1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em (khảo sát kênh bibi của truyền hình cáp việt nam)

161 86 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chương trình thiếu nhi trên truyền hình thường được sản xuất theo các tiêu chí: thông tin mang tính giáo dục; kiến thức cuộc sống, cách ứng xử, giao tiếp hàng ngày; các mối nguy hiểm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Thu Nga

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo của Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em và các học viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện Kiến thức tiếp thu được trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khoa học mà còn là hành trang quý báu giúp em trong công việc

và sự nghiệp của bản thân

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Thị Thu Nga, người hướng dẫn khoa học và trân trọng cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp; các phóng viên; biên tập viên; nhóm sản xuất chương trình kênh Thiếu nhi BiBi - Phòng Nội dung II - Lãnh đạo Ban Biên tập Truyền hình Cáp - Đài Truyền hình Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Hồng Ánh

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

2 ĐH KHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

6 HV BC&TT : Học viện Báo chí và Tuyên truyền

9 SCTV : Công ty trách nhiệm hữu hạn Truyền hình Cáp

13 VTC : Tổng Công ty Truyền thông đa phương tiện Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ SỐ LIỆU, HÌNH VẼ SỬ DỤNG

TRONG LUẬN VĂN

Biểu 2.1: Kiến nghị kênh BiBi phát sóng phim hoạt hình về các nội dung 54 Biểu 2.2: Tỷ lệ đối tượng khảo sát theo dõi kênh BiBi 59 Biểu 2.3: Tỷ lệ thời điểm đối tượng khảo sát theo dõi kênh BiBi trong ngày 60 Biểu 2.4: Tỷ lệ thông tin đối tượng khảo sát tiếp nhận được sau khi theo dõi những chương trình yêu thích 61 Biểu 2.5: Tỷ lệ thời gian đối tượng khảo sát xem kênh BiBi trong ngày 66 Biểu 2.6: Tỷ lệ đối tượng khảo sát theo dõi kênh BiBi 70 Biểu 2.7: Tỷ lệ nước sản xuất phim hoạt hình mà đối tượng khảo sát (học sinh tiểu học) thích 72 Biểu 2.8: Tỷ lệ nước sản xuất phim hoạt hình mà đối tượng khảo sát (học sinh THCS) thích 721 Biểu 2.9: Tỷ lệ chương trình yêu thích trên kênh BiBi của đối tượng khảo sát 76 Hình 2.1: Logo kênh BiBi 49 Hình 2.2: Nhân vật chính trong chương trình “Hai người bạn chuối mặc pyjama” 67 Hình 2.3: Nhân vật chính trong chương trình “Xúc Xắc – Lúc Lắc” 76

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH TRẺ EM 14

1.1 Một số khái niệm cơ bản 14

1.2 Cơ sở tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em 24

1.3 Yêu cầu trong tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em 41

Tiểu kết chương 1 48

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM HIỆN NAY 49

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của kênh thiếu nhi BiBi 49

2.2 Quy trình tổ chức nội dung chương trình của BiBi 53

2.3 Đánh giá chung 67

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM 85

3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em 85

3.2 Một số khuyến nghị 95

Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 108

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là niềm vui, là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình và là tương lai của đất nước Trẻ em là thế hệ, là lực lượng kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trẻ em là tài sản quý giá nhất của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên tháng 9 năm 1945,

Bác Hồ đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc

Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”

Chăm sóc cho thế hệ tiếp nối là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu như lời Bác Hồ đã dặn trước lúc đi xa Thực hiện lời dặn đó, trong những năm qua, tuy xã hội chúng ta còn gặp nhiều khó khăn về mặt kinh tế nhưng chúng

ta cũng đã và đang có nhiều sự đầu tư, quan tâm thích đáng đến những mầm non tương lai này và chú trọng chăm sóc trẻ em ngay từ lúc còn nằm trong bụng mẹ cho đến lúc lọt lòng, lớn lên và trưởng thành

Các bậc cha mẹ ngày càng quan tâm hơn đến việc chăm sóc cho con trẻ

cả về thể chất lẫn tinh thần để con cái mình có thể phát triển một cách toàn diện Họ thường hướng cho con cái mình học rất nhiều kỹ năng, nhiều môn học với mong muốn con mình lớn lên sẽ có kiến thức và tri thức để theo kịp

sự phát triển của xã hội

Tuy nhiên trong cuộc sống hiện đại và bận rộn ngày nay, các bậc làm cha mẹ lại đánh mất thói quen định hướng, hướng dẫn cho con trẻ và cùng chúng thưởng thức các chương trình dành cho trẻ em trên sóng truyền hình Theo các nhà chuyên môn trong lĩnh vực tâm lý trẻ em, sự thay đổi trong nếp sống gia đình cũng là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến thói quen xem các chương trình truyền hình thiếu nhi của các em

Trang 8

Sau khi xem các chương trình thiếu nhi trên truyền hình, các em nhỏ thấy những chương trình đó mang lại cho mình những thông tin gì? Các chương trình thiếu nhi trên truyền hình thường được sản xuất theo các tiêu chí: thông tin mang tính giáo dục; kiến thức cuộc sống, cách ứng xử, giao tiếp hàng ngày; các mối nguy hiểm với trẻ em; giáo dục truyền thống, tinh thần dân tộc; lòng yêu nước, tự hào dân tộc; thật thà, dũng cảm, có thái độ lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô; giáo dục tinh thần đoàn kết, kỷ luật cho các em; giữ vệ sinh chung, thân thể, ăn mặc gọn gàng; chăm học, nghe thầy cô, ông bà

và cha mẹ; gương người tốt, việc tốt, biết giúp đỡ người khác; những việc thiếu nhi được làm và không nên làm; giáo dục hình tượng và cách sống cho các em; mang tính thư giãn giải trí

Tuy nhiên hiện nay, một bộ phận thanh thiếu niên đã bị ảnh hưởng từ phim ảnh có nội dung không tốt, các trò chơi điện tử có tác động đến quá trình phát triển nhân cách, hình tượng sống của các em, làm các em mất phương hướng, định hướng vào cuộc sống dẫn đến nhiều trường hợp phạm pháp ở lứa tuổi vị thành niên và cả thiếu niên, nhi đồng Đây là lời cảnh báo với các bậc phụ huynh trong việc định hướng cho con em mình trong việc ăn

gì, xem gì, học gì, chơi gì, ngay từ độ tuổi thiếu niên, nhi đồng

Khán giả của các kênh truyền hình dành cho trẻ em thường là các em trong độ tuổi từ 0-14 tuổi Ở độ tuổi này, các em đã bắt đầu quá trình hình thành nhân cách, hình tượng sống của riêng mình Nhưng ở độ tuổi này, các

em vẫn chưa thể nhận biết hết những hiểm họa có thể xảy đến với mình, dễ bị cám dỗ, hiểu biết về các hiện tượng, sự vật của cuộc sống chưa được đầy đủ Chính vì vậy, quá trình hình thành nhân cách, phong cách sống, hình tượng sống của các em dễ bị tác động bởi các hình ảnh, biểu tượng qua bộ phim, các chương trình thiếu nhi, các trò chơi, các nhân vật trong phim nếu không được định hướng của các bậc phụ huynh, thầy cô giáo và toàn xã hội

Trang 9

Có thể thấy ở lứa tuổi của các em 0-14 tuổi là lứa tuổi mà các em vẫn ham chơi, bắt đầu có những thắc mắc, tìm hiểu về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống Do vậy việc các em không thích xem các chương trình thiếu nhi về lịch sử, truyền thuyết và các phim có tính giáo dục kỹ năng sống bằng các phim hài và phim về các cuộc phiêu lưu, khám phá, tìm hiểu cũng là điều dễ hiểu

Vì sức ảnh hưởng mạnh mẽ của chương trình thiếu nhi đến tâm lý, thái

độ, hành vi của trẻ em nên khi tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ

em thì những người làm công tác truyền hình cần phải lựa chọn, sắp xếp những chương trình phù hợp với đối tượng khán giả của mình Tuy nhiên không phải đài truyền hình nào, kênh truyền hình nào cũng làm được việc đó Bên cạnh đó, nhiều bậc cha mẹ lại quá tin tưởng vào truyền hình hoặc không

để ý đến việc con họ đang xem những những chương trình thiếu nhi có nội dung như thế nào, không để ý xem trẻ em được xem truyền hình bao nhiêu tiếng trong ngày là phù hợp, không cùng con mình theo dõi những chương trình thiếu nhi, không định hướng cho con mình xem những bộ phim hoạt hình như thế nào khiến nhiều khi con cái họ đã bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực Những tác động xấu đó có thể gây ảnh hưởng trước tiên là tới trẻ nhỏ, sau đó đến gia đình rồi đến xã hội

Hiện nay, nội dung các chương trình trên kênh truyền hình dành cho trẻ

em ở Việt Nam còn nghèo nàn, chưa thật sự có nhiều chương trình hấp dẫn Bởi lẽ các đài truyền hình đều chưa chú trọng đúng mức đến việc đầu tư tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em Vì thế, có thể thấy chất lượng của các chương trình này còn thấp, đa số là các chương trình ca nhạc, một số đài có tổ chức các gameshow - trò chơi truyền hình nhưng còn thiếu sức sống, chưa được các em nhỏ thật sự quan tâm

Trang 10

Trước sự phát triển rầm rộ của các chương trình truyền hình thực tế thu hút một lượng khán giả trẻ thì các chương trình truyền hình có chất lượng dành cho thiếu nhi vẫn là “của hiếm” Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa

chọn đề tài “Tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em.”

2 Lịch sử nghiên cứu

Ngày 20 tháng 1 năm 1990, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em Vấn đề về trẻ em

là vấn đề được khá nhiều người quan tâm và cũng có rất nhiều nghiên cứu

về tâm lý trẻ em Tuy nhiên lại không có nhiều sách hay tài liệu nói về việc làm báo, làm chương trình truyền hình cho trẻ em Hai cuốn sách về

làm báo chí cho trẻ em tiêu biểu nhất hiện nay chính là cuốn Sổ tay Phóng viên báo chí với trẻ em và cuốn Báo chí với trẻ em do PGS, TS

Nguyễn Văn Dững chủ biên

Trong cuốn Sổ tay Phóng viên báo chí với trẻ em của Phân viện Báo

chí và Tuyên truyền do TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, được Nhà xuất bản Lao động phát hành năm 2001, tái bản lần 1 năm 2006, tiến sĩ và nhóm biên soạn đã đưa ra các kiến thức chung về trẻ em và vấn đề chăm sóc - bảo vệ trẻ

em, đồng thời đưa ra các kỹ năng và kinh nghiệm làm báo với đề tài trẻ em

Báo chí với trẻ em, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Khoa báo chí,

PGS, TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, Nhà xuất bản Lao động năm 2004 là công trình nghiên cứu nhằm mục đích nâng cao năng lực tác nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên báo chí về đề tài trẻ em Cuốn sách cung cấp các thông tin, tri thức cần thiết liên quan đến trẻ em và những nội dung tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp của nhà báo khi tác nghiệp về đề tài trẻ em

Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận cử nhân cũng tập trung nghiên cứu về đề tài báo chí với trẻ em ở những góc độ tiếp cận khác nhau, cụ thể là:

Trang 11

Tác giả Nguyễn Ngọc Oanh đã nghiên cứu rất sâu về vấn đề kỹ năng

làm báo cho trẻ em hiện nay trong luận án tiến sĩ với đề tài “Kỹ năng làm báo

cho trẻ em hiện nay” của mình ở HV BC&TT Tác giả Huỳnh Thị Kim Thi

làm luận văn Thạc sĩ truyền thông đại chúng ở HV BC&TT với đề tài “Báo

chí cho trẻ em ở thành phố Hồ Chí Minh” và các tác giả Nguyễn Thị Hồng

Vân (Báo chí cho trẻ em của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh), Nguyễn Thị Thanh Hoà, Nguyễn Thu Huyền (Trẻ em làm truyền thông cho

trẻ em), Đào Minh Hạnh (Ngôn ngữ của các tác phẩm báo chí viết cho trẻ em trên báo Nhi đồng và các ấn phẩm của báo) làm khóa luận tốt nghiệp ở

trường ĐH KHXH&NV thì nghiên cứu về vấn đề làm báo cho trẻ em

Về vấn đề báo chí giáo dục nhân cách trẻ em trên báo in, tác giả Lại

Thị Hải Bình (Báo chí với quá trình hình thành nhân cách của học sinh – sinh

viên) ở trường ĐH KHXH&NV và tác giả Trần Thị Dung (Giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành niên trên báo chí hiện nay) ở HV BC&TT đã có nghiên

cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ

Hai tác giả Trần Thị Thu Hương (Giáo dục thiếu niên, nhi đồng trên

sóng Đài truyền hình Việt Nam) và Lê Thị Minh Huyền (Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em trên kênh truyền hình BiBi) cùng thực hiện luận văn thạc sĩ

Truyền thông đại chúng ở HV BC&TT đã nghiên cứu vấn đề giáo dục trẻ em trên sóng truyền hình ở 2 góc độ khác nhau: trên sóng Đài truyền hình Việt Nam và kênh truyền hình riêng biệt dành cho trẻ em

Các tác giả Nguyễn Thị Thu Thùy (Báo Sức khỏe với vấn đề bảo vệ trẻ

em), Đinh Thị Tú Hà (Báo chí với vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em),

Nguyễn Tiến Hải(Báo Giáo dục và Thời đại với vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục bậc tiểu học), Phạm Bình Minh (Vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Việt Nam trên báo chí năm 1998-2000), Đinh Thị Thu Thảo (Báo in với việc bảo vệ quyền trẻ em trước những thách thức của nền kinh tế thị

Trang 12

trường), Nguyễn Thị Diễm Loan (Giáo dục nhân cách thiếu niên trên báo Thiếu niên Tiền phong), Nguyễn Thị Thanh Nga (Truyền thông quan hệ công chúng về bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ trẻ em Việt Nam) của trường ĐH

KHXH&NV đã có những khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về vấn đề Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ở các tờ báo in hay báo chí nói chung

Các tác giả Ngô Mai Hương (Báo chí với vấn đề trẻ em lang thang cơ nhỡ), Nguyễn Thị Hoa (Lao động kiếm sống của trẻ em: thực trạng và giải pháp của báo chí), Phùng Thị Lan Hương (Báo chí với vấn đề trẻ em lang thang) của trường ĐH KHXH&NV thì lại có khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu

về vấn đề Báo chí với trẻ em lang thang

Các tác giả Nguyễn Thị Bình (Thực trạng xâm hại tình dục trẻ em qua

phản ánh của báo in hiện nay), Nguyễn Thị Huyền (Trẻ em làm truyền thông cho trẻ em), Trần Thị Hải Dương (Báo chí với vấn đề trẻ em vị thành niên phạm pháp) ở trường ĐH KHXH&NV đã nghiên cứu đề tài bạo hành, xâm

hại tình dục trẻ em hay trẻ em phạm pháp trên báo chí trong khóa luận tốt nghiệp của mình

Các tác giả Lưu Thị Hà (Nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật của

trẻ em trên tờ Thiếu niên Tiền phong), Đinh Thị Thúy (Học sinh tiểu học với việc đọc báo Nhi đồng - trường hợp thành phố Thanh Hoá) lại có cách tiếp

cận ở nhu cầu tiếp nhận thông tin trên báo chí của trẻ em trong khóa luận tốt nghiệp của mình ở trường ĐH KHXH&NV

Tác giả Đinh Thị Thu Trang (Thông điệp về trẻ em có hoàn cảnh đặc

biệt khó khăn trên báo chí) trường ĐH KHXH&NV và tác giả Vũ Diệp Linh

(Viết về trẻ em trên báo Hà Nội mới,) ở HV BC&TT đã nghiên cứu vấn đề

viết về trẻ em trên báo chí trong khóa luận tốt nghiệp của mình Tác giả Trần

Thị Thúy Hảo (Báo in với vấn đề quyền tham gia của trẻ em hiện nay) ở ĐH

KHXH&NV còn nghiên cứu về quyền tham gia của trẻ em trên báo chí trong

Trang 13

luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng của mình Tác giả Phạm Thị Hồng Phương đã khảo sát các tác phẩm dự thi giải “Nhà báo với trẻ em” trong ba năm từ 2003 đến 2005 ở khóa luận tốt nghiệp của mình tại HV BC&TT

Một số luận văn thạc sĩ và khóa luận cử nhân đã nghiên cứu về chương trình thiếu nhi trên sóng phát thanh, truyền hình được sắp xếp theo thứ tự thời gian bảo vệ như:

Nguyễn Thị Vân Ngọc (2001), Chương trình truyền hình thiếu nhi và

cách tiếp cận khán giả nhỏ tuổi, Khoá luận tốt nghiệp đại học, ĐH

KHXH&NV Trên cơ sở lý thuyết về xã hội học và tâm lý học, khóa luận đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quy luật tiếp nhận của khán giả nhỏ tuổi với các chương trình truyền thiếu thiếu nhi Đồng thời đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của các chương trình thiếu nhi

Phạm Thị Thu Hà (2002), Chương trình truyền hình thiếu nhi – Đài

Phát thanh – Truyền hình Hải Phòng, Khoá luận tốt nghiệp đại học, ĐH

KHXH&NV Khóa luận đã khảo sát và nêu lên thực trạng các chương trình thiếu nhi của Đài Phát thanh – Truyền hình Hải Phòng Qua đó tác giả cũng

đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng các chương trình thiếu nhi của Đài

Phạm Thị Quỳnh Trang (2005), Xây dựng tạp chí văn nghệ thiếu nhi

trên đài Tiếng nói Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp đại học, ĐH KHXH&NV

Tác giả đã trình bày một số vấn đề lý thuyết và thuật ngữ liên quan đến vấn đề Xây dựng tạp chí văn nghệ dành cho lứa tuổi thiếu nhi kết hợp với khảo sát nội dung, cách thức xây dựng tạp chí văn nghệ thiếu nhi trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam Qua đó đề xuất hướng xây dựng tạp chí văn nghệ thiếu nhi phù hợp với khán giả của chương trình

Vũ Trọng Hiếu (2011), Xây dựng khung chương trình kênh truyền hình

dành cho trẻ em Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, HV

Trang 14

BC&TT Luận văn này đã nghiên cứu và đưa ra một số đề xuất xây dựng khung và nội dung chương trình truyền hình trẻ em trên kênh BiBi trong đó tập trung vào các giải pháp chính (giải pháp xếp khung giờ phát sóng, giải pháp xây dựng và phát triển nội dung) và nhiều giải pháp khác liên quan đến

sự phát triển tổng thể 1 kênh truyền hình chuyên biệt dành cho trẻ em

Với nhiều cách tiếp cận và đánh giá vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, các công trình này đã đề cập đến làm báo cho trẻ em và các kỹ năng, kinh nghiệm dành cho nhà báo Đa số các khoá luận, luận văn đều nói về trẻ em trên báo in, chỉ có một vài khoá luận nói về chương trình thiếu nhi Hai luận văn gần đây nhất có nói về truyền hình dành cho trẻ em là xây dựng khung chương trình và vấn đề giáo dục đạo đức trên kênh BiBi

Việc nghiên cứu cách thức tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em là một sự tiếp nối và kế thừa những nghiên cứu đã nếu trên nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các kênh truyền hình dành cho trẻ em

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở khung lý thuyết về tổ chức chương trình truyền hình, qua phân tích thực trạng cách thức tổ chức chương trình, tác giả luận văn đề xuất giải pháp đổi mới cách thức tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu, định dạng khung lý thuyết tổ chức nội dung cho kênh truyền hình dành cho trẻ em;

- Khảo sát thực trạng tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ hiện nay;

Trang 15

- Phát hiện những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em BiBi, tổ chức nội dung các chương trình thiếu nhi trên BiBi năm 2012, ý kiến công chúng của BiBi và ý kiến của những người làm nội dung chương trình truyền hình dành cho trẻ em ở VTV

- Phạm vi nghiên cứu:

Loại hình: Báo truyền hình dành cho đối tượng công chúng trẻ em

Số lượng khảo sát: Tổ chức nội dung kênh và nội dung các chương trình khai thác và sản xuất phát sóng trên kênh thiếu nhi BiBi từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2012

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Các chương trình trên kênh truyền hình dành cho trẻ em có tác động như thế nào đến tâm lý, thái độ, hành vi của trẻ em?

- Những tác động đó có ảnh hưởng như thế nào đến xã hội?

- Trẻ em có cần những kênh truyền hình dành riêng cho mình không?

- Tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em thế nào cho phù hợp với đối tượng khán giả của kênh?

5.2 Giả thiết nghiên cứu

Ngày nay, truyền hình đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi con người Qua truyền hình, người xem không chỉ giải trí

mà còn có thể tiếp thu nhiều thông tin hữu ích cũng như những kiến thức bổ ích khác Cùng với xu thế của thời đại cũng như nhu cầu ngày càng cao của

Trang 16

con người, người xem cũng có nhiều yêu cầu hơn đối với truyền hình chứ không chỉ đơn thuần là người xem bị động như trước kia

Truyền hình chuyên biệt ra đời là một bước tiến lớn của ngành truyền hình Khán giả truyền hình muốn có những kênh truyền hình chuyên sâu về vấn đề mình quan tâm Trẻ em không có nhiều mối quan tâm như người lớn nhưng không có nghĩa là trẻ em không có nhu cầu về truyền hình Truyền hình đã trở nên gắn bó với cuộc sống của trẻ em và trẻ em cũng cần có những kênh truyền hình dành riêng cho mình

Qua truyền hình, trẻ em không chỉ học được những điều bổ ích, lý thú,

là nơi để các em giải trí nhưng truyền hình cũng có mặt trái của nó Trẻ em có thể vì quá ham mê xem truyền hình mà ảnh hưởng đến thời gian học tập, nghỉ ngơi Bên cạnh đó, còn một tác động không nhỏ là những chương trình truyền hình không phù hợp làm ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ, hành vi của trẻ Chẳng hạn với những bộ phim hoạt hình hay thiếu nhi bạo lực khiến trẻ có những hành vi bạo lực mà chưa chắc trẻ đã ý thức được đó là hành vi xấu Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến xã hội…

Kênh truyền hình dành cho trẻ em ở Việt Nam đã phát triển hơn trước kia rất nhiều Hiện nay, Việt Nam đã có 5 kênh truyền hình dành riêng cho trẻ

em Có thể nói, các nhà làm truyền hình đã bắt đầu hướng tới đối tượng khán giả trẻ em, một đối tượng khán giả rất có tiềm năng của ngành truyền hình Tuy đối tượng khán giả này không phải là người trực tiếp quyết định lựa chọn kênh truyền hình nào nhưng sức ảnh hưởng của đối tượng này đến đối tượng

sẽ lựa chọn kênh lại không hề nhỏ

Tuy nhiên, vì công chúng trẻ em mới chỉ là đối tượng gián tiếp quyết định việc lựa chọn kênh và vẫn phải phụ thuộc vào đối tượng trực tiếp là người lớn, thế nên ở một chừng mực nào đó, các chương trình thiếu nhi và truyền hình dành cho trẻ em vẫn không được đánh giá cao như các chương

Trang 17

trình và kênh truyền hình dành cho người lớn Thực trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em nói chung và việc sản xuất các chương trình truyền hình dành cho trẻ em nói riêng Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần nâng cao năng lực tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em để nâng cao chất lượng kênh cả về nội dung lẫn hình thức, đưa kênh truyền hình này thực sự trở thành người bạn thân thiết của khán giả nhỏ, đồng thời khẳng định vị trí và tầm quan trọng của kênh truyền hình dành cho trẻ em trong ngành truyền hình hiện đại

6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chung quy lại, tác giả nghiên cứu luận văn dựa trên các quan điểm của

lý thuyết truyền thông, báo chí học, xã hội học, quan hệ công chúng

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như: phương pháp phân tích nội dung, phương pháp tổng hợp, phương pháp điều tra

xã hội học, phương pháp phỏng vấn chuyên gia… để thu thập những thông tin

đa dạng, phong phú và mang tính khách quan về đối tượng nghiên cứu Sau khi thu thập được thông tin, chúng tôi sẽ tiến hành xử lý và phân tích thông tin để làm sáng tỏ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn này Cụ thể là:

Trang 18

Phương pháp phân tích nội dung: dùng để phân tích nội dung các

chương trình thiếu nhi phát sóng trên kênh thiếu nhi BiBi trong thời gian khảo sát nói riêng và cách thức tổ chức nội dung kênh thiếu nhi BiBi nói chung, phân tích những câu trả lời thu được qua phiếu thăm dò ý kiến và phỏng vấn sâu Từ đó tìm ra cách thức tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ

em phù hợp với trẻ em Việt Nam

Phương pháp điều tra xã hội học: căn cứ điều kiện nhân lực, thời gian,

tài chính… tác giả thực hiện phát phiếu điều tra nhằm vào đối tượng là học sinh ở độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi Trên cơ sở kết quả khảo sát, tác giả rút ra những luận cứ khách quan nhằm chứng minh cho luận điểm của mình

Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện với những biên tập viên, phóng

viên, người dẫn chương trình làm nội dung cho kênh thiếu nhi BiBi và chương trình thiếu nhi ở các kênh khác của Đài truyền hình Việt Nam

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học:

Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý thuyết và kỹ năng sản xuất chương trình truyền hình nói chung và tổ chức nội dung các kênh truyền hình dành cho trẻ em nói riêng

- Ý nghĩa thực tiễn:

Đây có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà báo đang tác nghiệp về đề tài trẻ em cũng như các sinh biên báo chí đang học nghề tại các cơ sở đào tạo báo chí Kết quả nghiên cứu, khảo sát và những khuyến nghị của luận văn có thể áp dụng vào thực tế tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em ở Việt Nam

Trang 19

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương với 8 tiết:

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH TRẺ EM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2 Cơ sở tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

1.3 Yêu cầu trong tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM HIỆN NAY

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của kênh thiếu nhi BiBi

2.2 Quy trình tổ chức nội dung chương trình của BiBi

2.3 Đánh giá chung

Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH DÀNH CHO TRẺ EM

3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

3.2 Một số khuyến nghị

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

TỔ CHỨC NỘI DUNG KÊNH TRUYỀN HÌNH TRẺ EM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm Trẻ em

Có quan niệm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm ) chỉ ở tầm

cỡ, kích thước, chứ không khác nhau về chất Nhưng ngay từ thế kỷ 18, J.J

Rutxô, nhà triết học, nhà văn, nhà giáo dục học nổi tiếng người Pháp đã nhận xét rất tinh tế những đặc điểm tâm lý của trẻ thơ Ông khẳng định:

“Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ Bởi vì, trẻ em có những cách

nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó.” [49,tr.34]

Cũng chung quan điểm đó, Đặng Mỹ Quỳnh đã bổ sung:

“Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em là trẻ

em, nó vận động, phát triển theo quy luật của trẻ em Ngay

từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội Việc nuôi nấng, dạy dỗ nó để nó tiếp thu nền văn hoá của xã hội phải được quan tâm từ lúc mới chào đời.” [41,tr.7]

Trong lời nói đầu của cuốn “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam” có viết: “Trẻ em là những thành viên đặc biệt trong xã hội, non nớt về trí tuệ và thể chất, đòi hỏi sự quan tâm,

chăm sóc của cộng đồng và sự bảo vệ hữu hiệu của nhà nước.” [26,tr.11]

Trang 21

Trẻ em do chưa trưởng thành về thể chất và tinh thần, cần có sự bảo vệ

và chăm sóc đặc biệt trong đó có sự bảo vệ về mặt pháp lý Điều 1 trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em được thông qua ngày 20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 02/09/1990 đã định nghĩa: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.” [53,tr.167] Mặc dù Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã có quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi, song vẫn thường có cách hiểu khác nhau trong giới chuyên môn, luật pháp, chính trị… về hạn tuổi của trẻ em Do đó, Công ước cũng đã đề ra một độ linh hoạt cho các nhà lập pháp để quy định độ tuổi trẻ em ở nước mình phù hợp với điều kiện về nhân chủng học, văn hoá, khả năng nhận thức, sự phát triển tâm sinh lý, những quan niệm truyền thống, đạo đức, pháp lý của dân tộc và đặc biệt là điều kiện kinh tế - xã hội cũng như

sự phát triển ở mỗi nước

Ở Việt Nam, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy

định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.” [33,tr.7]

Trong tâm lý học, khái niệm “trẻ em” được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em trong độ tuổi từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì

Trong cuốn Báo chí với trẻ em có viết: “Trẻ em là những con người

đang hình thành nhân cách từng ngày, rất cần được tôn trọng, nâng niu, chăm sóc và bảo vệ.” [6,tr.15]

Như vậy, trẻ em là những con người ở độ tuổi từ sơ sinh đến bắt đầu sang tuổi thành niên, đang hình thành nhân cách, chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, rất cần được tôn trọng, nâng niu, chăm sóc và bảo vệ

Trẻ em là thế hệ tương lai của một quốc gia, dân tộc Sự phát triển của trẻ em ở mỗi thời đại, mỗi đất nước phụ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và

Trang 22

giáo dục trẻ em Việc xác định rõ ràng độ tuổi của trẻ em làm cơ sở để mỗi quốc gia, dân tộc và các tổ chức quốc tế đưa ra những chính sách, pháp luật một cách phù hợp nhằm bảo vệ quyền trẻ em và đồng thời nghiêm cấm và trừng trị những ai vi phạm và xâm hại đến trẻ em

Ngoài thuật ngữ “trẻ em” ra, còn nhiều thuật ngữ khác cũng được dùng

để chỉ đối tượng này Tuy nhiên, mỗi thuật ngữ lại bao hàm ý nghĩa khác nhau

là phản ánh cách nhìn nhận về trẻ em khác nhau Phổ biến nhất là thuật ngữ thiếu nhi, thiếu niên, nhi đồng…

Hiện nay, thuật ngữ “trẻ em” đã được dùng trong tất cả các văn bản của Nhà nước Việt Nam, là thuật ngữ chính thức dùng để chỉ đối tượng trẻ em có xác định độ tuổi Đây là cách gọi lấy định lượng độ tuổi làm chuẩn mực Cách gọi này được thừa nhận trong hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam và quốc tế, tránh hiểu sai về đối tượng này Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu đối tượng trẻ em từ 0-14 tuổi

1.1.2 Khái niệm Tổ chức nội dung

Theo nghĩa Hán Việt: nội là trong, dung là chứa Như vậy, nội dung là những thứ chứa đựng bên trong của một cái gì đó, điều gì đó

Trong từ điển tiếng Việt có định nghĩa: “Nội dung là mặt bên trong của

sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện.” [47,tr.1149]

Còn theo Triết học: “Nội dung dùng để chỉ toàn bộ những yếu tố, những mặt, những bộ phận, những quá trình hợp thành một sự vật, hiện tượng

cụ thể nào đó.” [25,tr.63]

Như vậy, có thể hiểu: “Nội dung là toàn bộ những thứ chứa được trong một phạm vi nhất định nào đó.”

Trong từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “tổ chức”:

Danh từ: “Tổ chức là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung.” [47,tr.1158]

Trang 23

Động từ: “Tổ chức là (1) sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có

một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định (2) sắp xếp,

bố trí cho thành có trật tự, có nền nếp (3) làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất.” [47,tr.1558]

Trần Minh Hải trong bản “Xây dựng kế hoạch chiến lược” đã định nghĩa:

Danh từ: “Tổ chức là một nhóm người làm việc chung với nhau nhằm mục đích điều hành hay quản lý một công việc nào đó.”

kế hoạch đã đề ra và thỏa mãn các mục tiêu ban đầu

Vậy tổ chức nội dung là lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch một vấn

đề cụ thể ở một phạm vi xác định

1.1.3 Khái niệm Kênh truyền hình

“Cách đây hơn 100 năm, các nhà bác học đã tin rằng những hình ảnh và

âm thanh có thể truyền đi được trong không trung Ở giai đoạn sơ khai ban đầu, hình ảnh và âm thanh được truyền đi trong không trung trong khoảng cách khá xa.” [2,tr.84] Đó chính là mốc đánh dấu sự ra đời của truyền hình khoảng đầu thế kỷ XX

Cứ mỗi giây phút trôi qua, cuộc sống của con người lại có thêm nhiều điều thú vị Truyền hình chọn lựa, tinh lọc thông tin, chuyển tải đến khán giả, đưa ra những lời khuyên để khán giả chiêm nghiệm và vận dụng Các chương trình truyền hình buộc chúng ta phải suy nghĩ về các khía cạnh

Trang 24

của cuộc sống, khơi đậy trong mỗi con người tình cảm gắn

bó với đồng loại và hướng chúng ta đến với những điều thiêng liêng, tốt đẹp Nếu không có truyền hình, cuộc sống tinh thần của chúng ta sẽ nghèo nàn đến thế nào [2,tr.84]

Vì thế, ngày nay truyền hình đã trở thành một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội và phương tiện không thể thiếu của mỗi gia đình, mỗi quốc gia và mỗi dân tộc

Thuật ngữ Truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “videre” là ''thấy được'', còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại

“Televidere” có nghĩa là xem được ở xa [42,tr.13]

Theo Từ điển tiếng Việt: “Truyền hình là truyền ảnh, thường đồng thời

có cả âm thanh đi xa bằng radio hoặc bằng đường dây.” [47,tr.1628]

Còn trong cuốn Thuật ngữ Báo chí - truyền thông của Phạm Thành Hưng lại định nghĩa: “Truyền hình là phương tiện truyền thông đại chúng

phát thông tin đi xa bằng cả âm thanh và hình ảnh động.” [20,tr.219]

Brigitte Besse và Didier Desormeaux - hai tác giả người Pháp trong cuốn

“Phóng sự truyền hình” đã có quan niệm về truyền hình như sau:

“Truyền hình đó là hình ảnh, trước hết là hình ảnh Đó là thế mạnh của nó và cũng là cái thu hút những lời phê phán tệ hại nhất (phê phán nó hời hợt) Thế nhưng nếu không có hình ảnh, truyền hình liệu sẽ trở thành một cái gì khác, không còn là truyền hình nữa Làm thông tin ở truyền hình

là cho xem

Truyền hình là lời nói: Truyền hình, đó cũng là lời nói, những từ ngữ, một nội dung Làm thông tin trên truyền hình cũng là nói Và nói tức là mô tả bằng cách trả lời những câu hỏi: Ai? Khi nào? Ở đâu? Cái gì? Tại sao?” [4,tr.67-68]

Trang 25

Với quan niệm trên sẽ có hai cách hiểu riêng rẽ về hai phương tiện ngôn ngữ của truyền hình Truyền hình tạo ra hiệu quả truyền thông tốt nhất khi nó kết hợp hài hòa và linh hoạt giữa hai yếu tố hình ảnh và âm thanh trong một thứ ngôn ngữ riêng khác với các loại hình báo chí khác (báo in, phát thanh)

Nhà báo Mỹ John Holhenbeg viết trong cuốn Ký giả chuyên nghiệp thì lại cho rằng: “Truyền hình là bao gồm một số yếu tố tốt nhất và xấu nhất của điện ảnh, báo chí thông tấn và truyền thanh” [4,tr.208]

Như vậy, có nhiều khái niệm về truyền hình của nhiều tác giả khác nhau Nhìn chung, có thể hiểu khái niệm truyền hình như sau:

Truyền hình là loại hình báo chí chuyển tải nội dung thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh tổng hợp (lời nói, tiếng động, âm nhạc và lời bình) tác động đồng thời vào cả hai giác quan thính giác và thị giác của công chúng

Nhờ có hình ảnh động và âm thanh tổng hợp mà truyền hình đã chuyển tải những thông tin chân thực, đem tới cho công chúng món ăn tinh thần hấp dẫn “Thực đơn” này không phải là những thông tin rời rạc mà chúng được tính toán, sắp xếp linh hoạt dựa trên nhu cầu và tâm lý của công chúng trong những chương trình phát sóng, giúp công chúng dễ tiếp nhận và theo dõi Theo từ điển tiếng Việt: “Kênh truyền hình là dải tần số radio dùng để phát các chương trình truyền hình.”[47,tr.748]

Từ điển trực tuyến tratu.soha.vn hay tratu.vietgle.vn đều có định nghĩa về

“Kênh truyền hình” giống như từ điển tiếng Việt ở trên

Trước đây, kênh truyền hình thường là các kênh tổng hợp Chẳng hạn như ở Đài Truyền hình Việt Nam là kênh truyền hình VTV1, VTV2, VTV3 Tuy nhhiên, ngày này để theo kịp nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công chúng, Đài Truyền hình Việt Nam cũng như các Đài truyền hình khác đang hướng tới việc tách khán giả ra thành các nhóm công chúng nhỏ để phục

Trang 26

vụ qua các kênh truyền hình chuyên biệt: kênh truyền hình sức khoẻ và đời sống O2TV, kênh truyền hình thiếu nhi BiBi, kênh truyền hình thể thao - bóng đá, kênh truyền hình mua sắm ShoppingTV, kênh truyền hình du lịch, Đài Truyền hình kỹ thuật số và Đài Truyền hình Cáp là 2 đơn vị đi đầu trong việc chuyên biệt hoá các kênh truyền hình Khi các kênh truyền hình được chuyên biệt hoá, những người làm chương trình có thể tập trung vào mảng chuyên biệt của kênh, đem lại cho khán giả những thông tin chuyên sâu hơn Nhờ đó khán giả cũng có thể chủ động trong việc tìm kiếm thông tin và tìm kiếm thông tin qua kênh truyền hình một cách dễ dàng và thuận tiện hơn Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1448/QĐ-TTg ngày 19/8/2013 phê duyệt: “Quy hoạch phát triển dịch vụ phát thành, truyền hình đến năm 2020” Trong đó có chỉ tiêu phát triển:

“Từ năm 2015, sẽ cung cấp ổn định 70-80 kênh truyền hình phục vụ chính trị, thông tin thiết yếu quốc gia, khu vực và địa phương và đảm bảo cung cấp 40-50 kênh truyền hình chuyên biệt của Việt Nam cho dịch vụ trả tiền.” [46,tr.1] Như vậy là trong thời gian tới, Việt Nam sẽ có khoảng 40-50 kênh truyền hình chuyên biệt đáp ứng nhu cầu của khán giả Có thể nói truyền hình chuyên biệt đã thật sự lên ngôi Đó cũng chính là ý nghĩa của việc phân tách các kênh truyền hình theo các hướng nội dung chuyên sâu

Thuật ngữ “kênh truyền hình” cũng nhờ thế mà ngày càng trở nên quen thuộc với khán giả Dù rất hiếm người để ý xem thật sự khái niệm “Kênh truyền hình” là gì hay biết được rằng: “Kênh truyền hình là dải tần số radio dùng để phát các chương trình truyền hình.” Nhưng khi nhắc đến thuật ngữ

“Kênh truyền hình” thì mọi người đều hiểu nó là gì và có thể ví dụ bằng kênh truyền hình này, kênh truyền hình kia mà họ theo dõi hay họ biết

Trang 27

Tóm lại, nếu không thể hiểu theo kỹ thuật về dải tần số radio thì mọi

người vẫn có thể hiểu “Kênh truyền hình là kênh sóng phát các chương trình truyền hình tổng hợp hoặc chuyên biệt.”

1.1.4 Khái niệm Kênh truyền hình dành cho trẻ em

Theo từ điển tiếng Việt: “Công chúng là toàn bộ những người đọc, người xem, người nghe trong mối quan hệ với tác giả, diễn viên…” [47,tr.334]

Theo cuốn Báo Phát thanh:

“Công chúng báo chí nói chung có thể được hiểu là những người tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động hoặc hướng vào để tác động Khái niệm công chúng, bạn đọc, bạn nghe đài, bạn xem truyền hình, nói chung được dùng để chỉ một nhóm lớn trong xã hội, nhưng thường ngày, người ta có thể dùng để chỉ cụ thể một người hay một nhóm nhỏ nào đó.” [38,tr.95]

Như vậy công chúng là đông đảo người tiếp cận với một vấn đề nhất định, ở một lĩnh vực nhất định thông qua mối quan hệ với người diễn thuyết, người biểu diễn, tác giả, tác phẩm…

Theo TS Đinh Văn Hường, công chúng báo chí bao gồm: “Người đọc, người nghe, người xem, là lực lượng đông đảo nhất của báo chí Họ vừa là đối tượng phản ánh và phục vụ của báo chí, vừa là những người tiêu thụ và hưởng thụ báo chí.” [21,tr.39]

Trong cuộc đời của mỗi con người đều trải qua giai đoạn trẻ em trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng để hiểu được trẻ em thì hoàn toàn không đơn giản chút nào

“Trẻ em là nhóm công chúng xã hội đặc thù Trong xã hội Việt Nam chúng ta, nhóm công chúng nay chiếm đến gần 40% dân số và luôn được mọi người quan tâm với sự nhạy

Trang 28

“Trẻ em là nhóm công chúng - đối tượng đang hình thành nhân cách và hoàn thiện về thể chất, tinh thần, sống và học tập hiếu động, giàu ước mơ hoài bão, giàu sáng tạo và nhạy cảm,… lại ít có khả năng và điều kiện tự bảo vệ mình; trong khi đó, giới báo chí - truyền thông chưa tạo được nhiều sân chơi, diễn đàn rộng rãi cho trẻ em được tham gia các vấn đề

xã hội liên quan đến cuộc sống của trẻ để qua diễn đàn ấy, trẻ có thể có tiếng nói giúp hình thành dư luận xã hội xung quanh các vấn đề liên quan đến trẻ em.” [7,tr.306]

Nhóm công chúng trẻ em vốn đã được coi là nhóm công chúng đặc biệt thì công chúng trẻ em của truyền hình lại càng đặc biệt hơn Công chúng trẻ

em của truyền hình khác hẳn với các đối tượng công chúng khác của truyền hình “Trẻ em là những con người đang ở giai đoạn phát triển cả về thể lực và tâm sinh lý.”[17] Thế nên công chúng trẻ em năm nay của chương trình truyền hình này, sang năm có thể không còn là khán giả của chương trình truyền hình đó nữa nhưng những công chúng trẻ em khác năm nay không phải

là khán giả của chương trình truyền hình này thì có khả năng, năm sau lại là khán giả của chương trình truyền hình đó Điểm thú vị này tạo nên khả năng quay vòng chương trình truyền hình cho các kênh truyền hình mà không lo

Trang 29

khán giả nhàm chán Bởi lẽ, khán giả của kênh truyền hình thiếu nhi luôn luôn được làm mới Tuy nhiên không có nghĩa là các kênh truyền hình có thể bê y nguyên các chương trình năm nay để phát cho năm sau Họ vẫn cần phải vừa

có những chương trình mới để thu hút khán giả cũ vừa phát lại các chương trình đặc sắc cũ để thu hút thêm khán giả mới

Trẻ em ở độ tuổi nhỏ còn một đặc điểm nữa là có thể xem đi xem lại một chương trình truyền hình yêu thích cũng như nghe đi nghe lại hay đọc đi đọc lại một câu chuyện hay mà không biết chán Điều này khác hẳn với người lớn Sẽ có rất ít người lớn có thể đọc cuốn sách hay xem một chương trình truyền hình đến lần thứ hai, lần thứ ba dù cho chương trình truyền hình hay cuốn sách đó có hay đến mấy

“Trong mối quan hệ với báo chí và truyền thông đại chúng, trẻ em được nhìn nhận dưới nhiều góc độ Trẻ em vừa là người tiếp nhận vừa là người sản xuất các sản phẩm báo chí, vừa là chủ thể vừa là đối tượng, vừa là nạn nhân vừa là người chiến thắng, vừa là người học được các sai lầm trong quá khứ vừa là người thầy giáo cho tương lai… Trẻ

em cũng được tiếp cận từ nhiều phương diện - nhìn từ kinh tế: trẻ em cũng là đối tượng cần tiếp thị như một nhóm lớn khách hàng giàu tiềm năng tiêu thụ; nhìn từ văn hoá: trẻ em

là tầng lớp cần được truyền thụ, tiếp nhận hệ thống giá trị văn hoá của quê hương đất nước, của dân tộc…; nhìn từ giáo dục: trẻ em là nhóm công chúng lớn, là lực lượng cần được giáo dục nhân cách làm người và đào tạo để trơ rthành lực lượng lao động phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước,…” [7,tr.327]

Trang 30

Trẻ em được gọi là công chúng báo chí khi các em là những người đọc báo, xem truyền hình, nghe đài Như vậy, công chúng trẻ em là những người tiếp nhận sản phẩm báo chí, chương trình truyền hình hay chương trình phát thanh

Kết hợp khái niệm trẻ em, công chúng trẻ em, kênh truyền hình thì

chúng ta có thể hiểu, kênh truyền hình dành cho trẻ em là kênh sóng phát các chương trình truyền hình dành cho đối tượng công chúng là trẻ em ở

độ tuổi theo tiêu chí của mỗi kênh truyền hình dành cho trẻ em của từng đài truyền hình ở mỗi nước khác nhau

1.1.5 Khái niệm Tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

Theo như các khái niệm rút ra ở các phần trên:

“Tổ chức nội dung là lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch một vấn đề cụ thể ở một phạm vi xác định.”

“Kênh truyền hình dành cho trẻ em là kênh sóng phát các chương trình truyền hình dành cho đối tượng công chúng là trẻ em ở độ tuổi theo tiêu chí của mỗi kênh truyền hình dành cho trẻ em của từng đài truyền hình ở mỗi nước khác nhau.”

Tóm lại, tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em là lên kế hoạch xây dựng kênh sóng phát các chương trình truyền hình dành cho đối tượng công chúng là trẻ em ở độ tuổi theo tiêu chí của kênh và thực hiện việc sản xuất các chương trình truyền hình đó để phát sóng trên kênh, tiếp nhận ý kiến phản hồi của công chúng để xây dựng kênh ngày càng tốt hơn

1.1.6 Khái niệm Kế hoạch

Theo từ điển tiếng Việt: “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc, dự định làm trong một thời gian nhất định với mục tiêu nhất định.” [47,tr.747]

Một số trang từ điển online cũng có những định nghĩa gần tương tự:

Trang 31

Trang từ điển mở vi.wiktionary.org: “Kế hoạch là toàn thể những việc

dự định làm, gồm nhiều công tác sắp xếp có hệ thống, quy vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian đã tính trước.” [58]

Trang vdict.com: “Kế hoạch là toàn thể những việc dự định làm, gồm nhiều công tác sắp xếp có hệ thống, quy vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian đã tính trước.” [57]

Trang informatik.uni-leipzig.de: “Kế hoạch là toàn thể những việc dự định làm, gồm nhiều công tác sắp xếp có hệ thống, quy vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian đã tính trước.” [55]

Trang tratu.soha.vn: “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có

hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu nhất định.” [56]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch

ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành thực hiện những công việc dự định trong một thời gian nhất định với những mục tiêu được xác định rõ ràng.”

1.1.7 Khái niệm Tổ chức sản xuất

Theo từ điển tiếng Việt:

Danh từ: “Sản xuất là tạo ra của cải vật chất nói chung.”

Động từ: “Sản xuất là hoạt động tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động.” [47,tr.1308]

Ở đây, từ “sản xuất” được hiểu với từ loại là động từ

Trong phần khái niệm về Tổ chức nội dung ở mục 1.1.2 đã rút ra khái

niệm: “Tổ chức là tiến trình thiết lập một cấu trúc về các mối quan hệ giúp

cho mọi người sử dụng một cách tối ưu những thứ được yêu cầu để thực hiện các kế hoạch đã đề ra và thỏa mãn các mục tiêu ban đầu.”

Trang 32

Kết hợp hai định nghĩa về “tổ chức” và “sản xuất”, ta có khái niệm:

“Tổ chức sản xuất là tiến hành thiết lập một cấu trúc về các mối quan hệ giúp cho mọi người sử dụng những tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra các vật phẩm cho xã hội theo kế hoạch đã đề ra và thỏa mãn được các mục tiêu ban đầu.”

1.1.8 Khái niệm Tiếp thu ý kiến phản hồi

Theo từ điển tiếng Việt:

“Tiếp thu là nhận về mình cái do người khác để lại, trao lại.” [47,tr.1529]

“Ý kiến là cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng của mỗi người về

sự vật, sự việc, về một vấn đề nào đó.” [47,tr.1790]

“Phản hồi là đáp lại, trả lại một cách chính thức.” [47,tr.1189]

Kết hợp các khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm: “Tiếp thu

ý kiến phản hồi là đón nhận một cách chính thức các đánh giá của đối tượng về sự vật, sự việc, vấn đề nào đó do mình đưa ra.”

1.2 Cơ sở tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em

1.2.1 Căn cứ vào nhu cầu, tâm lý tiếp nhận của trẻ em

Để tổ chức nội dung một kênh truyền hình dành cho trẻ em thì trước hết người tổ chức nội dung phải nắm bắt được nhu cầu, tâm lý tiếp nhận của công chúng và cụ thể là khán giả trẻ em Đó chính là cách để người tổ chức nội dung kênh hiểu được khán giả của mình cần gì và có những chương trình truyền hình phát sóng trên kênh phù hợp với nhu cầu, thị hiếu khán giả

Trong cuốn “Hiểu lòng trẻ”, hai tác giả Rudolf Dreikurs và Vicki Solts

đã nghiên cứu rất sâu về khả năng tiếp nhận thế giới xung quanh của trẻ em Hai ông đã nhận xét:

“Trẻ em là những nhà quan sát cực kỳ giỏi Nhưng các em thường giải thích sai những gì cả em trông thấy Hiện tượng

Trang 33

hay gặp nhất là các em rút ra những kết luận không đúng và chọn những cách không đúng để khẳng định.” [12,tr.19]

“Trẻ em biết được nhiều nhờ quan sát Nhưng không nên hy

vọng các em học được tất cả mọi điều chỉ bằng cách đó Trẻ

em cần được dạy cách mặc quần áo, buộc dây giầy, ăn, tắm rửa, sang đường… Dần dần, phải dạy các em hoàn thành các bổn phận trong nhà Không nên dạy con một điều gì bằng những nhận xét tình cờ, bằng đe doạ hoặc trừng phạt Hàng ngày, các bậc cha mẹ phải dành một số thời gian nhất

định để dạy con.” [12,tr.104]

Trẻ em học được nhiều điều bằng việc quan sát nhưng cũng cần được hướng dẫn, chỉ dạy rất nhiều mới có thể hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần Trẻ em có nhu cầu và tâm lý tiếp nhận hoàn toàn khác với người lớn Truyền hình ngay nay khá phổ biến và nó cũng trở thành một trong những nhu cầu lớn của trẻ em

“Hầu như ở gia đình nào cũng vì chiếc ti vi mà nảy sinh rắc rối: Xem chương trình nào đây? Các bậc cha mẹ lo lắng ti vi

có thể ảnh hưởng xấu đến con cái Họ lo rằng cách giải trí này mang tính thụ động và làm mất nhiều thời gian vào các chương trình dở Chương trình hay thì lại khiến trẻ con bỏ cả học hàng và nhiều khi các em đi ngủ quá khuya Ti vi ảnh hưởng đến cả bữa ăn Bây giờ, ở nhiều gia đình người ta không ăn như xưa, mà họ ngồi trước ti vi, họ mải xem thành thử họ biệt lập hẳn với nhau Nhiều bậc cha mẹ lo rằng bữa ăn không còn là lúc sum họp góp phần gắn bó gia đình Biết bao nhiêu bà mẹ muốn thoát khỏi cái ti vi Một

số người cấm con cái xem tất cả các chương trình truyền

Trang 34

hình Thế là nảy ra bất hoà Có người còn không mua ti vi nữa, rốt cuộc con cái họ hoặc phải đi xem nhờ, hoặc lúc nào cũng kêu cả rằng những bạn khác được xem ti vi mà

các em lại không được.” [12,tr.218]

Chính vì thế đã đặt ra một vấn đề đối với người tổ chức nội dung kênh truyền hình dành cho trẻ em là tổ chức nội dung như thế nào để phù hợp với nhu cầu và tâm lý tiếp nhận của trẻ em? Nếu nội dung kênh truyền hình thiếu nhi phù hợp thì không chỉ được trẻ em đón nhận mà các bậc phụ huynh cũng

sẽ hết sức hưởng ứng và cho phép con cái họ xem kênh truyền hình đó, hay nói cách khác là trở thành “khán giả ruột” của kênh truyền hình đó

Việc tổ chức nội dung cần phải xác định đối tượng phục vụ “làm chương trình cho ai” và “làm chương trình như thế nào” là một vấn đề hết sức quan trọng và có thể xem là quan trọng hàng đầu Trẻ em hoàn toàn khác với người lớn - điều này khiến cho người làm chương trình luôn phải lưu tâm ngay từ khi bắt tay vào xây dựng bất cứ một chương trình nào Để chương trình thiếu nhi đạt hiệu quả cao, qua việc nghiên cứu tâm lý thiếu nhi, ta có thể chia thành 4 giai đoạn chính cùng với những đặc điểm tâm lý chủ yếu trong hoạt động và nhân cách của trẻ em

- Giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi:

“Đây là giai đoạn sơ sinh và nhà trẻ Hình ảnh cha mẹ và người lớn tiếp cận với báo chí và các phương tiện truyền thông, âm nhạc, tiếng động, lời nói, hình ảnh được phát ra từ đài phát thanh, ti vi có ảnh hưởng, tuy mang tính vô thức đến

sự phát triển nhận thức và nhân các của trẻ em ở tuổi này, mặc

dù nó không rõ rệt như nhóm tuổi lớn hơn.” [6,tr.148]

Thời kỳ 0-3 tuổi là thời kỳ thăm dò thế giới xung quanh để trẻ dễ thích nghi với cuộc sống Tư duy của trẻ vẫn chưa hoàn thiện, phản ứng với mọi thứ của thế giới bên ngoài đa phần là dựa vào bản năng Lứa tuổi này thường

Trang 35

được trông tại nhà, thích xem những chương trình có hình ảnh sống động; ngộ nghĩnh, âm thanh gây sự chú ý cao nên các bé thường thích xem chương trình quảng cáo Trẻ em trong giai đoạn này đặc biệt thích xem quảng cáo dù các

bé không hiểu gì nhưng vẫn ngồi xem chăm chú mà có thể không để ý đến thứ xung quanh hay người lớn gọi Khả năng của các em chỉ xem được những chương trình có thời lượng ngắn khoảng từ 3 đến 5 phút

- Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi:

“Đây là giai đoạn trẻ học mẫu giáo và chuẩn bị tới trường

Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là trẻ em thể hiện sự

hiếu thắng, hiếu động, hiếu kỳ, bắt chước và giàu sức tưởng tượng Trẻ tò mò, thích thử nghiệm những điều không thể thực

hiện được hoặc có nhiều rủi ro Vào tuổi lên 5, trẻ thường có cảm nhận nó là trung tâm, hay khoe về mình Tuy nhiên, đây chỉ là ý thức của đứa trẻ về cá tính của nó, tốt nhất là không nên phê phán hay đả kích trẻ về điều đó Đây là một thời kỳ trong đó tưởng tượng sáng tạo và tư duy trực quan của trẻ rất phát triển.” [6,tr.149]

Khả năng tư duy của trẻ ở lứa tuổi này khá đơn giản, thích những thứ ngộ nghĩnh đáng yêu như các nhân vật trong những bộ phim hoạt hình có tình tiết đơn giản, dễ hiểu Các chương trình phục vụ cho lứa tuổi này yêu cầu phải đơn giản, dễ hiểu cả về nội dung lẫn hình thức Các nhân vật chọn lọc và ít để trẻ dễ nhớ, đồng thời phải có tính cách rõ ràng, ngộ nghĩnh, đáng yêu Ngôn ngữ, câu từ phải có cấu trúc đơn giản, nên tạo vần cho câu Âm nhạc sử dụng phải vui tươi, nhí nhảnh, phù hợp với sự hiếu động của trẻ Chương trình sẽ tạo

ra hiệu quả lớn nhất nếu sử dụng thủ pháp nhân cách hoá điều làm trẻ thích thú

- Giai đoạn từ 6 tuổi đến 9 tuổi:

Trang 36

Đây là thời kỳ “quá độ” từ nhi đồng lên thiếu nhi, giai đoạn mà trẻ được tiếp xúc với cuộc sống xung quanh ở một phạm vi rộng vì trẻ đã đến trường Nó đã dần mở ra một thế giới rộng lớn hơn đồng thời chúng thích nghi dần với sự bó buộc không thể tránh được Khả năng tư duy của trẻ được phát triển rất nhanh Trẻ có khả năng lĩnh hội nền tảng sự học tập và sự nhận thức chân lý, hiếu động, ham học hỏi, khám phá trí tuệ Phương pháp học và phẩm chất trí tuệ, “lẽ phải” bắt đầu hình thành Ở giai đoạn này, hành vi bắt chước của trẻ kiểu “noi gương” phát triển mạnh, trẻ thích thể nghiệm trong cuộc sống, nhu cầu về giao tiếp bạn bè hình thành và đặc biệt biểu hiện tính chất cộng đồng Ý thức về đạo đức bắt đầu hình thành

Chúng ta có thể “tác động đến hành vi của trẻ qua cơ chế bắt chước, tổ chức các hoạt động vui chơi và giao tiếp, tạo mối liên hệ trẻ em - trẻ em, trẻ em - thế giới xung quanh để trẻ hình thành các kỹ năng học tập cũng như các kỹ năng cuộc sống, đồng thời vượt qua khó khăn nhất và tâm lý của độ tuổi này:

đó là mâu thuẫn giữa đòi hỏi phải có tính cần cù, chăm chỉ và cảm giác tự ti Một đặc điểm nữa là trẻ em tuổi này chịu tác động mạnh nhất của hình ảnh (ảnh trên báo, hình ảnh động trên truyền hình) Hình ảnh trẻ em, nhất là đồng trang lứa trên các phương tiện truyền thông đại chúng tác động rất mạnh đến

sự phát triển của các em.” [6,tr.151]

Trẻ ở lứa tuổi này bắt đầu thích những chương trình ti vi dành cho trẻ

em có tính lô-gic đơn giản và tình tiết phong phú Chương trình thiếu nhi phục vụ lứa tuổi này chú ý đến sự phát triển trong nhận thức của trẻ em Đề tài được mở rộng hơn và phải chứa một thông tin nào đó Nhưng giải đáp thắc mắc của trẻ rất phù hợp với lứa tuổi này Tính cụ thể, rõ ràng phải được đề cao trong các chương trình, chuyên mục

Trang 37

- Giai đoạn từ 9 đến 14 tuổi:

Giai đoạn này khả năng trí tuệ phát triển mạnh nhất là tư duy logic và

tư duy hình tượng Ngôn ngữ nói và viết đã được hoàn thiện dần; ở tuổi này,

óc sáng tạo được phát huy, có sự lựa chọn để theo đuổi mục tiêu cá nhân, chúng quan tâm đến vấn đề đạo đức, triết học, sự khâm phục một “hình tượng” nào đó và cố gắng bắt chước họ Trẻ trong giai đoạn này bắt đầu tự tin vào bản thân và tự nhập vào thế giới xung quanh Trẻ dần hình thành những cách nghĩ về các vấn đề và bắt đầu bộc lộ cá tính

Trẻ ở giai đoạn này thường cảm thấy chán những chương trình thiếu nhi hay những bộ phim hoạt hình có tình tiết đơn giản Trẻ thích những chương trình có sự mới lạ với các yếu tố tự nhiên hay những bộ phim khoa học viễn tưởng Chương trình thiếu nhi phục vụ lứa tuổi này cần chú ý đến

sự phát triển trí lực của trẻ cũng như sự tự quyết định của chúng trước một

sự việc Chương trình vừa góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức, vừa là người định hướng Tập trung vào mảng phổ biến những kiến thức về tự nhiên và xã hội Hình ảnh sử dụng sinh động và có tư duy hơn Lời bình, lời thoại cần trau chuốt nhưng vẫn đảm bảo sự trong sáng và hồn nhiên của lứa tuổi Tìm hiểu về thế giới, khoa học, quê hương, đất nước là những vấn

đề được các em yêu thích

Như vậy, toàn bộ cuộc sống của đứa trẻ là cả một quá trình hoạt động tích cực Chúng ta đều biết tâm lý trẻ em phát triển theo một quy luật biện chứng Sự thông cảm của chúng với thực tế phải xuyên qua bức màn mơ mộng, nghĩa là phải xuyên qua tình cảm Đẹp, hồn nhiên, thơ mộng, đó là những sắc thái của tâm hồn non trẻ Nhận thức của con người đi từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Do đó, việc giáo dục trẻ em về phương pháp phải phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi và làm báo cho trẻ em nhất thiết phải xác định được đối tượng và tâm lý đối tượng

Trang 38

Nhưng người làm chương trình cho thiếu nhi cần quan tâm hơn nữa đến các

em để qua đó trẻ em học được nhanh nhất và sáng tạo được nhiều nhất với khả năng của mình

1.2.2 Căn cứ vào nhu cầu thông tin, giáo dục trẻ em

Điều 20 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có quy định:

“Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin nhiều nguồn phù hợp với sự phát triển của các em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm” [33,tr.14] Truyền hình là một phương tiện cung cấp thông tin đến trẻ em sinh động và hiệu quả

“Đứng trước một đứa trẻ, cha mẹ hay thầy giáo có thể có hai thái độ:

Thái độ thứ nhất là thái độ giáo huấn, nghĩa là nêu lên một

số tôn chỉ chung cho loài người, rồi chỉ chú ý vào mục địch cuối cùng ấy Đứa trẻ lớn lên phải như thế này, nó phải học theo chương trình như thế nọ, nó phải ăn ở với cha mẹ, anh

em bầu bạn như thế kia… Cha mẹ xem con, thầy xem trò như một nhà điêu khắc đứng trước một khố đá vô hình cố đẽo, gọt, nặn sao cho hợp với những khuôn mẫu, thành cái tượng đã định sẵn trong óc mình

Thái độ thứ hai là thái độ của các nhà giáo dục mới, các nhà giáo dục hoạt động Sống trong một xã hội biến đổi nhanh chóng, phải tiếp ứng nhiều hoàn cảnh khác nhau, các nhà giáo dục ngày nay không thể tạo ra một khuôn mầu người đồng nhất, không thể tự hào là những chân lý thời đại mình

đã phát kiến ra, hay đã thừa nhận của tiền bối sẽ hoàn toàn

đúng cho đời sau.” [52,tr.5]

Trang 39

Khán giả trẻ em, ở mỗi lứa tuổi có nhu cầu thông tin và giáo dục khác nhau Trong nhóm đối tượng từ 14 tuổi trở xuống có thể phân ra như sau:

- Trước 3 tuổi:

Trẻ nhỏ cần có sự tác động với thế giới bên ngoài để phát triển Chương trình phục vụ lứa tuổi này phải là những chương trình cực kỳ đơn giản nhưng phải sôi động và bắt mắt như những chương trình quảng cáo để trẻ bắt chước

và học theo Chẳng hạn như các chương trình có thể giúp trẻ nhận biết đồ vật hay học theo cách tự ăn, tập tự xúc cho mình, tự làm những việc đơn giản

- Giai đoạn từ 3 tuổi đến 6 tuổi:

Bước vào giai đoạn này, các em có thể đã được gửi vào nhà trẻ, vườn trẻ và sau đó bắt đầu vào các lớp mẫu giáo: mầm, chồi, lá Trẻ em từ khoảng 3 đến 6 tuổi có khả năng xem dài hơn, lúc này các em đã có nhận thức, đang trong quá trình trải nghiệm Cũng trong giai đoạn này, các em thường tự tìm hiểu hoặc đặt ra cho người lớn những câu hỏi “tại sao” có chủ ý vụ lợi và có chủ đích rằng điều đó, cái đó “để làm gì vậy” Do vậy, người lớn cần kiên nhẫn để trả lời các câu hỏi loại này, đồng thời hướng các em đến những khái niệm bớt vị kỷ vụ lợi cho bản thân Cũng đừng nên trình bày vấn đề quá sâu

xa phức tạp khiến các em đâm ra lúng túng, nản chí hoặc bị ngộ nhận tai hại

về lâu về dài Về mặt sinh hoạt, các em bắt chước người lớn rất nhanh, cộng thêm trí tưởng tượng đang hình thành khá phong phú để tự bày ra các trò chơi như: xây nhà, nấu bếp, dọn hàng, ru búp bê, và có thể cứ thế mà chơi một mình rất lâu, ngày này qua ngày kia không biết chán

Sau 3 tuổi, những chương trình truyền hình được thực hiện với mục đích giáo dục có thể thúc đẩy một số phát triển của trẻ như trí nhớ và nhận biết bảng chữ cái 10 phút xem truyền hình đã là thời lượng tập trung cao cho trẻ ở độ tuổi này Trẻ nên xem chương trình với thời lượng ngắn, xem lại

Trang 40

nhiều lần một chương trình để giúp trẻ hiểu rõ hơn những hành động và mục đích của nhân vật

- Giai đoạn từ 6 đến 9 tuổi:

Suy nghĩ của trẻ được xây dựng mỗi ngày giúp trẻ phân biệt đâu là sự thật, đâu là sự giả tạo Từ 6 tuổi trẻ đã có thể phân tích và hiểu vấn đề Trẻ bắt đầu có một số kinh nghiệm về hình ảnh và có thể bình luận về nó Trẻ cũng có thể cho thấy trẻ có khả năng lặp lại những hành động mà trẻ đã thấy

Chúng ta phải tôn trọng sự nhạy cảm của trẻ để chọn những chương trình dành cho thiếu nhi cho trẻ xem Trẻ em ở độ tuổi này chỉ nên xem những chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi, chương trình thời sự chưa thích hợp

- Giai đoạn từ 9 đến 14 tuổi:

Trẻ ở độ tuổi này bắt đầu muốn được xem truyền hình theo ý muốn cá nhân Trẻ muốn thay đổi các chương trình truyền hình, trẻ vẫn tiếp tục xem những chương trình dành cho thiếu nhi nhưng trẻ muốn được xem những chương trình cho mọi lứa tuổi Trẻ cần được hướng dẫn trong quá trình chọn lựa kênh truyền hình, dạy cho trẻ cách chọn những chương trình thích hợp với

độ tuổi, giúp trẻ trở thành một khán giả truyền hình chủ động

Ngoài ra, khi vào độ tuổi vị thành niên, trẻ muốn được xem những hình ảnh bạo lực, mặc dù sự nhạy cảm của trẻ ở độ tuổi này vẫn chưa phép trẻ chịu đựng những hình ảnh bạo lực Ở độ tuổi này trẻ có nhiều quyền được xem truyền hình hơn trước, vì vậy trẻ cần được trò chuyện về những gì trẻ nghe và thấy, dạy trẻ cách chọn những chương trình phù hợp với sở thích và mức độ nhạy cảm của mình

1.2.3 Điều kiện cụ thể của VTV

Hiện tại, ngoài kênh thiếu nhi BiBi của Truyền hình Cáp Việt Nam thuộc hệ thống quản lý của Đài Truyền hình Việt Nam là kênh truyền hình dành riêng cho trẻ em ra thì VTV không có kênh truyền hình chuyên biệt nào

Ngày đăng: 12/11/2021, 23:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nhật An (2006), Đường vào nghề Phát thanh truyền hình, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào nghề Phát thanh truyền hình
Tác giả: Nhật An
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
3. H.V.Beers (2005), Sự tham gia của trẻ em, kinh nghiệm xây dựng năng lực tập huấn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của trẻ em, kinh nghiệm xây dựng năng lực tập huấn
Tác giả: H.V.Beers
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
4. Brigitte Besse, Didier Desormeaux (2003), Phóng sự truyền hình, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự truyền hình
Tác giả: Brigitte Besse, Didier Desormeaux
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2003
5. Trần Thị Cẩm (2005), Tâm lý trẻ và giáo dục gia đình, Nxb Phụ nữ (tái bản), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý trẻ và giáo dục gia đình
Tác giả: Trần Thị Cẩm
Nhà XB: Nxb Phụ nữ (tái bản)
Năm: 2005
6. PGS. TS Nguyễn Văn Dững (2004), Báo chí với trẻ em, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với trẻ em
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
7. PGS. TS Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
8. PGS. TS Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
9. PGS. TS Nguyễn Văn Dững, TS Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Văn Dững, TS Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
10. PGS. TS Nguyễn Văn Dững (2012), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
11. PGS. TS Nguyễn Văn Dững (2006), Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2006
12. Rudolf Dreikurs, Vicki Solts (2000), Hiểu lòng trẻ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu lòng trẻ
Tác giả: Rudolf Dreikurs, Vicki Solts
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
13. Đài truyền hình Việt Nam (2006), Hệ thống mức hao phí lao động và đơn giá tiền lương các sản phẩm truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống mức hao phí lao động và đơn giá tiền lương các sản phẩm truyền hình
Tác giả: Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2006
14. Đài truyền hình Việt Nam (2008), Hệ thống đơn giá chi phí sản xuất các sản phẩm truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đơn giá chi phí sản xuất các sản phẩm truyền hình
Tác giả: Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2008
15. Trần Minh Hải, Xây dựng kế hoạch chiến lược, Trung tâm Tương Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng kế hoạch chiến lược
16. Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Giáo trình Tâm lý học báo chí, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2013
17. ThS Đỗ Thị Thu Hằng (2005), “Tìm hiểu tâm lý trẻ em – một nhóm công chúng đặc thù của báo chí”, Báo chí với trẻ em www.cmvn.org.vn, (27.11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu tâm lý trẻ em – một nhóm công chúng đặc thù của báo chí”
Tác giả: ThS Đỗ Thị Thu Hằng
Năm: 2005
18. Lê Hoàng (2008), “Chương trình truyền hình thiếu nhi: Món nợ lớn với trẻ em”, Tuổi trẻ online, (05.6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương trình truyền hình thiếu nhi: Món nợ lớn với trẻ em”
Tác giả: Lê Hoàng
Năm: 2008
19. Hội đồng đội Trung ương (2009), Báo cáo đánh giá kênh truyền hình BiBi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kênh truyền hình BiBi
Tác giả: Hội đồng đội Trung ương
Năm: 2009
20. Phạm Thành Hưng (2007), Thuật ngữ Báo chí – truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Báo chí – truyền thông
Tác giả: Phạm Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
21. Đinh Văn Hường (2007), Tổ chức và hoạt động của toà soạn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của toà soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w