Trên cơ sở nhìn nhận văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo và tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người, những giá trị này thể
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TUYÊN TRUYỀN
VĂN HÓA GIA ĐÌNH
(Giáo trình nội bộ)
Chủ nhiệm đề tài: TS Bùi Thị Nhƣ Ngọc Thƣ ký đề tài: ThS Phạm Quế Hằng
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I NHẬP MÔN VĂN HÓA GIA ĐÌNH 7
1.1 Khái niệm 7
1.2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 8
1.3 Phương pháp và mục đích nghiên cứu 9
1.4 Các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển văn hóa gia đình 10 1.5 Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển của con người và xã hội 21
CHƯƠNG II VĂN HÓA GIA ĐÌNH – QUY MÔ, CẤU TRÚC, LOẠI HÌNH VÀ CHỨC NĂNG 24
2.1 Quy mô văn hóa gia đình 24
2.2 Cấu trúc văn hóa gia đình 26
2.3 Loại hình văn hóa gia đình 28
2.4 Chức năng văn hóa gia đình 31
2.4.1 Chức năng tái sản xuất người 31
2.4.2 Chức năng kinh tế 35
2.4.3 Chức năng giáo dục 38
2.4.4 Chức năng văn hóa tâm linh 40
2.4.5 Chức năng tâm lý – tình cảm 43
CHƯƠNG III ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT TRUYỀN THỐNG: VĂN HÓA SINH HOẠT VẬT CHẤT 46
3.1 Văn hóa ẩm thực 46
3.2 Văn hóa trang phục 53
3.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở 58
CHƯƠNG IV ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH NGƯỜI
Trang 3VIỆT TRUYỀN THỐNG: VĂN HÓA SINH HOẠT TINH THẦN 66
4.1 Gia phả, gia phong 66
4.2 Tín ngưỡng, phong tục 72
4.3 Ảnh hưởng của một số hệ tư tưởng, tôn giáo đến văn hóa gia đình người Việt truyền thống 82
4.4 Sự gắn bó gia đình – dòng họ 97
4.5 Tính cộng đồng trong văn hóa gia đình người Việt truyền thống 100
CHƯƠNG V XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 103
5.1 Sự cần thiết phải xây dựng văn hóa gia đình 103
5.2 Các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng, phát triển văn hóa gia đình trong giai đoạn hiện nay 106
5.3 Thực trạng văn hóa gia đình hiện nay 117
5.4 Xu hướng phát triển của văn hóa gia đình hiện đại 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Trang 5Trang bị cho sinh viên cái nhìn tổng quan về văn hóa gia đình, đặc biệt
là văn hóa gia đình Việt Nam với tư cách là một môn học chuyên ngành, đồng thời là một thành tố góp phần cấu thành văn hóa Việt Nam Cùng với việc tìm hiểu, học tập các môn học khác, môn Văn hóa gia đình giúp sinh viên có phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt được những biểu hiện, giá trị và bản sắc của văn hóa gia đình nói chung, văn hóa gia đình Việt Nam nói riêng một cách đúng đắn, toàn diện
6 Yêu cầu:
- Về tri thức
Môn học nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về gia đình, văn hóa gia đình, đặc biệt là văn hóa gia đình Việt Nam Trên cơ sở đó, soi chiếu vào đặc điểm văn hóa gia đình người Việt truyền thống, liên hệ, tìm hiểu, phân tích… thực trạng và xu hướng phát triển của văn hóa gia đình hiện nay
- Về kỹ năng
+ Kỹ năng cứng: Sinh viên nhớ và hiểu các nội dung được học, có khả năng
vận dụng, phân tích… phục vụ quá trình học tập, phát triển tri thức của mình
+ Kỹ năng mềm: Sinh viên có thể vận dụng các nội dung được học vào thực tiễn cuộc sống, nhằm góp phần gìn giữ, phát triển văn hóa gia đình Việt
Nam hiệu quả
- Về thái độ
Trang 6Sinh viên có thái độ học tập nghiêm túc, trân trọng và biết phát huy các giá trị của văn hóa gia đình trong thực tiễn
7 Phân bổ thời gian:
Học phần gồm : 38 tiết – 02 tín chỉ
- Phần lý thuyết: 23 tiết
- Phần thực hành, thảo luận và làm bài tập: 14 tiết
- Kiểm tra: 01 tiết
8 Giảng viên tham gia giảng dạy môn học
T
T
Họ và tên Cơ quan công tác Chuyên ngành
1 TS Bùi Thị Như Ngọc Khoa Tuyên truyền,
9 Điều kiện tiên quyết: Đã học môn Cơ sở văn hóa Việt Nam
10 Nội dung môn học
- Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian:
Gồm 5 chương, tổng số 38 tiết (23 tiết lý thuyết, 15 tiết thực hành)
- Nội dung chi tiết
số tiết
Trong đó
Lý thuyết
Thảo luận, bài tập, thực hành
Tiểu luận, kiểm tra
1 Chương I Nhập môn Văn hóa gia đình
1.1 Khái niệm
Trang 71.2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3 Phương pháp và mục đích nghiên cứu
1.4 Các yếu tố tác động đến sự hình thành
và phát triển văn hóa gia đình
1.5 Vai trò của văn hóa gia đình đối với
sự phát triển của con người và xã hội
2 Chương II Văn hóa gia đình – quy mô,
cấu trúc, loại hình và chức năng
2.1 Quy mô văn hóa gia đình
2.2 Cấu trúc văn hóa gia đình
2.3 Loại hình văn hóa gia đình
2.4 Chức năng văn hóa gia đình
2.4.1 Chức năng tái sản xuất người
3 Chương III Đặc trưng văn hóa gia đình
người Việt truyền thống: Văn hóa sinh
hoạt vật chất
3.1 Văn hóa ẩm thực
3.2 Văn hóa trang phục
3.3 Văn hóa kiến trúc nhà ở
Trang 84 Chương IV Đặc trưng văn hóa gia đình
người Việt truyền thống: Văn hóa sinh
hoạt tinh thần
4.1 Gia phả, gia phong
4.2 Tín ngưỡng, phong tục
4.3 Ảnh hưởng của một số hệ tư tưởng,
tôn giáo đến văn hóa gia đình người Việt
truyền thống
4.4 Sự gắn bó gia đình – dòng họ
4.5 Tính cộng đồng trong văn hóa gia
đình người Việt truyền thống
5 Chương VI Xây dựng, phát triển văn
hóa gia đình trong giai đoạn hiện nay
5.1 Sự cần thiết phải xây dựng văn hóa
gia đình
5.2 Các yếu tố tác động đến quá trình xây
dựng, phát triển văn hóa gia đình trong
giai đoạn hiện nay
5.3 Thực trạng văn hóa gia đình hiện nay
5.4 Xu hướng phát triển của văn hóa gia
đình hiện đại
11 Phương pháp giảng dạy và học tập:
- Phương pháp giảng dạy: Giảng dạy, thuyết trình, hỏi đáp, kết hợp
trình chiếu slide…
- Phương pháp học tập:Nghe giảng, phát biểu ý kiến, trả lời câu hỏi,
thảo luận, thuyết trình, làm bài kiểm tra, đọc tài liệu liên quan…
Trang 913 Phương tiện vật chất đảm bảo:
Bảng, phấn, giẻ lau, máy chiếu, micro, bàn, ghế, bút, giấy,…
14 Tài liệu tham khảo:
- Tài liệu bắt buộc
1 Tập đề cương bài giảngVăn hóa gia đình, Khoa Tuyên truyền – Học viện Báo chí và Tuyên truyền (lưu hành nội bộ)
2.Vũ Ngọc Khánh (2007), Văn hóa gia đình Việt Nam, Nxb Thanh niên
- Tài liệu tham khảo
1 Đào Duy Anh (2005), Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội
2 Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội
3 Toan Ánh (2010), Nếp cũ (Trong họ ngoài làng), tái bản, Nxb Trẻ, Tp
Hồ Chí Minh
4 Mai Huy Bích (2011), Xã hội học gia đình, Nxb Khoa học xã hội
5 Phan Kế Bính (1995), Việt Nam phong tục, tái bản, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 106 Leopold Cadière (1997), Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống
người Việt, tái bản, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
7 Lê Quý Đức, Vũ Thy Huệ (2003), Người phụ nữ trong văn hóa gia
đình đô thị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
8 Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý(2009), Gia đình học, Nxb Chính trị -
Hành chính, Hà Nội
9 Nguyễn Xuân Kính (2013), Con người, môi trường và văn hóa, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội
10 Vũ Khiêu (2005), Nho giáo và gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
11 Đặng Phương Kiệt (chủ biên) (năm), Gia đình Việt Nam: Những giá
trị truyền thống và các vấn đề tâm – bệnh lý xã hội, Nxb Lao động
12 Vũ Hào Quang (chủ biên) (2006), Gia đình Việt Nam – Quan hệ
quyền lực và xu hướng biến đổi, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG I NHẬP MÔN VĂN HÓA GIA ĐÌNH
1.1 Khái niệm
1.1.1 Gia đình và Văn hóa gia đình
Theo chiết tự tiếng Hán, “gia” gồm bộ miên, mang ý nghĩa mái lợp trùm nhà ngoài nối nhà trong, dưới có chữ thỉ, nghĩa là lợn Chữ gia mang
nghĩa nhà ở chắc chắn phải xuất hiện từ thời con người đã biết chăn nuôi
“Đình” gồm bộ nghiễn, tức mái nhà (cũng đọc là yêm), dưới là đình với ý
nghĩa là nơi phát lệnh cho cả nước theo (như triều đình) Gia đình có thể hiểu
là một đơn vị kinh tế nhỏ, chung sống dưới mái nhà trong cộng đồng xã hội
Từ điển tiếng Việt định nghĩa, gia đình là tập hợp người cùng sống chung
thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái Dưới góc độ tâm lý học, Ngô Công Hoàn cho rằng, gia đình là một nhóm nhỏ xã hội có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định Dưới góc nhìn xã hội học, Lê Như Hoa nhận thấy “một số nhà xã hội học quan niệm gia đình là một nhóm người” [44, tr 24] Tác giả cũng trích dẫn quan điểm của các nhà xã hội học phương Tây E W Burgess và H J Cooker: Gia đình là một nhóm người được thống nhất với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi; tạo thành một hộ duy nhất, tác động qua lại
và giao tiếp với nhau theo vai trò xã hội riêng của từng người trong số họ: là chồng vợ, là mẹ cha, anh trai và em gái, tạo thành một nền văn hóa chung Còn theo Kingley Davis, gia đình là “một nhóm người mà quan hệ của họ với nhau dựa trên cơ sở dòng dõi, và do đó họ là họ hàng thân thích của nhau” [44, tr 24] Lê Thi cho rằng, khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông
Trang 12bà); gia đình cũng có thể bao gồm một số người được nuôi dưỡng tuy không
có quan hệ huyết thống nhưng các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm, giữa họ thường có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi
rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình của nước ta) Đồng thời, trong gia đình
có những quy định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán quan hệ tình dục giữa các thành viên [85] Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý quan niệm, gia đình là “một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái” [57, tr.54],
“sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình với nhau thường chặt chẽ hơn nhiều so với các nhóm xã hội khác” [57, tr 55-56] Tựu trung, có thể hiểu, gia đình là một tập hợp người được hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan
hệ huyết thống và quan hệ pháp lý, có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần
Tựu trung, gia đình chỉ một cộng đồng người được hình thành và phát
triển trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, pháp lý và có quan hệ mật thiết với nhau trong sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần
Trên cơ sở nhìn nhận văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo và tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người, những giá trị này thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng
của mỗi dân tộc, có thể hiểuvăn hóa gia đình là một dạng đặc thù của văn
hóa cộng đồng, gồm tổng thể các hoạt động sống của gia đình Các hoạt động này bị chi phối bởi những giá trị, chuẩn mực xã hội và được thành viên trong gia đình chấp nhận, chia sẻ và thực hiện
1.2 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1.Đối tượng nghiên cứu: Những biểu hiện của văn hóa gia đình; các
mối quan hệ; quá trình vận động, phát triển; hệ giá trị của văn hóa gia đình
Trang 131.2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu:Văn hóa gia đình, các biểu hiện của nó mà
trọng tâm là hệ giá trị văn hóa gia đình; sự biến đổi của văn hóa gia đình qua các thời kỳ lịch sử; quy luật vận động, biến đổi của văn hóa gia đình; văn hóa gia đình trong đời sống hiện đại
1.3 Phương pháp và mục đích nghiên cứu
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận mác-xít
- Phương pháp lịch sử (phương pháp lịch đại và đồng đại)
- Phương pháp logic
- Phương pháp phân kỳ
- Phương pháp đa ngành (liên ngành)…
Ngoài ra, việc vận dụng tổng hợp các phương pháp cũng được sử dụng nhằm tạo cái nhìn phong phú, đa dạng về các vấn đề nghiên cứu trong môn học Văn hóa gia đình
1.3.2 Mục đích nghiên cứu
Môn học trang bị những kiến thức cơ bản về:
- Gia đình, văn hóa gia đình
- Các loại hình gia đình cơ bản, gắn với lịch sử và các giai đoạn phát triển của gia đình
- Cấu trúc và chức năng của văn hóa gia đình
- Đặc trưng văn hóa sinh hoạt vật chất và văn hóa sinh hoạt tinh thần của gia đình người Việt truyền thống
- Xây dựng, phát triển văn hóa gia đình trong giai đoạn hiện nay… Trên cơ sở đó, môn họcđưa ra những liên hệ, so sánh với các vấn đề vềvăn hóa gia đình hiện nay, dự báo xu hướng phát triển của văn hóa gia đìnhViệt Nam trong tương lai Đồng thời, góp phần bổ sung cái nhìn tổng
Trang 14quát về văn hóa gia đình Việt Nam trải qua các thời kỳ lịch sử - văn hóa, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay
1.4 Các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển văn hóa
gia đình
1.4.1 Điều kiện môi trường tự nhiên
Môi trường (Umwelt trong tiếng Đức) chỉ một thực tế khách quan tồn tại bên ngoài, bao quanh con người và nhờ vào đó mà con người tồn tại và phát triển được Các hình thái văn hóa đầu tiên của loài người liên quan đến nhu cầu căn bản nhất của con người là nhu cầu sinh tồn Để sinh tồn, con người phải ăn, ở và mặc Đó cũng là những quan hệ đầu tiên của con người với môi trường, và dấu ấn của mối quan hệ ấy trong buổi sơ khai của loài người có thể được nhận thấy trong văn hóa ăn, văn hóa ở và văn hóa mặc của con người trong xã hội ngày nay, như việc người Mông Cổ với nền văn hóa
du mục truyền thống ăn thịt nhiều hơn người Việt Nam; hay nhà ở của người Eskimo chắc chắn khác với nhà ở của người Ai Cập hay người Việt Nam; hoặc trang phục của cư dân vùng sa mạc thường là màu trắng và trùm kín người, khác với trang phục rộng rãi, thoáng mát với những chất liệu mỏng, nhẹ phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới của Việt Nam… Những đặc trưng văn hóa, sự đa dạng và khác biệt về văn hóa nói trên khó có thể tìm thấy cách
lý giải nào tốt hơn ngoài cách lý giải về sự tác động trực tiếp của môi trường
tự nhiên, đòi hỏi con người phải thích nghi với những kiểu môi trường ấy để tồn tại và phát triển
Sự hình thành và phát triển văn hóa nói chung, văn hóa gia đình nói riêng tất yếu chịu tác động bởi yếu tố môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên là một phần ngoại cảnh bao gồm những thực thể - hiện tượng tự nhiên mà con người cùng các loài động vật, thực vật có quan hệ trực tiếp: thích nghi với chúng và biến đổi chúng Bất cứ thành tựu sáng tạo nào của con người (văn hóa) cũng gắn
bó, quan hệ mật thiết với môi trường tự nhiên, trong một không gian, thời gian
Trang 15nhất định Các nhà nghiên cứu văn hóa nhận định, nhìn chung, con người có hai kiểu ứng xử chủ yếu với tự nhiên: Một là, chinh phục tự nhiên (thiên về cách ứng xử của người phương Đông); hai là, chung sống với tự nhiên, hòa đồng, tôn trọng tự nhiên (thiên về cách ứng xử của người phương Tây)
Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới, nằm ở vị trí địa lý là trung tâm điểm của các trục đường giao lưu quốc tế, lại có hệ sinh thái phồn tạp, cộng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt khắp Bắc, Trung, Nam và địa hình đa dạng: miền núi, đồng bằng, trung du, biển cả… Điều kiện môi trường
tự nhiên như vậy đã tác động, ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống và việc hình thành, tồn tại, phát triển văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa gia đình người Việt nói riêng, tạo nên ảnh hưởng và dấu ấn của nền văn hóa Việt Nam mà nổi trội và điển hình là văn hóa nông nghiệp lúa nước với những nét riêng biệt; mỗi vùng văn hóa có những nét khác biệt khác nhau, từ đó góp phần tạo nên sắc thái văn hóa gia đình mỗi vùng, miền với những đặc trưng riêng
Từ bao đời nay, đặc trưng lối sản xuất nông nghiệp lúa nước đòi hỏi người Việt phải giúp đỡ, tương trợ nhau thì mới có thể gặt hái kịp thời vụ Trong cuộc sống, người Việt cũng phải đối mặt với thiên tai, lũ lụt, hạn hán…
và giặc ngoại xâm Do đó, nhìn ở góc độ vi mô, các thành viên trong gia đình người Việt, và nhìn ở góc độ vĩ mô, cộng đồng người Việt đều phải đoàn kết, tập hợp nhau lại thành một khối thống nhất để cùng nhau gặt hái lúa nước, chung sức đối phó với điều kiện thời tiết, thiên nhiên khắc nghiệt, và chống giặc ngoại xâm Ở khía cạnh này, có thể thấy ảnh hưởng của môi trường tự nhiên tác động đến sự đoàn kết, tinh thần cộng đồng, cộng cảm và cộng sinh, cộng mệnh của các thành viên gia đình người Việt một cách rõ nét
Điều kiện môi trường tự nhiên tác động đến văn hóa sinh hoạt vật chất
và văn hóa sinh hoạt tinh thần của gia đình Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh:
Trong văn hóa sinh hoạt vật chất:
Trang 16- Văn hóa ẩm thực: Do điều kiện môi trường tự nhiên thích hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp lúa nước, nên các gia đình người Việt thường hay ăn cơm – sản phẩm từ cây lúa nước Điều kiện khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều thích hợp cho cây cối phát triển, nên các thức ăn uống cũng thường có nguồn gốc là sản phẩm từ môi trường tự nhiên Ví dụ: các loại rau có tính mát, giải nhiệt, như rau muống, rau đay, mùng tơi,…; các loại canh thường được nấu chua để dễ ăn trong bối cảnh thời tiết nóng, như nước canh rau muống luộc dầm sấu hoặc me (lá me hoặc quả me), canh cá nấu với quả dọc,…
- Văn hóa trang phục: Các thành viên gia đình người Việt thường mặc trang phục có kiểu dáng rộng rãi, thoáng mát Nguồn gốc trang phục thường được làm từ các loại cây trồng như: đay, lanh, tơ chuối, tơ tằm, đũi… Màu sắc trang phục thường là màu sẫm, tối, thích hợp với lối sống sản xuất nông nghiệp lúa nước…
- Văn hóa kiến trúc nhà ở:Nhà ở của các gia đình người Việt thường được dựng từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên, như tre, gỗ mít, gỗ xoan,…; nhà có điều kiện kinh tế thường làm nhà từ các loại gỗ quý như đinh, lim, sến, táu… Nhà thường có cửa chính và nhiều cửa sổ để thoáng mát, phù hợp với khí hậu nhiệt đới
- Văn hóa giao thông, đi lại: Do địa hình và điều kiện tự nhiên phù hợp với sản xuất nông nghiệp lúa nước, kết hợp với một số yếu tố khác như nhu cầu cộng cư để cùng nhau sản xuất nông nghiệp, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, lúc thiên tai hay giặc giã… nên các gia đình người Việt thường có xu hướng ở quay quần, quần tụ trên một địa bàn sinh sống nhất định Văn hóa giao thông, đi lại của người Việt cũng vì thế mà chậm (hoặc kém) phát triển hơn so với văn hóa giao thông, đi lại của người phương Tây, chỉ chủ yếu đi lại, di chuyển trong khoảng cách gần Nếu khoảng cách đi lại xa, người Việt
Trang 17thường tận dụng điều kiện tự nhiên có nhiều sông ngòi, kênh rạch… để di chuyển bằng các phương tiện thuyền, bè, ghe, mảng…
Trong văn hóa sinh hoạt tinh thần:
- Về tín ngưỡng:Do cuộc sống sản xuất nông nghiệp lúa nước chịu nhiều tác động của điều kiện thời tiết, khí hậu, công với nhận thức ít nhiều còn hạn chế, nêncác gia đình người Việt xưathường sùng bái các hiện tượng
tự nhiên (như mây, mưa, sấm, chớp), các con vật sinh sống trong tự nhiên (gồm những con vật mạnh mẽ như hổ, voi, ngựa, rắn, cá voi… hoặc các con vật hiền như cóc, chó, cá, hạc… là những con vật gần gũi với cuộc sống của người dân của xã hội nông nghiệp.Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng Theo truyền thuyết,tổ tiên người Việt thuộc
"họ Hồng Bàng" (nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống "Rồng Tiên" Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp, thể hiện sự chi phối của điều kiện tự nhiên với lối sống nông nghiệp rõ nét: là sự tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trời mà không cần cánh;
có thể vừa phun nước vừa phun lửa…
- Phong tục cưới hỏi: Một trong những lý do khiến người Việt theo truyền thống thường tổ chức cưới hỏi vào mùa xuân hoặc mùa thu, mùa đông(người Việt thường gọi là “mùa cưới”) mà không phải mùa hè bởimùa hè
là mùa của mưa gió, bão bùng, nắng nôi Nếu hôn sự tổ chức vào mùa này thì thời tiết, khí hậu rất bất thuận, khiến gia đình có hôn sự không yên tâm Đây cũng là mùa có tháng 7, gắn với mưa ngâu và sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ, hay còn gọi là ông ngâu – bà ngâu Hai người yêu nhau nhưng không đến được với nhau, mỗi người phải ở hai đầu sông Ngân hà và một năm chỉ được gặp nhau một lần Việc này thể hiện cho sự chia lia, xa cách, không trọn vẹn, nên người Việt thường kiêng tổ chức đám cưới vào mùa hạ Việc chọn các loại đồ lễ, đồ ăn, thức uống cho đám cưới cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi điều kiện môi trường tự nhiên, với sự xuất hiện củahai vật phẩm không thể thiếu
Trang 18trong đám cưới là trầu và cau vì thể hiện sự gắn kết của uyên ương Các đồ lễ khác cũng là sản phẩm mang đậm màu sắc văn hóa nông nghiệp lúa nước Ví
dụ, trong lễ vật nạp tài mà nhà trai mang sang nhà gái, ngoài trầu cau, còn có mâm ngũ quả, bánh (tùy theo đặc trưng của từng vùng, miền mà có các loại bánh khác nhau với nguyên liệu mang tính đặc trưng của mỗi vùng, miền đó), trà, rượu, gà và xôi đều là các sản vậtmang dấu ấn chi phối của điều kiện tự nhiên và thời tiết xứ sở nhiệt đới
- Phong tục tang ma: Ảnh hưởng của điều kiện môi trường tự nhiên được thể hiện rõ trong nhiều bước của quá trình tang ma trong gia đình người Việt Trong lễ phạm hàm, cùng với ba đồng tiền kẽm mài cho sạch, họ hàng hoặc con cháu lấy một nắm gạo nếp (là sản phẩm của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước xuất phát từ điều kiện khí hậu và môi trường tự nhiên nóng
ẩm, mưa nhiều, địa hình thích hợp với trồng lúa nước)bỏ vào miệng người chết Nguyên liệu làm đồ tang phục cũng được lấy từ cây cối trong môi trường tư nhiên xung quanh: Con trai, con gái, con dâu đều đội mũ kết bằng sợi chuối, trong mặc áo quần bằng vải thô xấu, bên ngoài mặc áo xô, ngoài cũng quàng sợi dây chuối, thắt lưng bằng chạc hay cũng bện bằng sợi chuối,
đi giầy kết bằng cỏ gai hoặc rơm rạ Gậy chống để chịu tang cha, mẹ cũng được lấy từ các loại cây đặc trưng của xứ sở nhiệt đới, phổ biến khắp các làng quê, là trúc (tre), vông Gậy tang cha thì bằngtrúc (hoặc tre), gậy tang mẹ thì bằng vông Có tục lệ này vì người xưa cho rằng, trúc (tre) hình tròn tượng trương cho Trời, trúc (tre) bốn mùa không đổi tiết cũng như tấm lòng con thương cha vì thế mà không thay đổi; gậy tang mẹ bằng vông, nửa trên tượng trưng cho Trời, nữa dưới vuông tượng trưng cho Đất Trong lễ cúng cơm hằng ngày, hằng tuần, đồ cúng thường bao giờ cũng có bát cơm với quả trứng luộc
- Phong tục lễ Tết: Người Việt do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã
"phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau, ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thừa" Trong đó, tiết quan trọng nhất là tiết
Trang 19khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán, sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán Cây nêu được dựng trong dịp Tết được làm từ cây tre – loại cây đặc trưng của xứ sở nhiệt đới Các đồ ăn, thức uống truyền thống điển hình trong dịp Tết có bánh chưng – sản phẩm đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, thể hiện sự biết ơn trời đất đã cho mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu đem lại cuộc sống ấm no cho con người Hoa đào (ở miền Bắc) và hoa mai (ở miền Nam), hay mâm ngũ quả thể hiện ngũ hành tương sinh tương khắc, gồm các loại hoa quả đều là đặc trưng của điều kiện tự nhiên có khí hậu nhiệt đới và thích hợp theo mùa
1.4.2 Điều kiện môi trường xã hội
Dựa trên các nguyên lý cơ bản tập hợp con người thành xã hội, như nguyên lý cùng cội nguồn, huyết thống; nguyên lý cùng chỗ; nguyên lý cùng lợi ích, có thể thấy, cơ cấu tổ chức xã hội Việt Nam cổ truyền nhìn ở khía cạnh tổng quát gồm: Cá nhân – Gia đình – Dòng họ – Làng – Vùng, miền – Nước, đô thị Cơ cấu thu gọn gồm: Gia đình – Làng – Nước Đây là các yếu
tố cấu thành môi trường xã hội để văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa gia đình Việt Nam nói riêng tồn tại và phát triển, với sự chi phối và ảnh hưởng, tác động bao trùm, nổi trội từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước
Môi trường xã hội là nơi để con người cần và phải có hoạt động giao tiếp tích cực với nó để tồn tại và phát triển Cuộc sống của con người là cả một quá trình nhập thân văn hóa trước hết trong gia đình và từ gia đình, và
mở rộng ra trong môi trường xã hội ở cấp độ rộng hơn, được chia thành các giai đoạn: Giai đoạn thai giáo; giai đoạn sinh ra và hình thành nhân cách trong gia đình; hình thành nhân cách trong môi trường xã hội rộng lớn hơn (cộng đồng làng, nước,…) Gắn với đó, là quá trình xã hội hóa cá nhân và nhập thân văn hóa được diễn ra trong suốt cuộc đời con người Ở đó, xã hội hóa cá nhân
là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội Bằng nỗ lực của mỗi cá nhân và
sự dẫn dắt của xã hội, mỗi cá nhân sẽ trở thành một chủ thể mang giá trị xã
Trang 20hội, hòa nhập được vào đời sống cộng đồng và tích cực tham gia sáng tạo những giá trị văn hóa mới Và cũng có thể thấy, cuộc sống của con người là
cả một quá trình nhập thân văn hóa, được chia thành các giai đoạn: giai đoạn thai giáo; giai đoạn sinh ra và hình thành nhân cách trong gia đình; hình thành nhân cách trong môi trường xã hội rộng lớn hơn (cộng đồng làng, nước,…)
Trong xã hội cổ truyền, môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc định hình, phát triển hành vi người mà còn định hình, phát triển văn hóa gia đình thông qua nhận thức và hành động, sự tương tác
và ảnh hưởng lẫn nhau của các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng làng, nước Ngày nay, môi trường này được nhìn nhận mở rộng hơn, có thể vươn ra phạm vi khu vực và thế giới dưới ảnh hưởng của quá trình hội nhập
và toàn cầu hóa Sống trong môi trường xã hội, các thành viên gia đình tiến hành hoặc chịu tác động cả trực tiếp và gián tiếp từ các hoạt động giao lưu, tiếp thu văn hóa – xã hội để định hình, phát triển hành vi xã hội Sống trong môi trường xã hội nhất định, con người không chỉ tiến hành giao tiếp, trao đổi thông tin, thông báo hoạt động của nhau mà còn có giao lưu nhân cách Từ
đó, mỗi cá nhân chịu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, nhận thức giá trị, hành vi văn hóa của bản thân, của gia đình và đồng thời tự đối chiếu, so sánh với các thành viên khác trong cộng đồng, với chuẩn mực xã hội để tự điều chỉnh và hoàn thiện hành vi văn hóa, góp phần xây dựng, thúc đẩy sự phát triển của văn hóa gia đình
Môi trường xã hội tác độngđến sự hình thành và phát triển văn hóa gia đình thông qua các thành viên gia đình và thành viên trong cộng đồng theo hai con đường:
- Con đường tự phát: Môi trường xã hội ảnh hưởng một cách tự nhiên đến con người (do con người được sinh ra và lớn lên trong một môi trường xã hội nhất định nên tất yếu chịu tác động từ môi trường xã hội xung quanh) cả ở mặt tích cực và tiêu cực tới nhận thức và hành vi văn hóa
Trang 21của các thành viên trong gia đình: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”…
- Con đường tự giác: Môi trường xã hội tác động có chủ đích, có tổ chức đến nhận thức và hành vi văn hóa của các thành viên gia đình, ảnh hưởng có định hướng tới việc hình thành và phát triển văn hóa gia đình thông qua các thànhviên trong gia đình
Các thành viên gia đình người Việt sống trong bối cảnh văn hóa làng
xã và đời sống chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp lúa nước trước đây đều có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường xã hội, chịu sự chi phối, tác động, ảnh hưởng của môi trường xã hội Họ tiếp nhận thông tin, phong tục, tập quán, thói quen văn hóa… từ môi trường xã hội, hình thành
tư duy và hành động văn hóa chính từ môi trường xã hội và xử lý thông tin qua quá trình hoạt động thực tiễn trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày của bản thân và của gia đình.Dưới tác động, ảnh hưởng của môi trường xã hội, văn hóa gia đình người Việt vốn mang những yếu tố đặc trưng nổi trội chịu
sự chi phối bởi lối sản xuất, sinh hoạt nông nghiệp trồng lúa nước, lại chịu nhiều thiên tai, ách xâm lược của giặc ngoại xâm… nên gia đình người Việt một mặt có tinh thần cộng đồng, cộng cảm, cộng mệnh rất cao, biết chia sẻ ngọt bùi, đồng cam cộng khổ; một mặt, lòng yêu nước (cũng chính là yêu quê hương xứ sở, yêu đồng ruộng, nhà cửa, đất đai, yêu đồng loại, những người thân thiết ruột thịt…), tinh thần đoàn kết… trở thành những giá trị đầu bảng trong hệ giá trị văn hóa của người Việt nói chung, văn hóa gia đình người Việt nói riêng Đi sâu vào từng gia đình, gắn với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, vị trí xã hội, các mối quan hệ xã hội và nhận thức, hành động của các thành viên gia đình, môi trường xã hội góp phần tác động đến việc hình thành các sắc thái văn hóa gia đình riêng biệt ở cả mặt tích cực và những mặt trái, với những gia quy, gia pháp, gia lễ… đa dạng và phong phú; với sự gắn bó mật thiết giữa các thành viên gia đình và dòng tộc “Một giọt máu đào
Trang 22hơn ao nước lã”, “Anh em như thể tay chân”, “Con chú con bác chẳng khác
gì nhau”, “Sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì”…
Nhìn rộng ra, các yếu tố này dần góp phần tạo nên những sắc thái văn hóa cộng đồng (điển hình là văn hóa làng, vùng, miền) riêng, khiến
“phép vua thua lệ làng”, khiến các thành viên trong gia đình và cộng đồng
đó hình thành tâm lý lối sống “Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, “Nước trôi, thuyền trôi/ Nước nổi, thuyền nổi”, hay hình thành tâm lý nhận thức coi trọng giá trị gia đình, cộng đồng hơn giá trị cá nhân Đồng thời, hình thành tâm lý ứng xử “Bé bằng củ khoai, cứ vai mà gọi”, hình thành tâm thức văn hóa “Toét mắt là tại hướng đình/ Cả làng toét mắt riêng mình em đâu” v.v
1.4.3 Con người
Ở góc độ tổng quát, con người Việt Nam là chủ thể và khách thể của văn hóa Việt Nam Nhìn ở góc độ văn hóa gia đình, con người Việt Nam vừa
là chủ thể, đồng thời là khách thể của văn hóa gia đình
Dù trong xã hội truyền thống, các giá trị gia đình, cộng đồng được đặt lên trên giá trị cá nhân, nhưng tựu trung, nhìn ở khía cạnh tổng thể, mỗi con người đều đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành, phát triển văn hóa gia đình Bởi lẽ, văn hóa gia đình được hình thành, tồn tại và phát triển chính nhờ sự tồn tại và đóng góp, thể hiện vai trò của mỗi cá nhân sinh sống, tồn tại trong gia đình ấy Sự tác động, ảnh hưởng và chi phối đến văn hóa gia đình của yếu tố con người ở đây, nhìn ở góc độ hẹp, là mỗi con người cá nhân; nhìn ở góc độ rộng, là những con người tồn tại trong các gia đình trong bối cảnh và môi trường xã hội nhất định
Nhìn ở góc độ hẹp, mỗi con người cá nhân tác động đến sự hình thành
và phát triển văn hóa gia đình ở các khía cạnh sau:
- Sáng tạo ra các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thần
- Tiếp nhận các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thần
Trang 23- Góp phần gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thần
- Tiếp thu và cải biến các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất
và tinh thần thông qua lăng kính nhận thức, tư duy và các hành vi, hành động của mình
- Con người cá nhân này tác động đến con người cá nhân khác để chi phối, tác động đến hành vi văn hóa của mỗi người trong quá trình hình thành, phát triển văn hóa gia đình…
Nhìn ở góc độ rộng, những con người tồn tại trong các gia đình trong bối cảnh và môi trường xã hội nhất định tác động đến sự hình thành và phát triển văn hóa gia đình ở các khía cạnh sau:
- Sáng tạo ra các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thần trên cơ sở có sự giao tiếp, tiếp xúc lẫn nhau trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình
- Tác động lẫn nhau để chi phối, tác động đến hành vi văn hóa của gia đình và của văn hóa cộng đồng trong quá trình hình thành, phát triển văn hóa gia đình…
- Tiếp nhận các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thầntheo dòng chảy của thời gian, của quá khứ nối dài đến hiện tại và tương lai thông qua sự trao truyền giữa các thế hệ thành viên trong gia đình
- Góp phần gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thần Từ đó, tạo nên những giá trị văn hóa gia đình mang sắc thái riêng biệt để phân biệt văn hóa gia đình này với văn hóa gia đình khác
- Tiếp thu và cải biến các giá trị văn hóa gia đình về cả mặt vật chất và tinh thần thông qua lăng kính nhận thức và hành động của mình
- Các thành viên trong gia đình tác động lẫn nhau, đồng thời có thể tác động đến các thành viên gia đình khác để chi phối, ảnh hưởng đến hành vi
Trang 24văn hóa của nhau trong quá trình hình thành, phát triển văn hóa gia đình, dòng
họ, cộng đồng nơi mình sinh sống…
Lịch sử đã chứng minh, con người ở các cộng đồng khác nhau, sinh sống trên các vùng đất (địa vực cư trú) khác nhau, ở các thời kỳ lịch sử khác nhau…
đã góp phần hình thành và tạo nên những sắc thái văn hóa gia đình khác nhau
Ví dụ, các thành viên sinh sống ở các gia đình miền Bắc nước ta (điển hình là ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ) có những nét tính cách căn cơ, chịu khó khác với các thành viên sinh sống trong gia đình ở miền Nam tính cách có phần phóng khoáng, cởi mở, nên các gia đình ở miền Bắc rất coi trọng sự cần cù, siêng năng lao động, làm được mười phần thì chỉ tiêu hai, ba phần và giữ lại bảy phần phòng khi bất trắc, khó khăn; trong khi các gia đình ở miền Nam do điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên “sống hôm nay không cần lo nghĩ đến (cái ăn) ngày mai”
Từ đó góp phần tạo nên một trong những sắc thái văn hóa đặc trưng của con người và văn hóa gia đình ở miền Bắc là trọng sự tiết kiệm, sự cần cù và được các thế hệ thành viên trong gia đình truyền dạy, giáo dục cho các thế hệ con, cháu ngay từ khi còn bé; song ở các gia đình miền Nam, lại trọng sự rộng rãi, cởi
mở trong cả giao tiếp và chi tiêu Hoặc, con người sống ở thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, cũng như con người sống trong thời phong kiến chịu tác động, ảnh hưởng khá mạnh mẽ của văn hóa Nho giáo, nên những biểu hiện của văn hóa gia đình các thời kỳ này cũng chịu sự chi phối, ảnh hưởng và mang đậm sắc thái văn hóa Nho giáo trong gia đình (tuy mức độ đậm nhạt có khác nhau ở các gia đình quý tộc, quan lại… với gia đình bình dân), như trọng nam, khinh nữ, coi trọng và tuân theo các lễ tiết Nho giáo dù có sự tiếp biến cho phù hợp với tâm thức và nếp sống văn hóa Việt Song, nhiều gia đình người Việttrong thời đại hội nhập ngày nay lại có tư tưởng nam nữ bình đẳng, các lễ tiết theo quan niệm Nho giáo như “tam tòng, tứ đức” đã ít nhiều mai một v.v
Trang 251.5 Vai trò của văn hóa gia đình đối với sự phát triển của con người và xã hội
Mỗi con người đều được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhất định Quá trình xã hội hóa cá nhân và nhập thân văn hóa của mỗi con người được diễn ra trước hết và trước tiên trong môi trường gia đình Do vậy, con người sinh sống ở môi trường gia đình nào sẽ chịu ảnh hưởng, tác động rất lớn từ văn hóa gia đình đó Có thể coi văn hóa gia đình là yếu tố cốt lõi, là nền tảng quan trọng đầu tiên và cũng đi theo suốt cuộc đời con người, góp phần hình thành tư duy văn hóa, nhận thức văn hóa và hành động văn hóa của mỗi người Từ đó, nhìn rộng ra, là góp phần hình thành tư duy văn hóa, nhận thức văn hóa và hành động văn hóa đa dạng, phong phú của cả cộng đồng và xã hội
Trước những sóng gió của cuộc đời, gia đình trong tâm thức nhiều người luôn là “tổ ấm” bình an, hạnh phúc, là nơi chia sẻ mọi niềm vui nỗi buồn, sự thành đạt cũng như nỗi bất hạnh của các thành viên gia đình Từ đó, giúp con người thêm vững tâm và có ý chí phấn đấu vươn đến những điều tốt đẹp để xứng đáng với văn hóa gia đình mình, làm rạng danh không chỉ bản thân mà còn cả gia đình
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng xác định: Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi
dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giá dục nếp sống và hình thành nhân cách.Gia đình không chỉ là “tế bào của xã hội” mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội, một bộ phận văn hóa cấu thành văn hóa xã hội Từ vai trò
góp phần nuôi dưỡng, hình thành ý thức văn hóa và thúc đẩy hành vi văn hóa của các thành viên gia đình, văn hóa gia đình góp phần cung cấp cho xã hội những công dân có ích Đồng thời, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực (lực lượng lao động) cho xã hội, bởi những người lao
Trang 26động chân tay hay lao động trí óc đều được sinh ra, nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình, chịu sự chi phối, tác động của văn hóa gia đình
Văn hóa gia đình cũng tạo môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục
nếp sống, hình thành nhân cách con người Văn hóa gia đình đóng vai trò
văn hóa truyền thống của dân tộc Những câu chuyện cổ tích, ca dao, tục ngữ
do cha mẹ, ông bà kể là những bài học đạo đức, đối nhân xử thế để dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn, phát triển tư duy và từng bước giáo dục hình thành nhân cách cho mỗi con người Văn hóa gia đình thể hiện qua hoạt động lao động, qua xử lý các mối quan hệ hằng ngày đã truyền thụ cho con người những nét đẹp của truyền thống gia đình, dòng họ, truyền thống văn hóa dân tộc Từ đó,
giúp mỗi cá nhân hình thành và bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình cộng đồng, lòng nhân ái, tinh thần tự lực, tự cường, anh hùng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, chăm chỉ cần cù trong lao động sản xuất
Do đó, văn hóa gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước, cụ thể làhình thành số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia, đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của xã hội Những chuẩn
mực giá trị tốt đẹp của văn hóa gia đình không ngừng được sáng tạo, tiếp nhận, trao truyền, phát huy đã góp phần xây dựngvà làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc, đất nước và con người
Tựu trung, có thể thấy vai trò vô cùng quan trọng của văn hóa gia đình đối với con người và xã hội, cụ thể là:
- Đối với con người
+ Văn hóa gia đình là môi trường sống đầu tiên và quan trọng nhất đối với mỗi con người, là nền tảng đầu tiên giúp con người nhập thân văn hóa
Trang 27+ Văn hóa gia đình cung cấp thông tin, kỹ năng… giúp con người mở rộng và nâng cao hiểu biết trong nhận thức, ứng xử, hành động với bản thân, với đồng loại và với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội xung quanh
+ Văn hóa gia đình góp phần giáo dục, định hướng nhận thức, tư tưởng
và hành vi cho con người trong suốt cuộc đời
+ Giúp con người biết yêu thương các thành viên trong gia đình; biết trân trọng, phát huy… các giá trị của gia đình, văn hóa gia đình
+ Hướng con người tích cực vươn đến Chân - Thiện - Mỹ…
Đối với xã hội
+ Do “gia đình là tế bào của xã hội”, nên văn hóa gia đình là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong đời sống xã hội
+ Nhìn vào văn hóa gia đình có thể hình dung được phần nào bộ mặt văn hóa xã hội
+ Văn hóa gia đình góp phần hình thành và cung cấp nguồn nhân lực (hội tụ các giá trị văn hóa) đáng kể và quan trọng cho xã hội
+ Góp phần cung cấp các giá trị văn hóa, làm nên những sắc thái đa dạng trong “bảng giá trị” văn hóa của dân tộc, đất nước…
Trang 28CHƯƠNG II VĂN HÓA GIA ĐÌNH – QUY MÔ, CẤU TRÚC,
LOẠI HÌNH VÀ CHỨC NĂNG
2.1 Quy môvăn hóa gia đình
Với cách hiểu quy mô gia đình chỉ độ lớn của gia đình, là đơn vị đo lường để thấy được số lượng các thành viên cùng chung sống trong một gia đình, nói đến quy mô gia đình thường là đề cập đến số lượng thành viên của gia đình, trong đó bao gồm số lượng con cái và các thành viên khác cùng chung sống
Quy mô văn hóa gia đình có thể được nhìn nhận ở khía cạnh “mở” hơn, thậm chí có phần trừu tượng hơn do văn hóa gia đình bao gồm cả các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của gia đình Những giá trị văn hóa này – khác với quy mô gia đình mang tính định lượng vì có thể tính toán được ở một góc
độ nhất định (như từ số thành viên trong mỗi gia đình mà có thể phân định quy mô gia đình đó lớn hay nhỏ) – thường mang tính đa dạng, với những sắc thái văn hóa và những sự biến đổi phong phú từ suy nghĩ, hành động văn hóa của các thành viên trong gia đình, cũng như mức độ ảnh hưởng, tương tác với các gia đình khác, với cộng đồng thông qua các hoạt động sống, sinh hoạt hằng ngày Nhìn ở khía cạnh này, không thể khẳng định gia đình hạt nhân có quy mô văn hóa gia đình nhỏ, hẹp hơn gia đình nhỏ, và gia đình lớn chưa chắc đã có quy mô văn hóa gia đình lớn, rộng hơn gia đình hạt nhân chính bởi
sự chi phối từ sức mạnh và sự lan tỏa của các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mỗi gia đình là khác nhau
Nếu xét về phương diện hôn nhân, loài người đi từ quần hôn đến hôn nhân cá thể, thì trong lĩnh vực gia đình, loài người đi từ đại gia đình (đại gia đình mẫu hê, đại gia đình phụ hệ) đến tiểu gia đình Tiểu gia đình cũng là đơn
vị kinh tế và tế bào của xã hội, nhưng chỉ bao gồm bố mẹ và con cái Nhìn tổng thể, có thể thấy có các quy mô văn hóa gia đình sau:
Trang 29Gia đình hạt nhân: Là gia đình có hai thế hệ cùng chung sống, gồm bố
mẹ và con cái chưa trưởng thành
Gia đình nhỏ: Là gia đình có ba thế hệ cùng chung sống, gồm ông bà,
bố mẹ và con cái chưa trưởng thành
Gia đình lớn: Là kiểu gia đình có từ bốn thế hệ cùng chung sống trở lên Kiểu gia đình này ít, hầu như không mấy phổ biến vì trong xã hội truyền thống, tuổi thọ của người Việt không cao
Trong xã hội truyền thống, quy mô gia đình hạt nhân chiếm tỉ lệ lớn, khoảng 2/3 trong tổng số gia đình Việt Nam Điều này xuất phát trước hết từ nguyên nhân kinh tế, các gia đình luôn có xu hướng tách nhỏ để phù hợp với nền sản xuất tiểu nông Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, gia đình người Việt phải thường xuyên đối mặt với thiên tai, trình độ sản xuất lại thấp kém nên năng suất thấp, bấp bênh Do đó, các bậc cha mẹ thường để con cái khi lập gia đình ra ở riêng để tự lo cuộc sống tự lập Đồng thời, khi đôi vợ chồng trẻ tách ra ở riêng thường được hưởng quyền lợi như được làng chia đất, chia ruộng do là thành viên của làng… Điều này càng thôi thúc các gia đình trẻ ở riêng, kéo theo đó là sự chiếm ưu thế của gia đình hạt nhân Trong khi đó, gia đình ba, bốn thế hệ, gia đình kiểu “tứ ngũ đại đồng đường” không mấy phổ biến, một phần do nguyên nhân kinh tế và các căn nguyên văn hóa khác, một phần do tuổi thọ của người Việt trước đây không cao nên con người ít sống được đến khi có thế hệ thứ tư ra đời
Tùy theo các vùng, miền khác nhau và phụ thuộc vào trình độ dân trí, đặc điểm về kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán và các đặc trưng văn hóa, quy mô văn hóa gia đình ở mỗi nơi có sự khác biệt Hiện nay, quy mô gia đình ở nước ta đang thu nhỏ dần do nguyên nhân chủ yếu là chính sách dân số
- kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước, cũng như ưu thế của mô hình gia đình hạt nhân ngày càng trở nên phổ biến trong xã hội Điển hình, quy mô gia đình của Việt Nam năm 1999 là 4,6 người, nay chỉ còn 3,8 người Từ năm 2006
Trang 30đến nay, tổng tỉ suất sinh của Việt Nam luôn dưới mức sinh thay thế, trung bình dưới 2,1 con/bà mẹ [101].Điều này kéo theo quy mô văn hóa gia đình cũng vì thế có những biến đổi, biến động nhất định Tuy nhiên, trong khoảng vài năm trở lại đây, một số gia đình có khuynh hướng sinh thêm con, sinh nhiều con do chính sách của Nhà nước đã được nới lỏng, như quy định về việc không phạt người sinh con thứ ba, và Pháp lệnh về dân số cũng không quy định phạt người sinh con thứ ba, thứ tư, nên ngày càng có một bộ phận tiếp tục sinh thêm con Thực tế này đồng nghĩa với việc quy mô văn hóa gia đình bên cạnh những sự biến đổi về số lượng con người thực thể tồn tại trong mỗi gia đình còn kéo theo quy mô văn hóa gia đình biến động khôn lường, với những tầm ảnh hưởng vô cùng phong phú, đa dạng đến con người, văn hóa gia đình và văn hóa xã hội
2.2 Cấu trúc văn hóa gia đình
2.2.1.Theo các dạng hoạt động cơ bản của gia đình
- Văn hóa sản sinh và nuôi dạy con người: Văn hóa gia đình đã tích lũy
một loạt các tri thức, kinh nghiệm, cách thức, thái độ và các thể chế cho việc sinh nở và nuôi dạy con người, như những hiểu biết về quan hệ tính giao; việc chăm sóc, giáo dục thai nhi từ khi còn ở trong bụng mẹ cho đến khi trưởng thành và ra khỏi bụng mẹ và khôn lớn, trưởng thành; thể chế đón nhận một con người ra đời cho đến lúc làm lễ trưởng thành; giáo dục, bồi dưỡng các tri thức cho con người ngay từ khi còn nhỏ, với những bản năng, kinh nghiệm sống, các cách thức ứng xử trong gia đình và xã hội
-Văn hóa vật chất và tiêu dùng các sản phẩm vật chất: Nhằm đáp ứng
các yêu cầu về vật chất, các thành viên trong gia đình phải thực hiện sản xuất
ra các sản phẩm vật chất phục vụ sự sinh tồn và các nhu cầu vật chất khác của mình, của gia đình Những sản phẩm vật chất ấy và các phương thức sử dụng chúng thể hiện trình độ chiếm lĩnh, khai thác các vật thể có trong tự nhiên, thể hiện trình độ phát triển lực lượng bản chất con người Những hoạt động thực
Trang 31tiễn để làm ra vật chất, đến các hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyếttrong sản xuất sản phẩm vật chất, tiêu dùng, và cách thức, kỹ thuật, công nghệ dùng
để chế tác công cụ sản xuất, các phương tiện sử dụng, cũng như cách thức tiêu dùng, trao đổi, phân phối, hưởng thụ các sản phẩm vật chất và thể chế phân chia tài sản, thừa kế gia sản đã tạo nên văn hóa vật chất và tiêu dùng sản phẩm vật chất của gia đình
-Văn hóa tinh thần và hưởng thụ các sản phẩm tinh thần:Gồm các yếu
tố đạo đức, tín ngưỡng, tâm linh, phong tục, tập quán, thị hiếu thẩm mỹ và những bí quyết nghề nghiệp truyền thống và được thể hiện thông qua hành
vi, hành động, niềm tin, ứng xử của các thành viên trong gia đình với nhau
và với các thế lực siêu nhiên, các nhân vật thờ cúng Những yếu tố này được đúc kết lại thành hệ giá trị, chuẩn mực, khuôn mẫu văn hóa của gia đình Văn hóa tinh thần và hưởng thụ các sản phẩm tinh thần của gia đình góp phần hình thành nên hệ giá trị văn hóa gia đình – yếu tố được coi là cốt lõi làm nên đặc điểm riêng của mỗi loại hình gia đình và có sức mạnh chi phối đời sống nhận thức, tâm lý, tình cảm, tâm linh, hành vi ứng xử của các thành viên trong gia đình[40, tr 34-36]
2.2.2 Theo các hệ giá trị
- Các giá trị cấu trúc: Gồm các giá trị gắn với những quan hệ bên trong
của gia đình, thể hiện thái độ của các thành viên gia đình trong chọn lựa cơ cấu gia đình và phương thức ứng xử của con người trong các quan hệ gia đình
ở các nền văn hóa khác nhau, ở các thời đại khác nhau và trong bối cảnh, hoàn cảnh khác nhau
- Các giá trị chức năng:Gia đình đóng vai trò gì trong xã hội, và vai trò
đó phù hợp hay không phù hợp với sự phát triển của xã hội đến mức nào
- Các giá trị tâm linh: Các giá trị tâm linh được coi là hạt nhân bất biến
của văn hóa gia đình, ở đó con người sở dĩ trở thành con người do một phần căn bản là có đời sống tâm linh (bên cạnh đời sống ngoài mặt hiện hữu),
Trang 32nghĩa là tuân theo, tôn thờ những giá trị không vụ lợi, những giá trị bắt nguồn
từ cái (/những yếu tố) thiêng liêng và bí ẩn Nếu những giá trị ấy mất đi, thì con người không tồn tại như con người Cả ở khía cạnh cá nhân, gia đình và cộng đồng đều tồn tại đời sống tâm linh và các giá trị tâm linh như một điều tất yếu của đời sống người[40, tr 37]
2.3 Loại hình văn hóa gia đình
Có nhiều cách phân chia để tìm hiểu loại hình văn hóa gia đình Xét
theo các thế hệ trong gia đình, có các loại hình sau:
- Gia đình hạt nhân
- Gia đình mở rộng
- Gia đình gốc
Xét theo cách tính dòng dõi, gồm các loại hình gia đình:
- Gia đình đơn hệ, gồm gia đình phụ hệ và gia đình mẫu hệ
- Gia đình lưỡng hệ (song phương)
Xét theo đẳng cấp, có:
- Gia đình vua chúa
- Gia đình thị dân công thương
- Gia đình nhà quan
- Gia đình nhà dân
Xét theo sự phân chia quyền lực trong nội bộ các thành viên gia đình, có:
- Gia đình phụ quyền
- Gia đình mẫu quyền
Xét theo nơi cư trú của cặp vợ chồng mới cưới, loại hình gia đình gồm:
- Gia đình ở nhà chồng
- Gia đình ở nhà vợ
- Gia đình ở nơi mới
Xét theo số người tham gia quan hệ vợ chồng với nhau, có:
- Gia đình đơn hôn
Trang 33- Gia đình đa hôn
- Gia đình tái hôn
Dựa theo các câu chuyện truyền thuyết, có thể từ thời kỳ văn hóa Văn Lang – Âu Lạc, người Việt chỉ biết có mẹ, không biết đến cha, thể hiện qua cách tôn các sự vật, hiện tượng tự nhiên làMẹ (mẹ Trời, mẹ Đất, mẹ Nước…), gọi Âu Cơ là Mẹ, nên có thể nhận định tồn tại loại hình gia đình mẫu hệ Song, gia đình người Việt cũng có thể thuộc loại gia đình phụ hệ, thể hiện qua các huyền thoại, huyền tích về Sơn Tinh, Thủy Tinh, Chử Đồng Tử, Mỵ Châu – Trọng Thủy, Lạc Long Quân Đặc biệt, Keith Taylor cho rằng, việc chia đều
100 con trai cho bố mẹ trong truyện thần thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ có lẽ
là biểu hiện của gia đình lưỡng hệ [103].Như vậy, gia đình người Việt thời kỳ
này thuộc “hệ thống không phân loại”: hoặc tồn tại đồng thời gia đình mẫu
hệ và gia đình phụ hệ; hoặc gia đình mẫu hệ đang dần chuyển sang gia đình phụ hệ; hoặc đã tiến triển đến gia đình phụ hệ nhưng vẫn tồn tại nhiều đặc điểm của gia đình mẫu hệ.
Thời kỳ văn hóa Văn Lang – Âu Lạc, tổ chức gia đình được coi là đơn
vị cơ bản của xã hội Về văn hóa sinh hoạt vật chất, gia đình người Việt sinh sống nhờ sản xuất nông nghiệp lúa nước và các nghề thủ công (dệt vải, đan lát…), bắt đầu có sự trao đổi hàng hóa Về văn hóa sinh hoạt tinh thần, trong phong tục tang ma, việc lo toan ma chay không chỉ của riêng gia đình mà của
cả cộng đồng, các thành viên trong gia đình chết được chôn cùng một huyệt
và có tục chôn đồ tùy táng theo người chết Trong phong tục hôn nhân, cưới hỏi, đã có lệ ăn hỏi và lễ vật, trong lễ cưới có lệ ăn uống và thể hiện sự thắng thế của hôn nhân một vợ một chồng (truyện Trầu Cau) Ngay từ thời kỳ này, vai trò của người phụ nữ đã được thể hiện rõ với việc tham gia vào các quá trình sản xuất nông nghiệp và các nghề phụ, tham gia vào quá trình trao đổi sản phẩm, hàng hóa, sẻ chia trách nhiệm gia đình với người chồng, sinh thành, nuôi dạy con cái…
Trang 34Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, dù bị chính quyền phương Bắc cai trị tàn bạo, thực hiện chính sách đồng hóa, nhưng gia đình người Việt luôn
có ý thức đối kháng kiên trì, bất khuất Cơ cấu tổ chức các xóm làng Việt cổ dưới những lũy tre làng là thành trì vững chắc trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa Việt truyền thống Các thành viên trong gia đình người Việt tích cực góp công, góp sức tham gia vào những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Việc tiếp nhận văn hóa Trung Hoa theo hai con đường cưỡng bức
và tự nguyện, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và một số hệ tư tưởng khác, cùng với tiếp nhận văn hóa Ấn Độ với ảnh hưởng của Phật giáo ở miền Bắc và Bà la môn giáo ở miền Trung khiến văn hóa gia đình người Việt thời
kỳ này có những đặc trưng riêng Đặc biệt, dưới ảnh hưởng của tư tưởng
phong kiến Nho giáo, loại hình gia đình phụ hệ với sự đề cao vai trò của
người đàn ông gia trưởng trở nên phổ biến và chiếm ưu thế.Dù chịu ách đô
hộ của chính quyền phương Bắc, ý thức chống đồng hóa luôn tồn tại mãnh liệt trong mỗi gia đình người Việt, như duy trìhoạt động sản xuất nông nghiệp tiểu nông, truyền thống tôn kính, biết ơn cha mẹ, tổ tiên, tôn trọng phụ nữ; sống chan hòa, có tinh thần cộng đồng trong các làng chạ; tôn thờ các nhiên thần, nhân thần, các biểu tượng về khát vọng dân tộc, vẫn giữ tục lệ búi tóc, xăm mình, nhuộm răng đen, ăn trầu… Gia đình người Việt vẫn bảo tồn được tiếng nói của dân tộc, dù có nhiều biến đổi do chịu ảnh hưởng bởi chữ Hán và
đã cải biến thành chữ Nôm
Đến thời kỳ Đại Việt, John Whitemore và David Haines cho rằng trong
thời Lê (1428-1788) loại hình gia đình lưỡng hệ vẫn còn ít, mặc dù chủ yếu
vẫn là gia đình phụ hệ (Whitemore 1984, Haines1984) [103].Loại hình gia đình phụ hệ chiếm ưu thế với vai trò của người đàn ông gia trưởng vẫn được duy trì và đề cao Tuy nhiên, với đặc trưng của lối sống văn hóa nông nghiệp lúa nước, vai trò của người phụ nữ luôn được khẳng định trong nhiều lĩnh vực hoạt động của gia đình, như làm vợ, làm mẹ, tham gia sản xuất nông nghiệp,
Trang 35tham gia các nghề thủ công và hoạt động tiểu thương cũng như các hoạt động khác của gia đình Đặc biệt, trong thời kỳ này, dù theo phụ quyền nhưngquyền lợi và sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ được chú trọng hơn
và được ghi rõ trong Thọ Mai gia lễ, Quốc triều hình luật
Từ năm 1945 đến nay, các gia đình người Việt vẫn duy trì loại hình gia đình phụ hệ Dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong thời kỳ Pháp thuộc và chống Pháp thuộc, có sự biến đổi về hình thái gia đình chủ yếu ở đô thị và các trung tâm công nghiệp Đặc biệt, từ sau Cách mạng tháng Tám năm
1945, dù loại hình gia đình phụ hệ vẫn phổ biến và chiếm ưu thế, nhưng quan
hệ vợ - chồng trở nên bình đẳng hơn, quan hệ cha mẹ - con cái cũng dân chủ hơn, đặc biệt trong chuyện hôn nhân và chọn nghề nghiệp.Càng đến gần
những năm đầu thế kỷ XXI, sự cởi mở, dân chủ, bình đẳng nhất định giữa các thành viên gia đình càng được thể hiện, cho thấy loại hình gia đình phụ hệ dù vẫn khẳng định quyền uy của người đàn ông trong gia đình, con cái vẫn theo
họ cha nhưng đã có những biến đổi cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện xã hội hiện đại
2.4 Chức năng văn hóa gia đình
2.4.1 Chức năng tái sản xuất người
Chức năng tái sản xuất người (hay còn được gọi là chức năng tái sản xuất con người, chức năng sinh sản, chức năng duy trì nòi giống,…) được coi
là một trong những chức năng rất quan trọng đối với mỗi gia đình
Biểu hiện cụ thể của chức năng tái sản xuất người trong mỗi gia đình
là sinh sản ra con người.Chức năng sinh sản vốn dĩ tồn tại một cách tự nhiên,
vì xã hội chỉ tồn tại được khi hành vi sinh sản vẫn còn được duy trì Chức năng này được coi là một giá trị của gia đình mà từ xưa đến nay loài người phải thừa nhận Bản thân F Engel, một nhà duy vật vĩ đại cũng cho rằng, theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là sự tái sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Cùng với sinh sản, là
Trang 36sự giáo dục, nuôi dưỡng con người thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân (trước hết ở gia đình) để con người được nhập thân văn hóa và trở thành Người thực sự Nói cách khác,sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của con người, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn
ti gia đình, trật tự xã hội, đảm bảo các điều kiện cơ bản cho nòi giống phát triển, kéo theo đó là sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
Trong xã hội truyền thống, do nhu cầu cần nhân lực để tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp và các nhu cầu khác, gia đình người Việt thường sinh nhiều con Quan niệm phổ biến trong các gia đình người Việt trước đây là là “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, “đông con, lắm phúc”, “thêm con, thêm của” Vì thế, ngay từ khi chọn vợ, chọn chồng, người Việt thường chú trọng “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”, chọn vợ thường chọn người
“thắt đáy lưng ong” vì quan niệm họ “vừa khéo chiều chồng, vừa khéo chăm con”; kiêng chọn “Những người béo trục béo tròn/ Ăn vụng như chớp, đánh con cả ngày”…Khi người phụ nữ mang thai, thường cố gắng không làm những việc nặng, đi lại nhẹ nhàng, giữ tâm lý vui vẻ, thoải mái; kiêng không nói những lời ác độc, không nghĩ đến điều ác hoặc làm điều ác, mà phải siêng làm việc thiện, nói lời tốt lành, nghĩ đến điều tốt… để tạo phúc đức cho con Đồng thời, kiêng không cãi nhau, đánh nhau, kiêng không sát sinh (không chỉ người vợ mà cả người chồng cũng không được cầm dao cắt tiết gà, vịt, lợn…)để mong có thai kỳ an toàn và sẽ sinh nở mẹ tròn, con vuông
Cũng có thể thấy sự tương đồng về tâm thức kiêng kị trong việc mang thai, sinh nởở những gia đình thuộc các cộng đồng dân tộc khác, như ở gia đình người Thái Với quan niệm phụ nữ đến kỳ sinh đẻ giống như ống máu treo cổ (bẳng lượt khen có), nên ngay từ khi mang thai, người phụ nữ cần được quan tâm, chăm sóc đặc biệt, không làm những công việc nặng nhọc như gánh vác, lên nương, cuốc rẫy và kiêng kỵ những điều sau:kiêng đào hầm, đào hố, mương rãnh, vì sợ nếu không may hầm, hố, mương rãnh sụt
Trang 37lở , đứa trẻ sinh ra sẽ bị dị dạng; kiêng cắt tiết gà, chọc tiết lợn, nghĩa là không giết mổ súc vật (bấu khả xắt khả xính) vì sợ đứa trẻ sinh ra sẽ hay khóc, hờn, mặt mũi tím bầm hoặc thở khò khè, ; kiêng đập hoặc giết rắn vì
sợ đứa trẻ sinh ra sẽ bị tật thè lưỡi, hoặc bị thọt chân…Ngay khi đứa bé lọt
lòng, bà đỡ phải nhanh chóng dùng ngón tay móc miếng(lấy chất nhờn trong
miệng trẻ ra), nhanh tay cắt rốn cho trẻ, lấy chỉ buộc thật chặt rốn chỗ cách bụng trẻ hai đốt ngón tay.Cắt rốn xong, bà đỡ lấy nước ấm lau cho trẻ sạch sẽ rồi đưa cho bà đón trẻ (me hặp) Bà đón quấn tã cẩn thận cho đứa trẻ rồi đặt
trẻ nằm vào một cái mẹt đặt vào trong nhà, cạnh cửa phía chánvới ý nghĩa
mong đứa trẻ sẽ mau khôn lớn, sống lâu, sống khỏe, thông minh và thọ đến lúc lưng cong như cái mẹt Khi đặt trẻ, phải để đầu trẻ nằm quay ra hướng ngoài cửa, chân quay vào trong nhà do quan niệm đặt như vậy là theo tư thế lúc bé lọt lòng chân vẫn quay về hướng mẹ để đợi nhau thai trong bụng mẹ ra hết, đồng thời để ma nhà nhận biết và cầu mong tổ tiên phù hộ cho người mẹ thoát khỏi mọi tai ương Sau khi nhau thai đã ra hết, bà đỡ gọi bà đón xoay cái mẹt để đầu đứa trẻ quay vào trong nhà, chân quay ra cửa với ý báo với ma nhà, tổ tiên biết là sản phụ đã sinh được mẹ tròn con vuông.Khi đưa đứa trẻ vào đặt nằm cạnh mẹ bên bếp lửa, bà nội sẽ phải đọc to bài bùa mang tính chất giáo huấn, dạy bảo con cháu ngay từ thuở lọt lòng những điều hay lẽ phải
và đạo đức làm người để sau này lớn lên trở thành người có ích cho gia đình, làng bản và xã hội Đối với trẻ là con trai, bà nội lấy chân chài và chuôi kiếm
đi đến chỗ đầu giường trẻ ngủ; tay cầm chuôi kiếm, chân bà đạp mạnh xuống sàn và đọc to bài bùa ý dạy cháu phải biết lo việc lớn, làm những việc của đàn ông Đối với trẻ là con gái, bà đọc một bài bùa ý dạy cháu gái phải biết làm và
lo lắng những công việc của người phụ nữ, phải siêng năng, cần cù, biết chăm
lo các công việc của gia đình
Đặc biệt, do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Nho giáo và ảnh hưởng của chế độ phụ quyền, gia đình người Việt thường trọng việc sinh
Trang 38được con trai Việc kết hôn “để nối dõi tông đường, nghĩa là để có nhiều con trai: “Con ơi, hãy đi tìm bạn đời để thừa ngã tôn sự” [66, tr 77] Khi vợ chồng ở với nhau lâu mà chưa có con, đặc biệt là con trai, ở một số gia đình (thường khá giả, có điều kiện kinh tế), người vợ phải chấp nhận để chồng lấy
vợ lẽ với mục đích sinh con trai nối dõi tông đường Theo nhận định của Léopold Cadière, ai không thể có con trai với người vợ thứ nhất mà cứ ở vậy, thì trước mắt mọi người đáng chê trách hơn nếu lấy vợ hai, vì anh ta sẽ làm cho mình mắc tội lớn nhất là bất hiếu Trong các gia đình bình dân, tình trạng này không mấy phổ biến do sự khó khăn về kinh tế, lấy thêm người là thêm miệng ăn, thêm lo toan vật chất
Khác với quan niệm của nhiều gia đình phương Tây coi việc sinh con không phải là việc “bắt buộc” tất yếu phải có, và cũng không đặt nặng chuyện phải sinh bằng được con trai, trọng trách hay mối liên hệ giữa người con với cha mẹ khi bước vào tuổi trưởng thành có sự độc lập tương đối, với các gia đình người Việt, sinh con đẻ cái là một chức năng vô cùng quan trọng đối với con người khi lập gia đình Sinh con là để có sự nối tiếp dòng giống, tiếp tục tiếp nhận và trao truyền các giá trị văn hóa gia đình, kế thừa trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, chăm sóc cha mẹ lúc cha mẹ già yếu, bệnh tật và trong nhiều trường hợp, khi cha mẹ chẳng may mất sớm, người con (đặc biệt là con trai trưởng) thường đứng ra thay mặt cha mẹ thực hiện các trọng trách về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của gia đình cũng như đối nội, đối ngoại để đảm bảo văn hóa gia đình mình không bị mai một mà tiếp tục được kế thừa và phát huy…
Vì thế, trong xã hội truyền thống và đến tận ngày nay, tồn tại tình trạng không
ít gia đình người Việt cố gắng sinh con trai
Tuy nhiên, bên cạnh tình trạng trọng việc sinh được con trai với quan niệm “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “trọng nam, khinh nữ”, trong dân gian, đặc biệt là ở các gia đình bình dân và gia đình nghèo không chịu quá nhiều ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo vẫn phổ biến quan niệm “Trai mà chi,
Trang 39gái mà chi / Con nào có nghĩa có nghì thì hơn”,hay “Ruộng sâu, trâu nái không bằng con gái đầu lòng” Léopold Cadière trong quá trình nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt cũng từng khẳng định: “thay
vì đứa con trai chờ đợi, có một đứa con gái bò ra, nếu thậm chí cả một bầy con gái nối tiếp nhau không dứt, hết thảy chúng vẫn được vui mừng mến yêu đón nhận” [66, tr 92-93]
2.4.2 Chức năng kinh tế
Trong bối cảnh xã hội truyền thống, đời sống của các gia đình người Việt gắn bó chủ yếu với hoạt động sản xuất nông nghiệp, nền kinh tế mang
tính tiểu nông, sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc và khép kín Do đặc điểm của điều
kiện tự nhiên, trồng lúa nước được coi là hoạt động kinh tế chủ đạo và chủ yếu, gắn với đó là việc hình thành lối sống của cư dân văn hóa nông nghiệp lúa nước với những đặc điểm như: sống định cư, quây quần, có tính cấu kết cộng đồng chặt chẽ… mà P Mus, một học giả của Viện Viễn đông bác cổ
Pháp từng nhận xét: “Đối với xã hội Việt Nam, màng lưới các ô ruộng nước
là một lí do tồn tại lịch sử, một cấu trúc ổn định, một kỷ luật cho công việc và đời sống công cộng” [63, tr 185]
Với hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong gia đình người Việt truyền thống đã có sự khẳng định lao động chính và phân công lao động giữa các thành viên gia đình: “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”, “chồng làm nhà, đẽo cày, đóng cối, đan lát… vợ may vá, quay tơ, dệt vải”
Cùng với nghề trồng lúa nước, gia đình người Việt còn trồng màu như ngô, khoai, đỗ Ngoài ra, gia đình người Việt cũng trồng cây ăn quả và các loại cây khác, như chuối, cam, bầu, bí, mướp Người Việt còn cho rằng, đào ao, thả cá và làm vườn thu được nhiều lợi hơn so với làm ruộng: “Thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba canh điền”, “Một cây mít bằng sào ruộng”…
Bên cạnh nghề nông đóng vai trò chủ đạo, các thành viên gia đình người Việt còn làm thêm các nghề thủ công nhằm phục vụ cho sản xuất và
Trang 40nhu cầu sinh hoạt gia đình Hoạt động buôn bán nhỏ cũng được tiến hành ở nhiều gia đình nhằm góp phần tăng thu nhập của gia đình Việc tham gia vào các hoạt động buôn bán nhỏ chủ yếu do người phụ nữ đảm trách Nhìn chung, vai trò của lao động nữ khá nổi trội trong nền sản xuất tiểu nông do phụ nữ tham gia những khâu quan trọng, thậm chí đảm nhiệm toàn bộ quá trình sản xuất
Ngay từ thời Đại Việt, đã có rất nhiều nghề thủ công, như nghề làm chõng tre, đan rổ rá, làm nón, dệt chiếu, chằm nón, chằm áo tơi lá, nghề mộc gia dụng, đóng cối xay, cối giã gạo, nghề đúc đồng, gò đồng, nghề rèn sắt, nghề gốm, khảm trai, chế biến nước mắm, làm gạch ngói, nung vôi, làm trống, làm giấy, dệt vải, nghề thêu, nhuộm, nghề đóng thuyền… Các nghề này khi phát triển đến một trình độ nhất định, người trong họ tộc, trong làng thường có xu hướng phát triển nghề ra những đô thị lớn để đẩy mạnh hoạt động kinh tế không chỉ của gia đình mà còn của dòng tộc, làng xã Đến thời
kỳ Pháp thuộc và chống Pháp thuộc, nghề thủ công trong các gia đình người Việt phát triển hơn so với thời quân chủ Sự hình thành và phát triển các đô thị, trung tâm hành chính, kinh tế… đã đẩy nhanh sự tăng trưởng số lượng thợ thủ công và hình thành những ngành nghề hoàn toàn mới lạ, như nghề làm đăng ten Cũng có sự biến mất và ra đời hoặc phát triển của một số ngành nghề thủ công, điển hình như “Khi các vị quan ghế chéo lọng xanh lùi dần thì các mặt hàng làm ghế, làm lọng cũng tiêu điều và biến mất nhưng ngành nghề hàng mã, làm ô dù vẫn tồn tại và phát triển’ [63, tr 385] Tuy nhiên, “Dù người Pháp có độc quyền về mặt hàng rượu, độc quyền xuất khẩu tơ lụa và sợi bông thì nghề nấu rượu xưa với loại rượu trắng cổ truyền cũng như nghề tằm tơ trong nông thôn vẫn tồn tại” [63, tr 385]
Nhìn chung, trong thời kỳ này, bên cạnh hoạt động nông nghiệp, hoạt động kinh tế của các gia đình với sự phát triển mạnh mẽ và có nhiều yếu tố