 và LTM 2005 đều chưa đưa ra cách xác định như thế nào được gọi là thiệt hại thực tế Án lệ 21/2018/AL đã đưa ra cách xác định
3 Nguyễn Đức Anh, 2021, Phạt vi phạm hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, [https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/phat-vi-pham-hop-dong-theo-phap-luat-thuong-mai-viet-nam], truy cập ngày 22/6/2021
Trang 65
thiệt hại thực tế đối với hợp đồng thuê tài sản mà bên thuê vi phạm hợp đồng, theo đó, thiệt hại thực tế được xác định là thời gian thuê còn lại của bên thuê trừ đi khoản chi phí mà bên cho thuê phải bỏ ra để có khoản tiền thuê Bên bị vi phạm muốn bồi thường thiệt hại phải chứng minh những tổn thất thực tế trên, và trong điều kiện khi bên bị vi phạm đã áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất Quy định này nhằm ngăn chặn bên bị vi phạm lợi dụng hành vi vi phạm tìm kiếm khoản lợi lớn hơn, gây thiệt hại không đáng có cho cả hai bên Trong trường hợp bên bị vi phạm không sử dụng các biện pháp hợp lý hạn chế tổn thất, bên vi phạm
có thể chứng minh và yêu cầu giải bớt giá trị bồi thường
1.1.4 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng và việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ khi (Điều 308 LTM):
i) Xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng; hoặc:
ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng Vi phạm cơ bản được định nghĩa
tại khoản 13 Điều 3 LTM như sau: là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng Để xác
định một vi phạm là cơ bản hay không, phải xem xét từng loại hợp đồng, mục đích của hợp đồng và mong muốn của các bên
Khi áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, hợp đồng vẫn còn hiệu lực, các bên chỉ tạm thời không thực hiện nghĩa vụ cho tới khi bên vi phạm thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
1.1.5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi (Điều 310 LTM):
i) Xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để đình chỉ thực hiện hợp đồng; hoặc
ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng
Khác với tạm ngừng thực hiện hợp đồng, khi áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện, hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên vi phạm nhận được thông báo tạm đình chỉ Quan hệ hợp đồng chấm dứt, các bên không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, nhưng phần hợp đồng đã thực
Trang 76
hiện trước đó vẫn có hiệu lực Do đó, bên nào đã thực hiện một phần hợp đồng có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng
1.1.6 Hủy bỏ hợp đồng
Hủy bỏ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả/ một phần các nghĩa vụ của hợp đồng, phần còn lại vẫn còn hiệu lực (khoản 1, 2, 3 Điều 312 LTM) Trường hợp áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng được quy định tại khoản 4 Điều 312 LTM như sau:
i) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; hoặc
ii) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Khi áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không thể hoàn trả bằng lợi ích đã nhận thì phải hoàn trả bằng tiền
Tương tự như tạm ngừng và đình chỉ thực hiện hợp đồng, khi áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm phải thông báo cho bên vi phạm biết về việc áp dụng chế tài này Trong trường hợp không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường
1.2 Mối quan hệ giữa các chế tài
Các chế tài có thể được áp dụng đồng thời để xử lý một hành vi vi phạm hợp đồng, nhưng các chế tài có hậu quả pháp lý mâu thuẫn với nhau thì không thể cùng được áp dụng
Ví dụ, có thể áp dụng đồi thời bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm với hủy bỏ hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc tạm ngừng thực hiện hợp đồng nhưng không thể vừa áp dụng hủy bỏ hợp đồng vừa áp dụng tạm ngừng thực hiện hợp đồng
1.3 Các trường hợp miễn trách nhiệm
Miễn trách nhiệm là việc một bên vi phạm hợp đồng nhưng không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của mình khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều
294 như sau:
Thứ nhất, do các bên thỏa thuận miễn trách: dựa trên nguyên tắc tự do thỏa thuận trong
quan hệ hợp đồng, trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận miễn trách thì được miễn trách nhiệm
Thứ hai, xảy ra sự kiện bất khả kháng: Sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản
1 Điều 156, theo đó, để được xem là sự kiện bất khả kháng, phải đủ các điều kiện sau: i) là sự
Trang 87
kiện khách quan; ii) không thể lường trước; và iii) bên vi phạm đã tìm mọi cách nhưng không thể khắc phục được
Thứ ba, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia: bên vi phạm không
có lỗi trong trường hợp vi phạm do lỗi của bên bị vi phạm nên không phải chịu trách nhiệm
Thứ tư, thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không thể biết
được vào thời điểm giao kết hợp đồng: Điều kiện này có thể bị nhầm lẫn sang trường hợp xảy
ra sự kiện bất khả kháng Ví dụ, các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm ngăn chặn sự lây lan của đại dịch Covid 19 làm ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng của các bên sẽ được xác định là sự kiện bất khả kháng hay thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền?
Khi rơi vào trường hợp miễn trách, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo cho bên kia biết về trường hợp được miễn trách và những hậu quả có thể xảy ra trong thời hạn hợp lý và chứng minh về trường hợp miễn trách nhiệm của mình Nếu không thông báo hoặc không thông báo kịp thời, bên vi phạm bải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
CHƯƠNG 2 BẤT CẬP TRONG VIỆC ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
2.1 Bất cập trong việc áp dụng chế tài thương mại
2.1.1 Về chế tài buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng
Việc bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng yêu cầu bên vi phạm thực hiện hợp đồng là không thể trong trường hợp trên thực tế không cho phép bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng Điều 7.2.2 Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế
Unidroit quy định: “khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ không phải là nghĩa vụ thanh toán, bên có quyền có thể yêu cầu nghĩa vụ phải thực hiện, trừ khi: không thể thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hay trên thực tế…” 4
Khi trường hợp này xảy ra, bên bị
vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng nhưng bên vi phạm không thể làm được từ đó dẫn tới thời gian thực hiện hợp đồng và xử lý vi phạm hợp đồng của các bên diễn
ra lâu hơn, kéo theo đó là các chi phí phát sinh
4 Nguyễn Thanh Tùng, 2015, Bất cập trong việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và tạm ngừng thực hiện
hợp đồng, Tạp chí luật học số 7/2015, tr 70
Trang 98
2.1.2 Về chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Giới hạn của mức phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại là 8% giá trị phần nghĩa
vụ bị vi phạm Đối với các nghĩa vụ là thanh toán tiền, giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm là dễ dàng xác định Tuy nhiên, trong trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm là một hành vi thì rất khó xác định phần giá trị nghĩa vụ bị vi phạm là bao nhiêu để tính toàn số tiền phạt vi phạm Trong
trường hợp được đưa ra giải quyết tại Tòa án/Trọng tài, việc xác định “giá trị phần nghĩa vụ
bị vi phạm” cũng phụ thuộc nhiều vào quan điểm của Hội đồng xét xử trong trường hợp này
Để đơn giản hóa vấn đề này, nhiều hợp đồng thỏa thuận mức phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng, tức 8% giá trị của toàn hợp đồng sẽ được xác định là mức phạt vi phạm bất kể bên vi phạm vi phạm nghĩa vụ từ khi nào Vấn đề là thỏa thuận này trái với quy định của LTM
2.1.3 Về chế tài bồi thường thiệt hại
Thứ nhất, như đã trình bày tại mục 1.3 Chương 1, cả BLDS và LTM đều chưa xác định
rõ như thế nào là thiệt hại thực tế, chỉ có duy nhất Án lệ số 21 xác định rõ thiệt hại thực tế trong một trường hợp xác định là hợp đồng thuê tài sản Vậy, khi rơi vào các trường hợp khác thì thiệt hại thực tế được xác định ra sao?
Thứ hai, giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên vi
phạm phải chịu và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng Nhiều hợp đồng thương mại nhằm dễ dàng cho việc xác định thiệt hại và tiết kiệm thời gian mà thỏa thuận trước mức giá bồi thường thiệt hại Cũng có nhiều quan điểm cho rằng có thể thỏa thuận về mức bồi thường và đã đưa ra kiến nghị sửa đổi theo hướng này.5 Người viết không đồng tình với quan điểm trên Bởi lẽ, bản chất của bồi thường thiệt hại là bồi thường cho khoản thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm phải chịu Việc thỏa thuận trước mức giá bồi thường là đi ngược với bản chất của bồi thường thiệt hại mà nghiêng theo hướng phạt vi phạm hơn Việc thỏa thuận như vậy sẽ dễ dẫn đến tranh chấp trong trường hợp thực tế phát sinh thiệt hại mà một bên cho rằng mức bồi thường thỏa thuận cao hơn hoặc thấp hơn giá trị của khoản bồi thường theo luật
5 Trích: “Thiết nghĩ việc các bên được thoả thuận trước mức BTTH bằng cách xác định trước một khoản tiền BTTH cụ
thể trong hợp đồng sẽ tạo điều kiện thuận lợi và linh hoạt hơn cho các bên khi tham gia hợp đồng, tiết kiệm được thời gian giải quyết tranh chấp khi các bên không thống nhất được với nhau về giá trị thiệt hại cần phải bồi thường.”
Nguyễn Thị Hồng Điệp, 2020, Pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại và thực
tiễn áp dụng Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử.
Trang 109
2.1.4 Về chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy
bỏ hợp đồng
Thứ nhất, Luật thương mại 2005 quy định về thời điểm được coi là đình chỉ thực hiện
hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng nhưng chưa đưa ra quy định khi nào được xem là tạm ngừng thực hiện hợp đồng? Bởi lẽ, việc bên bị vi phạm không có bất kỳ thông báo nào cho bên vi phạm biết về quyết định tạm ngừng thực hiện hợp đồng mà tạm ngừng thực hiện hợp đồng có thể bị xem là một hành vi vi phạm hợp đồng
Thứ hai, Điều 312 LTM quy định hợp đồng có thể hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ nhưng
đến Điều 314 quy định về hậu quả hợp đồng lại là bị vô hiệu từ thời điểm giao kết, hai bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Vậy, trong trường hợp hợp đồng chỉ bị hủy bỏ một phần, hợp đồng bị vô hiệu một phần hay toàn bộ?
2.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về chế tài thương mại
Từ những bất cập đã chỉ ra tại mục 1, người viết đưa ra một vài quan điểm kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:
Thứ nhất, bổ sung quy định không áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
trong trường hợp hợp đồng không thể được tiếp tục thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng;
Thứ hai, bổ sung quy định về thời điểm được coi là tạm ngừng thực hiện hợp đồng hợp
pháp là khi bên vi phạm nhận được thông báo về việc áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng của bên bị vi phạm Có quan điểm cho rằng nên bổ sung quy định về khoảng thời gian được tạm ngừng thực hiện hợp đồng, tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, việc bổ sung này là không cần thiết, bởi lẽ, việc tạm ngừng là do hành vi vi phạm của một bên Bên
bị vi phạm vẫn đang thiện chí mong muốn hợp đồng được tiếp tục Thời gian tạm ngừng căn
cứ vào thời gian bên vi phạm không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
Thứ ba, LTM đặt ra mức trần phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm nhằm
hạn chế trường hợp các bên lợi dung quy định phạt vi phạm mà đặt ra mức phạt quá cao Dựa theo những phân tích đã trình bày tại mục 1 của chương này, người viết cho rằng, nên thay thế 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm bằng một quy định cụ thể hơn dành cho các loại hợp đồng có thể xác định giá trị vi phạm và khó xác định giá trị vi phạm Đối với hợp đồng khó xác định giá trị vi phạm sẽ sử dụng mức trần phạt vi phạm là 8% giá trị hợp đồng Điều khoản này yêu