1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung thông tin phát trên các đài phát thanh – truyền hình vùng đông bắc

136 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 5,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc tự đổi mới nội dung, nâng cấp chất lượng hình ảnh, âm thanh; đa dạng hạ tầng truyền dẫn phát sóng của các chương trình, các đài truyền hình địa phương cũng cần nghiên cứu v

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM THỊ THÙY LINH

SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ QUẢNG BÁ NỘI DUNG THÔNG TIN PHÁT TRÊN CÁC ĐÀI PHÁT THANH

- TRUYỀN HÌNH VÙNG ĐÔNG BẮC

(Khảo sát Đài PT - TH Thái Nguyên, Đài PT - TH Bắc Giang,

Đài PT - TH Quảng Ninh từ tháng 1 - 6/2019)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM THỊ THÙY LINH

SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ QUẢNG BÁ NỘI DUNG THÔNG TIN PHÁT TRÊN CÁC ĐÀI PHÁT THANH

- TRUYỀN HÌNH VÙNG ĐÔNG BẮC

(Khảo sát Đài PT - TH Thái Nguyên, Đài PT - TH Bắc Giang,

Đài PT - TH Quảng Ninh từ tháng 1 - 6/2019)

Chuyên ngành : Phát thanh - Truyền hình

Mã số : 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thành Lợi

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày…… tháng… năm 20…

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng

tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Thành Lợi và chưa từng được

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày … tháng … năm 20…

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thùy Linh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn

sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS

Nguyễn Thành Lợi, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cũng như định

hướng về phương pháp làm việc, phương pháp nghiên cứu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, các thầy cô giảng dạy cũng như thầy cô trong Khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện cho tôi suốt những năm học vừa qua

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của lãnh đạo, ban biên tập, phóng viên các Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và Quảng Ninh trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Mặc dù đã hoàn thành, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý quý báu của các thầy cô giáo, các anh chị cũng như các bạn đồng môn

Hà Nội, ngày … tháng… năm 20…

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thùy Linh

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Minh họa việc công chúng ấn thích trang để được cập nhật tin tức 41

Hình 2.2 Giao diện kênh Youtube của Đài PT - TH Bắc Giang 41

Hình 2.3 Ảnh bìa Đài PT - TH Thái Nguyên được thay đổi thường xuyên 46

Hình 2.4 Giao diện giới thiệu của kênh Youtube Đài PT - TH Thái Nguyên 46

Hình 2.5 Ảnh minh họa cách thể hiện nội dung trên fanpage 47

Hình 2.6 Ảnh người dùng Facebook đánh giá về trang fanpage 47

Hình 2.7 Biểu đồ thống kê số lượng video được đăng tải và số lượng theo dõi 48

Hình 2.8 Video phát sóng tháng 1/2019 có lượt xem thấp và thời lượng dài 48

Hình 2.9 Video phát sóng tháng 6/2019 có lượt xem cao và thời lượng ngắn 49

Hình 2.10 Ảnh minh họa tên chương trình và thời gian phát sóng được đăng tải 51

Hình 2.11 Chương trình dạy tiếng Hàn cho người Việt trên truyền hình 51

Hình 2.12 Ảnh minh họa nội dung tiếng nước ngoài được đăng tải trên kênh Youtube Đài PT - TH Thái Nguyên 52

Hình 2.14 Video đăng tải không đề nội dung phát sóng 18/6/2019 54

Hình 2.15 Ảnh minh họa việc tóm tắt nội dung và dẫn link thu hút công chúng 55

Hình 2.16 Giao diện trang chủ của Fanpage Đài PT - TH Bắc Giang 55

Hình 2.17 Đài PT - TH Bắc Giang nắm bắt xu thế phát triển kênh Youtube 57

Hình 2.18 Ảnh minh họa video tư vấn, quảng cáo trên kênh Youtube khác trên truyền hình 57

Hình 2.19 Ảnh trang bìa của Trung tâm truyền thông Quảng Ninh 58

Hình 2.20 Phần giới thiệu trên fanpage của Trung tâm truyền thông Quảng Ninh 59

Hình 2.21 Một số ví dụ về việc sử dụng icon và kèm link trong bài đăng trên fanpage 61 Hình 2.22 Ảnh minh họa cách thể hiện video 61

Hình 2.23 Phương châm của Trung tâm thông tin Quảng Ninh được hiện trên trang bìa của kênh Youtube 62

Hình 2.24 Giới thiệu về trang Youtube của Trung tâm truyền thông Quảng Ninh 63

Hình 2.25 Danh sách video được đăng tải được phân loại thể thể loại 64

Hình 2.26 Ảnh minh họa livestream trên mạng xã hội của các Đài địa phương 65

Hình 2.27 Đài PT - TH Thái Nguyên tương tác trong chương trình livestream theo chủ đề 67

Hình 2.28 Một số ví dụ về tương tác của khán giả qua bình luận và cảm xúc trên mạng xã hội 69

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG XÃ HỘI VÀ QUẢNG BÁ NỘI DUNG CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH 14

1.1 Một số khái niệm 14

1.2 Cách thức quảng bá nội dung trên mạng xã hội của các Đài phát thanh - truyền hình 26

1.3 Vai trò của mạng xã hội đối với quảng bá nội dung cho các Đài Phát thanh - Truyền hình 32

1.4 Yếu tố tác động đến vấn đề quảng bá nội dung phát thanh truyền hình trên mạng xã hội 34

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢNG BÁ NỘI DUNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA CÁC ĐÀI KHẢO SÁT 38

2.1 Giới thiệu khái quát về các Đài Truyền hình địa phương 38

2.2 Thực trạng quảng bá nội dung trên mạng xã hội của các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương 44

2.3 Đánh giá chung 72

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢNG BÁ NỘI DUNG CÁC ĐÀI PHÁT THANH & TRUYỀN HÌNH VÙNG ĐÔNG BẮC TRÊN MẠNG XÃ HỘI 80

3.1 Phát thanh - Truyền hình trong kỷ nguyên 4.0 80

3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với quảng bá nội dung Đài Phát thanh - Truyền hình 77

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quảng bá nội dung trên mạng xã hội 81

3.4 Một số đề xuất khuyến nghị 90

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 9

Đối với khán giả, giờ đây các phương tiện truyền thông truyền thống không còn là phương tiện duy nhất họ sử dụng cập nhật thông tin Cùng với

sự phát triển của công nghệ, mối quan tâm thu hút của khán giả đang được chia sẻ sang các phương tiện truyền thông số với các thiết bị tiện ích cá nhân như điện thoại di động hay máy tính có kết nối mạng internet Điều này khiến các kênh truyền hình của địa phương vừa phải cạnh tranh với các đài truyền hình trung ương, vừa phải cạnh tranh với mạng xã hội để giành được sự quan tâm của khán giả Trong khi đó, mạng xã hội lại là một kênh quảng bá có hiệu quả hiện nay vì nó cung cấp cách mọi người chia sẻ ý tưởng, nội dung, suy nghĩ và mối quan hệ trực tuyến Khi tham gia mạng xã hội ai cũng có thể tự tạo nội dung, đưa ra nhận xét và truyền tải thông tin cho người khác; đồng thời người dùng mạng xã hội còn có thể gửi đi các dạng văn bản, âm thanh, video, hình ảnh cho cộng đồng

Trang 10

Công nghệ thông tin đã tác động đến cách tiếp nhận thông tin của công chúng, làm thay đổi thói quen của người xem truyền hình Để thu hút khán giả, gây dựng niềm tin và giữ sự trung thành của khán giả đối với một thương hiệu truyền hình, các kênh truyền hình phải cung cấp được những chương trình nội dung hay, hấp dẫn người xem trên các mạng xã hội Việc hiểu và nắm bắt được những trang mạng xã hội mới và phổ biến vô cùng quan trọng, vì nó giúp các Đài truyền hình biết được nơi có thể tiếp cận khán giả mục tiêu của họ

Sự phát triển của mạng xã hội vừa là thách thức và cũng là cơ hội đối với các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương Chấp nhận sự phá vỡ và làm quen với phương thức sản xuất mới, biến mạng xã hội trở thành một kênh công cụ đắc lực của truyền hình là điều cần thiết để tồn tại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này Chưa kể tại Việt Nam, thời gian giới trẻ sử dụng internet hiện gấp 4 lần thời gian xem tivi Với giới trẻ hiện nay, mạng xã hội trở thành kênh quan trọng nhất để cung cấp thông tin đầu tiên và nhanh nhạy nhất Đây

là vấn đề rất lớn đặt ra cho các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương: Làm sao để có thể tiếp cận với những khán giả trẻ? Và phải làm gì để có thể tồn tại trong kỷ nguyên internet?

Các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương cần tận dụng tốt những lợi thế do mạng xã hội đem lại, đẩy mạnh việc tuyên truyền trên các trang mạng xã hội, bắt kịp với xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 và xu thế truyền hình trong nước và thế giới Bên cạnh việc tự đổi mới nội dung, nâng cấp chất lượng hình ảnh, âm thanh; đa dạng hạ tầng truyền dẫn phát sóng của các chương trình, các đài truyền hình địa phương cũng cần nghiên cứu về cách thức sử dụng mạng xã hội để cũng cấp những thông tin nhanh nhất, chính xác nhất đối với khán giả, có sự tương tác tức thì với những phản hồi của khán giả xem truyền hình thông qua mạng xã hội Qua đó vừa có thể quảng bá nội dung của của Đài, vừa có thể nâng cao uy tín cũng như thu hút

Trang 11

một lượng lớn khán giả theo dõi kênh của mình không chỉ trong khu vực nội tỉnh mà là trên cà nước

Từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng mạng

xã hội để quảng bá nội dung thông tin phát trên các Đài Phát thanh – Truyền hình vùng Đông Bắc” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phát thanh

– Truyền hình Khảo sát trên fanpage Facebook, mạng xã hội Youtube của 3

Đài truyền hình địa phương là: Đài Phát thanh và Truyền hình Thái Nguyên, Đài Phát thanh truyền hình Bắc Giang, Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ninh từ tháng 1 đến tháng 6/2019 Tuy nhiên khi bắt đầu đi vào quá trình thực hiện nghiên cứu, ngày 10/12/2018, Tỉnh ủy Quảng Ninh có Quyết định phê duyệt Đề án thành lập Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh trực thuộc Tỉnh ủy Trên cơ sở hợp nhất về tổ chức bộ máy, biên chế các cơ quan thông tin, báo chí của tỉnh, gồm: Báo Quảng Ninh, Đài PT - TH tỉnh, Báo Hạ Long (thuộc Hội Văn học nghệ thuật tỉnh), Trung tâm Thông tin tỉnh (thuộc Văn phòng UBND tỉnh) thành Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh Trung tâm chính thức hoạt động từ ngày 1/1/2019; tiếp tục giữ nguyên, đồng thời cơ cấu lại và gắn kết các sản phẩm truyền thông hiện có; tích hợp dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện có hiệu quả mô hình "Tòa soạn hội tụ”; hoạt động theo Luật Báo chí và Quy hoạch Báo chí quốc gia… Chính vì vậy, luận văn vẫn tiếp tục nghiên cứu hoạt động sử dụng mạng xã hội để đăng tải, quảng bá nội dung các chương trình truyền hình của Trung tâm

Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động sử dụng mạng xã hội

để xây quảng bá nội dung các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương vùng Đông Bắc, tác giả mong muốn góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của các Đài nói riêng, báo chí nói chung trong việc ứng dụng mạng xã hội

để phát triển các Đài, góp phần làm cho báo chí thực hiện tốt hơn vai trò và vị thế của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Thành Lợi cho ra mắt cuốn sách “Tác nghiệp báo chí

trong môi trường truyền thông hiện đại” Trong chương I của cuốn sách, tác

giả đã đề cập đến quan niệm về truyền thông xã hội, lịch sử ra đời, phân loại

và đặc điểm của truyền thông xã hội Tác giả cũng chỉ ra những ảnh hưởng và vai trò của truyền thông xã hội đối với báo chí hiện đại; sự dịch chuyển từ truyền thông in ấn sang truyền thông số; quảng bá thông tin cho các cơ quan báo chí qua truyền thông xã hội

Sách chuyên khảo: “Báo mạng điện tử, những vấn đề cơ bản” của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, NXB Chính trị - Hành chính năm 2010 cung cấp những đặc trưng cơ bản của báo mạng điện tử, quy trình sản xuất thông tin… Đây chính là những nội dung sẽ giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn bao quát hơn về báo mạng điện tử, từ đó có sự so sánh tương đồng với trang Fanpage của các cơ quan truyền hình trên nền tảng mạng xã hội và tổng hợp, rút ra một số vấn đề trong quá trình làm luận văn

Giáo trình “Báo chí và Mạng xã hội” của Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm 2014, do TS Đỗ Chí Nghĩa chủ biên gồm 4 chương với gần

200 trang nội dung đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa báo chí và mạng xã hội trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam hiện nay Đồng thời các tác giả đã đề xuất một số giải pháp cụ thể và hữu hiệu để nhận diện và xác lập mối quan hệ giữa báo chí và mạng xã hội, hạn chế những sai sót, tận dụng những tính năng của mạng xã hội trong hoạt động báo chí

Cuốn “Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo” của TS Nguyễn Trí Nhiệm – PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang đồng chủ biên, Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2014 có chỉ ra những đặc điểm của công chúng báo mạng điện tử như trình độ nhận thức so với mặt bằng chung của xã

Trang 13

hội; điều kiện và khả năng sử dụng công nghệ hiện đại và nhu cầu thông tin cao của nhóm công chúng này

Cuốn “Báo chí truyền thông – những vấn đề đương đại” của TS Nguyễn Trí Nhiệm chủ biên, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – sự thật năm

2015 đề cập đến xu hương tiếp nhận thông tin của công chúng hiện đại trên nền tảng di động, báo chí phải biết tận dụng truyền thông trên mạng xã hội, sử dụng nó để hỗ trợ quảng bá thương hiệu của các kênh truyền hình

Trong khi đó, cũng với tên “Báo chí và mạng xã hội” của tác giả Đỗ Đình Tấn được xuất bản năm 2017 bởi Nhà xuất bản trẻ lại đi sâu vào giúp bạn đọc hiểu hơn về mạng xã hội từ khái niệm xã hội học đến một dịch vụ, tính hai mặt và lý do thu hút của nó Cuốn sách chỉ ra rằng báo chí truyền thống đã và đang định hình lại hoạt động của mình, mạng xã hội đang mở rộng không gian và công việc của nhà báo; có những thay đổi mạnh mẽ như cách làm báo mới mà truyền thông xã hội và mạng xã hội đang đem lại cho báo chí truyền thống Bên cạnh đó các mặt tích cực hay tiêu cực của mạng xã hội phụ thuộc vào nhận thức, thái độ và mức độ trưởng thành của mỗi người

sử dụng công cụ truyền thông này

Sổ tay hướng dẫn kỹ năng đưa tin trong thời đại kỹ thuật số dành cho các nhà báo Việt Nam của Nhà xuất bản Thế giới năm 2018 có phân tích những tác động của sự bùng nổ mạng Internet đối với nghề báo, chỉ ra những thời cơ và thách thức cho các nhà báo và phóng viên; từ đó đưa ra 7 nguyên tắc quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn cho các nhà báo tác nghiệp trong môi trường số và mạng xã hội, giúp họ bắt kịp với sự thay đổi nhanh chóng của truyền thông hiện nay

“Báo điện tử với việc khai thác và sử dụng nguồn tin từ mạng xã hội” – Tác giả Nguyễn Thị Hằng – Luận văn Thạc sĩ năm 2014 – Khoa Báo chí và Truyền thông – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn này đề cập

Trang 14

đến việc phóng viên báo điện tử tìm kiếm, khai thác thông tin trên mạng xã hội để sáng tạo tác phẩm báo chí, chứ chưa tập trung vào khía cạnh khai thác thông tin công chúng phản hồi qua mạng xã hội của tờ báo đó để phát triển nội dung bài báo

Khảo sát tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho thấy, cũng đã có một

số luận văn đề cập tới mạng xã hội Tuy nhiên, tại hầu hết các công trình này, vai trò của các Đài phát thanh truyền hình địa phương và hoạt động sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung của các đài địa phương chưa được nhắc tới

và có sự phân tích sâu sắc, kỹ lưỡng cũng như chưa mang tính hệ thống

Cụ thể như, trong luận văn thạc sĩ báo chí học “Sử dụng mạng xã hội trong truyền thông văn hóa ở Việt Nam và Hàn Quốc – Từ góc nhìn quản lý truyền thông” của Nguyễn Thị Thùy Vân, Khảo sát mạng xã hội Facebook, Youtube, Zalo, KakaoStory 6 tháng đầu năm 2017) chủ yếu đề cập đến vai trò của mạng xã hội với truyền thông văn hóa, từ thực trạng chỉ ra những hạn chế

và kiến nghị những giải pháp nâng cao những hành vi tích cực, giảm thiểu những hành vi tiêu cực của sử dụng mạng xã hội trong truyền thông văn hóa nói chung và quản lý truyền thông văn hóa nói riêng

Luận văn thạc sĩ báo chí “Vấn đề pháp lý và đạo đức trong quản lý thông tin, truyền thông trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, khảo sát trên mạng xã hội Facebook, Youtube, Zalo năm 2016 của Nguyễn Thúy Quỳnh đưa ra hệ thống khái niệm liên quan đến mạng xã hội và quản lý thông tin trên mạng xã hội Phân tích đặc điểm cũng như vai trò của việc quản lý thông tin truyền thông trên mạng xã hội ở Việt Nam và một số quốc gia khác từ góc nhìn pháp lý và đạo đức

Luận văn thạc sĩ báo chí học “Quản lý nhà nước đối với các trang mạng

xã hội hiện nay – thực trạng và vấn đề đặt ra” của Đỗ Bích Thủy, khảo sát trên Facebook, Youtube, Zalo từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2017 có đề cập

Trang 15

đến những nhận thức chung quản lý nhà nước về trang mạng xã hội; từ thực trạng chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với các trang mạng xã hội

“Tác động của mạng xã hội với việc xử lý thông tin của báo mạng

điện tử Việt Nam hiện nay” – Tác giả Dương Nam Hoàng – Luận văn Thạc

sĩ khóa K17- Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội) Luận văn này đề cập đến tác động của mạng xã hội với thông tin trên báo mạng điện tử, tập trung nghiên cứu ở khía cạnh phóng viên/nhà báo khai thác, xử lý thông tin

từ các Facebooker, blogger để viết tin, bài cho báo chứ chưa đi sâu phân tích về việc làm thế nào để kích thích người dùng mạng xã hội cung cấp thông tin giá trị cho tòa soạn, từ đó nhà báo có “tài nguyên” để phát triển nội dung tin bài mới

Hay như Luận văn thạc sĩ báo chí học của Nguyễn Anh Hiển năm 2017

về “Truyền hình Việt Nam với vấn đề quản lý Fanpage hiện nay”, khảo sát các trang Fanpage: Trung tâm tin tức VTV24 của Đài truyền hình Việt Nam; VTC1 – Tin tức của Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC; VNEWS – Truyền hình Thông tấn của Trung tâm Truyền hình Thông tấn từ tháng 6/2016 đến tháng 7/2017 có đưa ra hệ thống cơ sở lý luận về Fanpage truyền hình và vấn

đề đặt ra trong thực tiễn quản lý fanpage truyền hình hiện nay

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới đã có khá nhiều cuốn sách và nghiên cứu đề cập đến công chúng báo chí, công chúng của truyền thông xã hội, truyền thông xã hội, thói quen sử dụng truyền thông xã hội, các giải pháp nhằm quảng bá thông tin

thông qua truyền thông xã hội Cuốn sách “Social Media: Usage and Impact”

(Truyền thông xã hội: Cách sử dụng và Tầm ảnh hưởng), của hai tác giả Hana

S Noor Al-Deen và John Allen Hendricks, xuất bản tháng 11-2012, đưa ra phân tích toàn diện và mang tính học thuật về truyền thông xã hội Cuốn sách

Trang 16

đã nghiên cứu vai trò nổi bật và sự ảnh hưởng của truyền thông xã hội trong suốt quá trình phát triển của loại hình truyền thông này Các tác giả đã tiến hành khảo sát việc sử dụng và ảnh hưởng của truyền thông xã hội trong nhiều môi trường khác nhau, bao gồm cả giáo dục, truyền thông chiến lược, chính trị, pháp luật và các vấn đề đạo đức

Nghiên cứu “Quản lý thương hiệu truyền hình bằng mạng xã hội” của Jennifer Berz (2016) cho rằng, việc sử dụng mạng xã hội trong quản lý thương hiệu truyền hình có thể giúp gia tăng lòng trung thành của khán giả đối với kênh truyền hình Đồng thời, mạng xã hội là công cụ hỗ trợ và thúc đẩy khán giả xem truyền hình nhiều hơn Khi khán giả thích các chương trình, nội dung của một kênh truyền hình trên mạng xã hội, thì sự ghi nhớ của khán giả về kênh truyền hình đó sẽ tăng lên thông qua việc họ muốn chia sẻ những gì họ xem được với bạn bè và người thân của mình Hơn nữa, các chương trình và nội dung hay cũng tác động đến sự tham gia và thời gian khán giả dành để vào trang mạng xã hội của kênh truyền hình đó Nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến việc quản lý thương hiệu truyền hình bằng mạng xã hội nói chung, trong khi thực tiễn áp dụng tại Việt Nam mà đặc biệt là tại các đài truyền hình địa phương lại có nhiều vấn đề được đặt

ra cần giải quyết phù hợp [32]

Về mối quan hệ giữa báo chí và truyền thông xã hội, có thể kể đến cuốn

sách “Social Media for Journalists: Principles and Practice” (Truyền thông

xã hội với nhà báo: Nguyên tắc và thực hành), của hai tác giả Megan Knight

& Clare Cook, xuất bản tháng 5-2013 Trong cuốn sách này, hai tác giả đã đưa ra những chỉ dẫn cần thiết đối với việc hiểu và khai thác các công cụ của báo chí hiện nay Hai tác giả Meagan Knight và Clare Cook đã chỉ ra cho bạn đọc làm thế nào để nắm vững những nguyên tắc thực hành thuần thục và những kỹ thuật mới của truyền thông xã hội Cuốn sách đưa ra hướng dẫn chi

Trang 17

tiết về những nguyên tắc và thực hành, bao gồm các hoạt động: Làm thế nào

để tìm kiếm, viết và chia sẻ thông tin với truyền thông xã hội; các tận dụng các nguồn tin từ cộng đồng để tìm ra và theo đuổi các vấn đề, sự kiện; xây dựng thương hiệu cho cá nhân nhà báo,…

“Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến môi trường báo chí Việt Nam”

– Tác giả Nguyễn Khắc Giang – Đại học Aarhus (Đan Mạch) và Đại học Thành phố London (Anh Quốc) Tài liệu này nằm trong khuôn khổ bài báo đăng trên tạp chí khoa học, nội dung mang tính đại cương về ảnh hưởng của truyền thông xã hội tới môi trường báo chí nói chung, chứ chưa đi sâu phân tích, nghiên cứu về việc làm sao để khai thác, phát triển thông tin bài báo từ mạng xã hội

Qua quá trình đọc và nghiên cứu các tài liệu tôi nhận thấy, thực tế cho đến nay các công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung và thương hiệu của cơ quan báo chí nói chung cũng như Đài truyền hình địa phương nói riêng vẫn chưa nhiều, chưa có hệ thống

và chưa nhìn nhận hết vai trò của quảng bá nội dung, thương hiệu kênh truyền hình địa phương cũng như chưa thể hiện sức mạnh của mạng xã hội trong vấn

đề này

Với đề tài “Sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung thông tin

phát trên các Đài Phát thanh - Truyền hình vùng Đông Bắc”, tác giả hy

vọng sẽ phần nào khắc phục những khoảng trống của các đề tài trên bằng cách làm rõ những vấn đề lý luận về mạng xã hội, vai trò của báo chí trong thời đại công nghệ 4.0 và khảo sát một số cơ quan báo chí tại địa phương, chỉ

ra thực trạng của 3 Đài Phát thanh và Truyền hình Thái Nguyên, Bắc Giang

và Quảng Ninh trong việc sử dụng mạng xã hội để xây dựng và quản lý thương hiệu trên truyền hình nhằm tạo động lực thúc đẩy các Đài Phát thanh - Truyền hình vùng Đông Bắc phát triển đi lên

Trang 18

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung các chương trình truyền hình của 3 Đài Phát thanh - Truyền hình vùng Đông Bắc, khảo sát và đánh giá thực trạng vấn đề này trên fanpage Facebook, Youtube của 3 Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên, Bắc Giang và Quảng Ninh, luận văn đề xuất một

số giải pháp và đưa ra các khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung các chương trình truyền hình cho các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương vùng Đông Bắc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm

vụ sau:

Khái quát một số vấn đề lý luận về báo chí, mạng xã hội, về hoạt động đăng tải các chương trình truyền hình, quảng bá nội dung và sự kiện của các đài phát thanh và truyền hình địa phương vùng Đông Bắc;

Khảo sát thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook, Youtube để quảng

bá nội dung các chương trình truyền hình của 3 Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương đã lựa chọn;

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung các chương trình và sự kiện trong tỉnh của các Đài Phát thanh - Truyền hình

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung các Đài Phát thanh - Truyền hình vùng Đông Bắc

Trang 19

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được triển khai nghiên cứu trên cơ sở khảo sát các hoạt động của các trang fanpage Facebook, Youtube ở Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở các đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về báo chí cách mạng Việt Nam Những vấn đề cơ sở lý luận báo chí truyền thông nói chung và lý luận về mạng xã hội nói riêng cũng được vận dụng như những cơ sở quan trọng trong quá trình nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu công cụ

Phương pháp khảo sát tài liệu: khảo sát các sách, giáo trình lý luận báo

chí; các văn bản, chỉ thị, nghị quyết và các tài liệu khác của Đảng, Nhà nước

có liên quan đến hoạt động báo chí trên mạng xã hội để hệ thống hóa những vấn đề lý luận nhằm xây dựng khung lý thuyết của đề tài

Phương pháp phân tích văn bản: được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung

tác động của hoạt động đăng tải và quảng bá các nội dung, chương trình truyền hình lên mạng xã hội

Phương pháp khảo sát thực tế: được sử dụng trong việc khảo sát nhằm

phân tích, đúc rút ra những ưu điểm mà các cơ quan báo chí nêu trên đã làm được cũng như hạn chế còn tồn tại để đưa ra giải pháp cho phù hợp, kịp thời nâng cao hiệu quả thông tin báo chí và quảng bá thương hiệu truyền hình địa phương trên mạng xã hội

Phương pháp phỏng vấn sâu 6 người bao gồm: 1 lãnh đạo cơ quan báo

chí, 1 lãnh đạo phòng ban chuyên môn quản lý hoạt động của mạng xã hội của cơ quan báo chí, 4 phóng viên, cán bộ trực tiếp thực hiện đăng tải thông tin trên mạng xã hội của các cơ quan báo chí

Trang 20

Các phương pháp phân tích, tổng hợp dùng để đánh giá những kết quả

nghiên cứu, qua đó đề xuất những giải pháp, khuyến nghị cần thiết

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn này là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu một cách có

hệ thống về hoạt động đăng tải nội dung các chương trình truyền hình, sự kiện lớn lên mạng xã hội của các đài truyền hình địa phương mà cụ thể là Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên, Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang, Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh

Thông qua mạng xã hội, các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương vùng Đông Bắc cũng hiểu khán giả của mình hơn, nắm được tâm tư nguyện vọng của họ, xem họ khen - chê chương trình truyền hình như thế nào, từ đó sản xuất những chương trình có nội dung phù hợp với khán giả hơn Với các thiết bị thông minh, dù ở đâu khán giả cũng có thể theo dõi các chương trình yêu thích, chia sẻ thông tin và kết nối với những người hâm mộ khác ngay trước, trong và sau khi chương trình lên sóng Các Đài có thể so sánh lượng người hâm mộ trung bình trên các trang mạng xã hội để nhận biết mức độ thành công của một chương trình truyền hình Việc phân tích để làm sáng tỏ thực trạng, chỉ ra những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của công tác thông tin báo

Trang 21

chí trên mạng xã hội, qua đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị sẽ là những đóng góp mới vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn và có thể góp phần nâng cao chất lượng của công tác hoạt động thông tin báo chí trên mạng xã hội của các Đài Phát thanh - Truyền hình vùng Đông Bắc trong bối cảnh hiện nay

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ

lục các nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về mạng xã hội và quảng bá nội dung của các Đài Phát thanh - Truyền hình

Chương 2: Thực trạng quảng bá nội dung trên mạng xã hội của các Đài khảo sát

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quảng bá nội dung các Đài Phát thanh - Truyền hình vùng Đông Bắc trên mạng xã hội

Trang 22

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG XÃ HỘI VÀ QUẢNG BÁ NỘI DUNG

CỦA CÁC ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Mạng xã hội

“Mạng xã hội là khái niệm mới được hình thành trong thập niên cuối

của thế kỷ XX, bắt đầu bằng sự ra đời của Classmate.com (1995), SixDegrees (1997), kế đến là sự nở rộ của một loạt các trang mạng khác Một cách chung nhất, mạng xã hội là tập hợp các cá nhân với các mối quan hệ về một hay nhiều mặt được gắn kết với nhau” [19]

Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, video, voice chat, chia sẻ file Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới

Trong cuốn “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện

đại” [10, tr.11], PGS.TS Nguyễn Thành Lợi đã viết: Từ những email đầu tiên,

vấn đề giao tiếp rộng rãi của con người qua Internet đã có những bước tiến dài Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ là điều kiện đủ để hình thành nên những trang mạng xã hội đầu tiên trên thế giới

Năm 1994, một trong những những mạng xã hội trực tuyến đầu tiên trên thế giới được ra đời: Geocities tưởng thành lập của Geocities là cho ph p người dùng tự xây dựng những website của riêng mình theo từng chủ đề nhất định Geocities sau đó được Yahoo mua lại với giá 3,57 tỷ USD vào năm 1999 Dịch vụ này sau đó đã bị Yahoo “khai tử” vào năm 2009 Năm 1995, mạng xã hội TheGlobe.com ra đời, cho ph p người dùng tự do chia sẻ những trải

Trang 23

nghiệm của cuộc sống và cùng bàn luận với những người có cùng sở thích TheGlobe.com bị đóng cửa vào năm 2008 Trước đó, trang web đã đạt được 1

kỷ lục đáng hổ th n khi giá trị bị sụt giảm từ 850 triệu USD xuống còn 4 triệu USD chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm Năm 1997, phần mềm AOL Instant Messenger, phần mềm chat đầu tiên trên thế giới được ra mắt và trở nên rất thông dụng Cũng trong năm này, dịch vụ SixDegrees.com ra mắt Đây là mạng

xã hội đầu tiên cho ph p người dùng tự tạo các profile và liên kết bạn bè Hiện mạng xã hội này vẫn còn hoạt động những chỉ dành cho những thành viên cũ Những ai muốn tham gia phải nhận được thư mời từ những thành viên này Năm 2002, Friendster, mạng xã hội liên kết bạn bè thực ở cuộc sống bên ngoài được ra đời Friendster đã đạt được 3 triệu thành viên chỉ trong 3 tháng đầu tiên sau khi ra mắt Hiện nay, Friendster vẫn là mạng xã hội kết nối và tìm kiếm bạn bè lớn nhất thế giới Năm 2003 được xem là năm bùng nổ của mạng

xã hội, khởi đầu với sự ra mắt của MySpace Được xem như là một “bản sao” của Friendster, nhưng có sự đầu tư mạnh mẽ từ các công ty quảng cáo trực tuyến và công nghệ Phiên bản đầu tiên của MySpace được lập trình và ra mắt chỉ trong… 10 ngày Tiếp ngay sau đó, là sự ra mắt của các mạng xã hội khác như Tribe.net, LinkEdin, Classmate.com, Jaiku, NetLog… Năm 2004, Mark Zuckerberg, khi đó còn là sinh viên trường đại học Harvard ra mắt TheFacebook (Facebook), là cổng liên lạc và giao tiếp dành cho sinh viên của trường Facebook đã có 19.500 thành viên chỉ trong tháng đầu tiên sau khi được giới thiệu Năm 2006, “tiểu” blog Twitter được ra mắt Được xem như cách thức đơn giản nhất để người dùng có thể dễ dàng chia sẻ trạng thái của mình với bạn bè và những ai quan tâm Kỷ lục của Twitter đạt được khi trận bóng đá giữa Nhật Bản và Đan Mạch tại vòng chung kết World Cup 2010, đã

có trung bình 3282 tweet được đăng tải trong 1 giây Năm 2008, Facebook vượt qua MySpace để trở thành mạng xã hội lớn nhất thế giới, về cả lượng

Trang 24

người dùng lẫn số lượng truy cập Đặc biệt, cả Facebook lẫn MySpace đều vượt xa Friendster, mạng xã hội đã từng dẫn đầu trong một thời gian dài Tuy nhiên, Friendster vẫn đang rất phát triển ở khu vực châu Á Số người đến từ châu Á chiếm 90 lượng truy cập của mạng xã hội này Năm 2010, mạng xã hội chuyên về chia sẻ hình ảnh, video có tên Instagram được thành lập bởi Kevin Systrom và Mike Krieger Trong cuộc thâu tóm lịch sử, Facebook đã thâu tóm Instagram với giá 1 tỷ USD tiền mặt và cổ phiếu trong tháng 4/2012 Facebook có ý định để Instagram độc lập với Facebook Tạp chí Time của Mỹ xếp hạng Instagram vào danh sách 50 ứng dụng tuyệt vời nhất chạy trên hệ điều hành Android vào năm 2013 Ngoài ra, còn rất nhiều các mạng xã hội khác đang dần chiếm ưu thế tại Việt Nam như Youtube, Google +, Snapchat, Zalo, Mocha hay gần đây nhất là Gapo - mạng xã hội của Việt Nam

“Mạng xã hội không chỉ được xem là vượt trội so với truyền thông truyền thống trong nhiều sự kiện quốc tế mà chúng còn được xem là những nguồn tin giá trị cho cả nhà báo và cả những người sử dụng Internet” [7,tr 131].

Mạng xã hội không thể thay thế các phương thức truyền thống như: tham gia hội thảo khoa học, viết bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế… Tuy nhiên, mạng xã hội có thể giúp chuyển tải các thông tin về công trình nghiên cứu một cách nhanh chóng và rộng rãi hơn Người dùng cũng cần xác định rõ mục đích của mình khi sử dụng mạng xã hội để tiến hành một cách hiệu quả nhất Có 5 lợi ích khi sử dụng mạng xã hội vào nghiên cứu khoa học: Hợp tác hiệu quả hơn; Chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm thuận lợi hơn; Kêu gọi chuyên môn trong quá trình nghiên cứu; Nhận phản hồi từng bước thay vì đợi đến khi có rủi ro cao; Giới thiệu công trình nghiên cứu nhanh hơn các phương thức xuất bản học thuật truyền thống Thêm vào đó, việc sử dụng mạng xã hội có tác dụng như một công cụ marketing cho đầu ra của các nghiên cứu, giúp tăng chỉ số Altmetrics – chỉ số về sự quan tâm và các thảo luận xung quanh kết quả nghiên

Trang 25

cứu trên mạng xã hội, các báo và các trang web mở Mạng xã hội có thể được phân thành các nhóm: blog, blog vi mô, các trang lưu dấu và trích dẫn cộng đồng, các mạng lưới dành cho giới học thuật và xuất bản [36]

Ngoài ra còn một số nhận định khác cho rằng: Mạng xã hội chỉ là một phần của Web 2.0, thế hệ tiếp nối của các website và dịch vụ nhấn mạnh vào sự hợp tác

và kết nối Mặc dù các chuyên gia vẫn tiếp tục tranh luận về định nghĩa chính xác của Web 2.0, nhưng có một điều chắc chắn là: Các trang mạng xã hội, blog và wiki vẫn đang kết nối thế giới trực tuyến như chưa từng thấy trước đây Web 2.0

đã thay đổi cách cả thế giới giao tiếp và kết nối, và sự phát triển này vẫn đang tiếp diễn Mạng xã hội đã tạo được rất nhiều sự chú ý, thu hút các phương tiện truyền thông đại chúng và những buổi đàm luận trong một vài năm trở lại đây Tuy nhiên, mặc cho tất cả những sự quan tâm kể trên, vẫn còn tồn tại nhiều nhận thức sai Mạng xã hội không chỉ dành riêng cho giới trẻ, nó hiện thu hút được sự tham gia của một số lượng lớn những người có cùng mối quan tâm [33, tr 5]

Mạng xã hội không chỉ là phương tiện kết nối tốt mà người dùng còn có thể chia sẻ, kết bạn hiệu quả và mạng xã hội đang trở thành một xu hướng mới trong tiếp thị và kinh doanh Một trong những lợi ích lớn nhất của mạng xã hội là hiệu ứng lây lan giống như virut Khi mà sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn tốt được khách hàng hài lòng thì họ sẽ tự động gửi đến trong danh sách bạn bè biết

về sản phẩm mình Từ một người biết đến sản phẩm của công ty thông qua mạng

xã hội có thể lên đến hàng trăm, hàng triệu người biết đến Như vậy, mạng xã hội đã trở thành kênh tiếp cận vô cùng thuận lợi và nhanh chóng giữa doanh nghiệp và khách hàng Nếu những doanh nghiệp không lớn, không đủ chi phí thì đây là giải pháp tối ưu nhất vì không phải tốn nhiều chi phí cho quảng cáo nhưng hiệu quả vẫn cao Mạng xã hội ngay từ khi ra đời đã tạo được rất nhiều sự chú ý, thu hút các phương tiện truyền thông đại chúng và những buổi đàm luận trong nhiều năm trở lại đây Mạng xã hội không chỉ để tiêu khiển và cũng chẳng phải

Trang 26

để phục vụ việc giao tiếp đơn thuần giữa con người với con người Các công ty,

tổ chức và cá nhân trên khắp thế giới đang thu lợi từ việc tham gia các mạng xã hội phổ biến của mình, như: MySpace, Facebook hay LinkedIn

Ngày nay mạng xã hội được nhiều người sử dụng bởi nó giúp họ cập nhật thông tin về bạn bè, người thân cũng như tìm kiếm bạn bè mới Đây cũng

là nơi bạn có thể tìm được nhiều thông tin, hình ảnh… thú vị từ những người

có cùng mối quan tâm với mình Mỗi trang mạng xã hội có quy trình đăng ký tài khoản và sử dụng khác nhau nhưng hầu hết đều miễn phí và rất đơn giản Trong thực tiễn báo chí hiện đại, sự phát triển của mạng xã hội đã trở thành

vụ việc hồi đầu năm 2019, nữ sinh N.T.H.Y (học sinh lớp 9A Trường THCS Phù Ủng, huyện Ân Thi, Hưng Yên) bị 5 bạn cùng lớp đánh, lột áo và quay clip tung lên mạng gây bức xúc trong dư luận [50] Trong trường hợp này, mạng xã hội đã phát huy sức mạnh của mình khi sự việc còn chưa được báo chí chính thống biết đến nhưng chỉ từ clip bị phát tán, các “nhà báo công dân”

đã “truyền tay” để tạo nên làn sóng dư luận trong xã hội, thậm chí còn tiếp cận gia đình nạn nhân và tìm được thông tin của 5 nữ sinh thực hiện vụ đánh nhau, lột đồ này Có thể thấy rằng, ở một mức độ nào đó, thông tin trên mạng

xã hội đã đi trước một bước so với báo chí chính thống

1.1.2 Truyền thông xã hội

Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nhất là của mạng internet đã tác động đến lĩnh vực truyền thông và làm cho truyền thông có nhiều

sự thay đổi Truyền thông mạng xã hội dịch theo từ nguyên gốc của tiếng Anh là

“Social media”, là cách thức truyền thông kiểu mới trên nền tảng các dịch vụ trực tuyến với mục đích là tập trung các thông tin có giá trị của những người tham gia Tuy Social Media có rất nhiều hình thức nhưng có thể phân chia thành

2 thể hiện đặc trưng là: mạng xã hội chia sẻ thông tin cá nhân (MySpace, Facebook, Yahoo…) và mạng chia sẻ tài nguyên (Youtube, Flickr, Scribd…)

Trang 27

Truyền thông xã hội “Social media” - là một thuật ngữ hiện nay được nói đến rất nhiều Media là một dụng cụ để truyền đạt, để thông tin, chẳng hạn như

tờ báo hoặc chiếc radio Còn social media là các ứng dụng, website dùng để truyền đạt Một số trang mạng không chỉ thông báo tin tức mà còn “tương tác” với bạn đọc khi đưa tin đó Sự tương tác này có thể đơn giản như yêu cầu bạn đọc đưa ra nhận xét, hoặc để bạn đọc bầu chọn về một đề tài, nhưng cũng có thể phức tạp như giới thiệu các phim bạn nên coi dựa theo sự đánh giá của những người khác có cùng chung sở thích Trong khi đó, với truyền thông thường bạn

có thể đọc một tờ báo, nghe một bản tin trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình, nhưng rất ít có cơ hội bày tỏ ý nghĩ của bạn đọc về vấn đề đó

Truyền thông xã hội là một hiện tượng xã hội điển hình thu hút sự quan tâm của nhiều người, và tạo nên một hiệu ứng xã hội Truyền thông không còn là việc chỉ có riêng giới truyền thông thực hiện mà nó đã trở thành công việc mà mọi người trong xã hội đều có thể tham gia, cùng làm truyền thông, mỗi người đều có thể trở thành một “nhà báo công dân” Chính vì vậy mà truyền thông xã hội có sức mạnh thông tin rất lớn, có sức lan tỏa rộng rãi Đây

là một khái niệm rộng, bao hàm cả khái niệm mạng xã hội, bao gồm rất nhiều phương thức truyền thông mang công nghệ hiện đại như blog, các diễn đàn trực tuyến, thư điện tử, các trang web, ứng dụng chat – trò chuyện Trong những năm gần đây, phạm vi tiếp cận và sự thâm nhập của các công nghệ truyền thông xã hội đã có nhiều thay đổi Trước đây, thảo luận trực tuyến nói chung thường chỉ giới hạn trong nhóm những người hiểu biết về công nghệ: các kỹ sư công nghệ, những người cảm thấy thoải mái khi tương tác qua mạng, những người có kỹ năng công nghệ để tìm hiểu về các giao diện khó sử dụng để đạt được mục tiêu của mình Tuy nhiên, ngày nay, ai cũng có thể tham gia trò chuyện trực tuyến nhờ những giao diện người dùng trên trình duyệt được thiết kế đ p mắt và dễ dàng, chạy những các cuộc thảo luận mà mọi người cảm thấy thoải mái khi tham gia

Trang 28

“Khái niệm Truyền thông xã hội được hiểu là phương tiện truyền thông

xã hội - một cách thức truyền thông kiểu mới dựa trên nền tảng các dịch vụ của web 2.0 Trong đó, web 2.0 được coi là thế hệ thứ hai của web, nó tạo ra nhiều sự tiện lợi hơn cho người dùng, các thông tin, dữ liệu được cập nhật hàng ngày, hàng giờ, đặc biệt người sử dụng có thể tham gia đóng góp, chia

sẻ và làm phong phú thêm cho các trang web”.[10]

Trong cuốn “Truyền thông xã hội” của TS Phạm Hải Chung và TS Bùi Thu Hương được NXB Thế giới xuất bản tháng 11/ 2016, nhóm tác giả cũng đã chỉ ra những đặc trưng nổi bật của mạng xã hội Facebook mà các cơ quan, đơn vị truyền thông có thể tận dụng Đó là khả năng lan truyền thông tin vượt bậc, tạo ra môi trường làm “chất dẫn” tuyệt vời cho việc chia sẻ thông tin Facebook tích hợp đa dạng các hình thức truyền thông, ngoài những tính năng cơ bản như đăng tải trạng thái, hình ảnh, clip đến những tính năng

mở rộng như tạo sự kiện, viết ghi chú, thiết lập và sử dụng các ứng dụng, Ngoài ra Facebook còn có những đặc trưng khác thuận lợi cho hoạt động truyền thông như: hình thức page (trang) tiện lợi, chủ động trong việc đăng tải thông tin, tương tác vơi công chúng tối ưu Bên cạnh những vấn đề về thông tin mạng xã hội với nhà báo, lợi thế sử dụng Facebook cho hoạt động truyền thông thì cuốn “Truyền thông xã hội” cũng nêu ra những nguyên tắc hành xử trên mạng xã hội, đi sâu vào vấn đề liên quan đến đạo đức, cách ứng xử giữa người với người trên mạng xã hội [20]

Truyền thông xã hội chỉ thực sự phát triển ở Việt Nam từ năm 2006 với

sự ra đời của sản phẩm VietSpace đạt giải nhì cuộc thi Trí tuệ Việt Nam và trở thành mạng xã hội đầu tiên tại Việt Nam Với những ưu điểm vượt trội, truyền thông xã hội đã và đang làm thay đổi thói quen tìm kiếm, chia sẻ và sử dụng các phương tiện truyền thông của công chúng Truyền thông xã hội cho ph p người

sử dụng dễ dàng tham gia vào một nhóm nào đó trên mạng xã hội để trò chuyện

Trang 29

và đưa ra quan điểm riêng của mình về một vấn đề mà họ quan tâm; tin tức có thể chia sẻ và được lan truyền một cách nhanh chóng và có tính tương tác cao giữa những người tham gia Thực tế cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các cơ quan báo chí nhất là các Đài phát thanh - truyền hình ở địa phương Hiện nay các phương tiện truyền thông truyền thống như phát thanh, truyền hình đều phát triển trên mạng Internet - nơi công chúng có thể dễ dàng tìm thấy thông tin quản lí và chia sẻ thông tin Gần như không một cơ quan báo chí nào bỏ qua các nền tảng này, vì chúng không những giúp các tòa soạn tiếp cận nhiều độc giả hơn mà còn hỗ trợ cách làm báo mới với sự tham gia của cộng đồng - một xu hướng mới được nhiều tòa soạn áp dụng Tuy nhiên các nhà báo cũng chỉ mới xem đây là một nguồn tin tham khảo thêm bên cạnh những thông tin chính thống của nhà nước

Lí do ở đây là do nhận thức của các nhà báo còn e dè về sự phổ biến của tin giả, tin đồn thất thiệt, Do vậy nguồn tin từ mạng xã hội mặc dù được coi là hữu ích, đa dạng nhưng chỉ được sử dụng khi đã qua kiểm chứng

Mặc dù thông tin từ mạng xã hội vẫn còn nhiều nghi vấn đối với nhà báo nhưng không thể phủ nhận mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong dòng chảy của báo chí Việt Nam hiện nay Mạng xã hội đối với một số nhà báo đã trở thành một nguồn thông tin hữu ích Mạng xã hội cũng là nơi để các tòa soạn chia sẻ thông tin, giới thiệu bài viết mới ra đến với độc giả Với

sự phát triển không ngừng của mạng xã hội, thông tin từ mạng xã hội sẽ

chiếm một vị trí đáng kể trong hoạt động báo chí – truyền thông

1.1.3 Đài Phát thanh - Truyền hình

Đài phát thanh - truyền hình địa phương là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống báo chí của một quốc gia Đó là nơi thực hiện những tin tức thời sự, chương trình truyền hình để phát sóng lên hệ thống Có nhiều hệ thống phát và thu hình để xem trên TV như vệ tinh, kỹ thuật số, cáp Đài phát

Trang 30

thanh - truyền hình còn là công cụ quan trọng trong hệ thống chính trị Vì thế các đài được bảo vệ rất tốt, đề phòng các vụ đột kích để chiếm đài nhằm tuyên truyền một thông điệp không mong muốn

Sau nhiều thập niên tiếp nhận thông tin bị động và lệ thuộc thì người xem truyền hình, đặc biệt là người trẻ, đã có sự thay đổi rõ rệt từ xem truyền thống sang xem qua mạng Internet, từ mô hình xem chung sang cá nhân hóa,

từ bị động sang chủ động, từ cố định sang di động mọi lúc mọi nơi với các thiết bị thông minh có kết nối Internet Theo thông tin từ công ty nghiên cứu

và khảo sát thị trường Kantar Media, có 99 người Việt Nam xem tivi hằng ngày Lượng người sử dụng Internet hằng ngày chỉ thấp hơn chút ít: 84 Có đến 45% dân số trong độ tuổi 15-54 xem nội dung truyền hình và video theo yêu cầu Các nhà cung cấp dịch vụ dẫn đầu tính theo lượng người sử dụng có thể kể đến là YouTube (87,3%), ZTV (26,4%) và FPTplay (8,2%) [37]

Tại cuộc hội thảo Phát triển nội dung truyền hình giải trí trong bối cảnh chuyển dịch số ngày 8/6/2018, nhà báo Đặng Diễm Quỳnh - trưởng ban VTV6 - cho biết năm 2018, VTV6 đẩy mạnh cuộc dịch chuyển số: "Trong thời đại số, nhu cầu trò chuyện của con người lại càng lớn Việc trao đổi, tương tác là nhu cầu không thể thiếu Vì thế cần phát triển những chương trình mà ở đó tất cả mọi người cùng trò chuyện với nhau" Cất cánh của VTV6 là một ví dụ Khán giả xem Cất cánh không chỉ là những người ngồi trước truyền hình, mà có cả người theo dõi trên YouTube và Facebook Họ có thể tương tác cùng lúc với khách mời của chương trình thông qua câu hỏi và nhận xét trên Facebook của chương trình Để đạt được điều này thì những người thực hiện cũng phải chia làm hai êkip: làm cho truyền hình và sản xuất cho khán giả xem trên môi trường số Điều này cách đây 5 năm hoàn toàn không có Sản xuất đã tốn k m, nhưng làm thế nào để níu giữ người xem chương trình trên hệ thống số lại không phải đơn giản

Trang 31

Thực tế các nhà đài đang rất quan tâm đến nội dung online Tuy nhiên, phát triển nội dung online như thế nào là tùy thuộc từng đơn vị Muốn có người xem thì bên cạnh kho nội dung cũ phải có những chương trình mới, lạ, đáp ứng thị hiếu của người xem số Nhưng muốn làm được phải có kinh phí sản xuất Với những đài chưa mạnh về tài chính thì khó mà làm được

Hiện nay tại 63 tỉnh thành trên cả nước đều có các Đài PT - TH địa phương Không chỉ làm tốt chức năng là phương tiện thông tin, tuyên truyền thiết yếu, cùng với các loại hình báo chí và đội ngũ những người làm báo trong

cả nước, ngành PT - TH cả nước đã góp phần tích cực giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh, quốc phòng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội, được ghi nhận cụ thể qua chất lượng, nội dung thông tin, hình thức thể hiện của các chương trình tự sản xuất của các đài phát thanh, truyền hình ngày càng được nâng cao Nhiều tác phẩm báo chí của phát thanh, truyền hình đã đạt được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi tác phẩm báo chí và các liên hoan phát thanh, truyền hình Sai phạm về nội dung thông tin trên các đài phát thanh, truyền hình cũng chiếm tỷ lệ thấp so với các loại hình báo chí khác Ngôn ngữ thể hiện trên các kênh chương trình ngày càng đa dạng Các chương trình truyền hình, phát thanh tiếng dân tộc đã được nhiều đài tăng thời lượng Bên cạnh các chương trình tiếng Việt, nhiều đài đã thực hiện các bản tin tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ thông tin đối ngoại Hiện nay, các chương trình giải trí trong nước đang dần chiếm ưu thế hơn so với chương trình giải trí nước ngoài trên sóng phát thanh, truyền hình

Tỷ lệ phim nước ngoài phát sóng trên nhiều đài truyền hình đã giảm một bước so với trước Chính vì vậy, nhiều đài đã xây dựng được những chương trình có tính tương tác cao, chương trình truyền hình thực tế thu hút khán giả

Mặc dù thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, đầu tư của ngân sách Nhà nước hạn chế, doanh thu quảng cáo không tăng hoặc tăng thấp,

Trang 32

trong khi chi phí sản xuất chương trình tiếp tục tăng cao, song nhiều đài phát thanh, truyền hình đã tập trung đồng bộ hóa các thiết bị sản xuất chương trình theo hướng số hóa, nâng cao chất lượng hình ảnh, âm thanh Hầu hết các Đài

đã áp dụng sản xuất chương trình trên hệ thống bàn dựng phi tuyến, lưu trữ, phát sóng tự động trên mạng internet Một số Đài phát thanh - truyền hình đã bắt đầu sản xuất các chương trình truyền hình với tín hiệu HD, thích ứng với

xu hướng phát triển chung của thế giới và khu vực cũng như với yêu cầu của dịch vụ truyền hình chất lượng cao Một số Đài còn xây dựng các kênh tương tác và giao tiếp với khán giả thông qua trang thông tin điện tử của Đài, trang Youtube và các trang mạng xã hội,

Bên cạnh những vai trò trong việc duy trì và phát triển mạng lưới thông tin báo chí chính thống, các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương vẫn còn có nhiều hạn chế như: Tỷ lệ giữa tin tức, chương trình thiết yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị so với giải trí chưa cân đối: nhiều Đài có nguồn thu cao chủ yếu là chiếu phim, ca nhạc, giải trí Tin tức phát thanh, truyền hình có quá nhiều tin lễ tân, ít có các phóng sự, điều tra có chất lượng Là đài phát thanh, truyền hình địa phương, song ở một số đài, bản sắc địa phương không rõ n t Ngày càng nhiều chương trình trực tiếp của các đài, nhưng việc chuẩn bị không kỹ, kể cả người dẫn chương trình, nhiều khi gây phản cảm cho công chúng xem truyền hình

Để bắt kịp với sự phát triển về khoa học công nghệ phát thanh, truyền hình đang có những bước tiến rất nhanh cũng như khắc phục những khó khăn trên, các Đài cần tranh thủ mọi nguồn đầu tư, trong đó có nguồn thu sự nghiệp

để mở rộng điều kiện tác nghiệp, năng lực sản xuất chương trình, trang thiết

bị kỹ thuật theo hướng hiện đại, đồng bộ, đúng quy hoạch Tiếp tục thực hiện quyết liệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm

2020 và Đề án số hóa truyền dẫn, phát thanh truyền hình mặt đất đến năm

2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các Đài phát thanh, truyền

Trang 33

hình trên toàn quốc phải tiếp tục tập trung tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền về đề án này, từng bước chuyển đổi mô hình tổ chức để tập trung vào nhiệm vụ sản xuất và nâng cao chất lượng nội dung chương trình, bảo đảm để người dân sẽ được xem các chương trình truyền hình với chất lượng thông tin, hình ảnh, âm thanh tốt hơn và chuẩn bị tiền đề để tham gia tích cực hơn nữa vào việc cung cấp các nội dung gia tăng khác trên dịch vụ truyền hình số

1.1.4 Quảng bá nội dung (trong truyền thông)

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quảng bá (quảng cáo) là phổ biến rộng rãi

bằng các phương tiện thông tin” [29] Xét trong lĩnh vực truyền thông, quảng bá

là cách để một tòa soạn, Đài PT - TH hay cơ quan truyền thông thực hiện việc xây dựng thương hiệu, quảng cáo, PR, nhận diện thương hiệu báo chí, quản lý

chính của các hoạt động quảng bá là làm sao công chúng biết đến nhiều nhất về vấn đề, sự kiện, chương trình mang ý nghĩa chính trị, xã hội Một hoạt động truyền thông quảng bá chỉ hiệu quả khi người làm truyền thông xác định đúng mục tiêu và việc này thường không phải dễ dàng Tùy theo từng loại đối tượng cũng như giai đoạn mà công chúng đang ở trong tiến trình lựa chọn sẽ ảnh hưởng đến việc xác định mục tiêu của việc truyền thông quảng bá

Quảng bá trên mạng xã hội hiện nay đang là xu hướng marketing đang được các cơ quan truyền thông ưa chuộng vì hiệu quả cao nếu thực hiện đúng cách Quảng bá trong lĩnh vực truyền thông là việc giới thiệu bằng hình ảnh

về các sản phẩm báo chí mà các cơ quan báo chí, Đài PT - TH, tòa soạn sản xuất ra, nhằm đáp ứng những nhu cầu thông tin của công chúng được nhanh, chính xác nhất Thực hiện việc quảng bá, đăng tải nội dung thông tin lên mạng xã hội đối với các cơ quan báo chí nói chung có nhiều lợi thế như: Không giới hạn cả về không gian và thời gian, không phải lo ngại về chi phí

vì các chi phí cho các hình thức quảng bá trên mạng xã hội khá rẻ, thậm chí là

Trang 34

miễn phí Hoạt động của các cơ quan báo chí theo một nghĩa nào đó sẽ mở cửa 24/24 giờ mỗi ngày và việc quảng bá thì vẫn diễn ra liên tục nhờ Internet Với việc xây dựng được một hình ảnh về một cơ quan báo chí được tổ chức tốt, người dùng mạng xã hội sẽ ấn tượng và thường xuyên theo dõi tới các nội dung đáng quan tâm và liên tục được cập nhật, quảng bá trên mạng xã hội

1.2 Cách thức quảng bá nội dung trên mạng xã hội của các Đài phát thanh - truyền hình

Với hàng trăm triệu người dùng tích cực trên Facebook, đang chia sẻ hơn 30 tỷ nội dung (web links, câu chuyện mới, blog posts, vv…) mỗi tháng, không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan báo chí, truyền thông trong đó có cả các Đài PT - TH địa phương đều muốn quảng cáo trên mạng xã hội này Việc quảng cáo qua mạng xã hội này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các Đài PT - TH địa phương như: Ngân sách rõ ràng, dễ kiểm tra trước thành tích đạt được nếu set up quảng cáo theo gợi ý của facebook; Quảng cáo được triển khai nhanh chóng; Tiếp cận đối tượng công chúng mục tiêu với những yêu cầu chi tiết như là độ tuổi, giới tính, địa điểm và sở thích Tuy nhiên trong quá trình sử dụng mạng xã hội để quảng bá nội dung các chương trình cũng gặp một số vấn đề đặt ra như: Nội dung quảng cáo phải hết sức ngắn gọn, dòng tiêu đề bị hạn chế số ký tự và cả phần nội dung; Cần phải sáng tạo để làm cho nội dung quảng cáo của mình trở nên nổi bật bởi vì sự quá tải nội dung quảng cáo cũng

là một vấn đề đáng quan ngại [38]

Với ước tính khoảng một tỷ người truy cập hàng tháng trên toàn thế giới,

51 người dùng YouTube truy cập trang này hàng tuần hoặc thường xuyên hơn

và 52 người dùng trong độ tuổi từ 18-34 thường xuyên chia sẻ các video với bạn bè và đồng nghiệp Ngoài việc có thể quảng bá nội dung qua Youtube, mạng

xã hội này cũng tạo ra động lực cho các Đài tích cực sáng tạo và sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng, hấp dẫn công chúng vì các Đài sẽ được thực hiện chi

Trang 35

phải trả tiền khi đối tượng công chúng mục tiêu quyết định xem video của mình Ngoài ra kênh này còn cung cấp một số cơ hội quảng cáo, bao gồm quảng cáo hiển thị trực tuyến, quảng cáo trong video và video quảng cáo cho các Đài

Ở Việt Nam, hiện nay VTV là đơn vị hàng đầu thực hiện quảng bá thương hiệu cũng như nội dung chương trình dựa trên việc khai thác mạng xã hội kết hợp với truyền hình truyền thống Hiện nay VTV có ba kênh đầu ra là VTV Go, VTV News và trang mạng xã hội Đây là các kênh giữ khán giả cho VTV, là nơi tương tác với khán giả, tìm hiểu được nhu cầu của nhiều đối tượng khán giả khác nhau, đồng thời cũng là kênh marketing quan trọng đối với VTV, và xu hướng này được đánh giá là sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới

Quảng bá nội dung thông tin là khâu quan trọng giúp đưa thương hiệu của các Đài PT - TH đến công chúng Chính vì vậy để đạt được hiệu quả thực

sự trong việc sử dụng mạng xã hội quảng bá nội dung thông tin phát trên các Đài PT - TH có các cách thức chủ yếu sau:

Đăng tải các sản phẩm báo chí truyền hình lên mạng xã hội

Khi cơ quan truyền thông muốn chuyển thái độ của công chúng từ nhận biết chương trình sang theo dõi thường xuyên cần nắm rõ nhu cầu của công chúng và hướng tiếp cận hiệu quả Lựa chọn và cung cấp thông tin mà công chúng cần hoặc quan tâm, từ đó giúp họ có so sánh tích cực về các cơ quan truyền thông với nhau Hầu hết mục tiêu hướng đến của việc đẩy mạnh tuyên truyền trên mạng xã hội của các Đài truyền hình địa phương là thông tin nhanh, chuẩn xác và tương tác nhanh với khán giả, cạnh tranh với thông tin tràn làn trên mạng xã hội khác Do vậy, các phóng viên, biên tập viên đi đưa tin, sự kiện hay sản xuất phóng sự truyền hình sẽ được nhà Đài đăng tải lên mạng xã hội để cung cấp thông tin nhanh nhất cho khán giả Việc đăng tải các sản phẩm này có thể dưới dạng tin lời, tin ảnh, tin video, phóng sự được phóng viên ghi nhận lại có thể kèm dẫn hiện trường Những thông tin được ưu

Trang 36

tiên đăng tải trên mạng xã hội của các Đài là những tin tức, vấn đề nóng, sự kiện đang được dự luận đặc biệt quan tâm hay có thể là những thông tin, vấn

đề đang làn truyền trên cộng đồng mạng cần có sự xác minh Ngoài ra đó còn

có thể là những đoạn video mang tính chất giới thiệu dẫn sang một sản phẩm báo chí sắp được cho ra mắt hay một chương trình sẽ được thực hiện trong tương lai thay cho thông cáo báo chí và cần được công chúng quan tâm

Với mỗi tin, phóng sự, clip đặc sắc, trailer quảng bá, cổ động được đẩy lên mạng xã hội tốt nhất nên được để ở chế độ phân giải HD 1080 chất lượng cao nhất, được gắn lát cắt của các Đài Phát thanh Truyền hình địa phương ở đầu, ở cuối mỗi tin, phóng sự, clip đó để giúp khán giả dễ nhận diện được thông tin của Đài đẩy lên mạng xã hội Mỗi tin, phóng sự, clip được đưa lên Fanpage cần được chạy logo ở góc phía trên bên phải xuyên suốt mỗi tin, phóng sự, clip đó Các Đài có thể chọn hai hình thức thể hiện video được đăng tải đó là dạng dài (đăng tải nguyên một chương trình được phát sóng) hoặc dạng ngắn (cắt thành nhiều nội dung và đăng tải điểm nhấn của các chương trình)

Việc đăng tải lên mạng xã hội phải đảm bảo hội tụ đa dạng nhiều yếu tố

bao gồm: văn bản, hình ảnh, âm thanh, tương tác qua lại nhằm mang đến

thông tin đa dạng, đa chiều kích thích đa giác quan công chúng (nghe, nhìn, cảm nhận ) Về nội dung, các Đài quan tâm sáng tạo những format (kịch bản) mới lạ như: tương tác và trò chuyện với công chúng của mình Về hình thức, cho thấy sự sinh động, trực quan, khiến người xem cảm thấy như tận mắt chứng kiến, được tham gia

Ứng dụng Livestream trên mạng xã hội

Với các thiết bị di động gọn nh , đi đâu khán giả cũng có thể theo dõi trực tiếp, chia sẻ và kết nối với bạn bè của mình Công chúng không còn xem thụ động, một mình một màn hình như truyền hình truyền thống mà còn có thể bày tỏ ý kiến, bàn luận trực tiếp cùng với những người quan tâm hoặc những

Trang 37

người đang xem cùng chương trình ở nhiều nơi trên thế giới Mạng xã hội cũng cho phép công chúng tiếp cận được những nội dung livestream họ yêu thích dựa trên dữ liệu cá nhân, sở thích, nhật kí hoạt động Hiện nay, mạng xã hội không chỉ đơn giản là đăng ảnh, dòng trạng thái, viết bình luận , người dùng

đã được trao cho một công cụ phát sóng trực tiếp về chính bản thân mình Như vậy, với một chiếc điện thoại thông minh, mỗi cá nhân có thể trở thành một kênh truyền hình di động, chính họ là người sản xuất nội dung Đó là một đối thủ tiềm năng với truyền hình truyền thống Việc cung cấp nội dung, hình ảnh không còn là độc quyền của các Đài truyền hình Đó là thách thức chưa từng có đối với ngành truyền hình truyền thống trong bối cảnh kỷ nguyên số Truyền hình trên nền tảng số, các tính năng trực tuyến trên mạng xã hội hiện có thể nuốt trọn cả ngành công nghiệp truyền hình truyền thống Livestream góp phần đáng kể trong việc tăng tương tác giữa nhà báo với công chúng Mặt khác, live stream trên nền tảng mạng xã hội tạo điều kiện để nhà báo thu thập ý kiến của công chúng ngay trong thời gian truyền tải, từ đó nắm bắt thị hiếu, tâm tư, nguyện vọng của công chúng Thay đổi cách thức thông tin của nhà báo, ứng dụng livestream đã gián tiếp thúc đẩy một cách thức tác nghiệp mới, nhắm thẳng vào số lượng người dùng khổng lồ của mạng xã hội này Những cách “kể chuyện” mới đang khiến nhà báo phải tách dần khỏi cách sáng tạo tác phẩm báo chí thông thường Nhà báo phải xây dựng đề tài trên những góc độ, cách khai thác hấp dẫn, lôi cuốn khiến độc giả theo dõi không rời mắt

Năm 2016 đánh dấu sự bùng nổ của hình thức livestream với thống kê hơn 80 người dùng internet đã từng xem livestream trên các nền tảng social media (theo livestream.com) Ngày nay, livestream không chỉ được xem là một công cụ trên mạng internet, nó đã trở thành một nền công nghiệp và kênh bán hàng, tiếp thị chính của các nhãn hàng lớn, nhiều đơn vị cũng áp dụng vào công tác truyền thông để quảng bá thương hiệu của mình

Trang 38

Đầu tiên phải kể đến Facebook, có Live video hiển thị trên Bảng tin Theo bài nghiên cứu của PGS, TS Đinh Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Ngọc Diệp đăng

nay Facebook trở thành mạng xã hội được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới Nhiều người coi Facebook như một ứng dụng không thể thiếu trong đời sống Họ thích đọc Facebook hơn đọc một tờ báo, cập nhật mọi thứ ngay trên Newsfeed (bản tin) của mình hay dùng Facebook để đăng tải thông tin, tương tác cộng đồng Livestream Facebook (hay Facebook live) được công bố vào tháng 8/2015, ban đầu chỉ giới hạn sử dụng đối với một số nhân vật nổi tiếng Tiếp theo mở rộng quyền truy cập cho các tờ báo, kênh thông tấn lớn Và chỉ chưa đầy 1 năm sau, Mark Zuckerberg đưa tính năng phát trực tiếp phổ biến tới hơn hai tỷ người dùng trên mạng xã hội của mình Livestream của Facebook được hiểu là một tính năng do mạng xã hội Facebook cung cấp, cho ph p người dùng phát sóng trực tiếp thông qua mạng Internet trên các thiết bị kỹ thuật số, giúp công chúng có thể theo dõi và tương tác đồng thời với thời điểm xảy ra Người dùng có thể tương tác ngay bên dưới mỗi video live stream bằng cách thả biểu tượng cảm xúc (like), chia sẻ (share), đặt câu hỏi (comment) Có thể nói, live stream của Facebook dần trở thành công cụ truyền thông xã hội hấp dẫn, độ phổ biến và sức tương tác cao Livestream ngày càng trở nên hấp dẫn với giới trẻ, và được ví như một hình thức kể chuyện và tương tác mới trên Internet Thực tế, thay vì đối đầu, nhiều tờ báo, hãng thông tấn đã “bắt tay” với mạng xã hội Facebook, tận dụng live stream để mở rộng ảnh hưởng, tiếp cận trực tiếp tới công chúng hơn BBC (Anh) đã cập nhật mục “Video trực tiếp” trong fanpage Facebook BBC News của mình The New York Times với hàng loạt những chương trình tương tác sản xuất ngay trên nền tảng mạng xã hội, được phát trực

Tiếp theo là Youtube, cũng cho ra một tính năng khá mới và các video hoặc được xem trên kênh phát trực tiếp của bạn hoặc trên kênh phát trực tiếp

Trang 39

của Youtube Trực tiếp trên YouTube là một cách dễ dàng giúp bạn tiếp cận người xem trong thời gian thực Dù bạn đang phát trực tiếp trò chơi điện tử, tổ chức buổi Hỏi đáp trực tiếp hay giảng dạy một lớp học thì các công cụ của Youtube sẽ giúp người dùng quản lý sự kiện trực tiếp đó và tương tác với người xem trong thời thực

Trong bối cảnh tin tức giả tràn lan, ứng dụng livestream của mạng xã hội có vai trò đem đến nguồn thông tin chuẩn xác, công khai, minh bạch cho khán giả Thông qua “lăng kính” phát trực tiếp, nội dung tuyến tính, trùng khớp với thời gian nhà báo, phóng viên có mặt Công chúng không quá khó khăn để kiểm chứng, bởi việc phát trực tiếp là không thể gian lận, hay dàn dựng Mặt khác, các Đài công khai đầy đủ, rõ ràng mọi hoạt động của phóng viên Đài mình ngay trên sóng đem lại cảm giác thực tế cho công chúng

Tương tác với công chúng

Sự phát triển của mạng xã hội vừa là thách thức và cũng là cơ hội đối với những người làm truyền hình Chấp nhận sự thay đổi và làm quen với phương thức sản xuất mới, biến mạng xã hội trở thành một kênh công cụ đắc lực của truyền hình là điều cần thiết để tồn tại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này Thực tế hiện nay, phần lớn các Đài PT - TH hay các chương trình truyền hình đều có địa chỉ mạng xã hội, nơi người hâm mộ có thể theo dõi thông tin về chương trình mới nhất Với các thiết bị thông minh, dù ở đâu khán giả cũng có thể theo dõi các chương trình yêu thích, chia sẻ thông tin và kết nối với những người hâm mộ khác ngay trước, trong và sau khi chương trình lên sóng Các nhà đài có thể so sánh lượng người hâm mộ trung bình trên các trang mạng xã hội để nhận biết mức độ thành công của một chương trình hay một sản phẩm truyền hình Đồng thời việc hồi đáp các bình luận của khán giả trên mạng xã hội cũng làm tăng tính tương tác để các Đài nắm bắt được tâm tư, tình cảm, xu hướng tiếp nhận thông tin của công chúng Ngoài ra các Đài cũng có thể tiếp

Trang 40

nhận nguồn tin từ phía công chúng và rút được kinh nghiệm trong quá trình sản xuất tác phẩm báo chí truyền hình với đề tài mới, ngày một hấp dẫn

Sử dụng mạng xã hội là một trong những cách tốt nhất để các Đài PT -

TH có thể quảng bá nội dung các sản phẩm báo chí do mình sản xuất cũng như xây dựng thương hiệu dựa vào hình ảnh và nội dung từ các sản phẩm đã tạo ra

Do đó, các Đài PT - TH cần biết tận dụng sức mạnh của mạng xã hội để mang lại giá trị lợi ích tối đa cho cơ quan của mình Việc tương tác trên mạng xã hội

để thu hút, nâng cao mức độ tiếp cận và đưa lượng người theo dõi thành công chúng thường xuyên thông qua mạng xã hội là cả một quá trình Muốn làm tốt điều này, các Đài cần nhắm vào một số thời điểm “vàng” trong ngày, đó là lúc mọi người đang hoạt động mạnh trên các mạng xã hội và có thể tương tác với các nội dung được đăng tải trên mạng xã hội của Đài Mỗi một kênh đều có những khung giờ “vàng” khác nhau, do đó nếu nắm được thời gian chính xác các Đài hoàn toàn có thể tạo được lợi thế riêng cho mình Đăng tải nội dung, các sản phẩm báo chí vào những khung giờ khác nhau ảnh hưởng rất nhiều đến lượt tiếp cận và tương tác của bài viết Cho dù các Đài đăng vào khung giờ được cho là thời điểm đăng bài hiệu quả thì bài viết đó chưa chắc đã có tương tác tốt vì khi đó các trang khác cũng đồng loạt đăng vào giờ đó, dẫn tới việc cạnh tranh cao và bài viết đó sẽ bị trôi đi trước khi có người kịp theo dõi Số lượng bài đăng trong một ngày cũng cần phải tính toán Nếu đăng quá nhiều, lượng người tiếp cận ngược lại sẽ giảm đi đáng kể

1.3 Vai trò của mạng xã hội đối với quảng bá nội dung cho các Đài

Phát thanh - Truyền hình

Cùng với sự phát triển của các trang mạng xã hội, nhu cầu của khán giả cũng thay đổi Họ có xu hướng tìm những cách thức tiếp nhận thông tin nhanh hơn, hiệu quả hơn, rẻ hơn và mang tính tương tác cáo hơn với các chương trình truyền hình Với các Đài truyền hình, mạng xã hội đang trực tiếp ảnh hưởng, tạo

Ngày đăng: 12/11/2021, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
3. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
4. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
7. PGS TS Nguyễn Thị Trường Giang ,“Báo chí và truyền thông đa phương tiện”, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội (2017) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo chí và truyền thông đa phương tiện”
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội (2017)
8. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới và xu hướng phát triển, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới và xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2008
9. PGS.TS Đinh Văn Hường (2008), “Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập”. Bài tham luận hội thảo khoa học – Học viện Báo chí và tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập”
Tác giả: PGS.TS Đinh Văn Hường
Năm: 2008
11. TS. Đỗ Chí Nghĩa (2014) “Báo chí và Mạng xã hội” của Nhà xuất bản Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và Mạng xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
12. TS. Nguyễn Trí Nhiệm – PGS. TS Nguyễn Thị Trường Giang đồng chủ biên (2014) “Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo”Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
13. Dương Xuân Sơn, Đinh Hường và Trần Quang, (2004), Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Hường và Trần Quang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
14. Đỗ Đình Tấn (2017), “Báo chí và mạng xã hội” Nhà xuất bản trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và mạng xã hội
Tác giả: Đỗ Đình Tấn
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2017
15. Tạ Ngọc Tấn (chủ biên) (2007), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
16. Tạ Ngọc Tấn (2000), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng
Tác giả: Tạ Ngọc Tấn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
17. Hữu Thọ (1997), Nghĩ về Nghề báo, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về Nghề báo
Tác giả: Hữu Thọ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
18. Nguyễn Thị Thoa chủ biên, Nguyễn Thị Hằng Thu (2012), Tác phẩm báo chí đại cương, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Thoa chủ biên, Nguyễn Thị Hằng Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
19. Trần Hữu Luyến, Trần Thị Minh Đức và Bùi Hồng Thái, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Mạng xã hội với sinh viên”, NXB: Đại học Quốc gia Hà Nội (2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mạng xã hội với sinh viên”
Nhà XB: NXB: Đại học Quốc gia Hà Nội (2015)
25. Học viện báo chí và tuyên truyền, (2007) “Quan hệ công chúng – Lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu hội thảo)”, NXB Chính trị quốc gia, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ công chúng – Lý luận và thực tiễn (Kỷ yếu hội thảo)”
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
32. Jennifer Berz (2016), Nghiên cứu “Quản lý thương hiệu truyền hình bằng mạng xã hội” của Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thương hiệu truyền hình bằng mạng xã hội
Tác giả: Jennifer Berz
Năm: 2016
33. Patrice - Anne Rutledge, “Những sự thật - Làm giàu từ mạng xã hội”, Ngô Lan Hương dịch, NXB Lao động - Xã hội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự thật - Làm giàu từ mạng xã hội
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
1. Hoàng Quốc Bảo (2010), Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị - Hành chính Khác
5. Nguyễn Văn Dững (2004), Báo chí truyền thông hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm