1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HỌC THUYẾT PHÂN QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT NÀY VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

10 56 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 37,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học thuyết phân quyền và sự vân dụng học thuyết này vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt NamBao gồm phần Đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài, cơ sở lý luận, phương hướng vận dụng, kết luận

Trang 1

ĐỀ TÀI 19: HỌC THUYẾT PHÂN QUYỀN VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT NÀY VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

ĐẶT VẤN ĐỀ: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phân quyền là một trào lưu triết học chính trị xuất hiện từ thời Hy Lạp - La

Mã, với nhiều mô hình phân chia khác nhau mà tiêu biểu có thể kể đến của Aristotle Tư tưởng cốt lõi thuyết phân quyền cơ bản được hiểu là phân chia quyền lực nhà nước ra thành nhiều nhánh, không trao quyền lực tuyệt đối vào tay một cá nhân hay tổ chức nào nhằm tránh tình trạng lạm quyền Đến thời kỳ Khai sáng (Thế kỷ XVIII), trào lưu này một lần nữa nở rộ, với thành công lớn nhất là sự ra đời của thuyết tam quyền phân lập gắn với tên tuổi Montesquieu - một lý thuyết chính trị - pháp lý có vai trò sâu rộng trong vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở các nhà nước hiện đại

Montesquieu đưa ra một mô hình mà trong đó quyền lực nhà nước được chia làm ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp do các cơ quan độc lập với nhau nắm giữ và hoạt động theo cơ chế kiềm chế, đối trọng Học thuyết này nhanh chóng tạo được tiếng vang và trở thành kim chỉ nam cho các quốc gia trong vấn đề lập hiến bởi những giá trị mang tính phổ quát, tính vượt trội về mặt lý luận cũng như thực tiễn chính trị Sự thành công trong việc vận dụng học thuyết này đã được chứng nghiệm qua hàng trăm năm kể

từ ngày nó ra đời, đặc biệt ở các nước tư bản mà điển hình là Mỹ Hiện nay, trong các bản Hiến pháp của các nhà nước pháp quyền trên thế giới, tư tưởng này được ghi nhận ở nhiều mức độ và trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng bộ máy nhà nước, là tiêu chuẩn đánh giá nền dân chủ

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã ý thức sâu sắc và khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nhà nước pháp quyền Tại Việt Nam, qua hơn 30 năm đổi mới từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) những “hạt nhân hợp lý” của thuyết phân quyền đã được Nhà nước ta tiếp thu, vận dụng một cách chọn lọc, sáng tạo Dù không trực tiếp ghi nhận mô hình tam quyền phân lập song từ trong bản Hiến pháp năm 1992, Nhà nước ta đã khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Tư tưởng này tiếp tục được ghi nhận, phát triển ở Hiến pháp 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Điều này đã đánh dấu một bước tiến trong quá trình đổi mới nhận thức, tư duy lý luận và vận dụng vào thực tiễn dựa trên đặc thù chính trị, xã hội của đất nước nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

Trang 2

Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn lịch sử, “việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm.”1 Cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, gây ra tình trạng chồng chéo giữa các cơ quan trong việc thực thi quyền lực, khiến cho tiềm năng phát triển của đất nước phần nào bị giảm sút Do đó, để khắc phục những yếu kém về mặt tổ chức - hoạt động, cải cách nền hành chính quốc gia, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đã đến lúc chúng ta cần có một cái nhìn sâu sắc và cởi mở hơn đối với những giá trị tích cực từ học thuyết phân quyền và khai thác nó để hoàn thiện hệ thống chính trị nước nhà

Nhìn nhận được tầm quan trọng của vấn đề, nhóm em chọn “Học thuyết phân quyền và sự vận dụng học thuyết này vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” làm đề tài tiểu luận của mình

CƠ SỞ LÝ LUẬN I) HỌC THUYẾT PHÂN QUYỀN

1 Lịch sử hình thành

“Quyền lực làm con người tha hóa Quyền lực tuyệt đối dẫn tới tha hóa tuyệt đối.” Câu nói nổi tiếng của Lord Acton đã trở thành một tuyên bố hùng hồn

về bản chất quyền lực mà lịch sử qua hàng ngàn năm đã kiểm chứng Vấn đề kiểm soát quyền lực luôn đóng một vai trò chính yếu đối với tồn tại và ổn định của quốc gia Trên nền tảng tìm kiếm giải pháp cho vấn nạn này, từ thời

cổ đại, tư tưởng phân quyền đã manh nha xuất hiện Bởi lẽ, nếu quyền lực to lớn khiến con người rơi vào lạm quyền, quyền lực phải được phân chia

Thời cổ đại, Aristotle (384-322 BC) là lý thuyết gia đầu tiên đưa ra ý tưởng

về phân chia quyền lực nhà nước Về cơ bản, Aristotle đã mô tả chi tiết các chức năng của bộ máy nhà nước theo hướng phân biệt và kết hợp giữa các phương thức cai trị Tuy nhiên, tư tưởng của ông vẫn chưa thể được coi như thuyết phân quyền hiện đại gắn liền với bản chất pháp quyền bởi chưa xác định được mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố và sự giới hạn các thẩm quyền trong khuôn khổ tương tác giữa chúng

Đến thời trung đại, dưới sự chi phối của Giáo hội và tư tưởng Thiên chúa giáo, tư tưởng phân quyền nhìn chung không có sự kế thừa và phát triển Tuy nhiên đến đầu cận đại, phong trào Phục Hưng và Khai sáng đã mở đường cho các hệ tư tưởng chính trị về phân quyền vốn bị Giáo hội áp chế một lần nữa

nở rộ và phát triển rực rỡ, với các học giả đại diện gồm John Locke, Montesquieu, Rousseau Dù phân quyền là trào lưu đã xuất hiện từ thời Hy Lạp - La Mã, song thực tế nó chỉ trở thành một học thuyết toàn diện và độc lập ở giai đoạn này

1 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì

dân (2011) Tạp chí Xây Dựng Đảng, Chuyên đề 3, tr.23.

Trang 3

Xuất phát từ mục đích đảm bảo quyền tự do công dân, quyền tự nhiên của con người, cả John Locke và Montesquieu đều cho rằng ngăn chặn quyền lực tập trung vào tay một số ít là điều cần thiết, tuy nhiên, giữa hai triết gia này lại có

sự lập luận khác nhau về nguyên lý, cơ chế hoạt động của việc phân quyền Quan niệm về quyền lập pháp, Locke lập luận, để khắc phục hạn chế của trạng thái tự nhiên, nhân dân thông qua một khế ước xã hội để thiết lập nên chính quyền Điều này đồng nghĩa, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, do đó quyền lập pháp phải là tối cao Ông viết: “Trong mọi trường hợp khi chính quyền còn duy trì sự tồn tại, thì cơ quan lập pháp là quyền lực tối cao Vì cái gì có thể trao cho người khác luật phải, đó phải là cái có địa vị cao hơn.”2 Về sau tư tưởng này một lần nữa được Rousseau tái khẳng định, ông cho rằng lập pháp xuất phát trực tiếp từ ý chí chung của nhân dân, thể hiện tính tối cao của quyền lực nhà nước Do đó, quyền lực nhà nước là thống nhất, không thể phân chia Trong khi đó Montesquieu cho rằng quyền lực dù tập trung vào tay của tầng lớp xã hội nào cũng đều dẫn đến sự tiêu cực, tha hóa.3

Về hành pháp, Locke cho rằng xét xử là một bộ phận của hành pháp mà không phân biệt cơ quan tư pháp Khi viết về quyền liên hiệp, Locke không quá quan tâm về tên gọi, ông giải thích rằng đó là quyền tạo lập liên minh, đồng minh với các cá nhân, cộng đồng bên ngoài quốc gia, quản lý an ninh.4

John Locke là người có công khởi thảo nên học thuyết phân quyền hiện đại, song phân quyền chỉ trở thành một học thuyết hoàn chỉnh khi được

Montesquieu hoàn thiện và đề cập trong tác phẩm tên tuổi của mình - Tinh

thần pháp luật.

Thế kỷ XVIII mà Montesquieu sống chứng kiến một xã hội và nền chính trị phù phiếm, ung nhọt, đầy rẫy bất công với đủ loại thuế khóa, vua quan nhũng nhiễu, bất ổn từ đàn áp tôn giáo đã khiến người dân Pháp phải tự xét lại chế

độ quân chủ, đặt ra nhu cầu cải cách đất nước; và Montesquieu cũng không đứng ngoài dòng chảy thời đại ấy

Rời bỏ quyền lực, ông tự mình đi khảo cứu hệ thống chính trị quanh các nước Italy, Đức, Áo, Hung, Thụy Sĩ, Ba Lan và cuối cùng dừng chân ở Anh (1729) Chính những quan sát về tình hình chính trị tại đây đã trở thành chất liệu để

ông cho ra đời tác phẩm “Tinh thần pháp luật” sau hơn 20 năm cặm cụi - tác

phẩm đã đưa ông trở thành nhà lý luận có tầm ảnh hưởng bậc nhất

2 Nội dung học thuyết phân quyền

Ngay chính tựa đề đã toát lên tinh thần của toàn tác phẩm Trong “Bàn về tinh thần pháp luật” Montesquieu không chỉ nghiên cứu pháp luật thuần túy mà

2 John Locke (2006) Khảo luận thứ hai về chính quyền, Nxb Tri Thức,

chương 13, §150.

3 Montesquieu (1949) Tinh thần pháp luật, Hafner Publishing Company,

quyển XI, chương 6.

4 John Locke (2006) Khảo luận thứ hai về chính quyền, Nxb Tri thức,

chương 12, §148.

Trang 4

ông gọi đó là “hành trình tìm kiếm tinh thần pháp luật” Không như các học giả trong quá khứ và đương thời, Tinh thần pháp luật của ông không đơn thuần tìm kiếm một mô hình nhà nước lý tưởng Montesquieu muốn khám phá cái quy luật đã điều chỉnh tất cả những hình thức ấy ở tất cả các dân tộc

và ở mọi thời đại, trong đó luật pháp được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau

Montesquieu quan niệm rằng tự do chỉ có thể đạt được khi không có lạm quyền Nhưng kinh nghiệm muôn thuở cho thấy bất cứ ai sở hữu quyền lực luôn có khuynh hướng lạm dụng quyền lực ấy một cách tối đa Để ngăn chặn vấn nạn này, quyền lực phải được kiểm soát bởi quyền lực và đặt trên nền tảng luật pháp Khi đó, tự do của nhân dân mới được thực thi, bảo vệ.5

Theo Montesquieu, trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp (quyền hành pháp) và quyền thi hành những điều trong luật dân sự (quyền tư pháp) Ba quyền này được giao cho ba cơ quan độc lập lần lượt là Nghị viện, Chính phủ

và Tòa án nắm giữ Mô hình phân quyền này không cho phép một cơ quan nào đứng trên hay nắm trọn cả ba quyền mà hoạt động theo cơ chế kiềm chế -đối trọng Khi đưa ra thuyết phân quyền, Montesquieu muốn giải quyết sự xung đột giữa các giai cấp trong xã hội (vua chúa, quý tộc và thường dân) bằng cách san sẻ quyền lực chính trị cho mỗi giai cấp để các giai cấp tự kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau.6 Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết

Ông cho rằng, trong một nước tự do, toàn dân phải có quyền lập pháp Tuy nhiên không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp, do đó dân chúng giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được Cơ quan đại biểu có nhiệm vụ làm ra luật, và xem xét việc thực hiện luật, bởi không ai có thể làm việc này tốt hơn họ Ông sẵn sàng cấp cho thường dân quyền chọn lựa thành phần lãnh đạo quốc gia; tuy nhiên

để tránh việc đại diện của giới trung lưu và hạ lưu ban hành luật lệ có hại đến quyền lợi của giới quý tộc, ông lý luận là thành phần quý tộc trong xã hội phải có đại diện riêng trong giới lãnh đạo quốc gia để kiểm soát các dự luật của đại diện thường dân Song ông cũng hiểu, quý tộc cũng có thể lạm dụng địa vị để lo cho quyền lợi riêng tư, nên ông đề nghị là đại diện quý tộc chỉ có quyền phủ quyết các dự luật của đại diện thường dân gây ảnh hưởng đến quyền lợi quý tộc mà không có khả năng lập pháp như đại diện thường dân.7

5 Montesquieu (1949) Tinh thần pháp luật, Hafner Publishing Company,

quyển XI, chương 4.

6 Dương Thành Lợi Montesquieu và Thuyết phân quyền Lịch sử triết học

chính trị, Nhóm Tinh thần khai minh, tr.249.

7 Dương Thành Lợi Montesquieu và Thuyết phân quyền Lịch sử triết học

chính trị, Nhóm Tinh thần khai minh, tr.241.

Trang 5

Về phần hành pháp, quyền này phải nằm trong tay một người đứng đầu, vì hành pháp luôn luôn cần đến một hành động nhất thời; nó khác với quyền lập pháp, do nhiều người thì hơn là một người ban hành

Khi bàn về tư pháp, ông ưu tư về một chế độ mà người dân không phải sợ hãi trước pháp quan cũng như có khả năng tự bảo vệ bản thân trước tòa án

“Quyền phán xét phải do những người trong đoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy định, lập thành toà án, làm việc kéo dài bao lâu tùy theo sự cần thiết.”8

Như vậy thì xét xử - thứ quyền lực đáng sợ với người đời - không cố định vào một cơ quan hay chức vụ, do đó nó gần như vô hình, nhân dân không luôn nhìn thấy tòa án trước mắt mình, nên họ sợ cơ chế cai trị chứ không phải người cai trị

Montesquieu chú trọng đến mối tương quan giữa các quyền lực Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp thì thực hiện ý chí chung đó Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia Cả hai bộ phận đều bị ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp thì cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp Cả

ba quyền lực do ràng buộc lẫn nhau mà dường như bất động, siêu hình Tuy nhiên, vì tính tất yếu của mọi sự vật là vận động nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà đi tới một cách nhịp nhàng.9

Hành pháp có quyền ngăn cản các dự định của cơ quan lập pháp (chứ không chen vào bàn cãi công việc, mà cũng không phải làm các kiến nghị), và ngược lại, tuy lập pháp không có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp nhưng phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào Mặt khác, cơ quan lập pháp tuy có chức năng xem xét như trên, nhưng vẫn không

có quyền xét xử cá nhân con người trong bộ máy hành pháp bởi cá nhân hành pháp là bất khả xâm phạm

Đánh giá

Khi so sánh với mô hình phân quyền của Locke, ta thấy rằng thật ra không có quá nhiều khác biệt về vai trò của các thành tố Thực chất là do cách sử dụng thuật ngữ, Montesquieu mô tả quyền hành pháp phải liên quan đến các vấn đề quốc tế (tương tự quyền lực liên hiệp của Locke) và quyền tư pháp liên quan đến việc thi hành luật trong nước (quyền hành pháp của Locke) Song Montesquieu đã đi xa hơn Locke trong việc xây dựng tư pháp và quan niệm

về lập pháp Với Montesquieu, quyền lập pháp dù thuộc vào tay vua, quý tộc hay nhân dân thì đều có khả năng trở nên tha hóa Đặc biệt, Montesquieu đã

mô tả chi tiết mối tương quan giữa các quyền lực này, tạo ra một hệ thống mà trong đó các nhánh quyền lực vừa đối trọng vừa bổ trợ cho nhau

8 Montesquieu (1949) Tinh thần pháp luật, Hafner Publishing Company,

quyển XI, chương 6.

9 Montesquieu (1949) Tinh thần pháp luật, Hafner Publishing Company,

quyển XI, chương 6.

Trang 6

Từ những khảo sát thực tế Montesquieu hiểu rằng, pháp luật có tính khuôn mẫu song bản chất con người lại dễ thay đổi, mỗi dân tộc, quốc gia lại chịu sự chi phối của những điều kiện tự nhiên - xã hội khác nhau, do đó pháp luật và nhà nước cần có sự linh hoạt để phù hợp với người dân Tuy có nghĩ tới tình trạng chính phủ bị tê liệt song Montesquieu không đề xuất cơ chế chính trị hay pháp lý hoặc đưa ra hướng giải quyết bởi ông cho rằng các nhánh quyền lực sẽ tự cân bằng và tìm được lối thoát một khi nhu cầu quốc gia bắt buộc phải giải quyết vấn đề bế tắc

Tuy nhiên học thuyết này còn bộc lộ một số hạn chế nhất định Khi bàn về tư pháp, Montesquieu đề ra ba ngoại lệ đối với việc xét xử giới quý tộc mà ngành tư pháp không cần phải hành xử độc lập với chính phủ, do đó vẫn chưa thể hiện tính triệt để Điều này xuất phát từ nhận thức giới hạn của ông về hệ thống chính trị của Anh quốc lúc bấy giờ vốn đã chuyển sang thể chế Nghị viện (quyền lực của Vua hạn chế) Và thực tế hiện nay, nền dân chủ ở một số nước như Anh, Đức, Pháp đã đi ngược lại với lập luận sắc bén của Montesquieu rằng khi lập pháp và hành pháp cùng tập trung vào tay một cơ quan, tự do của nhân dân bị đe dọa

Song nhìn chung, Montesquieu đã có công tổng kết quan điểm phân quyền trong quá khứ và hoàn thiện học thuyết tam quyền phân lập, đưa nó trở thành

lý thuyết chính trị - pháp lý mang tầm vóc thời đại và tạo ảnh hưởng mạnh mẽ lên giới tư bản trong lịch sử đấu tranh chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của chế độ phong kiến

II) ĐẶC TRƯNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Tuy tư tưởng pháp quyền đã manh nha xuất hiện từ thời cổ đại bởi nó gắn liền

với tư tưởng dân chủ, song thực tế trong lịch sử thuật ngữ Nhà nước pháp

quyền chỉ được khởi xướng vào TK XIX ở Đức, nguyên văn là Rechtsstaat Ở

Pháp, État de droit và Rule of Law của Anh cũng được hiểu với nghĩa Nhà

nước pháp quyền, song nội hàm của chúng lại khác nhau do đặc thù kiến trúc thượng tầng, lịch sử của từng quốc gia Do đó, có thể hiểu nhà nước pháp quyền là một phạm trù tư tưởng chứ không phải một hình thái kinh tế - xã hội, tức một kiểu nhà nước cụ thể Thực tiễn xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền tại các nước cho thấy, mỗi một nước đều có cách thức xây dựng,

tổ chức nhà nước pháp quyền theo cách riêng của mình

Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ Nhà nước pháp quyền do cách tiếp cận của các học giả, nhưng tựu chung lại, Nhà nước pháp quyền là một nhà nước được tổ chức với các đặc trưng sau:

Một là, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Dân chủ vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước.10

10 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (2011) Tạp chí Xây Dựng Đảng, Chuyên đề 3, tr.1-2.

Trang 7

Hai là, pháp luật giữ vị trí tối thượng Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp Nhân dân thông qua pháp luật để chế ước, giám sát hoạt động của nhà nước và bảo vệ quyền lợi của mình

Thứ ba, Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội Có thể nói, quyền con người là tiêu chí cốt lõi nhất để đánh giá tính pháp quyền, mọi hoạt động của nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp.11

Thứ tư, quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, tùy thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước

và bên ngoài bộ máy nhà nước.12

Như vậy, có thể thấy việc xây dựng nhà nước pháp quyền, dù trong xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa thì nguyên tắc phân chia, kiểm soát quyền lực đều

là một trong những yếu tố then chốt Do đó, cần sàng lọc tiếp thu những giá trị cốt lõi, tích cực của học thuyết phân quyền để đảm bảo xây dựng một nhà nước pháp quyền đúng nghĩa

PHƯƠNG HƯỚNG VẬN DỤNG: THỰC TIỄN VẬN DỤNG & Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT PHÂN QUYỀN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

I) THỰC TIỄN VẬN DỤNG HỌC THUYẾT PHÂN QUYỀN VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam

về tổ chức quyền lực nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, những giá trị tinh hoa của nhân loại bao gồm

“hạt nhân hợp lý” của học thuyết phân quyền đã được tiếp thu chọn lọc, ghi nhận ở các văn bản chính thức và vận dụng một cách sáng tạo vào bộ máy chính trị

Là một nước tập quyền xã hội chủ nghĩa, Việt Nam tổ chức quyền lực theo nguyên tắc thống nhất, không "phân lập", nhưng có sự "phân công" giữa các

11 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (2011) Tạp chí Xây Dựng Đảng, Chuyên đề 3, tr.2.

12 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (2011) Tạp chí Xây Dựng Đảng, Chuyên đề 3, tr.2.

Trang 8

cơ quan nhà nước Nhà nước ta luôn khẳng định tất cả quyền lực đều bắt nguồn từ nhân dân, chỉ có nhân dân mới là người chủ thật sự của quyền lực nhà nước Điều này được ghi nhận chính thức ở Điều 2 của Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi) như sau: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”

Lần đầu tiên thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” và nguyên tắc “phân công, phối hợp” được trang trọng ghi nhận trong Hiến pháp nước

ta Mặc dù nước ta không thừa nhân trực tiếp “phân quyền” nhưng đây là một

nhận thức mới, một sự thay đổi về chất trong tư duy lý luận “Tất cả quyền

lực nhà nước thuộc về nhân dân” mà các bản Hiến pháp trước đây thừa nhận

và khẳng định thì đến đây mới thực sự có sự nhận thức đầy đủ và nhất quán Bởi, không thừa nhận quyền lập hiến là quyền lực gốc, quyền lực thiết lập nên quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; quyền lập hiến cao hơn quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp thì không thể thừa nhận theo đúng nghĩa “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” và không thể có cơ sở để khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất Bởi sự thống nhất của quyền lực nhà nước là sự thống nhất ở quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể giao quyền, chủ thể ủy quyền thể hiện tập trung ở quyền lập hiến thuộc về nhân dân 13

Đồng thời, Giữa các cơ quan Nhà nước có sự giám sát, theo đó Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội về những hoạt động của mình; Quốc hội chất vấn và ra những nghị quyết về công tác của Chính phủ; Quốc hội có thể tín nhiệm hay không tín nhiệm Chính phủ hoặc cá nhân bộ trưởng gây hạn chế sự lộng quyền, lạm dụng của quyền lực nhà nước Đây chính là

cơ sở hình thành cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước một cách đầy đủ và đúng đắn, từ đó nhân dân có điều kiện dễ dàng để kiểm tra quyền lực của mình

II) Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CỦA HỌC THUYẾT PHÂN QUYỀN ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY

Tuy liên tục điều chỉnh và phát triển để đáp ứng nhu cầu thực tiễn song trong quá trình vận hành bộ máy nhà nước ta không khỏi bộc lộ những hạn chế Vận dụng các “hạt nhân hợp lý” của học thuyết phân quyền, Nhà nước có thể vận dụng vào việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước một số điểm như sau

Một là, cần đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp hóa Để thế chế hóa chủ trương xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn,

13 Trần Ngọc Đường (2019) Không sao chép học thuyết phân quyền một

cách rập khuôn, máy móc, Cổng thông tin điện tử Sở nội vụ tỉnh Bắc

Giang https://snv.bacgiang.gov.vn/ Truy cập ngày 22/12/2020.

Trang 9

hoạt động hiệu quả, việc tăng cường, phát huy dân chủ hơn nữa trong phương thức hoạt động của Quốc hội, xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp cho công tác lập pháp là cần thiết Thực hiện sự phân công rõ ràng hơn

về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ cấu trong tổ chức Quốc hội, tránh sự chồng chéo trong việc tổ chức quyền lực bằng cách hạn chế cơ cấu Đại biểu Quốc hội là thành viên Chính phủ và cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính, tư pháp

Hai là, tăng tính tự chủ trong hoạch định chính sách của Chính phủ, nâng cao vai trò của cơ quan hành pháp trong hoạt động lập pháp Chính phủ là cơ quan hoạt động thường xuyên, do đó có thể nắm bắt tình hình thực tế về nhân dân cũng như các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội sát sao hơn so với Quốc hội Vì vậy, sự tham gia của hành pháp vào hoạt động lập pháp là cần thiết và phù hợp với quy luật vì thực chất hoạt động lập pháp là để phục vụ nhu cầu của hành pháp Tuy nhiên để tăng tính khả thi và chất lượng cho hoạt động này, cần tạo ra một cơ chế thông qua việc tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội để khiến hành pháp phải có động lực lập pháp từ yêu cầu thực tế, qua đó chủ động, tích cực tham gia

KẾT LUẬN CHUNG

Học thuyết phân quyền nói chung và thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu nói riêng qua quá trình hình thành đến hoàn thiện luôn gắn liền với các tư tưởng tiến bộ về quyền con người, trăn trở hướng đến xây dựng một hệ thống chính trị đảm bảo mang lại hạnh phúc cho con người, do đó nó mang trong mình bản chất dân chủ Ra đời vào thế kỷ XVIII, không tránh khỏi những ảnh hưởng của thời đại như chế độ phong kiến từng bước sụp đổ,

sự thỏa hiệp giữa tư bản và phong kiến, thuyết tam quyền phân lập không tránh khỏi những hạn chế do bối cảnh lịch sử, song những ảnh hưởng mạnh

mẽ của nó đến giới tư bản, giá trị nhân văn sâu sắc, ý nghĩa lịch sử đối với quá trình chống chế độ phong kiến độc quyền chuyên chế đã cho thấy tính vượt trội và thực tiễn của học thuyết này

Tại Việt Nam, trong suốt tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từ một nhà nước chuyên chính vô sản, nhận thức của Đảng và Nhà nước đã liên tục đổi mới Những giải pháp rút ra từ giá trị cốt lõi của học thuyết này góp phần không nhỏ giúp hoàn thiện tổ chức, hoạt động, phát huy tối đa vai trò của các cơ quan quyền lực nhà nước và nâng cao vai trò làm chủ của nhân dân đối với đất nước Do đó, học thuyết phân quyền có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,

vì dân (2011) Tạp chí Xây Dựng Đảng, Chuyên đề 3.

2) John Locke Khảo luận thứ hai về chính quyền (2006), Nxb Tri Thức, Hà Nội

Trang 10

3) Montesquieu Tinh thần pháp luật (1949), Hafner Publishing

Company, New York

4) Dương Thành Lợi Montesquieu và Thuyết phân quyền Lịch sử

triết học chính trị, Nhóm Tinh Thần Khai Minh.

5) Cao Huy Thuần Nhà nước pháp quyền Luật, Hiến Pháp, Pháp

quyền, Nhóm Tinh Thần Khai Minh.

6) Trần Ngọc Đường (2019) Không sao chép học thuyết phân quyền

một cách rập khuôn, máy móc, Cổng thông tin điện tử Sở nội vụ

tỉnh Bắc Giang https://snv.bacgiang.gov.vn/ Truy cập 22/12/2020

7) Chu Thị Ngọc (2010) Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền,

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, số 26

8) Trung Hiếu, Hồng Loan, Lan Hương (2020) Góc nhìn đại biểu:

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan lập pháp Cổng thông

tin điện tử Quốc hội https://quochoi.vn/hoatdongdbqh/Pages/tin-hoat-dong-dai-bieu.aspx?ItemID=49526 Truy cập 22/12/2020

9) Đặng Hồng Chiến (2008) Vận dụng thuyết phân quyền trong tổ

chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam.

https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/6435/1/V_L0_01 751.pdf Truy cập 23/12/2020

10) Phạm Thế Lực (2008) Ý nghĩa của lý thuyết phân quyền trong quá

trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/08/18/1534/ Truy cập 23/12/2020

Ngày đăng: 13/11/2021, 09:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3) Montesquieu. Tinh thần pháp luật (1949), Hafner Publishing Company, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: Montesquieu. Tinh thần pháp luật
Năm: 1949
4) Dương Thành Lợi. Montesquieu và Thuyết phân quyền. Lịch sử triết học chính trị, Nhóm Tinh Thần Khai Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Montesquieu và Thuyết phân quyền. Lịch sửtriết học chính trị
5) Cao Huy Thuần. Nhà nước pháp quyền. Luật, Hiến Pháp, Pháp quyền, Nhóm Tinh Thần Khai Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền. Luật, Hiến Pháp, Phápquyền
6) Trần Ngọc Đường (2019). Không sao chép học thuyết phân quyền một cách rập khuôn, máy móc, Cổng thông tin điện tử Sở nội vụ tỉnh Bắc Giang https://snv.bacgiang.gov.vn/. Truy cập 22/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không sao chép học thuyết phân quyềnmột cách rập khuôn, máy móc
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2019
7) Chu Thị Ngọc (2010). Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, số 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Chu Thị Ngọc
Năm: 2010
8) Trung Hiếu, Hồng Loan, Lan Hương (2020). Góc nhìn đại biểu:Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan lập pháp. Cổng thông tin điện tử Quốc hội https://quochoi.vn/hoatdongdbqh/Pages/tin-hoat-dong-dai-bieu.aspx?ItemID=49526. Truy cập 22/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góc nhìn đại biểu:"Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan lập pháp
Tác giả: Trung Hiếu, Hồng Loan, Lan Hương
Năm: 2020

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w