1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh du lịch truyền hình cáp việt nam (khảo sát từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012)

126 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, với những lợi thế và sức mạnh của thời đại công nghệ thông tin, ngành truyền hình Việt Nam đã xác định được vị trí và trách nhiệm của mình trong việc quảng bá các giá trị của v

Trang 1

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN THỊ HẢI YẾN

QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC

TRÊN KÊNH DU LỊCH TRUYỀN HÌNH CÁP

VIỆT NAM

(Khảo sát từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012)

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:TS NGUYỄN THÀNH LỢI

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng đối với Tiến sỹ Nguyễn Thành Lợi, người trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu, các phóng viên, biên tập viên, quay phim của phòng Nội dung 4 - Ban Biên tập truyền hình cáp - Đài truyền hình Việt Nam và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và độc lập thực hiện, không sao chép bất cứ một tài liệu nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Trần Thị Hải Yến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG BÁ VĂN

1.4 Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về quảng bá văn hóa

Chương 2: KHẢO SÁT CÁC CHƯƠNG TRÌNH QUẢNGBÁ VĂN HÓA

DÂN TỘC TRÊN KÊNH DU LỊCH TRUYỀN HÌNH CÁP

2.3 Khảo sát các chương trình quảng bá văn hóa dân tộctrên kênh

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

LƯỢNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH QUẢNG BÁ VĂN HÓA DÂN TỘC TRÊN KÊNH DU LỊCH TRUYỀN HÌNH CÁP

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Đánh giá về nội dung chương trình truyền hình của kênh Du

Bảng 2.2 Nhận xét về chất lượng hình ảnh và âm thanh của chương trình

Bảng 2.3 Đánh giá hình thức quảng bá văn hóa dân tộc trong các

chương trình trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam

Bảng 2.4 Vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc được thể hiện trong các

Bảng 2.5 Phóng viên cần phải đi sâu tìm hiểu các lĩnh vực trong đờisống

Bảng 2.6 Người làm chương trình cần phải tìm hiểu nhu cầu của

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ giữa thời lượng chương trình có nội dung quảng bá

văn hóa dân tộc so với tổng thời lượng sản xuất mới

Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ chương trình sản xuất mới có nội dung quảng bá

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã “phá vỡ” mọi chướng ngại về không gian và thời gian, góp phần to lớn trong việc thúc đẩy xã hội phát triển trên nhiều lĩnh vực Những giá trị về văn hóa dân tộc là “món ăn tinh thần” không thể thiếu đối với xã hội đương đại, là một trong những nội lực to lớn cho sự phát triển đất nước Hơn thế nữa, đó còn là “sức mạnh mềm” nhằm phát huy sự ảnh hưởng của quốc gia mình ra bên ngoài trong xu thế hội nhập và mở cửa Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã định ra chiến lược cho việc xây dựng

nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Các ban ngành chức

năng nắm giữ trọng trách cốt yếu trong việc thực hiện những chủ trương, chính sách đúng đắn này

Trong hệ thống các cơ quan truyền thông, báo chí (cả báo viết và báo hình) là kênh thông tin quan trọng thực hiện công tác tuyên truyền, quảng bá văn hóa dân tộc Đặc biệt, với những lợi thế và sức mạnh của thời đại công nghệ thông tin, ngành truyền hình Việt Nam đã xác định được vị trí và trách nhiệm của mình trong việc quảng bá các giá trị của văn hóa dân tộc, tác động vào nhận thức công chúng, xã hội

Truyền hình cáp Việt Nam hiện có 18 kênh truyền hình tự sản xuất trong nước Nếu không tính 2 kênh chuyên về mua bán trên truyền hình, 16 kênh còn lại hầu hết là các kênh chuyên biệt Các kênh này đã làm nên thương hiệu của truyền hình cáp Việt Nam, góp phần thu hút thuê bao và tăng doanh thu cho Đài Truyền hình Việt Nam

Trong số 16 kênh chuyên biệt, kênh Du lịch ra đời muộn nhất Năm

2010 Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xây dựng kênh truyền hình Du lịch Chính thức phát sóng vào ngày 9 tháng 10 năm 2010, kênh có nhiệm vụ cung cấp những thông tin chính thống

Trang 8

và nhất quán về du lịch Việt Nam, góp phần tuyên truyền, huy động các nguồn lực cho phát triển du lịch cũng như bảo tồn, giữ gìn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc

Việt Nam - tổ quốc của nhiều dân tộc anh em Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang xây dựng non sông “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền”, với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông)

Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, trải dài suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước Bằng sức sống mãnh liệt và sự sáng tạo trong những điều kiện địa lý tự nhiên khác nhau, bối cảnh lịch sử - xã hội không đồng nhất, các dân tộc Việt đã tạo nên sự đặc sắc trong văn hóa của mỗi cộng đồng, mỗi vùng miền, mỗi địa phương Trải qua nhiều quá trình tiếp xúc, tiếp biến văn hóa, những nét văn hóa nổi trội được chắt lọc, bồi đắp và hội lưu Tổng hòa những sắc thái đó làm nên tính đa dạng và đậm đà bản sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam

Tạo ra một kênh truyền hình chuyên về du lịch nhằm quảng bá văn hóa dân tộc theo phong cách truyền hình hiện đại là một trong các mục tiêu của kênh Du lịch - Truyền hình cáp Việt Nam Kênh Du lịch hiện nay được phát trên hệ thống truyền hình cáp của Truyền hình cáp Việt Nam (VCTV) và Công ty truyền hình cáp Saigon Tourist (SCTV)

Qua gần 2 năm lên sóng, mục tiêu quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh

Du lịch đã có những hiệu quả nhất định Những không gian văn hóa đa sắc màu được truyền tải một cách sinh động, sắc nét, rất chân thực đến được với đông đảo công chúng trong và ngoài nước qua sóng truyền hình Người Việt

Trang 9

hiểu thêm về văn hóa những vùng miền trên dải đất hình chữ S thân thương Người nước ngoài có cơ hội được tìm hiểu và thôi thúc niềm thích thú khám phá những nét mới lạ của nền văn hóa Việt Nam Truyền hình phát triển đưa đến những giá trị kinh tế, xã hội tịnh tiến cho các ngành nghề liên quan như

du lịch, dịch vụ… Chức năng của một kênh truyền hình được đáp ứng từ các góc độ Và hơn thế nữa, vượt lên trên hết là những giá trị nhân văn, lòng tự hào, tình yêu quê hương, đất nước mà các chương trình về lịch sử - văn hóa

có thể đưa đến, bồi đắp và dựng xây trong mỗi tâm hồn bạn xem truyền hình Với những kết quả như vậy, có thể thấy sự thành công bước đầu của kênh Du lịch đáng được ghi nhận

Tuy nhiên, thời gian chưa đủ dài để có thể có những công trình khoa học nghiên cứu, khảo sát, đánh giá cụ thể và đầy đủ về các nội dung liên quan tới chất lượng, cách thức, kết quả của vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch - Truyền hình cáp Việt Nam Trong thực tế, đầu tư vào nội dung quảng bá văn hóa dân tộc chưa được chú trọng đúng mức từ các cấp lãnh đạo, quản lý Đội ngũ cán bộ chuyên trách cũng như nội dung chương trình vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần bàn luận… Bản thân tác giả cũng là một người đang sát cánh cùng với kênh chương trình, càng hiểu hơn những thành tựu và khó khăn của kênh Các vấn đề đã nêu thể hiện rõ tính cấp thiết và đặt ra nhiều khoảng trống cần luận giải

Vì vậy, với những ý nghĩa nhất định về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả

đã lựa chọn vấn đề “Quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam” làm đề tài Luận văn thạc sỹ

2.Tình hình nghiên cứuliên quan đến đề tài

Nghiên cứu về các vấn đề phát triển văn hóa, quảng bá văn hóa thu hút nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm Bởi lẽ, văn hóa là cội nguồn của

sự phát triển xã hội Một xã hội có phát triển hay không đều thể hiện rõ bằng

sự quan tâm của giới khoa học đối với các vấn đề liên quan tới văn hóa Đặc

Trang 10

biệt, khi đó là một vấn đề khá mới, nhưng có đầy đủ “sức nóng” của nó - vấn

đề quảng bá văn hóa dân tộc trên sóng truyền hình

Trong phạm vi khảo cứu của tác giả, có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đề cập tới các khía cạnh của đề tài,

có thể khái quát như sau:

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Sách, báo của giới học giả các nước đã đề cập về vấn đề này một cách phong phú và chuyên sâu Các công trình được xuất bản khá nhiều, bằng nhiều thứ tiếng Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài luận văn thạc sỹ, tác giả xin được đề cập tới một số công trình đã được dịch sang tiếng Việt, có liên quan trực tiếp tới phạm vi nghiên cứu của mình

Trước hết, là những công trình mang tính lý luận, đặt nền tảng cơ bản

và quan trọng để tác giả bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành cũng như trang bị cho mình cơ sở phương pháp luận trong việc nghiên cứu Có thể kể ra những tác phẩm của các nhà nghiên cứu cũng như của các nhà báo, phóng viên

truyền hình Nga như: Cơ sở lý luận của báo chí của tác giả E.P Prôkhôrốp ấn

hành năm 2001, do Nhà xuất bản Thông tấn dịch và xuất bản tại Việt Nam năm 2004 Đây là công trình hiện đang được dùng làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên ngành báo chí ở các trường đại học - cao đẳng tại Nga Nội dung của cuốn sách trình bày những vấn đề chung nhất, khái quát nhất về lý luận nghiệp vụ báo chí và những đặc thù của hoạt động báo chí, với tư cách là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo cũng như nhấn mạnh về hiệu lực và tính hiệu quả của báo chí Cũng trong năm 2004, Nhà xuất bản Thông tấn cũng đã phát

hành cuốn Các thể loại báo chí Cuốn sách được dịch từ nguyên bản tiếng

Nga của Phó Tiến sỹ khoa học A.A Chectưchơnưi, một nhà báo và nhà giáo giàu kinh nghiệm, tác giả của nhiều ấn phẩm khoa học về báo chí Cuốn sách được chia làm bốn chương: chương một là phần lý luận chung về các yếu tố hình thành thể loại trong báo chí; ba chương còn lại trình bày 43 màu sắc đặc

Trang 11

thù trong bảng màu các thể loại báo chí được phân theo tính chất của các thể loại tin, phân tích và chính luận - nghệ thuật Đặc biệt mỗi thể loại được minh hoạ bằng nhiều bài viết hấp dẫn đã đăng tải trên báo và tạp chí ở Nga để người đọc có thể hình dung trực quan về diện mạo các thể loại báo chí một cách sắc nét Cuốn sách hiện đang được sử dụng làm giáo trình cho sinh viên các trường đại học chuyên ngành báo chí ở Nga

Đặc biệt, với riêng thể loại báo hình, cuốn tư liệu Báo chí truyền hình

(2 tập) cũng được Nhà xuất bản Thông tấn dịch và phát hành trong năm 2004

đã cung cấp cho tác giả một nguồn tài liệu tham khảo quý giá Đây là công trình của nhóm tác giả người Nga: G.V, Cudơnhetxốp, X.L Xvích và A.Ia Iurốpxki, mang tính hệ thống hoá về lĩnh vực báo chí truyền hình Nội dung sách vừa đề cập tầm quan trọng của truyền hình trong hệ thống các phương

tiện thông tin đại chúng, vừa nêu rõ tính đặc thù của báo chí truyền hình Tập

1 gồm 6 chương, trong đó các tác giả tập trung trình bày vị trí, chức năng của

truyền hình trong xã hội; vị trí của truyền hình trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng; bản chất của truyền hình hiện đại; các phương tiện xây dựng kịch bản truyền hình và những định hướng, triển vọng của truyền hình trong thời đại bùng nổ thông tin và công nghệ truyền thông phát triển vô cùng

mạnh mẽ Tập 2 cuốn sách gồm 5 chương, tập trung trình bày các thể loại báo

chí truyền hình; các nghiệp vụ nhà báo trong truyền hình; các phương pháp nghiên cứu học về khán giả truyền hình; nhà báo với chiếc camera ghi hình Đặc biệt, nội dung quan trọng được tác giả tập trung thể hiện qua những nguyên tắc đạo đức trong báo chí truyền hình Đó là tính xác thực của mỗi thông tin, tính đầy đủ của các sự việc được đưa tin và lập trường không định kiến của nhà báo Với lối viết và cách trình bày dễ tiếp nhận, cuốn sách cung cấp cho độc giả những thông tin, tư liệu, tri thức tham khảo phong phú

Trong mảng tư liệu này có thể kể đến một công trình của các học giả phương Tây được phổ biến trong những người làm truyền hình Việt Nam Đó

Trang 12

là cuốn sổ tay phóng viên: “Làm tin - phóng sự Truyền hình” của tác giảNeil

Everton do Lê Phong dịch và được Quỹ Reutersxuất bản năm 1999 Cuốn sách này được viết dựa trên cơ sở các lớp huấn luyện do Quỹ Reuters, hãng Truyền hình Reuters, Hãng Phát thanh và Truyền hình Anh (BBC) và Hãng Phát thanh và Truyền hình Canada (CBC) tiến hành Tác phẩm cung cấp những kinh nghiệm quý báu cho các phóng viên truyền hình khi làm tin và thời sự Có thể thấy rõ được tính thực tiễn trong những kiến thức lý luận này Hiện nay, cuốn sách đang được Đài truyền hình Việt Nam lưu hành nội bộ như một cuốn tài liệu cẩm nang phổ biến cho đội ngũ cán bộ mới vào nghề

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đối với mảng lịch sử, văn hóa trên truyền hình, mối quan tâm của các học giả Việt Nam về các vấn đề này đã đem đến những giá trị vô cùng to lớn Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân tộc Việt nói chung cũng như sắc thái văn hóa vùng miền đã được xuất bản rất nhiều, có một bề dày về thời gian Lịch sử nghiên cứu về những công trình liên quan tới phạm vi của đề tài

là vô cùng rộng lớn Trong sự giới hạn nhất định, tác giả xin được điểm qua những tác phẩm có giá trị tham khảo quan trọng cho việc giải quyết các vấn

đề cần nghiên cứu

Trước hết, đó là mảng sách của các học giả về văn hóa Việt Nam Đáng

kể là cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS Phan Ngọc, do Nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin phát hành năm 2002 Đây là công trình nghiên cứu công

phu và tâm huyết của tác giả “Bản sắc văn hoá Việt Nam” chứa đựng nhiều ý

tưởng độc đáo, mang tính đột phá, giúp người đọc trả lời được các câu hỏi liên quan đến người Việt và văn hoá Việt như: Bản sắc văn hoá Việt Nam là gì? Văn hoá Việt Nam khác văn hoá Trung Hoa, văn hoá Pháp ở chỗ nào? Vì sao có sự khác biệt đó? Làm gì để giữ gìn và phát huy văn hoá Việt trong thời hội nhập? Công trình là một tài liệu tham khảo quý giá để giúp cho chúng tôi có được cách tiếp cận khoa học nhất nhưng cũng cụ thể nhất về văn hóa Việt Nam

Trang 13

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cũng có một công trình đặc sắc “Tìm về bản

sắc văn hóa Việt Nam” do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in lần thứ nhất

vào năm 1996 và sau đó tái bản nhiều lần.(Bản dịch tiếng Pháp: Tran Ngoc

Them Recherche sur l'identité de la culture vietnamienne - Edition The Gioi, in

lần 1 (2001), lần 2 (2006) Đây là cuốn sách được sử dụng làm giáo trình ở bậc đại học, là một công trình khảo cứu về văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam Tác giả đã cung cấpcho người đọc một chuyên khảo toàn diện, có hệ thống về văn hóa Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử cũng như trải rộng từ Bắc chí Nam

Một công trình có giá trị khác của GS Trần Quốc Vượng là “Văn hóa

Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm” được Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc và Tạp

chí Văn hóa Nghệ thuật xuất bản năm 2000, tái bản năm 2003 Với gần 1.000

trang, tập hợp từ những bài viết trong nửa thế kỷ của tác giả, “Văn hóa Việt

Nam - tìm tòi và suy ngẫm” là một trong những công trình mang tính tổng

hợp, “tập đại thành” đối với những người làm công tác nghiên cứu văn hóa Mỗi chương sách thực sự là một khám phá chứa đựng những ý tưởng khoa học mới, độc đáo và sâu sắc giúp gợi mở những hướng nghiên cứu mang tính liên ngành, đa ngành, xuyên ngành cho văn hóa học hiện nay nói chung và cho các nhà nghiên cứu văn hóa khi tiếp cận nghiên cứu văn hóa Việt Nam Xưa - Nay cả về nội dung lẫn phương pháp tiếp cận Công trình nghiên cứu

đã trao tặng độc giả chìa khoá, dẫn dắt người đọc trên con đường khám phá chân lý khách quan và khái quát của lịch sử, văn hoá dân tộc

Ngoài ra, còn có nhiều công trình tiêu biểu của các tác giả khác đề cập

tới các phạm vi liên quan của đề tài Tiêu biểu như cuốn “Hành trình văn hóa

Việt Nam” của tác giả Đặng Đức Siêu, Nhà xuất bản Lao động Hà Nội phát

hành năm 2002;“Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân

tộc” của Hoàng Vinh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm

1997; nhóm tác giả Nông Quốc Chấn, Hoàng Tuấn Cư, Vi Hồng Nhân cũng

Trang 14

đã công bố công trình “Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu

số Việt Nam”cũng do Nhà xuất bảnChính trị quốc gia Hà Nội phát hành năm

1996; tác giả Nông Quốc Chấn cũng có cuốn sách riêng về “Dân tộc và văn

hóa”, được Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội phát hành năm 1993…

Những công trình nghiên cứu này đã nghiên cứu các vấn đề khác nhau liên quan tới dân tộc, văn hóa và công tác bảo tồn các di sản của quá khứ

Hơn thế nữa, còn có những tác phẩm đề cập riêng tới các lĩnh vực khác nhau của văn hóa, các không gian văn hóa vùng miền, cung cấp những mảng

màu phong phú về văn hóa Việt Nam Có thể kể ra: Trần Văn Bính với “Văn

hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004; Bùi Chỉ với “Văn hóa ẩm thực

dân gian Mường Hòa Bình”, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội phát

hành năm 2001; Hoàng Nam có công trình “Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc

người văn hóa Việt Nam” cũng được Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội

công bố năm 1998… Các công trình theo những chủ đề trên được phát hành rộng rãi khắp cả nước, thu hút các học giả địa phương tham gia, thể hiện sự hấp dẫn của mảng đề tài này đồng thời cũng nói lên được ý thức cũng như trách nhiệm của giới trí thức trong công cuộc khơi gợi, dựng xây và bảo tồn các giá trị văn hóa

Đặc biệt, trong khuôn khổ hẹp hơn, các vấn đề liên quan của đề tài còn được đề cập ít nhiều trong các luận văn thạc sỹ, khóa luận tốt nghiệp của học viên, sinh viên theo các chuyên ngành của Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đáng lưu ý có các công trình nghiên cứu sau:

+ Luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả chương trình thời sự của đài

truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (Từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến năm 2010)” của học viên cao học Nhâm Sỹ Thành, chuyên ngành Báo chí học,

năm 2010

chương trình thời sự truyền hình của Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Lạng

Trang 15

Sơn” của học viên cao học Nguyễn Giang Nam, năm 2010

+ Luận văn thạc sĩ “Xây dựng khung chương trình kênh truyền hình

dành cho trẻ em Việt Nam (Khảo sát kênh BIBI - Kênh truyền hình dành cho thiếu nhi của Truyền hình Cáp - Đài Truyền hình Việt Nam, từ tháng 06/2010 đến tháng 06/2011)” của học viên cao học Vũ Trọng Hiếu, năm 2011

+ Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng hình ảnh chương trình thời

sự của Đài Truyền hình Việt Nam” của học viên cao học Nguyễn Việt Anh,

năm 2011…

Các luận văn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là một số chương trình truyền hình trên sóng các đài địa phương hoặc trung ương, đi sâu phân tích về nội dung các khung chương trình nhằm kiến giải các giải pháp, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả phát sóng

Điểm lại lịch sử nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan đến

đề tài nghiên cứu của luận văn, có thể rút ra những nhận xét sau:

- Xét một cách khái quát, những công trình nghiên cứu về lý luận báo chí nói chung và truyền hình nói riêng mặc dù không đề cập trực tiếp đến đề tài nhưng đã cung cấp cho tác giả những tri thức quý giá Đó là phông nền kiến thức về lý luận để tác giả xây dựng thế giới quan, cơ sở phương pháp luận nhằm giải quyết đề tài một cách khoa học

- Các công trình của giới học giả Việt Nam đưa đến nguồn tư liệu phong phú về văn hóa Việt Nam trải dài theo không gian và thời gian Từ đó

có những đối sánh khoa học khi đánh giá về nội dung và chất lượng của các chương trình truyền hình

- Các luận văn của các bạn đồng môn cũng cung cấp những kinh nghiệm quý báu trong cách tiếp cận, nắm bắt và giải quyết vấn đề

Nhìn chung, các công trình ít nhiều đề cập tới các khía cạnh liên quan đến vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả hiện chưa có một công trình nào đề cập chính diện, cụ thể tới vấn đề quảng bá văn hóa dân

Trang 16

tộc trên kênh Du lịch Truyền hình Cáp Việt Nam.Do vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, tiếp cận cả lý luận và thực tiễn để tìm hiểu một cách thấu đáo

về vấn đề này là những khoảng trống mà luận văn muốn đi sâu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1.Mục đích

Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh

Du lịchTruyền hình cáp Việt Nam, tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá và

đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích đó, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Lý giải một số vấn đề lý luận liên quan đến nội dung đề tài: khái niệm văn hóa, quảng bá văn hóa dân tộc …

- Khảo sát, đánh giá các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam

- Đề xuất một số kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chương trìnhquảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam

- Đối tượng khảo sát của luận văn là khán giả xem truyền hình cáp tại

Hà Nội, biên tập viên, phóng viên phòng Nội dung 4 - Ban Biên tập truyền hình cáp - Đài Truyền hình Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu loại hình báo truyền hình

- Tập trung nghiên cứu vấn đề quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh truyền hình chuyên biệt về du lịch và văn hóa

Trang 17

- Thời gian khảo sát kênh: từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Cơ sở lý luận

- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phương pháp tư duy biện chứng của Chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chỉ thị của Nhà nước đối với quảng bá văn hóa dân tộc trên báo chí và hoạt động báo chí

- Tham khảo và kế thừa hệ thống quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả đi trước thuộc các lĩnh vực báo chí, văn hóa, du lịch

và các ngành khoa học có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp trong nghiên cứu khoa học như:

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh trong việc xử lý các tài liệu liên quan đến báo chí học, truyền hình, sản xuất các chương trình truyền hình, quảng bá văn hóa dân tộc trên truyền hình, luận giải các vấn đề nghiên cứu, đưa ra các kết luận khoa học

Đồng thời, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn công chúng xem truyền hình, các nhà quản lý kênh, nhà báo, phóng viên, biên tập viên… để bổ sung chi tiết hơn cho kết quả nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết quả khảo sát qua bảng hỏi với 300 khán giả xem truyền hình cáp VCTV tại khu vực Hà Nội và kết quả phỏng vấn sâu các phóng viên phòng Nội dung 4 - Ban Biên tập truyền hình cáp - Đài Truyền hình Việt Nam

6 Đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận về quảng bá văn hóa dân tộc trên truyền hình, đồng thời tổng kết, phân tích, khảo sát các

Trang 18

chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình quảng

bá văn hóa dân tộc, có thể áp dụng tại các Đài Phát thanh - Truyền hình

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần xây dựng khung lý thuyết cho kênh Du lịch, một khía cạnh còn khuyết thiếu trong thực tế xây dựng kênh hiện nay Đồng thời, luận văn kiến giải những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình quảng bá văn hóa dân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình cáp Việt Nam

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí cũng như các đối tượng quan tâm tới việc quảng bá văn hóa dân tộc trên sóng truyền hình

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 10 tiết:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quảng bá văn hóa dân tộc

trên truyền hình

Chương 2: Khảo sát các chương trìnhquảng bá văn hóa dân tộc trên

kênh Du lịch Truyền hình Cáp Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng các

chương trình quảng bá văn hóadân tộc trên kênh Du lịch Truyền hình Cáp

Việt Nam

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG BÁ

VĂN HÓA DÂN TỘC TRÊN TRUYỀN HÌNH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Quan niệm về văn hóa

Có thể nói rằng, khó có thể đưa ra một định nghĩa thống nhất cho khái niệm “văn hóa” là gì? Bởi lẽ, “văn hóa” là một hiện tượng phức hợp với nhiều đặc trưng, phản ánh đa chiều trong xã hội và mang tính thời đại sâu sắc

Văn hóa là từ Hán Việt mà trong đó “văn” có nghĩa là hình thức đẹp đẽ biểu hiện trong lễ, nhạc, trong ngôn ngữ, trong cách cai trị; “hóa” là dạy dỗ,

sửa đổi phong tục (giáo hóa) [10, tr.6] Nó biểu hiện thành một hệ thống quy tắc ứng xử được xem là đẹp đẽ

Cho đến nay, mọi người chưa phải đã đồng ý với nhau tất cả định nghĩa

Năm 1952, hai nhà Nhân học văn hóa người Mỹ là A.Kroeber và C.Kluckhohn đã thống kê khoảng 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong

cuốn Culture - A Critical Review of Concepts and Definitions (Văn hóa - Tổng thuật có phê phán các khái niệm và định nghĩa) Theo các ông:

Văn hóa bao gồm những chuẩn mực, nằm ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểu

Trang 20

tượng; văn hóa xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa

sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất) Hạt nhân cơ bản của văn hóa gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt Hệ thống văn hóa có thể được xem xét, một mặt như là kết quả của hoạt động người,

Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục thế giới (UNESCO) đưa ra

định nghĩa về văn hóa như sau:

Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa

mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân [41]

Như vậy văn hóa không phải một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển

Năm 2011, Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 đã định nghĩa văn hóa:

“Văn hóa nên được xem là một tập hợp các đặc trưng nổi bật về tinh thần, vật

chất, tri thức và tình cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội, và ngoài văn học nghệ thuật nó còn bao gồm lối sống, phương thức chung sống,

hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”

Trang 21

Cách hiểu văn hóa theo nghĩa hẹp của UNESCO Văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng Văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tượng (đẹp hay xấu, đạo đức hay

vô luân, phải hay trái, đúng hay sai…) theo cộng đồng ấy [18, tr.51]

Theo định nghĩa trên, UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Tuy vậy, nêu lên vấn đề văn hóa tức là tự đặt mình vào đoạn giao lộ giữa hai vấn đề vừa mâu thuẫn vừa đan xen nhau Đó là sự tiến triển của toàn cầu hóa và sự bảo tồn các bản sắc dân tộc

Tuy nhiên, hiện nay các học giả và các nhà nghiên cứu có xu hướng chấp nhận quan điểm văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần hơn

là quan điểm phân chia cụ thể văn hóa thành hai lĩnh vực: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu, học giả cũng đưa ra quan niệm của mình về văn hóa Năm 1943, Hồ Chí Minh quan niệm:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [28]

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một

lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải

là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… Cốt lõi của sức sống dân tộc là

Trang 22

văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”

Phan Ngọc vào thập niên 90 của thế kỷ 20 đã đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính thao tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông:

Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này,

đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác [31, tr.19-20]

Như vậy, theo Phan Ngọc, nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn của các

cá nhân hay tộc người làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác [45, tr.21-22]

Trong bài Từ định nghĩa của văn hóa,Từ Chi đã đưa ra cách hiểu khái

niệm văn hóa theo hai góc độ Góc rộng hay còn gọi là góc nhìn dân tộc học, theo ông văn hóa ở góc độ này không tự hạn chế vào một số biểu hiện của cuộc sống tinh thần Nó là toàn bộ cuộc sống (nếp sống) cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng Góc hẹp, góc thông dụng của cuộc sống hàng ngày hay còn gọi là góc nhìn báo chí, văn hóa được hiểu là kiến thức của con người và xã hội [18, tr.54]

Một định nghĩa khác khá ngắn gọn về văn hóa cũng được Từ Chi dẫn ra

theo trí nhớ của mình: “Tất cả những gì không phải là thiên nhiên thì đều là

văn hóa” [18, tr.54]

Trang 23

Văn hóa, theo Trần Quốc Vượng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và

xã hội, là vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực, giá trị, những biểu tượng, quan niệm… tạo nên phong cách diễn

tả tri thức và nghệ thuật của con người [45, tr.17]

Như vậy, định nghĩa văn hóa tuy nhiều, nhưng về nội dung có nhiều điểm tương đồng và có thể khái quát những định nghĩa trên theo ba phương diện:

Thứ nhất: Hình thái ý thức (cũng có thể gọi là hình thái quan niệm) tức

là thế giới quan, phương thức tư duy, tôn giáo, tín ngưỡng, đặc trưng tâm lý, quan niệm giá trị, tiêu chuẩn đạo đức, năng lực nhận thức… của con người

Thứ hai: Phương thức sinh hoạt, tức là thái độ của con người đối với

việc ăn, mặc, ở, đi lại, hôn nhân, tang lễ, sinh lão bệnh tử, cuộc sống gia đình

và xã hội… và hình thức sử dụng những phương diện đó của họ

Thứ ba: Sản phẩm vật hóa của tinh thần, tức là tất cả những gì mà về hình

thức, được coi là vật chất, nhưng thông qua hình thức vật chất có thể phản ánh được những khác biệt và thay đổi trong quan niệm của con người [26, tr.33]

Hoặc có thể hiểu văn hóa theo định nghĩa rộng của F.Mayor Zaragoza, người đã từng giữ vị trí Tổng giám đốc UNESCO tuyên bố trong “Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” (1987-1997): “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống

và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [46, tr.16]

Văn hóa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn, lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực

xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và

hệ thống ứng xử văn hóa của cộng đồng người [46, tr.16] Một quan niệm khác,

có định hướng khoa học về các nền văn hóa, đã hình thành từ thế kỷ XIX, theo

Trang 24

đó văn hoá không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt Các nền văn

hoá không có “tốt hơn”, “xấu hơn” mà chỉ là khác nhau Chúng không được sắp xếp trong một trình tự lịch sử một chiều theo nguyên tắc từ thấp đến cao

mà là tổng thể những giá trị như nhau trong việc điều tiết quan hệ quan lại giữa các cá nhân với nhau và với môi trường xung quanh [46, tr.11]

Dẫu khái niệm văn hoá càng ngày càng được tiếp cận và diễn giải phong phú, đa dạng, nhưng chúng tôi muốn nhắc đến hai định nghĩa - hai luận điểm được coi là cốt lõi : Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh và định nghĩa văn hóa của UNESCO

Hai định nghĩa này, tuy diễn đạt khác nhau, nhưng mục đích và chức năng của con người - cộng đồng con người trong nhân loại, thì đều giống nhau, như Hồ Chí Minh ngắn gọn “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, nhưng biểu hiện ra với sự đa dạng, phong phú, trongngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng hay là

“tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết

định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội”

Đó là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa chung của nhân loại, của mỗi cộng đồng được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài, các giá trị đặc trưng ấy ở "tầng nền" mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Do vậy, muốn nhận biết nó, phải thông qua

vô vàn các sắc thái, với tư cách là sự biểu hiện của văn hóa ấy

UNESCO đã nhìn nhận văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất của khái niệm này Đó là phức thể, tổng thể các đặc trưng - diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của cộng đồng gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ

thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… Có những di sản văn hóa hữu

Trang 25

hình (tangible) như đình, chùa, miếu, lăng mộ… và những di sản văn hóa vô hình (intangible) gồm các biểu hiện tượng trưng và không sờ thấy được của

văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một quá trình tái tạo và trùng tu của cộng đồng rộng rãi [18, tr.47]

Như vậy, từ những định nghĩa đã được nêu ra, chúng ta có thể thấy văn hóa không phải một lĩnh vực riêng biệt Văn hóa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn, lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ thống ứng xử văn hóa của cộng đồng người Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ chảy dài cho đến hiện tại Các giá trị đặc trưng ấy ở “tầng nền” mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn Qua thời gian, những hoạt động sáng tạo ấy sẽ tạo nên một hệ thống các giá trị, mang đặc tính riêng của mỗi dân tộc Văn hóa sẽ luôn là chìa khóa của sự phát triển

1.1.2 Văn hóa dân tộc

Sự hình thành của Văn hóa quốc gia - dân tộc trên những khía cạnh nào

đó là muộn hơn so với văn hóa tộc người Cùng vận động với quá trình hình thành quốc gia, dân tộc

Với sự hỗ trợ của hệ thống hành chính, của cơ chế quyền lực, lúc đầu trên bình diện chính trị - xã hội, dần dần về sau cả về phương diện kinh

tế nữa, đã thực sự là tác nhân, một mặt cào bằng sự khác biệt tộc người, địa phương; mặt khác, lại tạo nên sự tách biệt giữa chúng với những tộc người, bộ phận tộc người nằm ngoài lãnh thổ quốc gia, khiến cho xu hướng phát triển tộc người của hai bộ phận tộc người có đường biên giới quốc gia chạy qua chừng nào có sự khác biệt [39]

Rõ ràng ở đây không thể đồng nhất văn hóa tộc người chủ thể với văn hóa dân tộc cũng như không thể tách biệt, nhấn mạnh nhiều đến tính cá thể

Trang 26

của văn hóa các tộc ít người vượt ra phạm vi của văn hóa dân tộc Mỗi quốc gia thường có nhiều dân tộc, có thể trong đó có không ít tộc người sống vắt qua biên giới của nhiều quốc gia Nhưng, không phải vì thế mà những tộc

nằm trong tay những tộc người thiểu số và không quyết định hoàn toàn bản sắc văn hóa dân tộc

Văn hóa dân tộc được hình thành, bồi đắp không ngừng theo thời gian Một năm, một thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ không dễ tạo nên cơ sở của một nền văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc có thể có những sức mạnh riêng về kinh tế, quân

sự, tài nguyên, môi trường, nhưng sức mạnh về văn hóa có ý nghĩa đặc biệt

Nó tác động trực tiếp và lâu dài đến nhiều hoạt động xã hội Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, Liên Hợp Quốc có 193 quốc gia thì chỉ có 34 dân tộc

có nền văn hóa có bản sắc, trong đó có Việt Nam Sức mạnh của văn hóa được tổng hợp từ nhiều nhân tố, nhiều điều kiện chính trị, xã hội nội tại không thể vay mượn được

Văn hóa cũng chịu sự tác động của quy luật phát triển xã hội Trong lịch sử hình thành và phát triển của văn hóa, văn minh nhân loại, quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa đã diễn ra khá rõ nét giữa các quốc gia, giữa các khu vực và trên cả bình diện thế giới Sự hội lưu, phát triển những giá trị văn hóa ngoại nhập trên cơ sở và bản lĩnh của văn hóa bản địa được xem là quá trình tiếp biến văn hóa Kết quả của quá trình hình thành và vận động đó đã

tạo ra bản sắc văn hóa

Bản sắc văn hóa thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống - ý thức của một cộng đồng, bao gồm: cội nguồn, cách tư duy, cách sống, dựng nước, giữ nước, sáng tạo văn hóa, khoa học - nghệ thuật Vì thế, hiện nay còn có

*

Chẳng hạn, nhiều tộc người ở biên giới phía Bắc, phía Tây, Nam như : Hmông, Dao, Thái, Tày, Lào, Khơme…

Trang 27

Khái niệm Bản sắc văn hóa có hai quan hệ cơ bản: quan hệ bên ngoài

là dấu hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau, quan hệ bên trong chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng phải có

Nội hàm của bản sắc văn hoá càng được nhiều nhà nghiên cứu văn hoá quan tâm Phan Ngọc cho rằng: Bản sắc không phải là một “cái”, mà là một

“kiểu”, cái cách một con người hay một dân tộc ứng xử kiểu này hay kiểu khác trước một tình huống, một thách thức, đến từ bên ngoài, từ cái khác, cái

lạ Nguyên Ngọc nhận thấy: Bản sắc là cái đồng nhất (với bên trong) và đồng thời khác biệt (với bên ngoài) Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật (s’actualiser) Với Trương Hữu Quýnh thì bản sắc văn hóa dân tộc là “những biểu hiện giá trị tinh thần hay vật chất nói lên đặc điểm của một tộc người nhất định, phân biệt họ với các tộc người khác”

Phạm Đức Dương bàn về việc giao lưu, tiếp nhận các yếu tố văn hóa nước ngoài, cho rằng đó không phải là quá trình sao phỏng y nguyên các yếu

tố ngoại lai nhập vào các yếu tố bản địa, mà đó là quá trình bản địa hóa các yếu tố ngoại lai Ông cũng không quá nhấn mạnh các yếu tố nội sinh, mà còn chỉ ra những tác động tốt đẹp của sự tiếp xúc với văn hóa nước ngoài Tuy nhiên, sự khác nhau của các nền văn hóa, tính độc đáo của mỗi nền văn hóa, hay nói cách khác bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc không chỉ được quy định bởi điều kiện môi trường, lịch sử xã hội mà còn bởi tâm lý con người Khi nhận thấy: văn hoá của các cộng đồng, dân tộc cả khi họ ở sát cạnh nhau mà không bị ngáng trở bởi bất cứ ranh giới địa lý nào thì mỗi tộc người đều có ý thức khu biệt giữa “ta và người” Phạm Đức Dương cho rằng, mỗi nền văn hóa có luật chơi riêng, quy định kiểu lựa chọn và tạo nên những đường nét độc đáo riêng Nét độc đáo ấy chính là bản sắc văn hóa của dân tộc đó

Trang 28

Bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện qua các dạng thức văn hóa cơ

bản là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.Văn hóa vật thể là những sáng tạo hữu hình của con người, như kiến trúc, hội họa, đường sá, vật dụng… Văn

hóa phi vật thể là những sáng tạo vô hình của con người như văn học, âm

nhạc, luật tục, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tri thức dân gian… Trong mỗi dạng thức này, hiểu về văn hóa dân tộc được cụ thể hơn và rõ ràng hơn

Như vậy, giá trị bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là những gì tinh túy nhất, quý báu nhất Có thể nói bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, tính nhất quán so với chính mình trong quá trình phát triển, đặc biệt trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa

Giá trị văn hóa dân tộc cũng chính là những nét riêng có của tinh thần, bản lĩnh, tâm hồn, tính cách dân tộc, là tâm lý, là sức mạnh nội sinh của từng nền văn hóa của mỗi dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc còn là sức sống bên trong của mỗi dân tộc, là quá trình thường xuyên tự ý thức, tự khám phá, tự tái tạo, tự điều chỉnh và tự tiếp nhận, từ đó tạo ra cho dân tộc mình có những giá trị văn hóa riêng mà nền văn hóa khác không có

Văn hóa dân tộc Việt Nam dưới quan niệm là văn hóa dân tộc thống nhất

trên cơ sở đa sắc thái văn hóa tộc người được thể hiện ở ba đặc trưng chính:

Đặc trưng thứ nhất: Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa

dạng trên tất cả các khía cạnh, người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tính ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ, từ truyền thống đến hiện đại của văn học, nghệ thuật Ngoài văn hoá Việt - Mường mang tính tiêu biểu, còn có các

Trang 29

nhóm văn hoá đặc sắc khác như Tày - Nùng, Thái, Chàm, Hoa - Ngái, Môn - Khơme, H’Mông - Dao, nhất là văn hoá các dân tộc Tây Nguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện của một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên

Đặc trưng thứ hai: Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân

bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam Từ cái nôi của văn hóa Việt Nam ở đồng bằng sông Hồng của người Việt chủ đạo với nền văn hóa làng xã và văn minh lúa nước, đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây bắc và Đông bắc Từ các vùng đất biên viễn của Việt Nam thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn với văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung bộ Từ những vùng đất mới ở Nam bộvới sự kết hợp văn hóa các tộc người Hoa, người Khme đến sự

đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên

Đặc trưng thứ ba: Với một lịch sử có từ hàng nghìn năm của người Việt

cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ từ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay Với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21 Việt Nam đã có những thay đổi

về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào nền văn hóa Việt Nam hiện đại

Có thể nói xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam, đã có ba lớp văn hoá chồng lên nhau: lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hoá giao lưu với phương Tây Nhưng đặc điểm chính của Việt Nam là nhờ gốc văn hoá bản địa vững chắc nên đã không bị ảnh hưởng văn hoá ngoại lai đồng hoá, trái lại còn biết sử dụng và Việt hoá các ảnh hưởng đó làm giầu cho nền văn hoá dân tộc

Trang 30

Văn hoá dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi trường sống cụ thể: xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều nền văn minh lớn Điều kiện tự nhiên (nhiệt, ẩm, gió mùa, sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước ) đã tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính cách, tâm lý con người Việt Nam Tuy nhiên, điều kiện xã hội và lịch sử lại là những yếu tố chi phối rất lớn đến văn hoá và tâm lý dân tộc Cho nên cùng là cư dân vùng trồng lúa nước, vẫn có những điểm khác biệt về văn hoá giữa Việt Nam với Thái Lan, Lào, Indonesia, Ấn Độ Cùng cội nguồn văn hoá Đông Nam Á, nhưng do sự thống trị lâu dài của nhà Hán, cùng với việc

áp đặt văn hoá Hán, nền văn hoá Việt Nam đã biến đổi theo hướng mang thêm các đặc điểm văn hoá Đông Á

Dân tộc Việt Nam hình thành sớm và luôn luôn phải làm các cuộc chiến tranh giữ nước, từ đó tạo nên một đặc trưng văn hoá nổi bật: tư tưởng yêu nước thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực Các yếu tố cộng đồng có nguồn gốc nguyên thuỷ đã sớm được cố kết lại, trở thành cơ sở phát triển chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc Chiến tranh liên miên, đó cũng là lý do chủ yếu khiến cho lịch sử phát triển xã hội Việt Nam có tính bất thường, tất cả các kết cấu kinh tế - xã hội thường bị chiến tranh làm gián đoạn, khó đạt đến điểm đỉnh của sự phát triển chín muồi Cũng vì chiến tranh phá hoại, Việt Nam ít có được những công trình văn hoá - nghệ thuật đồ sộ, hoặc nếu có cũng không bảo tồn được nguyên vẹn Tuy nhiên, qua lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã để lại cho hậu thế một nền văn hóa mang đậm bản sắc của người Việt

Nói như Giáo sư Vũ Đức Vượng (Hoa Kỳ), bản sắc văn hóa của người Việt là những gì có thể làm chúng ta hãnh diện khi nhìn vào trong gương hoặc đem ra chia sẻ cùng nhân loại Và quan trọng hơn cả: những gì chúng ta truyền lại cho con cháu chúng ta mà không cảm thấy ngượng với hậu thế Ông cho rằng có vài điểm “son” trong kho tàng văn hóa Việt ở thời điểm này: một

Trang 31

bản sắc lâu đời nhất mà ta biết được là bình đẳng giới; một nghệ thuật độc đáo nhất là múa rối nước và một món ăn tượng trưng cho người Việt ta là phở

Theo ông, từ thời nguyên sơ, phụ nữ Việt đã có sự bình đẳng, thể hiện qua câu chuyện Mẹ Âu Cơ và Bố Lạc Long Quân Ngoài việc dạy dỗ chúng ta

về nguồn gốc, nó còn là một chuyện tình rất đẹp, rất nhân bản, và là một trang

sử rõ ràng nhất về bình đẳng giới của người Việt nguyên thủy Ông cũng cho rằng, rối nước là nghệ thuật hoàn toàn của người Việt Bởi rối nước ra đời ở các làng mạc miền đồng bằng sông Hồng khoảng thế kỷ XI Còn phở tượng trưng cho một bản chất của người Việt Theo ông, phở nằm trong danh sách các món chúng ta mượn rồi biến chế thành một món ăn đặc trưng của chúng

ta, đến nỗi ngày nay đi khắp nơi trên thế giới hầu hết ai cũng có thể nhận ra đây là món ăn Việt Nhiều nước còn nhận chữ “phở” vào trong từ vựng của họ như một danh từ mới Phở còn là biểu tượng những làn sóng di dân của người Việt trong thế kỷ trước: từ năm 1954, phở “nam tiến” rồi tiếp thu thêm các rau thơm của miền Nam để đến nay bát phở Pasteur và bát phở Bát Đàn, tuy thực chất không khác gì nhau mấy nhưng không ai không nhận ra là từ miền nào Rồi từ năm 1975 trở đi, người Việt ta đã xuất khẩu phở ra khắp thế giới, như một lời chào đầu tiên khi chúng ta gặp mọi người: Chúng tôi đến từ Việt Nam! Không ai phủ nhận là trong kho tàng văn hóa Việt còn rất nhiều các “món” khác, cũng hấp dẫn, cũng đặc sắc, và cũng cần được bảo tồn, phát huy như ca dao truyền khẩu, lòng yêu nước, tình yêu, lòng hiếu học, tính hài hòa với thiên nhiên, hoặc một nồi cá bông lau kho tộ, một khúc hát Trịnh Công Sơn, một câu thơ Hồ Xuân Hương hay một câu vè dí dỏm không biết ai sáng tác

Cộng đồng người Việt Nam dù ở nơi đâu trên thế giới đều luôn luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, quê hương; quan tâm bảo tồn bản sắc và

Trang 32

truyền thống văn hóa dân tộc Cho đến nay, các cộng đồng dân tộc khác ở các nơi trên thế giới đều đánh giá cao bản sắc, truyền thống văn hóa của cộng đồng người Việt Nam với những thể hiện độc đáo, mang tính nhân văn sâu sắc qua các loại hình văn hóa, nghệ thuật, phong tục, ẩm thực, lối ứng xử… Quảng bá văn hóa từ các phương tiện sẽ thực hiện nhiệm vụ đó

1.1.3 Quảng bá văn hóa dân tộc

Nếu hiểu theo nghĩa chiết tự, quảng bá nghĩa là trình bày, giới thiệu rộng rãi, phổ biến có quy mô, làm cho nhiều người biết Quảng bá văn

hóa đã trở thành một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong thời

gian gần đây khi chúng ta đề cập tới các chiến lược, chính sách phát triển

văn hóa trong xu thế mở cửa và hội nhập Quảng bá văn hóa được hiểu là

hoạt động tổ chức, tuyên truyền các lĩnh vực văn hóa của một quốc gia, một tộc người hoặc một vùng miền với mục đích làm cho đông đảo mọi người biết được, hiểu được những nét đặc sắc của nền văn hóa đó Phạm

vi quảng bá có thể trong khuôn khổ nhỏ hẹp một địa phương hoặc mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, phổ biến trên toàn thế giới Hiệu quả của công tác quảng bá tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng, phục vụ và hỗ trợ cho việc quảng bá

Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải hiểu và nắm rõ được đâu là những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc vừa mang tính bề rộng vừa mang tính bề sâu, có những thành tố mang tính đặc trưng nhưng cũng có những thành tố thể hiện tính phổ biến sâu sắc

Ví như, có một số yếu tố thường được coi là đặc trưng của văn hóa Việt Nam khi nhìn nhận từ bên ngoài bao gồm tôn kính tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học Ở một góc độ nào đó, nhiều người phương Tây cho rằng, những biểu tượng quan trọng trong văn hóa Việt Nam bao gồm rồng, rùa, hoa sen và tre

Trang 33

Hội nhập văn hoá khi gia nhập WTO, các nhà văn hoá không khỏi băn khoăn và lo lắng cho một nền văn hiến nghìn năm bị mai một Sau cuộc hội nhập về kinh tế, chính trị, ngoại giao nhiều người lo ngại liệu văn hoá dân tộc

có đủ sức chống chọi lại với sự du nhập các luồng văn hoá của các nước tư bản, có sức mạnh lan tỏa ghê gớm trong thời đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa Vấn đề giao lưu và quảng bá nền văn hoá Việt được quan tâm ở những khía cạnh khác nhau: từ văn hoá ẩm thực, văn hoá thời trang, văn hoá trong nghệ thuật, văn hóa trong nếp sống hàng ngày cho đến những di sản văn hóa vật thể để lại từ ngàn đời…Việc lựa chọn những gì thuộc về bản sắc dân tộc để quảng bá được quan tâm rõ nét hơn

Ví dụ như, văn hoá ẩm thực đã định hình được vị đặc sản với du khách quốc tế với món “nem” và “phở” Văn hoá thời trang với tà áo dài truyền thống đã vinh danh không chỉ trên chính trường thời trang, sắc đẹp mà còn đại diện cho cả bản sắc dân tộc khi được chọn làm bộ quốc phục dành cho các nguyên thủ quốc gia trong hội nghị APEC (2006) Hoặc chúng ta cũng quan tâm nhiều đến văn hoá ứng xử, văn hóa lễ nghi…

Chưa bao giờ văn hoá Việt Nam lại nhộn nhịp với những di sản phi vật thể truyền thống đến thế Nhiều đoàn nghệ thuật dân gian ra đời như: Múa rối nước, hát quan họ, hát ca trù, hát xẩm; ở miền Trung có nhã nhạc cung đình,

ca Huế, hát Bội, hát Bài Chòi; ở Nam bộ có thêm cải lương và đờn ca tài tử…

Và chưa bao giờ một bộ phận lớp trẻ lại háo hức tìm tòi những loại hình nghệ thuật truyền thống đang dần bị mai một như vậy Người ta dần biết đến Nguyễn Đức Minh với thái độ chuyên tâm và bảo tồn với loại đàn môi cổ xưa của người dân tộc Người ta nhận ra các câu lạc bộ ca trù đang khởi sắc với câu lạc bộ ca trù người Việt, địa chỉ văn hoá theo yêu cầu Dân ca đương đại trở thành một thể loại nhạc “hot” trong niềm đam mê theo đuổi của nhiều nghệ sĩ…

Có những người bạn quốc tế đã phát biểu sau khi xem triển lãm nghệ thuật “Văn hóa phương Đông” được tổ chức tại Viện bảo tàng Phương

Trang 34

Đông cuối năm 2010 tại Nga, nơi trưng bày các hiện vật điêu khắc nổi tiếng của Việt Nam các thế kỷ trước, rằng nền nghệ thuật của Việt Nam

“tinh tế đến tuyệt vời” Đó không chỉ là lời khen ngợi mà nó hàm chứa cả

sự công nhận và nể phục của thế giới về nền nghệ thuật của Việt Nam Những di sản của cha ông để lại cho các thế hệ mai sau đã chinh phục trái tim và khối óc của nhiều người

Chúng ta đang cố gắng đi tìm bản sắc để giao lưu và quảng bá văn hoá của Việt Nam Nhưng chính chúng ta chưa nhận thức được rõ thế nào là bản sắc dân tộc, thế nào là truyền thống và cách tân và thế nào là đông tây kết hợp trong một xu thế toàn cầu hoá hiện nay Sợ giới thiệu những cái quá cổ điển thì thế giới không hiểu, sợ đưa những loại hình nghệ thuật dân tộc thì nó manh mún và nhỏ bé quá Việc quảng bá văn hoá Việt Nam ra nước ngoài và cho người nước ngoài đến Việt Nam còn nhiều bất cập Giáo sư Hoàng Chương đã từng bày tỏ rằng, thật là đáng tiếc khi tại bảo tàng văn hoá quốc gia Tokyo, khu Đông Nam Á có bày trống đồng của nhiều nước, nhưng không

có trống đồng của Việt Nam Chúng ta cần phải quảng bá nền văn hoá đa dạng của Việt Nam Mỗi sự kiện lớn nhỏ về chính trị, ngoại giao, kinh tế đều được các nhà tổ chức sử dụng văn hoá như một phương tiện để hỗ trợ cho công việc của mình Và chúng ta đã thành công với những sự kết hợp như vậy Buổi khai mạc “Hình ảnh APEC và di sản văn hóa Việt Nam” (14/11/2006) với những tiết mục múa cờ, múa trống, đặc biệt nổi bật bản sắc văn nghệ dân gian Việt Nam là nhóm nghệ sĩ đàn hát dân ca "Đêm di sản văn hoá Việt Nam" với những chương trình nghệ thuật Lân - Sư - Rồng, nghệ thuật trà đạo, hoà tấu nhạc dân tộc, nhạc Cung đình Huế Quảng bá văn hoá Việt Nam trong sự kiện APEC 2006 tại triển lãm Vân Hồ với những phòng trưng bày văn hoá nghệ thuật của các địa phương

Nhưng tất cả chỉ là manh mún và nhỏ nhoi so với bề dày truyền thống của hàng nghìn năm văn hiến Chúng ta đã không quảng bá văn hóa được cho

Trang 35

chính lớp trẻ đang bị lai căng và xu hướng “tây” hoá, chúng gần như không biết đến những loại hình nghệ thuật dân gian Sự kiện rối nước của chúng ta

bị trả hồ sơ UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới do bị nhiều yếu tố ngoại lai, mất đi phần hồn thuần Việt… Ngay cả trong Hội nghị APEC, trong những buổi tiếp đãi quan khách cấp cao, chỉ có dàn nhạc giao hưởng Việt Nam biểu diễn Những môn âm nhạc dân tộc chính xác như Ca trù, Nhã nhạc cung đình Huế hay đờn Tài tử miền Nam chỉ biểu diễn ở bên ngoài và các quan khách cao cấp chưa bao giờ được nghe

“Nắm được đặc trưng nghệ thuật Việt Nam cũng có nghĩa là nắm được chiều sâu của tâm hồn Việt Nam” Giáo sư Vũ Khiêu đã nói thế, và chúng ta cũng nhận ra được, nếu chúng ta không nắm được bản sắc văn hoá của mình thì không thể làm được nhiệm vụ quảng bá văn hoá dân tộc văn hiến mà anh hùng

1.2 Truyền hình

1.2.1 Khái niệm

Truyền hình là một loại phương tiện truyền thông đại chúng truyền

tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh [35, tr.127]

1.2.2 Đặc trưng của truyền hình

Truyền hình, mặc dù là một loại hình báo chí, nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyền hình

- Tính thời sự:

Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với

tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác.Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra, thậm chí khi nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết,

Trang 36

tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24 giờ trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác

Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại, truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc “Khi sự kiện diễn ra, phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng giải nó”

- Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh:

Một ưu thế của truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thính giác và thị giác Qua các cuộc nghiên cứu, người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác

và 20% qua thính giác Do vậy, truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện

- Tính phổ cập và quảng bá:

Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng, phục

vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ, một sự kiện xảy ra ở bất kỳ đâu được đưa lên vệ tinh sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến Ngày nay, ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn cóthể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới

Trang 37

- Khả năng thuyết phục công chúng:

Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng “Trăm nghe không bằng mắt thấy”, chính truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu cầu “thấy” của người xem Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với các loại hình báo in và phát thanh

- Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân:

Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dự luận mạnh mẽ

1.2.3 Phân loại

Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV)

Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV)

và truyền hình thương mại (commercial TV)

Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí

Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự (analog TV) và truyền hình số (digital TV)

Truyền hình sóng (vô tuyến truyền hình - wireless TV) được thực hiện

theo nguyên tắc kỹ thuật như sau: hình ảnh và âm thanh được mã hóa dưới dạng các tín hiệu sóng và phát vào không trung Các máy thu tiếp nhận tín hiệu rồi giải mã nhằm tạo ra hình ảnh động và âm thanh trên máy thu hình

Trang 38

Còn sóng truyền hình là sóng phát thẳng, vì thế ăng ten thu bắt buộc phải

“nhìn thấy” được ăng ten máy phát và phải nằm trong vùng phủ sóng thì mới nhận được tín hiệu tốt Từ những đặc điểm kỹ thuật này, nên truyền hình sóng chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu của công chúng bằng các chương trình cho các đối tượng; không có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu hay dịch vụ cá nhân

Truyền hình cáp hữu tuyến đáp ứng nhu cầu, phục vụ tốt hơn công

chúng Nguyên tắc thực hiện của truyền hình cáp là tín hiệu được truyền trực tiếp qua cáp nối từ đầu máy phát đến từng máy thu hình Từ đó, truyền hình cáp trong cùng một lúc có thể chuyển đi nhiều chương trình khác nhau đáp ứng theo nhu cầu của người sử dụng Ngoài ra, truyền hình cáp còn phục vụ nhiều dịch vụ khác mà truyền hình sóng không thể thực hiện được

1.2.4 Kênh truyền hình cáp chuyên biệt

Trong xu thế phát triển của xã hội, truyền hình trở thành một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại mang tính toàn cầu Bằng hình ảnh sống động, phát huy mọi khả năng giao tiếp của ngôn ngữ, âm thanh truyền hình mang lại khả năng giải trí hữu hiệu bên cạnh việc truyền tải thông tin Mặt khác, truyền hình còn trở thành một loại hàng hóa kinh doanh đặc biệt dựa trên cơ sở bán các kênh thông tin giải trí tới người xem

Điểm độc đáo của truyền hình cáp chính là ở sự chuyên biệt về nội dung chương trình, tạo sự sâu sắc, hấp dẫn, phù hợp với người xem Sự chuyên biệt này tạo sự đa dạng kênh kéo theo sự phong phú và hài lòng trong chọn lựa khi giải trí hay tìm thông tin cụ thể của khán giả Đồng thời, đây là một chiến lược phát triển thương mại hiệu quả của các đài truyền hình, bởi lợi nhuận luôn đi kèm với sự mới lạ, cuốn hút của chương trình

Truyền hình chuyên biệt là một hình thức truyền hình dịch vụ được xây dựng chuyên nghiệp, phát sóng hàng ngày, có nội dung chuyên sâu về một lĩnh vực nhất định (thể thao, âm nhạc, tài chính, du lịch, văn hóa …)

Trang 39

hoặc có nội dung chỉ dành cho một nhóm đối tượng khán giả mục tiêu (có những đặc điểm chung về lứa tuổi, giới tính, địa lý …) nhằm mục tiêu phục

vụ tốt nhất nhu cầu của công chúng xem truyền hình

Xét về nội dung, truyền hình cáp phục vụ người xem trên nhiều lĩnh vực khác nhau như thể thao, phim truyện, âm nhạc, khám phá khoa học, sức khỏe, du lịch, văn hóa, thông tin mua sắm, thông tin thị trường

Xét về đặc điểm của khán giả, với tiêu chí về lứa tuổi, giới tính, khu vực, truyền hình cáp có các kênh cho trẻ em (BiBi, Cartoon), kênh cho khán giả trẻ, thanh thiếu niên (Disney, VTV6), kênh cho phụ nữ (TV Shopping, Diva), kênh dành cho đàn ông (các kênh thể thao), kênh dành cho những người thích du lịch, tìm hiểu văn hóa (NGC, Discovery, Du lịch)

Truyền hình cáp chuyên biệt giúp khán giả tiết kiệm thời gian Sự bận rộn trong đời sống hiện đại khiến thời gian bị phân tán, đôi khi thời lượng dành cho giải trí trở thành hiếm hoi và có thể bị cản trở nếu thời gian biểu của họ không phù hợp với thời gian phát sóng một chương trình mà họ yêu thíchcủa một kênh tổng hợp Kênh chuyên biệt với nội dung được trình chiếu 4/24 giờ, đảm bảo sự linh hoạt trong lựa chọn chương trình của khán giả Đồng thời do làm chuyên sâu một vấn đề nên các kênh chuyên biệt thật

sự có điều kiện đi sâu, tìm hiểu cặn kẽ vấn đề chương trình của họ, vì thế chất lượng nội dung hấp dẫn Chính sự chuyên nghiệp, không lặp lại trong mỗi kênh chuyên biệt giúp chúng trở thành những lựa chọn không thiếu được của khán giả khi đến với truyền hình

1.2.5 Kênh Du lịch

Kênh Du lịch là kênh truyền hình chuyên biệt, đem lại nhiều thông tin hiểu biết hữu ích về du lịch, đời sống, cũng như quảng bá văn hóa dân tộc đến các khán giả xem truyền hình

1.3 Vai trò của truyền hình đối với việc quảng bá văn hóa

Có thể thấy, báo chí là một phần của đời sống văn hóa - xã hội hiện đại

Văn hoá và Báo chí có mối quan hệ khăng khít và biện chứng Báo chí là bộ

Trang 40

phận của văn hoá nhưng báo chí cũng sáng tạo ra và phổ biến văn hoá, lưu truyền văn hoá Nó trở thành một bộ phận cấu thành văn hóa, đồng thời là phương tiện thực thi, quảng bá văn hóa Báo chí không đơn thuần làm công việc chuyển tải văn hóa một cách thụ động mà phải chủ động sàng lọc khi quảng bá văn hóa đại chúng, không tiếp tay cho những hành vi phản cảm trong hoạt động văn hóa nghệ thuật

Truyền hình chuyển những thông điệp văn hóa tới khán giả bằng lời, chữ, tiếng, hình… hoặc riêng rẽ hoặc liên kết bằng công nghệ Truyền thông không chỉ là công cụ vật chất, là công nghệ và kỹ thuật, truyền thông trước hết là người Thông điệp báo chí truyền hình vì vậy có thể cao quý, nhân văn, phục vụ lợi ích cộng đồng, cũng có thể thông tục, phi văn hóa, phi đạo đức, phục vụ lợi ích nhóm và tham vọng kinh tế-chính trị của họ Trong thời đại toàn cầu hóa, do nhiều yếu tố đan xen, ranh giới trong nội dung thông điệp không rõ nét như trước song chẳng bao giờ biến mất hoàn toàn

Với sứ mệnh như vừa nói ở trên, truyền hình hiện diện trên mọi lĩnh vực, đóng vai trò to lớn trong quảng bá văn hóa, góp phần vào sự nghiệp xây dựng, phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc Điều đặc biệt đáng nhấn mạnh là, trong khi các loại hình văn hóa đều thông qua cách tác nghiệp riêng của ngành để “làm văn hóa” hoặc tự lưu, thì duy nhất có báo chí nói chung, truyền hình nói riêng vừa làm sứ mệnh được giao trên tư cách bộ phận cấu thành văn hóa, vừa chung tay chung sức cùng các loại hình văn hóa khác thực hành sứ mệnh của họ, góp phần quảng bá, đưa chúng lan tỏa nhanh, rộng trong nhân dân Thời đại hậu công nghiệp với những thành tựu của công nghệ thông tin, vai trò và tác động của truyền hình với tư cách là phương tiện thực thi văn hóa càng to lớn, càng hữu hiệu nhờ ở thế mạnh ít lĩnh vực nào sánh được với nó, thể hiện ở sự tăng tiến đột biến về tốc độ, số lượng, chất lượng

và khả năng tương tác đa chiều

Ngày đăng: 12/11/2021, 23:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w