1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh hưng yên giai đoạn hiện nay

130 19 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

  • Sơ đồ 2.1: Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đến năm 2020...........................................................................................42

  • Bảng 2.1: FDI trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (2009- 2013)...............................53

  • Bảng 2.2: Số dự án FDI được cấp phép còn hiệu lực tính đến 2013 phân theo ngành kinh tế tỉnh Hưng Yên..........................................................................57

  • Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ vốn FDI theo hình thức đầu tư ở Hưng Yên.....................59

  • Bảng 2.8: FDI phân bổ theo vùng...................................................................86

  • MỞ ĐẦU

  • Chương 1

  • CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT

  • ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

  • 1.1. Lý luận chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

  • 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

  • 1.2. Vai trò của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

    • 1.2.1. Vốn FDI góp phần bổ sung vốn cho phát triển kinh tế - xã hội

  • 1.3. Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương

    • 1.3.1. Kinh nghiệm thu hút FDI của tỉnh Bắc Ninh

    • 1.3.2. Kinh nghiệm thu hút FDI của Thành phố Hà Nội

    • 1.3.3. Bài học cho Hưng Yên trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

  • Chương 2

  • THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

  • CỦA TỈNH HƯNG YÊN (2007 - 2013)

  • 2.1. Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

    • Ngoài ra, những thuận lợi trong việc thu hút vốn FDI còn được thể hiện:

    • * Việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch, đề án về thu hút FDI

    • * Việc thực hiện tốt công tác hành chính, giải quyết các thủ tục pháp lý

  • Sơ đồ 2.1: Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp trên

  • địa bàn tỉnh Hưng Yên đến năm 2020

    • * Chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng

  • 2.2. Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2009 - 2013

  • Bảng 2.1: FDI trên địa bàn tỉnh Hưng Yên (2009- 2013)

  • Bảng 2.2: Số dự án FDI được cấp phép còn hiệu lực tính đến 2013

  • phân theo ngành kinh tế tỉnh Hưng Yên

  • Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ vốn FDI theo hình thức đầu tư ở Hưng Yên

    • 2.2.2. Hạn chế trong thu hút FDI của Hưng Yên

  • Bảng 2.8: FDI phân bổ theo vùng

  • Chương 3

  • GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

  • CỦA TỈNH HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI

  • 3.1. Dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm 2020 và nhu cầu thu hút vốn đầu tư

    • 3.1.1. Dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm 2020

  • 3.2. Quan điểm và phương hướng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hưng Yên

  • 3.3. Giải pháp tiếp tục đẩy mạnh thu hút trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới.

    • 3.3.1. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính về thủ tục đăng ký kinh doanh (thực hiện theo phân cấp quản lý)

    • Đẩy mạnh việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong công tác quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Về cơ bản, thủ tục pháp lý, thủ tục hành chính trong việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt và hình thành dự án đầu tư đã có những cải cách mạnh mẽ theo chiều hướng tích cực so với trước. Tuy nhiên, các thủ tục đã cải cách vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong các thủ tục hành chính còn tồn tại nhiều hạn chế như: các quy định pháp luật để làm cơ sở và căn cứ giải quyết các vấn đề phát sinh vẫn chưa hoàn thiện, khi có sự cố phát sinh thì không biết giải quyết như thế nào vì chưa có cơ sở pháp lý để đối chiếu vào đó xử lý, mới chỉ giải quyết được một cách chung nhất, chưa đi sâu để khắc phục được những phức tạp, mâu thuẫn và bất hợp lý trong kiểm soát hoạt động FDI. Vì thế quản lý nhà nước vẫn chưa tạo dựng được hiệu quả, chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia đầu tư gồm cả chủ thể đầu tư và chủ thể tiếp nhận đầu tư. Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính cần đảm bảo thực hiện theo hướng: thủ tục giải quyết theo cơ chế “một cửa”; đơn giản, cơ sở vững chắc, đồng thời có sự phối hợp kịp thời và đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan.

    • 3.3.2. Công tác quy hoạch đầu tư

    • 3.3.3. Giải pháp để hỗ trợ mặt bằng sản xuất, về hạ tầng kỹ thuật tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư

    • 3.3.4. Chính sách về ưu đãi thuế, tín dụng

    • 3.3.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng cán bộ làm công tác quản lý vốn FDI

    • 3.3.6. Đẩy mạnh đổi mới công tác vận động thương mại xúc tiến đầu tư

  • 3.4. Kiến nghị

  • KẾT LUẬN

Nội dung

Uỷ ban thương mại và phát triển của Liên hợp quốc UNCTAD, trong Báo cáo đầu tư thế giới năm 1996 đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Lý luận chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng theo định nghĩa của WTO, FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ nước chủ đầu tư nắm giữ tài sản tại nước khác (nước thu hút đầu tư) đồng thời có quyền quản lý và kiểm soát tài sản đó Khía cạnh quản lý là yếu tố phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong hầu hết các trường hợp, nhà đầu tư và tài sản ở nước ngoài đều là cơ sở kinh doanh, nên nhà đầu tư thường được gọi là công ty mẹ và tài sản được gọi là công ty con.

Gần đây, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được nhiều tổ chức kinh tế quốc tế công nhận nhằm hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô về FDI, thúc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế và sử dụng các phương pháp thống kê quốc tế để phân tích Theo Báo cáo cân đối thanh toán hàng năm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại nước tiếp nhận đầu tư (hosting country), không phải tại nước nguồn đầu tư (source country), nhằm quản lý có hiệu quả doanh nghiệp.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa qua ba yếu tố cốt lõi: tính lâu dài của hoạt động đầu tư, sự có mặt của yếu tố nước ngoài ở chủ thể đầu tư, và động lực đầu tư là dành quyền kiểm soát trực tiếp hoạt động quản lý doanh nghiệp Đây là sự phân biệt căn bản giữa FDI và đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nền kinh tế hiện đại Tính lâu dài ở đây nhấn mạnh cam kết mở rộng quy mô và sự gắn bó lâu dài với doanh nghiệp tại nước nhận đầu tư, trong khi yếu tố nước ngoài cho thấy tính chất sở hữu và ảnh hưởng chiến lược Động lực kiểm soát trực tiếp quản lý doanh nghiệp là đặc trưng quan trọng giúp phân biệt FDI với hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp.

UNCTAD, trong Báo cáo đầu tư thế giới năm 1996, định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là mối quan hệ lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc cá nhân đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với một doanh nghiệp ở nền kinh tế khác, thông qua vốn và sự tham gia quản lý hoạt động kinh doanh Để đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ và xây dựng khung pháp lý tối ưu cho FDI, Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005 đã đưa ra khái niệm về FDI là việc các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn bằng tiền hoặc bất cứ hình thức tài sản nào vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh, trong đó FDI khác với các hình thức đầu tư nước ngoài khác ở chỗ có sự trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh.

Tuy có nhiều khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, ta có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay của công ty ở quốc gia này vào một quốc gia khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh và có tham gia hoạt động quản lý nó Do vậy, ta thấy FDI cũng chính là một loại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia Mặc dù hiện nay đang tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI, nhưng có thể thấy được rằng các khái niệm này vẫn có những nét chung nhất là:

- Có sự di chuyển vốn trong phạm vi quốc tế

- Chủ đầu tư (có tư cách pháp nhân hoặc thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư

Tóm lại, dù được nhìn nhận hay tiếp cận trên góc độ nào đi chăng nữa thì FDI vẫn là một phương thức đầu tư phổ biến trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay FDI là sự dịch chuyển tư bản quốc tế từ những nước có hiệu quả đầu tư thấp (các nước phát triển) tới những nước có hiệu quả đầu tư cao (các nước đang phát triển)

Dưới góc độ kinh tế chính trị, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được định nghĩa là hoạt động bỏ vốn của các cá nhân và tổ chức kinh tế nước ngoài vào một đối tượng nhất định tại nước nhận đầu tư, đồng thời tham gia trực tiếp quản lý và điều hành nhằm thu lợi trong kinh doanh Hoạt động này thường được thực hiện thông qua các dự án, hay còn gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.

1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ đưa vốn vào nước nhận đầu tư mà còn chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất, Marketing và trình độ quản lý Hình thức đầu tư này được coi là hoàn chỉnh bởi khi vốn được đưa vào, hoạt động sản xuất kinh doanh được triển khai và sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc thông qua xuất khẩu Đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm là yếu tố giúp tăng sức cạnh tranh trên thị trường Đây là đặc điểm phân biệt FDI với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với ODA, vốn chỉ cung cấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công nghệ.

Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một mức vốn tối thiểu vào vốn pháp định theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành và quản lý đối với dự án mà họ đầu tư Ví dụ ở Việt Nam, theo Điều 8 của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án, trừ các trường hợp do chính phủ quy định.

Các quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn nước ngoài; tỷ lệ góp vốn nước ngoài càng cao thì quyền quản lý và ra quyết định càng lớn Đây là đặc điểm giúp phân biệt các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa trên mức độ tham gia vốn và quyền kiểm soát Ví dụ, khi nhà đầu tư nước ngoài nắm 100% vốn điều lệ, doanh nghiệp đó được điều hành hoàn toàn bởi chủ đầu tư nước ngoài.

Quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài gắn chặt với dự án đầu tư mà họ tham gia Kết quả hoạt động sản xuất–kinh doanh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận mà nhà đầu tư nhận được Sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà, phần lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài được phân phối theo tỷ lệ vốn góp so với vốn pháp định.

Trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ thể điển hình là các công ty xuyên quốc gia và công ty đa quốc gia, chiếm tới khoảng 90% nguồn vốn FDI đang lưu hành trên toàn cầu Với mức vốn góp cao, các nhà đầu tư này thường kiểm soát trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp nhận đầu tư và đưa ra các quyết định chiến lược nhằm tối ưu hóa lợi ích cho chính họ.

Vốn FDI được sử dụng theo mục đích của nhà đầu tư nước ngoài trong khuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài do nước tiếp nhận ban hành Nước tiếp nhận đầu tư có thể định hướng gián tiếp cách sử dụng nguồn vốn này thông qua các công cụ như thuế, giá thuê đất và các quy định nhằm khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một lĩnh vực, ngành kinh tế nhất định.

Tiếp nhận FDI không gây nợ nước ngoài cho nước chủ nhà, bởi nhà đầu tư nước ngoài chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nó có phần ít lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia so với ODA Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF (Official Development Finance) thường dẫn đến nợ nước ngoài do hiệu quả sử dụng vốn thấp.

1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.2.1 Xét theo hình thức sở hữu

- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contrctual Business Cooperation)

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là một hình thức phổ biến và có nhiều ưu thế trong việc phối hợp sản xuất các sản phẩm có tính chất phức tạp và yêu cầu kỹ thuật cao, đòi hỏi sự kết hợp sức mạnh của nhiều quốc gia Hình thức này thường được áp dụng trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên dưới dạng hợp đồng phân chia sản phẩm Việt Nam có lợi thế về lao động và nguyên liệu đầu vào; vì vậy chúng ta cần có chính sách hợp lý trong chiến lược phát triển nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này.

- Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Enterprise)

Vai trò của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển

1.2.1 Vốn FDI góp phần bổ sung vốn cho phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn vốn đầu tư cho phát triển gồm vốn trong nước và vốn nước ngoài; ở một nước đang phát triển như Việt Nam, lượng tiết kiệm còn ở mức thấp khiến nguồn vốn đầu tư phát triển bị hạn chế, do đó huy động vốn FDI mang ý nghĩa hết sức lớn lao FDI góp phần tạo công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động và làm tiền đề để tăng thu nhập và tích lũy cho sự phát triển của xã hội Sử dụng vốn FDI hiệu quả có thể giải quyết khó khăn về khả năng tích lũy vốn, bù đắp thiếu hụt ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua sự kết hợp tối ưu các yếu tố sản xuất và khai thác triệt để các nguồn lực nhàn rỗi Để tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà đầu tư nước ngoài phải thuê lao động, mua hàng hóa, dịch vụ cần thiết, mua nguyên vật liệu và bơm ngoại tệ vào nền kinh tế, từ đó làm tăng thu nhập cho người dân và kích thích chi tiêu, làm tổng vốn đầu tư xã hội tăng lên và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ở một số nước, mô hình phát triển được triển khai theo hướng: ở giai đoạn đầu sử dụng viện trợ phát triển chính thức (ODA) từ các nước lớn để tạo cú huých tăng trưởng hoặc vay vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và kỹ thuật ban đầu; sau đó ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) nhằm đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh Khi vị thế và công nghệ tiên tiến được hình thành, các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài và thu lợi nhuận được chuyển về nước.

Mức đóng góp của FDI vào tổng vốn đầu tư phát triển được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nguồn vốn FDI thực hiện so với tổng vốn đầu tư xã hội trong một kỳ nhất định Tỷ lệ này càng cao cho thấy vai trò của khu vực FDI trong tăng trưởng và phát triển kinh tế của quốc gia Tuy nhiên, tích lũy vốn ở nước ta vẫn ở mức thấp, là một trở ngại lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội Với mục tiêu tăng cường tích lũy vốn và khai thác hiệu quả nguồn lực từ FDI, cần thúc đẩy liên kết giữa FDI và khu vực nội địa, nâng cao chất lượng đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư.

Việt Nam hướng tới xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chuyển đổi sang nước công nghiệp, dựa trên định hướng xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với định hướng ấy Tuy nhiên, với lượng tích lũy vốn hiện có, nước ta sẽ đối mặt nhiều khó khăn và thách thức khi thực hiện mục tiêu này Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là hình thức huy động vốn quan trọng, giúp đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và mang lại nhiều ưu thế so với các nguồn vốn khác, như giảm bớt sự phụ thuộc vào lãi suất vay nước ngoài và tránh các điều kiện kèm theo của viện trợ Vì vậy, FDI được coi là công cụ hữu ích để tăng trưởng và chuyển giao công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam.

Việc liên doanh với nước ngoài và bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước có thể làm giảm rủi ro tài chính Thứ nhất, các doanh nghiệp trong nước có nhiều kinh nghiệm nên hạn chế và ngăn ngừa rủi ro hiệu quả hơn Thứ hai, khi xí nghiệp liên doanh gặp nguy cơ rủi ro, các công ty mẹ sẽ triển khai các biện pháp hỗ trợ về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và trợ giúp tài chính để duy trì hoạt động.

Xét về mặt định tính, nguồn vốn FDI được xem như một động lực gây phản ứng dây chuyền, thúc đẩy sự hoạt động của nguồn vốn trong nước Theo các chuyên gia kinh tế, mỗi đồng vốn FDI tham gia hoạt động sẽ kích thích bốn đồng vốn nội địa hoạt động theo, tạo sự lan tỏa và tăng liên kết cho toàn bộ nền kinh tế Nhờ hiệu ứng này, FDI góp phần vào việc Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối và bền vững, phù hợp với yêu cầu của công cuộc CNH-HĐH đất nước.

Vốn đầu tư xã hội có xu hướng tăng nhanh qua các giai đoạn Trong giai đoạn 1991-2000, vốn đầu tư xã hội đạt khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội; đến giai đoạn 2001-2011, con số này tăng lên 69,47 tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã hội Đồng thời, tỷ trọng khu vực FDI trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000-2011 tăng 5,4%.

1.2.2 Vốn FDI góp phần chuyển giao công nghệ thúc đẩy thực hiện các mục tiêu phát triển khoa học công nghệ

FDI tạo điều kiện cho nước chủ nhà tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, đồng thời tiếp nhận kinh nghiệm quản lý kinh doanh từ nước đầu tư FDI không chỉ là vốn mà còn kèm theo công nghệ, kỹ thuật và các phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra sản phẩm mới và mở rộng thị trường cho nước nhận đầu tư Đa số các nước nhận FDI có nền kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý còn yếu, nên FDI là cơ hội để khai thác lợi thế từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Những nhà đầu tư có công nghệ hiện đại, đội ngũ quản lý giỏi và kinh nghiệm dày dặn trên thị trường toàn cầu sẽ chuyển giao các khía cạnh này, nâng cao tay nghề và trình độ quản lý cho nước nhận đầu tư Việc tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài giúp nền khoa học kỹ thuật Việt Nam dần phát triển và đóng góp vào các mục tiêu của kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ.

FDI đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy Việt Nam chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Để hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và tham gia tích cực vào liên kết kinh tế giữa các nước, Việt Nam phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế phù hợp với sự phân công lao động quốc tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng cách tăng cường công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và tạo động lực phát triển cho khu vực công nghiệp và dịch vụ, từ đó hình thành một nền kinh tế hiện đại, cạnh tranh và có tăng trưởng bền vững.

- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở nước nhận đầu tư

Đẩy nhanh sự phát triển trình độ kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, mở đường cho sự hiện đại hóa và tăng cường cạnh tranh Nhờ đó, năng suất lao động ở các ngành này được nâng lên đáng kể và công nghệ ngày càng đóng góp nhiều hơn, làm tăng tỉ trọng của nó trong nền kinh tế.

Một số ngành được kích thích phát triển mạnh mẽ nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mang lại cơ hội tăng trưởng, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế Tuy nhiên, không phải mọi ngành đều phát triển bền vững: nhiều lĩnh vực có thể bị mai một dần và cuối cùng bị xóa bỏ khi thị trường thay đổi, công nghệ tiến bộ và sự dịch chuyển trong chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra.

Về cơ cấu kinh tế ở Việt Nam, phần lớn vốn FDI hiện nay là đầu tư vào khu vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ với năng suất lao động cao làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam chuyển dịch theo hướng hiện đại

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang đóng vai trò then chốt trong phát triển một số ngành công nghiệp, bởi nếu thiếu FDI nhiều ngành sẽ không có điều kiện để phát triển Cho tới nay, khu vực doanh nghiệp FDI tham gia vào hầu hết các ngành sản xuất và chiếm phần lớn sản lượng ở nhiều lĩnh vực kinh tế lớn như thép cán, dụng cụ y tế chính xác, sợi các loại, da giày, dệt may và đặc biệt là khai thác dầu thô Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp FDI tại các địa phương cũng phát triển mạnh, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả sản xuất ở nhiều địa phương Điển hình, khu vực công nghiệp FDI ở Hải Dương đạt tăng trưởng 44,3%, Vĩnh Phúc 36%, Quảng Ninh gần 29%, Thành phố Hồ Chí Minh 19%, Hà Nội 16,8%.

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác động rõ rệt đến chuyển dịch cơ cấu lao động và thúc đẩy nhanh số hộ tham gia vào các hoạt động công nghiệp, thương mại và dịch vụ, trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm dần Giai đoạn 1998-2008, ngành nông nghiệp có 966 dự án, trong đó 831 dự án nông-lâm nghiệp và 135 dự án thủy sản, với tổng vốn đầu tư 4.682 triệu USD và tổng vốn điều lệ 2.236 triệu USD Với gần 1.000 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao giống cây con và công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, đồng thời thúc đẩy đa dạng hóa sản xuất nông, lâm, thủy sản và nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH và tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế Mặc dù tỉ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội không lớn, nguồn vốn này chủ yếu tập trung vào các ngành có biên lợi nhuận cao, và ở các nước bắt đầu CNH-FDI thường tập trung vào công nghiệp chế tạo; hoạt động của FDI giúp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có tính chất toàn cầu, đưa nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới Chính sách thu hút FDI vào các lĩnh vực phù hợp sẽ đóng góp tích cực cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH Bên cạnh đó, FDI còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu vùng miền: những nơi có vốn FDI đầu tư thường có điều kiện phát triển tốt hơn, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.

1.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế đất nước

Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương29 Chương 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TỈNH HƯNG YÊN (2007 - 2013)

1.3.1 Kinh nghiệm thu hút FDI của tỉnh Bắc Ninh

Sau 15 năm phát triển, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, đóng góp tích cực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tạo nền tảng để Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại Vốn FDI vào tỉnh liên tục tăng qua các năm, đặc biệt kể từ khi Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực và đạt đỉnh điểm vào năm 2008 Đến nay, toàn tỉnh có 390 đơn vị FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 4.725,79 triệu USD Nhiều tập đoàn xuyên quốc gia lớn trên thế giới đã đầu tư tại Bắc Ninh như Samsung, Nokia, Hồng Hải, Canon, PepsiCo và nhiều tập đoàn khác Đây là một điểm nhấn cho khu vực, trong khi trên phạm vi cả nước, số lượng các tập đoàn lớn đầu tư còn khá khiêm tốn và chưa đạt như kỳ vọng.

Khu vực kinh tế FDI đóng vai trò quan trọng và mang lại nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh Tuy nhiên, hoạt động đầu tư nước ngoài vào tỉnh còn bộc lộ một số mặt hạn chế cần được khắc phục để nâng cao chất lượng nguồn vốn trong thời gian tới Để đạt được mục tiêu này, cần các động thái điều chỉnh chính sách thu hút vốn đầu tư, nhằm tăng cường chất lượng dự án, cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao tính minh bạch, từ đó nâng cao hiệu quả và sự đóng góp của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế của tỉnh.

- Về ưu tiên thu hút FDI theo định hướng “sử dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản, đất đai” Đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ; tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng: giao thông, điện, nước, xử lý rác nước thải và rác thải; chú trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ công nghệ thông tin, viễn thông, cung cấp phần mềm và giải pháp, nghiên cứu và phát triển (R&D), Giai đoạn

2020 -2030 và tầm nhìn 2030-2050 sẽ điều chỉnh nâng dần tỷ trọng vốn FDI trong ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao

Để triển khai hiệu quả cơ chế chính sách ưu tiên nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực mũi nhọn của tỉnh, các cơ chế hỗ trợ và ưu đãi được triển khai bao gồm: giải phóng mặt bằng; hỗ trợ nhà đầu tư về cung ứng và đào tạo lao động Đối với các dự án có quy mô lớn (vốn đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên) và ứng dụng công nghệ cao, ngoài các ưu đãi theo quy định chung của Chính phủ, UBND tỉnh sẽ xem xét xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Để huy động và nâng cao tỷ trọng vốn FDI vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, như giao thông, điện và nước, tỉnh tiếp tục đa dạng hóa các hình thức đầu tư và khuyến khích đầu tư theo hình thức BT và BOT; đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, triển khai mô hình đầu tư hợp tác công tư (PPP) theo Quyết định số 71/2010 ngày 9/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Để nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, thẩm định cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư, việc cấp Giấy CNĐT phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau: sự phù hợp của lĩnh vực đầu tư với hệ thống quy hoạch của địa phương, quy hoạch vùng và quy hoạch phát triển ngành; hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án phải bằng hoặc cao hơn hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; và công nghệ được sử dụng trong dự án phải là công nghệ tiên tiến và thân thiện với môi trường.

Trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư sau cấp phép, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra và giám sát theo quy định của pháp luật về đầu tư và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan Đồng thời, cần rà soát, phân loại và xử lý các dự án đầu tư chậm triển khai hoặc không triển khai thực hiện để đảm bảo tuân thủ pháp luật và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư bằng cách đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng các hoạt động xúc tiến, tập trung vào xúc tiến đầu tư tại chỗ theo hướng tiết kiệm và hiệu quả Đồng thời tăng cường hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư đã được cấp Giấy CNĐT, nhằm đẩy nhanh tiến độ và đảm bảo tính khả thi của các dự án.

Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính và đơn giản hóa các thủ tục đầu tư, xây dựng; thúc đẩy nhanh việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

1.3.2 Kinh nghiệm thu hút FDI của Thành phố Hà Nội

Là thủ đô của cả nước với nhiều thuận lợi và thế mạnh của riêng mình,

Hà Nội đã đạt được sự thành công nhất định trong thu hút vốn FDI đổ vào các khu công nghiệp từ đầu năm 2012 đến nay Mặc dù nền kinh tế cả nước và Hà Nội còn nhiều khó khăn sau khủng hoảng, dòng vốn FDI vào khu công nghiệp trên địa bàn vẫn có xu hướng tăng Trong năm 2012, Hà Nội ghi nhận 11 dự án đầu tư mới vào các khu công nghiệp, trong đó 9 dự án FDI có vốn đăng ký lên tới 112112,4 triệu USD và 2 dự án trong nước đầu tư mới với vốn đăng ký là 53 tỷ VNĐ Hiện tại, đã có 17 dự án đăng ký tăng vốn để mở rộng quy mô sản xuất và nâng cấp trang thiết bị với vốn đăng ký đạt 153,4 triệu USD và 57,7 tỷ VNĐ Quá trình thu hút FDI của Hà Nội đã để lại nhiều bài học cho các địa phương khác.

Quy hoạch tổng thể được nâng cao chất lượng để định hình và thu hút đầu tư nước ngoài tại Hà Nội một cách bền vững Quy hoạch đầu tư nước ngoài là một phần hữu cơ của quy hoạch tổng thể, đòi hỏi định hướng và giải pháp gắn chặt với quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của Hà Nội để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế Việc nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể giúp Hà Nội tránh tình trạng đầu tư tràn lan và đầu tư theo phong trào, từ đó giảm lãng phí nguồn lực và tăng hiệu quả của các dự án FDI Nhờ đó, tăng niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững của Thủ đô.

- Phát triển đồng bộ, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kĩ thuật

Tiếp tục tăng cường vai trò của ngân sách nhà nước trong đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng hàng rào của khu công nghiệp Áp dụng quy chế ưu đãi đầu tư hoặc phát hành trái phiếu công trình để huy động vốn cho các công trình trọng điểm Những biện pháp này sẽ thúc đẩy huy động nguồn lực công–tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, tăng cường liên kết giữa các khu công nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, từ đó cải thiện tính cạnh tranh và bảo đảm an toàn tài chính cho hệ thống hạ tầng khu công nghiệp.

Thành phố Hà Nội khuyến khích tư nhân đầu tư vốn để phát triển hạ tầng khu công nghiệp và áp dụng quy chế ưu đãi cụ thể cho các hình thức đầu tư BOT, BTO và BT vào các dự án, địa bàn trọng điểm Chính sách này nhằm thu hút vốn đầu tư tư nhân, đẩy nhanh triển khai hạ tầng và nâng cao hiệu quả các khu công nghiệp ở các địa bàn chiến lược của thành phố.

Mở rộng tự do hóa tư nhân và tăng cường xúc tiến, vận động đầu tư: Thành phố sẽ khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước hợp tác với nước ngoài để thành lập công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Hình thức này phổ biến trên thế giới và Đông Nam Á, mang lại lợi thế huy động vốn và rủi ro thấp hơn so với công ty trách nhiệm hữu hạn Các doanh nghiệp có vốn FDI được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu nhằm mở rộng quy mô đầu tư Một số tập đoàn có nhiều dự án có thể thành lập công ty quản lý vốn để điều hành chung và hỗ trợ các dự án đã đầu tư.

Doanh nghiệp có vốn FDI được phép thuê đất để xây dựng nhà ở cho thuê hoặc bán cho người nước ngoài và người Việt Nam FDI được mở rộng hoạt động trên các lĩnh vực tài chính, nhất là bảo hiểm và ngân hàng, cùng với một số lĩnh vực dịch vụ khác.

Cho phép nhà đầu tư nước ngoài được tự do chọn hình thức đầu tư, đối tác đầu tư, ngành nghề và địa điểm đầu tư

GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA TỈNH HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI

Ngày đăng: 12/11/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS, TS Đỗ Đức Bình - PGS, TS Nguyễn Thường Lạng (Đồng chủ biên) (2006), Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong FDI, kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong FDI, kinh nghiệm Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam
Tác giả: PGS, TS Đỗ Đức Bình - PGS, TS Nguyễn Thường Lạng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
2. Vũ Xuân Bình (2002), "Đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn tiềm năng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam", Tạp chí Giáo dục lý luận, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn tiềm năng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Xuân Bình
Năm: 2002
12. PGS.TS Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Mai Ngọc Cường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
13. Nguyễn Phước Dũng (2004), Những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phước Dũng
Năm: 2004
14. Đỗ Kim Hoa (2006), Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Trung Quốc từ 1992 đến nay. Những gợi ý đối với Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Trung Quốc từ 1992 đến nay. Những gợi ý đối với Việt Nam
Tác giả: Đỗ Kim Hoa
Năm: 2006
15. Lê Huy Hoàng (2012), Nghiên cứu môi trường FDI ở Thái Lan và gợi ý chính sách cho Việt Nam, Luận văn thạc sĩ ngành KTTG &QHKTQT, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu môi trường FDI ở Thái Lan và gợi ý chính sách cho Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Hoàng
Năm: 2012
16. Nguyễn Vũ Hoàng (2006), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Vũ Hoàng
Năm: 2006
17. Trần Thị Hương (2006), Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, một số giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư này, Luận văn thạc sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Việt Nam, một số giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư này
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2006
18. Nguyễn Thị Kim Mã (2005), Giải pháp tăng cường thu hút FDI tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường thu hút FDI tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Mã
Năm: 2005
19. Trần Văn Nam (2005), Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tác giả: Trần Văn Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩ thuật
Năm: 2005
20. Bùi Huy Nhượng (2006), Một số biện pháp thúc đẩy các dự án FDI tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp thúc đẩy các dự án FDI tại Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Nhượng
Năm: 2006
21. Lương Thị Hồng Phước (2010), Giải pháp đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại Học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận đến năm 2010
Tác giả: Lương Thị Hồng Phước
Năm: 2010
22. Quốc hội (2005), Luật Đầu tư 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đầu tư 2005
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
23. Quốc hội (2005), Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp 2005
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
27. Nguyễn Huy Thám (1999), Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Thám
Năm: 1999
30. Hà Quang Tiến (2007), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển công nghiệp ở Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển công nghiệp ở Vĩnh Phúc
Tác giả: Hà Quang Tiến
Năm: 2007
31. Trần Xuân Tùng (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương - thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Xuân Tùng
Năm: 2005
32. Trần Xuân Tùng (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Xuân Tùng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
33. Trần Nguyễn Tuyên (2004), “Hoàn thiện môi trường và chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện môi trường và chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Nguyễn Tuyên
Năm: 2004
34. Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2000), Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Văn phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w