Học thuyết “Dòng chảy hai bước của truyền thông” Lazarsfeld và Katz xuất hiện với quan điểm cơ bản là bên cạnh kênh truyền thông đại chúng, từng cá nhân người tiếp nhận còn có các mối qu
Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Báo chí là một trong những loại hình truyền thông đại chúng đặc biệt mang rõ nét nhất, đặc trưng nhất tính chất của truyền thông đại chúng, do đó bản chất của hoạt động báo chí cũng bao gồm bản chất của hoạt động truyền thông đại chúng Lý luận báo chí (hay còn gọi là báo chí học) nhằm nghiên cứu toàn diện các vấn đề trong sự vận hành của hệ thống báo chí Nó làm rõ các phạm trù, khái niệm cơ bản, tìm ra những mối quan hệ bên trong, sự vận động qua lại giữa bản thân báo chí với các tiến trình xã hội, phát hiện ra tính quy luật cũng như những phương pháp, nguyên tắc, con đường nhằm tăng cường chất lượng hoạt động của mỗi nhà báo, mỗi cơ quan báo chí và cả hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, năm 2012 có định nghĩa “Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến phát triển theo từng ngày và có tác động chi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này, thậm chí trong các sách, giáo trình chính thức bằng tiếng Việt, kể cả tiếng nước ngoài cũng chưa thấy đưa ra khái niệm báo chí là gì, báo chí và thông tin báo chí có những đặc điểm cơ bản nào để có thể nhận diện rõ hơn về bản chất và cơ chế hoạt động” [15, tr 53] Tuy nhiên, quan niệm về báo chí có nhiều quan điểm khác nhau:
Báo chí trong quan niệm của dân gian: Trong xã hội Việt Nam ngày trước, báo chí nhiều khi được ví, được coi như “thằng mõ”; là người mách lẻo, thóc mách, đưa chuyện, là người hóng hớt “thằng mõ” trong xã hội
Việt Nam trước đây là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báo cho dân làng biết những gì đã, đang và sắp xảy ra [15, tr 54]
Dưới góc độ báo chí - truyền thông Việt Nam thì “thằng mõ” được xem là một trong những dạng thức “người đưa tin” cổ xưa và sơ khai” [15, tr 54] Ở khía cạnh khác, báo chí được hiểu là phương tiện thông báo, thông tin về những việc mới diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết Báo chí là phương tiện thông tin thời sự, phương tiện giao tiếp xã hội; là diễn đàn cung cấp, trao đổi, chia sẻ thông tin công khai Ở góc độ tiếp cận từ lí thuyết, báo chí được coi là “những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kì, đều đặn” [15, tr 54]
Theo nghĩa hẹp, báo chí được hiểu bao gồm báo và tạp chí; theo nghĩa rộng bao gồm các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Báo chí chính là một bộ máy để tìm hiểu thông tin, phổ biến và phân tích tin tức, là những cơ quan ngôn luận, cung cấp thông tin và ý kiến về mọi vấn đề Báo chí là tên gọi chung của các thể loại thông tin đại chúng Có những loại báo chí sau:
Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội Trong trường hợp này, thuật ngữ báo in được dùng để chỉ hai bộ phận: báo và tạp chí
Toàn bộ thông tin của báo in đồng thời xuất hiện trước mắt người đọc hầu như trên một trang báo Sự đồng hiện thông tin của báo in được thể bằng những thông tin xuất hiện cùng lúc trên trang báo, thông qua việc trình bày, tổ chức trang báo như: chuyên trang, chuyên mục, tiêu đề, tít chính, tít phụ, sapô, nội dung, hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ Phương thức truyền tải thông tin này là một ưu thế nhất định của báo in với công chúng đọc báo in có thể thấy tít hoặc sapô hấp dẫn hay cũng có thể tranh ảnh, biểu đồ minh họa gây chú ý mà thu hút họ mua báo và đọc
Một cách hiểu khác: báo in là sản phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự được nhân bản bằng máy in và phát hành rộng rãi trong xã hội
Báo in có tính định kỳ Tính định kỳ này được mặc định giữa tòa soạn báo chí với công chúng bằng sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định Sản phẩm báo in có thể ra hàng ngày hoặc hàng tuần nhưng nếu tính định kỳ bị phá vỡ sẽ làm báo xáo trộn thói quen theo dõi, mua báo và đọc báo của công chúng và họ sẽ tự kiếm những phương tiện, hình thức khác để tiếp cận thông tin
Sản phẩm của báo in được phát hành rộng rãi trong xã hội Nhưng mỗi loại báo in có đối tượng công chúng đặc thù như: báo Thanh niên, báo Tiền phong, báo Tuổi trẻ dành cho lứa tuổi đoàn viên, thanh niên; báo Nhi đồng dành cho lứa tuổi nhi đồng; báo Người cao tuổi dành cho những người cao tuổi; báo Phụ nữ dành cho phụ nữ Với mỗi đối tượng công chúng lại mang đặc điểm tâm sinh lý khác nhau nên cách thức tiếp cận thông tin cũng không giống nhau Do đó, mỗi cơ quan báo in cần có cách thức thông tin phù hợp với đối tượng công chúng của mình
Công chúng của báo in tiếp nhận thông tin bằng thị giác nên hoàn toàn có thể chủ động về không gian, thời gian, địa điểm tiếp nhận thông tin khi thấy phù hợp Chính nhờ sự chủ động của công chúng khi đọc báo in nên việc ghi nhớ thông tin cũng lâu hơn, chi tiết hơn giúp cho việc nhận thức các mặt của một sự kiện phức tạp hay vấn đề cũng đầy đủ, đúng đắn hơn
Phát thanh là một loại hình báo chí ra đời vào những năm 50 của thế kỷ
XX trên cơ sở của việc phát hiện ra sóng điện tử Đó là phát minh quan trọng trong lĩnh vực vật lí, gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học nổi tiếng thế giới lúc bấy giờ như: Ambrose Fleming, Faraday, Clerk Maxwell, Rudolf Hext
Theo PGS TS Nguyễn Đức Dũng: “Phát thanh là một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó sử dụng ngôn ngữ âm thanh tổng hợp, sinh động bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện tử và hệ thống truyền thanh tác động trực tiếp vào thính giác của người nghe” [13, tr 23]
Hiện nay, phát thanh vẫn được coi là truyền hình truyền thông có khả năng thu hút một lượng thính giả rộng rãi và có sức ảnh hưởng lớn tới dư luận xã hội
QUAN HỆ GIỮA CÔNG CHÚNG LÀ NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƢƠNG VÀ THÔNG ĐIỆP SỬ DỤNG MUỐI I-ỐT TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
Địa điểm mẫu điều tra
2.1.1 Vài nét về địa điểm nghiên cứu
Quá trình hình thành và phát triển:
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành của cả nước về các bệnh lý liên quan đến nội tiết và rối loạn chuyển hóa Là cơ sở y tế đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và đưa vào ứng dụng thành công phương pháp mổ nội soi tuyến giáp không để lại sẹo mang tên “Dr Lương”, được các bác sĩ trong nước và các học viên trên thế giới tìm đến để học tập
Bệnh viện Nội tiết Trung ương được thành lập vào năm 1969, đây là thời điểm mà đất nước ta đang trong cuộc chiến tranh khốc liệt, KT-XH gặp rất nhiều khó khăn và thiếu thốn
Những năm đầu thành lập, bệnh viện chỉ có 7 bác sĩ làm việc Tuy nhiên, với sự nỗ lực của ban cán bộ nhân viên cùng sự chỉ đạo của Bộ Y tế hiện nay bệnh viện đã có gần 1000 cán bộ nhân viên cùng 38 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và các phòng chức năng
Với tỉ lệ người mắc bệnh nội tiết ngày càng cao, xác định được tình hình thực tế như vậy, Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương đã thành lập 2 cơ sở
Cơ sở 1 ở tại Tứ Hiệp, Thanh Trì, nằm ngay bên cạnh đường quốc lộ 1 cũ, đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ, cách trung tâm Hà Nội 10km Hiện đây là khu vực khám, điều trị chính của bệnh viện, nơi có đội ngũ chuyên gia, bác sĩ chủ chốt và được trang bị nhiều máy móc hiện đại, phục vụ tốt nhất cho công tác khám chữa bệnh
Cơ sở 2 Bệnh viện Nội tiết Trung ương hay còn được gọi là cơ sở Thái
Thịnh Cơ sở này được thành lập và đi vào hoạt động trước, tuy nhiên, trong những năm gần đây cơ sở vật chất đã bị phần nào xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu điều trị nội trú của người bệnh Hiện tại cơ sở Thái Thịnh chỉ duy trình hoạt động khám bệnh thông thường điều trị ngoại trú cho người bệnh ở khu vực nội thành, các trường hợp bệnh nhân nặng, cần phẫu thuật sẽ được chuyển sang cơ sở Tứ Hiệp
Hiện nay, Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã trải qua gần 50 năm hình thành và phát triển Mỗi năm phục vụ khám, điều trị cho hàng chục lượt người bệnh Bệnh viện cũng là cơ sở y tế đầu tiên trong cả nước tiến hành phương pháp mổ nội soi tuyến giáp Mang lại hiệu quả trong điều trị, từ đó rút ngắn thời gian nằm viện của người bệnh
Ngoài 2 cơ sở chính trên thì Bộ Y tế đang thực hiện dự án xây dựng Bệnh viện Nội tiết Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh Dự án này được đề ra dựa vào tình hình thực tế tỉ lệ mắc bệnh nội tiết ở nước ta ngày càng gia tăng, nhất là hệ thống bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa thực sự đảm bảo, chuyên môn chưa cao và trong tình trạng quá tải Quy mô bệnh viện theo kế hoạch sẽ là 1000 giường bệnh giúp giải quyết nhu cầu khám chữa bệnh của người dân thành phố và tỉnh miền Nam
Bệnh viện đã đạt được nhiều thành tích to lớn như: Huân chương lao động hạng Ba; Huân chương lao động hạng Nhì; Bằng khen của Bộ trưởng
Bộ Y tế; Danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc Đặc biệt, năm 2019, Bệnh viện rất vinh dự được đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất, đây được xem là bước đánh dấu quan trọng ghi nhận những công sức và nỗ lực hết mình của tập thể bệnh viện nói riêng
Cơ cấu tổ chức và ban lãnh đạo của Bệnh viện Nội tiết Trung ương:
Hiện nay, bệnh viện hội tụ của gần 1000 cán bộ nhân viên gồm các Giáo sư, Tiến sỹ, Bác sỹ chuyên khoa II, Thạc sỹ, Bác sỹ chuyên khoa I; Bác sỹ, Kỹ thuật viên, Điều dưỡng… có chuyên môn cao, và được đào tạo bài bản
Bệnh viện có 38 khoa cận lâm sàng và lâm sàng, và 09 phòng chức năng
Chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là cơ sở y tế chuyên về những nhóm bệnh nội tiết, các biến chứng do bệnh nội tiết… Các dịch vụ nổi bật của bệnh viện như sau: Khám và điều trị các bệnh lý như: Đái tháo đường, cường giáp, suy giáp, cường chức năng tuyến yên, suy tuyến yên, suy tuyến thượng thận, bệnh nội tiết sinh sản ; Chăm sóc và điều trị cho các bệnh nhân có biến chứng đái tháo đường, biến chứng bàn chân; Điều trị bệnh thận, tiết niệu; Khám, điều trị các bệnh về liên khoa Mắt – Tai mũi họng – Răng hàm mặt liên quan đến nội tiết; Thực hiện xét nghiệm chẩn đoán bệnh như: Xét nghiệm ATG, ATPO, xét nghiệm HbA1C…; Thực hiện các thủ thuật điều trị như: Phẫu thuật nội soi ổ bụng, phẫu thuật đốt hạch giao cảm, u tuyến vú, tuyến giáp …; Thực hiện tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân có nhu cầu
2.1.2 Về đối tượng nghiên cứu Để tìm hiểu cách thức tiếp cận thông điệp sử dụng muối I-ốt của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên các phương tiện TTĐC chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu một bộ phận công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Về đối tượng công chúng trong nghiên cứu: tiến hành điều tra bằng bảng hỏi được tiến hành với 200 bệnh nhân và người thân chăm sóc bệnh nhân tại Bệnh tại Bênh viện Nội tiết Trung ương (trong đó, tại Cơ sở Tứ Hiệp, Thanh Trì chúng tôi tiến hành phát 100 bảng câu hỏi; tại cơ sở Thái Thịnh, Đống Đa chúng tôi tiến hành phát 100 bảng câu hỏi); có độ tuổi từ 15 đến trên
60 tuổi là các đối tượng: công chức, viên chức; công nhân; kinh doanh; làm việc tự do; sinh viên; học sinh Đặc điểm của mẫu điều tra được thể hiện ở các bảng thống kê dưới đây:
- Về cơ cấu giới tính của mẫu điều tra công chúng bệnh nhân tại Bệnh tại Bênh viện Nội tiết Trung ương thể hiện bảng 2.1 (xem bảng 2.1):
Bảng 2.1 Giới tính mẫu điều tra công chúng là người bệnh tại Bệnh viện
Giới tính Số lƣợng Tỷ lệ (%)
(Kết quả khảo sát của tác giả luận văn tháng 7/2019)
Nhìn vào bảng 2.1 trên cho thấy tỉ lệ giới tính nam và nữ trong mẫu khảo sát có sự chênh lệch không đồng đều khi số liệu cho thấy hơi nghiêng về nữ với 111 phiếu (chiếm 55,5%), nam giới là 89 phiếu (chiếm 44,5%) Mức chênh lệch này không lớn và không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
Công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương với việc tiếp nhận các thông điệp sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện truyền thông đại chúng
2.2.1 Tần suất tiếp cận thông điệp sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Tần suất tiếp cận thông tin truyền thông phản ánh trình độ phát triển của công chúng, thị hiếu của công chúng, sự tương tác giữa các nhóm công chúng với loại hình truyền thông Mức độ tiếp cận thông tin truyền thông càng cao thì tương tác giữa các nhóm công chúng đó với các phương tiện TTĐC ngày càng rõ rệt Thông thường chỉ số này ở mỗi nhóm công chúng tương đối ổn định theo thời gian Tuy nhiên, đối với sự kiện hay vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm công chúng nói chung và công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương nói riêng như vấn đề thông điệp về sử dụng muối I-ốt thì mức độ theo dõi thông điệp có thể thay đổi Đồng thời, việc theo dõi tin tức của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương đối với mỗi kênh truyền thông còn là chỉ số gián tiếp phản ánh nhiều thông số khác nhau như sự tin cậy, tính hấp dẫn của mỗi kênh truyền thông
Khảo sát 200 người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương về việc tiếp nhận các thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện TTĐC chúng tôi thu được kết quả như sau (xem biểu đồ 2.1):
Một vài lần/tuần Mỗi tháng vài lần Rất ít khi
Biểu đồ 2.1 Tần suất tiếp cận thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện TTĐC của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết
Theo kết quả khảo sát trên cho thấy việc tiếp cận thông điệp về sử dụng muối I-ốt của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên các phương tiện TTĐC là một hành vi rất điển hình Có đến 88% lượng công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương được điều tra đều tiếp cận vấn đề thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các kênh TTĐC khác nhau Trong đó, số người thực hiện hành vi theo dõi thường xuyên hàng ngày chiếm 24% Nếu cộng cả 3 mức độ: thường xuyên hàng ngày, một vài lần/tuần, mỗi tháng vài lần cho ra tỉ lệ 62% Điều này cho thấy công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương rất quan tâm đến các thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện TTĐC
Tỷ lệ 62% số người thường xuyên và thỉnh thoảng tiếp cận vấn đề thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các kênh TTĐC cho thấy cách tiếp cận vấn đề thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các kênh TTĐC hầu hết đã đáp ứng được nhu cầu thông tin về sử dụng muối I-ốt trên các kênh TTĐC của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương Mặt khác, vấn đề này đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan truyền thông phải không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả thông điệp về sử dụng muối I-ốt đối với công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương nói riêng và công chúng nói chung nhằm tạo sự gắn kết giữa công chúng với các sản phẩm TTĐC
Tần suất tiếp cận thông điệp sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện TTĐC của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương còn ảnh hưởng bởi giới tính, độ tuổi, ngành nghề và trình độ học vấn Cụ thể:
Quan sát chỉ báo giới tính chúng tôi thu được kết quả về số lượng nam giới thường xuyên theo dõi thông điệp về sử dụng muối I-ốt chiếm 10% ở nam và ở nữ chiếm 14%; số lượng một vài lần/tuần ở nam giới là 8% và nữ giới là 8%; ở mức độ mỗi tháng vài lần của nam giới là 7,5%, ở nữ là 14,5%; tỷ lệ rất ít khi của nam là 15% còn của nữ là 17%; tỷ lệ không tiếp cận ở nam giới là 4% còn nữ giới là 2%
Phân theo độ tuổi của người được hỏi cho thấy mức độ thường xuyên hàng ngày tập trung nhiều nhất ở độ tuổi từ 35-44 tuổi (chiếm 7%); tiếp đến là mức độ một vài lần/tuần và mỗi tháng vài lần chủ yếu tập trung ở độ từ 25-34 tuổi (11,5%; 6,5%); mức độ rất ít và không tập trung ở độ tuổi từ 15-24 tuổi (6%; 3%) Với kết quả trên có thể thấy rằng công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương ở độ tuổi từ 15-24 tuổi vẫn chưa thực sự thường xuyên quan tâm, tiếp cận nhiều đến các thông điệp về sử dụng muối I-ốt
Theo ngành nghề của công chúng khảo sát cho thấy tỉ lệ công chúng là công chức, viên chức và người về hưu tiếp cận thông điệp về sử dụng muối I-ốt thường xuyên hàng ngày (chiếm 12,5%); mức độ tiếp cận một vài lần/tuần, mỗi tháng vài lần tập trung chủ yếu ở nhóm công chúng là nông dân (chiếm 19,5%); nhóm công chúng rất ít khi tiếp cận và không tiếp cận thông điệp nhiều nhất là công nhân (chiếm 12%)
Phân theo trình độ học vấn cho thấy ở nhóm đối tượng công chúng có trình độ THPT, trung cấp có mức độ theo dõi thường xuyên hàng ngày và một vài lần/tuần chiếm tỉ lệ lớn nhất 24,5%; bên cạnh đó, đây cũng là nhóm đối tượng rất ít khi và không tiếp cận thông điệp chiếm tới 10%
Từ các kết quả khảo sát trên cho thấy công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương rất quan tâm và thường xuyên tiếp cận đến các thông điệp về sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện TTĐC
2.2.2 Phương thức tiếp cận thông điệp sử dụng muối I-ốt trên các phương tiện truyền thông đại chúng
Truyền thông về thông điệp sử dụng muối I-ốt cho công chúng nói chung và công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương nói riêng luôn được Nhà nước, Bộ Y tế và sở ban ngành địa phương triển khai quyết liệt và đồng bộ nhằm chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng cho nhân dân trong cả nước Một trong những giải pháp đó là phải tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá trong nhận thức, cách làm của cán bộ nhân viên y tế thông qua các phương tiện TTĐC Trong những năm qua Bộ Y tế và các trung tâm chăm sóc sức khỏe đã có những quyết tâm cao, đoàn kết, sáng tạo, nỗ lực vượt qua khó khăn giành được kết quả nổi bật trong truyền thông thông điệp về sử dụng muối I-ốt cho người dân
Qua khảo sát về phương thức tiếp cận thông điệp về sử dụng muối I-ốt của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương có khả năng tiếp cận với tất cả các loại hình phương tiện TTĐC Tuy nhiên, mức độ tiếp cận đối với từng loại hình, từng kênh thông tin báo chí là khác nhau Cụ thể như sau (xem biểu đồ 2.2):
Biểu đồ 2.2 Mức độ lựa chọn các phương tiện TTĐC của công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương
Nhìn vào kết quả biểu đồ 2.2 trên cho thấy công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương thường lựa chọn phương tiện TTĐC là báo chí (chiếm 42,5%) trong đó, truyền hình và báo điện tử là 2 phương tiện truyền thông được công chúng tiếp nhận các thông điệp về sử dụng muối I-ốt
(chiếm 35%); mạng xã hội là phương tiện truyền thông mới ra đời được gần
10 năm trở lại đây nhưng cũng lại là phương tiện TTĐC thu hút sự chú ý và quan tâm của độc giả là công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương Kết quả này phản ánh khá sát với sự phát triển của xã hội, nhất là trong thời kỳ 4.0 (chiếm 30%) Hiện nay, đời sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội Việt Nam đang có những chuyển biến rõ rệt, chất lượng cuộc sống ngày càng cao nên việc tiếp cận thông tin qua truyền hình được nâng cao về cả mặt số lượng và chất lượng sinh ra lớp công chúng truyền hình hiện đại
Theo điều tra, hiện nay số lượng tivi có trong các gia đình người Việt chiếm một tỉ lệ không nhỏ khoảng 80% Như vậy, họ sẽ tiếp cận thông tin qua truyền hình cao hơn các loại hình truyền thông khác tương ứng với số phương tiện có trang bị trong nhà Thêm vào đó, hiện nay tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương được sự quan tâm của Nhà nước nên tại đây cũng có trang bị hệ thống tivi để thông điệp về việc sử dụng muối I-ốt cho công chúng là người bệnh tại đây có phần được đẩy mạnh hơn Việc nắm rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng muối I-ốt… luôn là điều mà công chúng là người bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương mong muốn được tiếp nhận một cách toàn diện, đầy đủ Đặc biệt, những thông tin này được chuyển tải thông qua các phương tiện truyền hình với những đặc trưng cơ bản về hình ảnh và tiếng động hiện trường cùng với sắc thái tình cảm thái độ người thực hiện chương trình được thể hiện bằng lời bình, âm nhạc, tiếng động hiện trường….đã tác động tới người xem, cuốn hút và gây xúc cảm cho họ Qua màn ảnh nhỏ, người xem như được tận mắt trông thấy những sự kiện, hiện tượng và hành động, thái độ của con người như họ là người trực tiếp có mặt tại nơi diễn ra sự việc, hiện tượng ấy