Từ trước đến nay, Quyền con người được định nghĩa bởi nhiều quanđiểm khác nhau trên thế giới, vậy để có thể hiểu một cách tổng quát về kháiniệm quyền con người, ta cần đi vào tìm hiều cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
✍
Giảng viên: TS Ngô Thị Minh Hương
Hà Nội, 11/2021
Trang 2I Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, quyền con người đang ngàycàng nhận được sự quan tâm không chỉ của các cá nhân, tổ chức mà còn củacác quốc gia trên thế giới Tuy khái niệm Quyền con người chỉ mới xuất hiện
từ những năm 40 của Thế Kỷ XX, các ý tưởng về chúng từ lâu đã tồn tạitrong những bộ luật đầu tiên của xã hội loài người Trải qua cả một quá trìnhdài lâu ngày một hoàn chỉnh, quyền con người hiện nay thậm chí đã trở thànhmột trong những tiêu chí chung của thế giới để đánh giá khả năng hội nhậpcủa một quốc gia, đồng thời dần trở thành một phần không thể tách rời tronghoạt động thường ngày của xã hôi hiện đại, một kim chỉ nam hướng tới mộtthế giới hòa bình, nơi con người được chủ động thực hiện các quyền vốn cócủa mình từ khi được sinh ra
Với vai trò cốt lõi như vậy, việc đi sâu và nghiên cứu và ngày càng hiệnthực hóa quyền con người trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Tìm hiểungược lại về các nền tảng tư tưởng sơ khai của loài người và lịch sử pháttriển của chúng giúp con người có thể hiểu rõ hơn về bản chất, nguồn gốc,cũng như quá trình vận động và diễn biến của quyền con người, từ đó giúpcác quy định pháp luật quốc tế cũng như quốc gia được hoàn thiện khôngngừng
Bài viết này sẽ cung cấp tổng quát về khái niệm và nguồn gốc củaquyền con người, cũng như các tư tưởng chủ đạo, tiến trình lịch sử của quyềncon người và Bộ luật quốc tế về quyền con người cho đến hiện nay
II Khái niệm và nguồn gốc quyền con người
1 Khái niệm
Trang 3Từ trước đến nay, Quyền con người được định nghĩa bởi nhiều quanđiểm khác nhau trên thế giới, vậy để có thể hiểu một cách tổng quát về kháiniệm quyền con người, ta cần đi vào tìm hiều các góc nhìn của một số địnhnghĩa tiêu biểu được đông đảo các nhà hoạt động Nhân quyền cũng như cácNhà nước công nhận
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người – OHCHR định
nghĩa "quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo
vệ các cán nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc
mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người".
Bên cạnh định nghĩa của OHCHR, khái niệm quyền con người được
nhiều học giả công nhận và trích dẫn còn bao gồm Quyền con người là những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội,…;đều có ngay
từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người.
Mặt khác, nếu xét về mặt ngôn ngữ học, human rights – nhân quyền,hay quyền con người, có thể hiểu là một tồn tại đặc trưng phân biệt với cácthứ quyền khác, chỉ có thể sở hữu bởi các cá thể được hiểu là con người màkhông phải bất kỳ loài sinh vật nào trong tự nhiên ngoại trừ xã hội loàingười Mặt khác, vì là Quyền của từng cá nhân trong xã hội, vậy chúng mangđặc tính phổ quát và không thể bị triệt tiêu hay tước bỏ khỏi người sở hữu
Từ các lý giải trên, có thể thấy quyền con người không chỉ là các quyền
tự nhiên khách quan của con người ngay từ khi mới sinh ra, mà chúng cònđược đảm bảo bởi phát luật thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật củatừng quốc gia và các thỏa thuận quốc tế được các đại diện của mỗi vùng dân
cư trên thế giới – Nhà nước công nhận cũng như thi hành như các điều khoảnchung giành cho toàn xã hội loài người, nhằm đảm bảo mỗi cá nhân, mỗi
Trang 4cộng đồng đều được bảo vệ về các giá trịnh tự thân, hay nói cách khác,quyền được tồn tại đặc trưng của một con người.
2 Nguồn gốc
Cho đến hiện nay, khi nhắc đến nguồn gốc của quyền con người, cácnhà nghiên cứu cũng như những nhà hoạt động nhân quyền đều thống nhất ýkiến về hai quan điểm đối lập
Một mặt, quyền con người được công nhận là các quyền tự nhiên, lànhững gì bẩm sinh, vốn có của một con người, mọi cá nhân sinh ra đều đượchưởng quyền một cách bình đẳng và công bằng Như vậy, quyền con ngườikhông hề phụ thuộc vào các yếu tố đặc trưng xã hội như phong tục, tập quán,giai cấp xã hội, văn hóa hay pháp luật vì lí do đó, không một chủ thể nào, kể
cả Nhà nước, đều không có quyền can thiệp hay tước bỏ nhân quyền, bởi nhưvậy là đi trái với tự nhiên, với lẽ thường của thế giới
Mặt khác, học thuyết về các quyền pháp lý lại thừa nhận quyền conngười như các quyền được xác định và xác lập từ đầu bởi Nhà nước thôngqua pháp điển hóa và các chính sách trị quốc, với xuất phát điểm từ đặc trưngvăn hóa mỗi vùng và như cầu của các giai tầng trong xã hội Như vậy, giớihạn và phạm vi quyền sẽ được xác định dựa theo ý chí của giai cấp thống trị
và các yếu tố xã hội khác Bởi được xác lập dựa trên ý chí của Nhà nước,quyền con người không còn hoàn toàn bất khả xâm phạm và các cơ quancông quyền sẽ được can thiệp vào sự bảo đảm quyền của các cá nhân trong
xã hội
Cho đến nay, cuộc tranh luận về nguồn gốc của nhân quyền vẫn cònđang diễn ra đây sôi nổi với hai con đường hoàn toàn trái ngược trong việcxác định sự thật khách quan Tuy nhiên, dù là học thuyết quyền tự nhiên hayhọc thuyết về quyền pháp lý, chúng mới chỉ giải một mặt về nguồn gốc củaquyền con người Trên thực tế, nếu tồn tại như các quyền đặc trưng chỉ ở con
Trang 5người mới được thừa nhận, giống như việc mỗi loài sinh vật đều có các đặcđiểm sinh học riêng, thì quyền con người thuộc về phạm trù quyền tự nhiênluôn luôn hiện hữu dù được công nhận hay không Mặt khác, với những đặctrưng về phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa khác nhau giữa từng đơn
vị xã hội, quyền con người cũng sẽ được công nhận và bảo đảm cho từngngười một cách khác nhau Hơn nữa, không có các hành động thực tiễn vềmặt pháp lý của các quốc gia, thì quyền con người cũng không thể được hiệnthực hóa, và sẽ không có khái niệm quyền con người cho mỗi cá nhân cho tớingày nay Như vậy, nhân quyền vừa là quyền tự nhiên, nhưng cũng là cácquyền pháp lý
III Tư tưởng và lịch sử phát triển quyền con người
Theo tiến trình phát triển của nhân loại, tư tưởng về quyền con ngườikhi nghiên cứu ngược về quãng thời gian từ xa xưa lúc loài người mới bắtđầu gây dựng các vương triều cổ đại, khi các bộ luật đầu tiên ra đời thì đã tồntại các quy định, các quan điểm phản ánh một phần quyền con người Quadiễn biễn của từng giai đoạn lịch sử và biến đổi cho đến ngày nay, quyền conngười không còn chỉ dừng lại ở mức một quy định nhỏ mà trở thành mộttrong những vấn đề chung được công nhận và bảo vệ bởi các quốc gia trênthế giới Như vậy có thể thấy, tư tưởng và lịch sử phát triển của quyền conngười đã trải qua hàng ngàn năm bổ sung và hoàn thiện
Khi nhắc đến những tư tưởng đầu tiên về quyền con người thì không thểkhông đề cập đến bộ luật Hammurabi ra đời từ tận các thế kỷ của các NhàNước đầu tiên, XVII-XVIII TCN với tuyên bố về mục đích của Bộ luật, “…
ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu”, …làm cho người cô quả có nơi nương tựa ở thành Babylon,…đem lại hạnh phúc chân chính và đặt "nền thống trị nhân từ cho mọi thần dân trên vương quốc" Không kể đến các quy
định cụ thể mà theo tiêu chuẩn ngày nay sẽ không phù hợp với một nền văn
Trang 6minh nhân loại thế kỷ XXI, việc ngăn ngừa kẻ mạnh áp bức kẻ yếu đã thiểhiện một phần về quyền của mỗi người là bình đẳng và có giá trị như nhau,
kể cả người có địa vị cao cũng không được áp bức người có địa vị yếu thếtrong xã hội Ngoài ra, vấn đề quyền con người còn được đề cập bởi các vănbản cổ khác như Bộ luật nhà vua Ashoka năm 272-231 TCN, Hiến phápMedina năm 622, …Ngay tại Việt Nam, trong số các bộ Hình Luật đặc trưngcho nền phong kiến phương Đông của các quốc gia cổ như ở Trung Hoa,Việt Nam, bộ Quốc triều hình luật thời kỳ Hậu Lê năm 1470-1477 nổi bậthơn cả bởi các quy phạm tôn cao tư tưởng nhân quyền, nhất là vấn đề bảo vệcác quyền lợi của người thế yếu như phụ nữ, trẻ em trong xã hội Xét trongmột bối cảnh phong kiến nơi xã hội vẫn mang nặng tính Nho giáo, trọng namkhinh nữ, địa vị xã hội của con người bị phân hóa một các gay gắt, có thể nóicác quy định của Bộ luật Hồng Đức đã đi trước thời đại khi tôn trọng quyềnbình đẳng trong xã hội người Đại Việt
Cho đến năm 1215, Đại hiến chương Magna Carta tại Anh ra đời, đánhmột dấu mốc quan trọng trong việc nhận thức về quyền con người trong xãhội Tuy ban đầu, việc ra đời Hiến Chương là một thỏa ước Hòa Bình giữanhà Vua với các Lãnh Chúa quý tộc và Giáo hội lúc bấy giờ, nhưng các tưtưởng chứa đựng trong đó đã vượt xa khỏi khuôn khổ văn bản và trở thànhmột trong các nguồn cảm hứng cho việc tạo dựng các quy định về quyền con
người về sau, điển hình như Không một công dân tự do nào bị bắt, giam giữ, trừ khi việc đó là do việc xét xử và kết tội của một tòa án được lập ra bởi các công dân khác, hay Một người bị bắt giữ cần phải được nhanh chóng đưa ra toà án để xét xử và phán quyết Không ai bị từ chối quyền và công lý bởi toà án.
Tư tưởng về quyền con người tiếp tục được nhen nhóm qua thời kỳTrung Cổ tại Châu Âu, và đến thời kỳ Phục Hưng bắt đầu bùng lên mạnh mẽ
Trang 7không chỉ về mặt pháp luật mà còn về mặt triết học quyền con người với cáctriết gia tiêu biểu như Thomas Hobbes( 1588-1679), John Locke (1632 -1704), Thomas Paine (1731-1809),…Trong cái sự kiểm soát và gò bó về mặt
tư tưởng thần quyền của giáo hội, các học giả là những người tiên phongtrong việc phá tan các quan niệm hủ lậu, giam cầm ý chí của con người, để từ
đó làm tiền đề cho sự ra đời của các văn bản quan trọng mang dấu ấn củanhững con người tự do trong các thời kỳ sau Trong đó cuộc Cách mạngthuộc địa khai sinh ra Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 đã
khẳng định rằng “… mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc “ Đây có thể coi
là văn kiện pháp lý hiện đại đầu tiên trên thế giới đề cập tới quyền tự nhiêncủa mỗi con người Và bản Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789
của nhân dân tự do Pháp đã tái khẳng định “Người ta sinh ra và sống tự do
và bình đẳng”, với hàng loạt các quy định cụ thể về các quyền cơ bản của
con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền sở hữu, được bảo đảm anninh và chống áp bức , quyền bình đẳng trước pháp luật,…
Tuy nhiên, quyền con người chỉ thực sự nổi lên như một vấn đề quốc tếvào những năm đầu thế kỷ XIX với các buộc đấu tranh nhằm xóa bổ chế độ
nô lệ, đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của người Lao động và bảo vệ cácnạn nhân chiến tranh, được đánh dấu mốc đầu tiên bởi Công ước về cải thiệnđiều kiện của người bị thương trong các cuộc chiến trên trên bộ năm 1864 tạiGenève, sau đó là Công ước về các luật lệ và tập quán trong chiến tranh năm
1899 tại Hội nghị hoà bình quốc tế La Haye Tuy hai Công ước chỉ quy định
cụ thể về việc bảo vệ quyền của những người tham gia chiến trận, nhưngchứa đựng những giá trị và quy phạm có quan hệ chặt chẽ với luật quốc tế vềquyền con người ở giao đoạn sau này
Trang 8Và với sự ra đời của Liên Hợp Quốc sau Thế Chiến II, vấn đề quyềncon người giờ đây đã không còn là các tư tưởng nhỏ lẻ, mà đã trở thành mộttrong các vấn đề quan trọng và cấp thiết của mọi quốc gia trên thế giới, nhậnthức việc bảo vệ quyền con người trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, cácvăn kiện quan trọng, đóng vai trò cho việc hiện thực hóa nhân quyền sau này
đã được ra đời, trong đó, điển hình là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền conngười năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, cùngvới Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966
IV Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về quyền con người
1 Các yếu tố nền tảng
Thứ nhất, việc thay đổi nhận thức về chủ quyền giữa các quốc gia ngay
từ thời kỳ cuối Phong Kiến tại châu Âu đã tạo cơ sở cho việc thay đổi nhậnthức về quyền con người trong bối cảnh quốc tế với sự phân chia mạnh mẽ
về lãnh thổ và chủ quyền giữa các quốc gia phong kiến tập quyền cùng với
sự giao thương ngày càng phổ biến giữa các thương nhân đến từ vùng lãnhthổ khác nhau, việc xảy ra xung đột cũng như tranh chấp pháp lý là khôngthể tránh đổi Điều này đòi hỏi các chính quyền đưa các quy định về việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nước mình trước pháp luật củađất nước khác Như vậy, một phần tư tưởng của những người cầm quyền đã
có sự thay đổi về việc bảo vệ quyền con người, dù chỉ trong phạm vi nhỏ hẹpgiữa sự tranh chấp các quốc gia với nhau
Thứ hai, phong trào chống mua bán nô lệ và xóa bổ chế độ nố lệ bùng
nổ vào thế kỷ XVII và XVIII tại Châu Âu dẫn đến việc ký kết hiệp ước xóa
bỏ việc buôn bán nô lệ giữa Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và HàLan năm 1815 Hiệp ước đóng vai trò nền móng trong việc đưa ra các quyđịnh hàm chữa những ý tưởng đầu tiên về bảo vệ quyền con người trên quy
Trang 9mô quốc tế, cũng như đặt cơ sở cho một trong những nguyên tắc quan trọng
bậc nhất cho đến nay về Tôn trọng nhân phẩm của con người.
Thứ ba, với việc thành lập Hội quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tếnăm năm 1919, quyền con người bắt đầu thực sự trở thành một vấn đề quốc
tế được các quốc gia quan tâm thông qua các quy định Điều lệ của Tổ chứcLao động quốc tế và Thỏa ước của Hội quốc liên Tuy các nguyên tắc vềquyền con người chưa được quy định cụ thể, nhưng chúng đã được pháp điểnhóa ở một mức độ nhất định, chỉ đến khi các văn kiện không chỉ điều chỉnhmối quan hệ giữa Nhà nước với Nhà nước, mà còn mối quan hệ giữa Côngdân với các nhà nước, thì quyền con người mới thực sự trở thành Luật quốctế
2 Thế Chiến II – yếu tố quyết định của việc ra đời Luật nhân quyền quốc tế
Sở dĩ có thể coi Thế Chiến thứ hai là một yếu tố quyết định cho việc rađời Luật nhân quyền quốc tế, bởi với một cuộc chiến quy mô thế giới vớiphần lớn các quốc gia tham gia, thì các hậu quả mà nó để lại có thể nói làthảm khốc hơn bao giờ hết hơn 60 triệu người chết, 90 triệu người tàn phếvới nhiều thành phố, vùng đất bị phá hủy, đặc biệt hơn cả là những cuộcthảm sát toàn bộ một tộc người như cuộc diệt chủng người Do Thái đã rấylên những mối lo ngại về việc duy trì hòa bình trên thế giới để cùng pháttriển và bảo vệ các quyền tự do và chính đáng của con người Thực tế trêncho thấy, các quốc gia cần có một tiếng nói chung và bảo vệ một cách cóhiệu quả quyền và lợi ích của từng con người trong xã hội
3 Hiến Chương Liên hợp quốc
Như đã đề cập ở trên, với thực tế các quốc gia cần có một tổ chức giảiquyết các xung đột cũng như là một tiếng nói chung cho toàn thế giới, LiênHợp Quốc đã được ra đời với bản Hiến Chương đóng vai trò tối quan trọng
Trang 10trong việc đảm bảo các quốc gia có một quy tắc xử sự chung và các mục đíchtồn tại của Liên Hợp Quốc, trong đó bao gồm cả việc bảo vệ Quyền conngười.
Ngay từ lời nói đầu của bản Hiến Chương, ý chí của các dân tộc khát
vọng hòa bình đã được thể hiện rõ ràng, phòng ngừa các thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh, tin tưởng vào quyền con người cơ bản, vào nhân phẩm và giá trị của con người, vào các quyền bình đẳng giữa nam và nữa và giữa các quốc gia lớn và nhỏ
Cũng ngay từ Điều 1 quy định về các mục tiêu hoạt động của tổ chức,
Liên hợp quốc đã được xác định rõ sẽ theo đuổi mục đích thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng các quyền con người, và tự do cơ bản cho tất cả mợi người mà không có sự phân biệt đổi xử nào về chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.
Tuy Hiến Chương không quy định cụ thể về các quyền con người chocác thành viên Mặc dù vậy, đây vẫn được coi là văn kiện xác lập nền tảngcho các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người và làm kim chỉ nam cho cácĐiều ước, Hiệp ước về quyền con người ra đời về sau, bỏi tại đây, giá trị củamột con người được thừa nhận phổ biến và càng được thức đẩy trong việctôn trọng, bảo vệ các quyền đó
4 Bộ luật nhân quyền Quốc tế
Bộ luật nhân quyền quốc tế bao gồm ba văn kiện quan trọng, Tuyênngôn toàn thế giới về quyền con người – UDHR, Công ước về các quyền dân
sự, chính trị - ICCPR, và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa –ICESCR
Bộ luật nhân quyền quốc tế có một vị thế không thể thay thế bởi đây lànhững văn kiện đầu tiên với nội dung hoàn toàn về quyền con người, mở ramột lĩnh vực pháp lý mới trên thế giới Hơn nữa, Bộ luật nhân quyền quốc tế
Trang 11không chỉ dừng lại ở các tư tưởng chỉ đạo, mà chúng cung cấp các quy dịnh
cụ thể về nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản trong việc đảm bảo quyền conngười Như vậy, ý nghĩa thực tiễn của Bộ luật nhân quyền quốc tế càng trởnên quan trọng hơn bao giờ hết trong việc đảm bảo từng quốc gia tham giaphải bảo vệ quyền con người đã được quy định Bộ luật đánh dấu một bướctiến quan trọng của nhân loại, khi con người không còn bị trói buộc bởinhững tư tưởng cổ lậu, bất bình đẳng, mà giờ đây, mỗi người đều có thể chủđộng giành được một cách có ý thức quyền lợi chính đáng của bản thân, vẹntoàn giá trị nhân phẩm
V Kết luận
Quyền con người trải qua các thăng trầm của lịch sử, giờ đây đã trở nênhoàn thiện hơn bao giờ hết, trở thành tiếng nói chung của nhân loại trongviệc bảo vệ ý thức tự thân của mỗi người và là nền tảng duy trì hòa bình trênthế giới Việc nghiên cứu lịch sử của tư tưởng và sự phát triển của nhânquyền thế giới giúp con người các hiểu sâu hơn về vấn đề này Tuy kháiniệm quyền con người còn rất mới mẻ, nhưng không ai có thể gạt bỏ đượcrằng, quyền con người đã tồn tại từ khi con người mới sinh ra, không ai đượcphép triệt tiêu và xâm phạm một cách nghiêm trọng Các quốc gia trong xuthế cung của thế giới, cần có ý thức cao trong việc bảo vệ quyền con ngườicủa mỗi các nhân thông qua các quy định của pháp luật
Trang 12Tài liệu tham khảo
Giáo trình Lý luận và Pháp luật về Quyền Con Người (2013)
Hiến Chương Liên Hợp Quốc (1945)
Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1776)
Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền Pháp (1789)
Vũ Công Giao, (2018), Đại Hiến chương Magna Carta: Một món quà của nước Anh
dành cho nhân loại
Trang 13MỤC LỤC
I Khái niệm Quyền con người
II Tư tưởng và lịch sử phát triển về quyền con người
III Pháp luật quốc tế về quyền con người (International Human Rights Law)
1 Sự hình thành và phát triển Pháp luật quốc tế về quyền con người
2 Các “thế hệ” quyền con người
a Thế hệ thứ nhất: Các quyền dân sự, chính trị
b Thế hệ thứ hai: Các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá
c Thế hệ quyền con người thứ ba
Trang 14I Khái niệm Quyền con người
Nhân quyền hay quyền con người (Human rights) là những quyền tự nhiêncủa con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Theo địnhnghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp
lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành độnghoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người.Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyêntắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ Các chính phủ trong thểchế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chínhcác chính phủ đó để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân "hiểnnhiên có" do sự tồn tại của mình
Quyền con người đã được quy định cụ thể trong hàng trăm văn kiện phápluật quốc tế trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu đòi hỏi mọi quốcgia, trong đó có Việt Nam, tôn trọng và thực hiện Tại Việt Nam trong bản Hiếnpháp đầu tiên năm 1946 đã chính thức ghi nhận các quyền thiêng liêng của conngười Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và mới đây là bản Hiếnpháp năm 2013 ngày càng hoàn thiện và bảo đảm đầy đủ các quyền con người,quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế Bên cạnh đó, nhân quyền còn đượcđịnh nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà
kể từ khi sinh ra vốn đã được thiết lập mà khi trong cuộc sống nếu không được đảmbảo đầy đủ thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người
Như vậy, có thể khái quát, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắtnguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốcgia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia vàquốc tế
Trang 15II Tư tưởng và lịch sử phát triển về quyền con người
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, các tư tưởng về quyền con ngườikhông chỉ được thể hiện trong các đạo luật, mà còn được phản ánh trong các tưtưởng, học thuyết tôn giáo, chính trị và pháp lý Trên thực tế, trong số những tàiliệu được cho là cổ xưa và toàn diện nhất xét về tư tưởng quyền con người mà nhânloại còn giữ lại được cho đến ngày nay, ngoài đạo luật Hammurabi và bộ Văn tuyểnNho giáo (Luận ngữ), các tài liệu còn lại đều là những kinh điển của tôn giáo, baogồm: Kinh Vệ Đà của đạo Hinđu ở Ấn Độ, Kinh Phật của đạo Phật; Kinh Thánhcủa đạo Thiên chúa và Kinh Koran của đạo Hồi
Xét về các học thuyết chính trị, pháp quyền, người ta ghi nhận rằng, vào thế
kỷ thứ XXIV trước Công nguyên, vua Symer đã sử dụng khái niệm “tự do” để bảo
vệ những bà goá, trẻ mồ côi trước những hành vi bạo ngược của những kẻ giàu có
và thế lực trong xã hội; còn nhiếp chính quan người Hy Lạp ở La mã là ArokhontSalon, ngay từ thế kỉ XI trước Công nguyên đã ban bố một đạo luật trong đó xácđịnh một số khía cạnh của dân chủ và quy định một số quyền của các công dân tự
do trong mối quan hệ với các quan lại nhà nước Người ta cũng chỉ ghi nhận rằng,trong thời kỳ diễn ra sự tàn bạo khủng hiếp của chế độ nô lệ ở La Mã cổ đại :
“Trước Crêông, Antigone đã nói đến quyền không vâng lời và trước những nô lệ, Spartacus đã nói về quyền chống lại áp bức” Cũng trong thời kỳ này, Protagoras
(490-420 TCN) và các nhà triết học thuộc trường phái ngụy biện Sophism đã đưa ra
quan niệm về sự bình đẳng và tự do giữa các cá nhân trong xã hội: “Thượng đế tạo
ra mọi người đều là người tự do, không ai tự nhiên biến thành nô lệ cả “.
Trong thời kỳ Trung cổ ở Châu Âu, tự do của con người bị hạn chế một cáchkhắc nghiệt bởi sự cấu kết cai trị giữa vương quyền của chế độ phong kiến và thần
quyền của nhà thờ Thiên chúa giáo Tuy nhiên, Hiến chương magna Carta do vua
John của nước Anh ban hành năm 1215 đã khẳng định một số quyền con người, cụ
Trang 16thể như: quyền sở hữu, thừa kế tài sản; quyền tự do buôn bán và không bị đánhthuế quá mức; quyền của các phụ nữ góa chồng được quyết định tái hôn hay không;quyền được xét xử đúng đắn và được bình đẳng trước pháp luật….Quan trọng hơn,bản hiến chương này được coi là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên củanhân loại đề cập cụ thể đến việc tiết chế quyền lực của nhà nước để bảo vệ cácquyền của công dân, mà biểu hiện cụ thể ở hai quy phạm vẫn còn có giá trị đến tậnngày nay, đó là quy phạm về lệnh đình quyền giam giữ (hay còn gọi là luật bảothân- habeas corpus) trong đó bắt buộc mọi trường hợp tử hình đều phải qua xét xử
và quyết định trước Toà và quy phạm về due process of law (luật tôn trọng tất cảcác quyền hợp pháp của công dân)…
Thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu là giai đoạn phát triển rực rỡ của các quanđiểm, học thuyết về quyền con người Tại đây, trong các thế kỷ XVII-XVIII, nhiềunhà triết học mà tiêu biểu là Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632 -1704), Thomas Paine (1731-1809), Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831),John Stuart Mill (1806-1873), Henry David Thoreau (1817-1862)… đã đưa ranhững luận giải về rất nhiều vấn đề lý luận cơ bản của quyền con người, đặc biệt là
về các quyền tự nhiên và quyền pháp lý, mà vẫn còn có ý nghĩa quan trọng với việcbảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong thời đại ngày nay
Những tư tưởng triết học về quyền con người ở Châu Âu thời kỳ Phục Hưng
đã có ảnh hưởng quan trọng đến sự ra đời của những văn bản pháp luật về quyềncon người ở một số nước của châu lục này và hai cuộc cách mạng nổ ra vào cuốinhững năm 1700 ở Mỹ và Pháp Hai cuộc cách mạng này đã có những đóng góp rất
to lớn vào sự phát triển của tư tưởng và quá trình lập pháp về quyền con ngườikhông chỉ ở hai nước Mỹ và Pháp mà còn trên toàn thế giới Trong cuộc cách mạngthứ nhất, năm 1776, mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ đã tuyên bố độc lập với đế chếAnh thông qua một văn bản có tên là Tuyên ngôn độc lập , trong đó khẳng định
Trang 17rằng : “… mọi người sinh ra đều bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc “ Mặc dù không phải văn kiện pháp lý đầu tiên trên thế
giới đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên, Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ cóthể coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện nhà nước về quyền conngười Đánh giá về văn kiện này, Các Mác đã cho rằng, nước Mỹ là nơi lần đầutiên xuất hiện ý tưởng về nền cộng hòa dân chủ vĩ đại, nơi đã tuyên bố bản tuyênngôn đầu tiên về quyền con người
Trong cuộc cách mạng năm 1789, nhân dân Pháp đã đứng lên lật đổ chế độphong kiến, thành lập nền cộng hòa đầu tiên, đồng thời công bố bản Tuyên ngôn vềnhân quyền và dân quyền nổi tiếng của Pháp Điều 1 bản Tuyên ngôn này khẳng
định: “ Người ta sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền …” Đặc biệt,
không dừng lại ở những nguyên tắc, ý tưởng như Tuyên ngôn Độc lập 1776 củanước Mỹ, Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 đã xác định một loạt cácquyền cơ bản của con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền sở hữu, đượcbảo đảm an ninh và chống áp bức , quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền không
bị bắt giữ trái phép, quyền được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội,quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tham gia ýkiến vào công việc nhà nước,… đồng thời đề cập đến những biện pháp cụ thể nhằmbảo đảm thực hiện các quyền này Đáng chú ý hơn, chỉ trong vòng 35 năm (1795 -
1830), hơn 70 bản Hiến pháp mang dấu ấn của những luận điểm trong bản Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 đã được thông qua ở Châu Âu Điều này
cho thấy những tư tưởng về quyền con người thẩm thấu một cách nhanh chóng vàtạo nên những biến động xã hội to lớn ở châu lục này
Tuy nhiên, quyền con người chỉ thực sự nổi lên như một vấn đề ở tầm quốc
tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cùng với cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ
Trang 18nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra rất mạnh mẽ và liên tục tới tận cuối thế kỷ đó vàphong trào đấu tranh đòi cải thiện điều kiện sống cho người lao động và bảo vệ nạnnhân trong các cuộc xung đột vũ trang thế thới Vào năm 1864, Hội nghị ngoại giaoquốc tế đầu tiên họp ở Genève (Thuỵ Sĩ) đã thông qua Công ước về cải thiện điềukiện của người bị thương trong các cuộc chiến trên trên bộ (Công ước Giơnevơ thứI) Năm 1899, Hội nghị hòa bình quốc tế họp ở La hay (Hà Lan) đã thông qua Côngước về các luật lệ và tập quán trong chiến tranh Đây là những văn kiện đầu tiêncủa luật nhân đạo quốc tế.
Dưới đây là một số sự kiện, văn kiện đánh dấu sự phát triển của tư tưởng vềquyền con người của nhân loại từ trước tới nay:
1215: Đại hiến chương Magna Carta (Anh)
1689: Luật về Quyền (Anh); “Hai khảo luận về chính quyền “ của John Locke 1776: “Tuyên ngôn độc lập” (Mỹ)
1789: “Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân” (Pháp)
Bộ luật về các quyền (10 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp) (Mỹ)