Trong sự hình thành thế giới quan con người, với những tri thức về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn về các vấn đề định hướng cuộc sống, của từng người, của toàn nhân loại, triế
Trang 1QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HOÀNG ANH
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình công bố của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Anh Các kết quả của luận văn chưa được công bố trong các công trình nào khác, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hạnh
Trang 3Trang
Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN CÁCH CỦA
ARIXTỐT TRONG TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA
1.2 Tiền đề cho sự ra đời tư tưởng nhân cách trong tác phẩm “Đạo
đức học của Nicomaque” của Arixtốt 13 1.3 Tổng quan về triết học của Arixtốt và tác phẩm “Đạo đức học của
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN CÁCH TRONG
TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA NICOMAQUE” CỦA
2.1 Phạm trù đạo đức học của Arixtốt - yếu tố nền tảng của nhân cách
2.2 Tư tưởng về nhân cách trong tác phẩm “Đạo đức học của
Nicomaque” của Arixtốt và giá trị của tác phẩm 47
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử triết học giữ một vai trò to lớn trong việc nhận thức đời sống xã hội Nó cho ta khả năng hiểu biết và khái quát sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại, chỉ rõ sự hình thành và phát triển của những phương pháp nhận thức khoa học, trang bị cho người đọc phương pháp nghiên cứu, đánh giá một học thuyết triết học trong lịch sử, góp phần xây dựng phương pháp tư duy khoa học mới
Lịch sử triết học góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận hiện nay cũng như việc xây dựng thế giới quan khoa học Lịch sử triết học đã chỉ rõ quá trình đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, chỉ rõ tính chất đúng đắn, tiến bộ của thế giới quan duy vật biện chứng và tính chất hạn chế phản khoa học của thế giới quan duy tâm Nghiên cứu lịch sử triết học cho phép chúng ta nắm bắt được quá trình tự ý thức về nhân cách con người Tư duy triết học, thực chất là tư duy giá trị, luôn vận động và phát triển trong lĩnh vực giá trị, phản ánh nhân cách của mỗi con người, của mỗi thời đại lịch sử văn hoá tương ứng
Trong sự hình thành thế giới quan con người, với những tri thức về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn về các vấn đề định hướng cuộc sống, của từng người, của toàn nhân loại, triết học luôn đóng vai trò chủ đạo Các nhà triết học mọi thời đại đều cố gắng làm rõ những vấn đề tồn tại, luôn đặt ra những câu hỏi con người là gì? Con người có thể hi vọng và định hướng vào cái gì? Con người cần phải làm gì và làm như thế nào?
Trong lịch sử thời kỳ Cổ đại, Hy Lạp là một đất nước phát triển mạnh
về mọi mặt, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học mà cả trong lĩnh vực triết học Các triết gia Hy Lạp cổ đại, mặc dù điều kiện sống và địa vị
Trang 5xã hội khác nhau nhưng họ đều là những nhà thông thái trong mọi lĩnh vực, cả lĩnh vực tự nhiên và lĩnh vực xã hội Họ đã đem lại nhiều tư tưởng mới, không chỉ cho dân tộc, mà cho cả nhân loại Với những tinh hoa của mình, Triết học Hy Lạp cổ đại đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của triết học phương Tây nói riêng và triết học thế giới nói chung
Cùng với Platon và Xôcrat, Arixtốt là một trong ba trụ cột của văn minh Hy Lạp cổ đại Trong quan điểm của Arixtôt, có thể thấy ông đã kế thừa và phát triển tư tưởng nhân văn truyền thống của người Hy Lạp cổ đại, khởi nguồn từ Xôcrat Triết học về đạo đức, nhân cách là một trong những biểu hiện cho quan điểm nhân văn của Arixtôt Các tác phẩm viết về đạo đức học của Arixtôt bao gồm Ethic Eudume, Granle Morale (Đại luân lí) và Ethic Nicomaque (Đạo đức học của Nicomaque) trong đó tác phẩm Ethic Nicomaque được xem là tác phẩm chủ yếu thể hiện tư tưởng nhân cách của Arixtốt Trong tác phẩm, Arixtốt phê phán và kế thừa quan điểm của các triết gia trước đó, đồng thời xây dựng và phát triển đạo đức của mình, tạo nên một hệ thống các quan điểm đạo đức hết sức chặt chẽ Arixtốt là người đã có công khai sáng và đặt nền móng cho ngành đạo đức học trong lịch sử
Qua tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” cho thấy, Arixtốt đã lý
giải rất nhiều vấn đề của đạo đức, nhân cách Nghiên cứu lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại nói chung và triết học của Arixtốt nói riêng, đặc biệt là tư tưởng Arixtốt về nhân cách là cơ sở để chúng ta dường như một lần nữa nhận thức lại thế giới phương Tây hiện đại, thâm nhập vào các cội nguồn văn hoá tinh thần của họ Vì vậy để hội nhập thành công trong điều kiện toàn cầu hoá, để giữ gìn bản sắc văn hoá Việt, nhân cách Việt, chúng ta phải thấu hiểu văn hoá tinh thần, nhân cách của người phương Tây, lựa chọn và tiếp thu những giá trị nhân cách cần thiết bổ sung cho nhân cách Việt Đó cũng chính là lý do tác giả
Trang 6chọn đề tài “Tư tưởng nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm “Đạo đức học
của Nicomaque”" làm luận văn thạc sỹ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nhân cách được coi là một trong những vấn đề nghiên cứu cơ bản, song cũng là một vấn đề phức tạp nhất của khoa học xã hội và nhân văn Giải quyết đúng vấn đề nhân cách, sẽ cho phép giải quyết được những vấn đề của nhiều lĩnh vực đời sống như: giáo dục, y tế…vì nhân cách là đỉnh cao của sự phát triển tâm lí con người, của tự ý thức và tự điều chỉnh bản thân con người
Thứ nhất, nghiên cứu chung về lịch sử triết học, triết học của Arixtốt
Các công trình nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung và triết học của Arixtốt nói riêng, tương đối nhiều, bởi lẽ muốn xây dựng học thuyết của mình bao giờ các nhà triết học cũng phải nghiên cứu lịch sử triết học trước đó
Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu về triết học Hy Lạp cổ đại và triết học của Arixtốt như: công trình nghiên cứu của tập thể các nhà triết học Liên
Xô, Lịch sử triết học (tập 1, M,1940), Lịch sử triết học (tập 1,M,1957), V.Ph.Asmuxo (1965); Lịch sử triết học cổ đại, M.A.O.Macovenxki (1967), Lịch sử Logic học, A.Losev (1963): Lịch sử mỹ học cổ đại tập 1 Nói chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ mới nghiên cứu một cách sơ lược hoặc tổng quan về Arixtốt
Ở Việt Nam, ngay từ khá sớm đã có công trình của Đặng Thai Mai
(1950): Lịch sử triết học phương Tây; nhưng chỉ sau đổi mới, việc nghiên cứu
và dịch thuật các công trình về lịch sử triết học ngoài Mác xít mới được coi trọng Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học và triết học Arixtốt sau:
Triết học Hy Lạp cổ đại do Thái Ninh (biên soạn) nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin ấn hành năm 1987, Triết học cổ đại Hy Lạp La Mã, Hà
Thúc Minh (chủ biên), Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh xuất bản
Trang 7năm 1993, Đại cương về Lịch sử triết học phương Tây, Đỗ Minh Hợp,
Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn, nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2006… các tác giả trình bày triết học Hy Lạp từ khi hình thành đến thời kỳ Hy Lạp hoá, thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở
Hy Lạp cổ đại, các tác giả trình bày vắn tắt quan điểm của các nhà triết học
Hy Lạp cổ đại, Arixtốt cũng được đề cập với tư cách là một nhà triết học xuất sắc thời kỳ này
Lịch sử triết học, Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) nhà xuất bản Quốc gia ấn hành năm 1998, Lịch sử triết học, Bùi Thanh Quất và Vũ Tình (chủ biên), nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 2000; Lịch sử triết học phương Tây, Nguyễn Tiến Dũng; Lịch sử triết học tập 1, triết học cổ đại; Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn
Chính (chủ biên), nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2002… các tác giả trình bày triết học Arixtốt với các nội dung giáo dục, khoa học, chính trị luận, đạo đức học và siêu hình học…
Chủ nghĩa xã hội và nhân cách của tập thể các nhà khoa học Liên Xô, nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin phát hành năm 1983; Nhân cách của người sinh viên của tập thể các nhà khoa học trường đại học Lêningrat,
Tủ sách Đại học kinh tế kế hoạch năm 1981
Thứ hai, những nghiên cứu về nhân cách trong lịch sử triết học
Hoàng Anh, Giáo dục với việc hình thành, phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia năm 2012; Hoàng Anh, Quy luật của sự hình thành, phát triển nhân cách, Tạp chí triết học số 8 năm 2012; Phan Thanh Hải, Tư tưởng của triết học Hy Lạp - La Mã cổ đại về nhân cách,
đề tài cơ sở, năm 2012, Học viện Báo chí và tuyên truyền Lê Diệp Đĩnh
(1995), Thực trạng tâm lý xã hội của sinh viên và vấn đề giáo dục nhân cách cho sinh viên ở nước ta hiện nay, luận văn thạc sỹ Triết học; Trần Sỹ Phán (1999), Giáo dục đạo đức với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh
Trang 8viên trong giai đoạn hiện nay, luận án tiến sỹ triết học bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Trần Thị Tuyết Sương (1998), Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức con người Việt Nam trong điều kiện hiện nay, luận văn thạc sỹ triết học bảo vệ tại Viện Triết học
Tuy vậy, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng về nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm
“Đạo đức học của Nicomaque”
Tư tưởng về nhân cách của Arixtốt nằm trong nhiều tác phẩm, mà
tập trung nhất là ở tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” Có thể nói,
đây là một trong những công trình lớn nhất của triết học phương Tây Sự lựa chọn này không phải là ngẫu nhiên, nền văn hoá phương Tây không chỉ đơn giản là mang trong mình những thành tựu to lớn, đủ sức lan toả rộng khắp thế giới Việc nắm bắt văn hoá phương Tây, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành ý thức và thế giới quan của con người hiện đại Việc quay lại với triết học là tất yếu để giải quyết nhiệm vụ này, vì triết học cấu thành một trong những thành tố thường xuyên được tái hiện của văn hoá phương Tây
Đề tài luận văn chính là góp phần nghiên cứu một cách hệ thống tư
tưởng nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
Tất cả các vấn đề Arixtốt nêu trong tác phẩm đan xen, hòa quyện với nhau tạo nên một tác phẩm tuyệt vời và định hình sự phát triển về sau của hàng loạt các môn học mà đến nay vẫn còn được các nhà khoa học quan tâm và giải quyết
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích
Luận giải có hệ thống tư tưởng về nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm
“Đạo đức học của Nicomaque”, để trên cơ sở đó bước đầu chỉ ra những giá trị của
tư tưởng này đối với việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay
Trang 9* Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm nhân cách
- Phân tích và trình bày một cách khái quát, những tiền đề cơ bản cho
sự hình thành tư tưởng của Arixtốt về nhân cách trong tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
- Phân tích và làm rõ nội dung tư tưởng nhân cách của Arixtôt trong tác
phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
- Ý nghĩa giá trị của những tư tưởng nhân cách của Arixtốt trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận là quan niệm của các nhà sáng lập triết học Mác - Lênin về lịch sử triết học cổ đại nói chung những tư tưởng về nhân cách nói riêng; đồng thời kế thừa, tham khảo có chọn lọc các công trình của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp logíc kết hợp với
phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, hệ thống hoá và so sánh…
5 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu tư tưởng về nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm
“Đạo đức học của Nicomaque”, do Lê Tôn Nghiêm, Lá Bối dịch năm 1974,
Nhà xuất bản Sài Gòn
6 Đóng góp mới về khoa học
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong quan niệm
của Arixtốt về nhân cách trong tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
Trang 10Khẳng định giá trị tư tưởng nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử triết học
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 11Chương 1
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NHÂN CÁCH CỦA ARIXTỐT
TRONG TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC HỌC CỦA NICOMAQUE”
1.1 Khái niệm nhân cách
1.1.1 Quan niệm về nhân cách trước Arixtốt
Tư tưởng về nhân cách xuất hiện từ Arixtốt (384 - 322 TCN) - nhà Triết học cổ đại Hy Lạp - khi ông cho rằng, con người là “sinh vật chính trị” (Joon poltikon) Ở đây, bước đầu Arixtốt đã thấy được vai trò của tác động xã hội, của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển con người như là một nhân cách Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên, hai nhà tâm lý học người Đức Dilthey và Spranger mới đưa ra khái niệm nhân cách
Theo hai ông, nhân cách là cái “mặt nạ” có tính chất xã hội của cái tôi bên trong; khi nào cái “mặt nạ” đó trùng với cái tôi thì nhân cách phát triển chín
muồi [25, tr.42]
Vấn đề nhân cách đã được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu, phân tích và đưa ra định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau Từ nhân cách (personality) được bắt nguồn từ thuật ngữ Latinh có nghĩa là mặt nạ, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những tác động bên ngoài Trong nhiều định nghĩa về nhân cách, tiêu biểu phải kể đến những đại biểu nổi tiếng như:
S.Freud với thuyết “Phân tâm học” coi bản chất nhân cách là thuộc tính sinh
vật hay sinh vật hóa bản chất nhân cách, coi nó là bản năng tình dục; khác với S.Freud thì J.H.eysenck lại coi nhân cách là một dạng nào đó của ý thức trí tuệ và ý thức đạo đức thực hiện sự tự chủ trong bối cảnh tương tác; Allfort (1961) đã phân biệt các định nghĩa thành 3 loại: ấn tượng bên ngoài, cấu trúc nội tại và quan điểm thực chứng Theo chúng tôi có thể coi nhân cách là toàn
bộ những đặc điểm tâm lý đã ổn định của cá nhân tạo nên giá trị xã hội, hành
Trang 12vi xã hội của cá nhân Tuy nhiên, chúng ta không thể không kể đến đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa Nhân bản triết học tư sản thế kỷ XX là M.Sêlơ - một nhà triết học Đức, khi ông đưa ra quan điểm cho rằng bản chất vốn có của con người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật và xã hội mà nằm trong tinh thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách Theo quan niệm của ông, cho chúng ta thấy rằng con người không tồn tại thực, mà chỉ là một bộ phận của thực tại tinh thần Nhìn chung, các học thuyết trên, hoặc xem nhân cách như là sự đáp ứng nhu cầu sinh học thuần túy, hay chỉ có tính chất thuần túy của cá nhân con người, không thấy được tính quyết định của vai trò xã hội, trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, khi con người được sinh ra, cá nhân chưa phải là một nhân cách, nhân cách cũng không có sẵn, phải bộc lộ dần dần các bản năng nguyên thủy, mà một lúc nào đó đã bị kiềm chế, chèn ép Nhân cách được hình thành trong quá trình cá nhân sống và lớn lên trong xã hội Tuỳ theo điều kiện sống, nhân cách sẽ phát triển theo chiều hướng nào Thông thường khi ý thức phát triển đến một trình độ nào đó thì nhân cách mới bắt đầu hình thành và phát triển theo quá trình trưởng thành của con người
Sự hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào các yếu tố như: đặc điểm bẩm sinh di truyền, giáo dục của cả gia đình và xã hội đóng một vai trò chủ đạo, hoạt động của cá nhân và qua hoạt động giao lưu
1.1.2 Quan niệm nhân cách trên lập trường chủ nghĩa Mác
Sự ra đời của triết học Mác đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Theo đánh giá của V.I Lênin, triết học Mác đã khắc phục được những thiếu sót lớn nhất của lịch sử triết học Chủ nghĩa duy
tâm “không thấy được” điểm xuất phát là từ hiện thực khách quan, chủ nghĩa duy vật siêu hình “không thấy được” vai trò tích cực của chủ thể con người
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định, con người là thực thể sinh học xã hội
Trang 13Mặt sinh học và mặt xã hội có mối quan hệ bao chứa lẫn nhau, chế ước lẫn nhau Mặt sinh học không thuần túy là sinh học, mà là sinh học - xã hội Mặt
xã hội không trừu tượng, trống rỗng, hư vô, mà là sự phản ánh hiện thực của tồn tại sinh học - xã hội
Có thể nói, theo quan điểm của triết học Mác thì con người là khái niệm chung nhất để chỉ bất kỳ người nào trong xã hội, trong tự nhiên Con người được hiểu theo hai mặt: mặt sinh học và mặt xã hội Về mặt sinh học con người là sinh vật ở bậc thang cao nhất của sự tiến hóa Về mặt xã hội, con người sống trong xã hội, có mối quan hệ với xã hội, có những vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền lợi nhất định trong xã hội và bị chi phối bởi các mối quan
hệ xã hội Điều đó cho thấy, con người không chỉ xuất hiện và tuân theo những qui luật tiến hóa hữu cơ, mà còn chịu sự tác động của những qui luật
xã hội Sự hoàn thiện bản chất xã hội trong con người đồng thời là quá trình hoàn thiện về nhân cách, trong quá trình này, cái sinh học ngày càng được
xã hội hóa, nhân tính hóa nhiều hơn Nhân cách được hình thành và phát triển trong quá trình sống, lao động, quan hệ giao tiếp Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể con người, nhân cách là một cấu tạo chuyên biệt của con người mà không thể rút ra từ hoạt động thích ứng của nó, cũng không thể từ hoạt động đó mà rút ra ý thức của con người hay nhu cầu
Nhân cách là một vấn đề được nhiều nhà tư tưởng tiếp tục nghiên cứu, không chỉ các nhà triết học trước Arixtốt mà trên lập trường triết học mác xít, giữa các nhà khoa học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về
nhân cách: chẳng hạn “Nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của
cá nhân thể hiện trong cá nhân, ngoài cá nhân, thông qua hoạt động giao tiếp của cá nhân ấy”; hoặc “Khái niệm nhân cách được thể hiện là toàn bộ đời sống” tinh thần và xã hội của con người bao gồm “tầng” xã hội và
Trang 14“tầng” tâm lý trong con người Có thể nhận thấy rằng, các quan điểm đó
tập hợp thành hai khuynh hướng cơ bản:
Một là: Coi nhân cách như là đặc trưng, chức năng, vai trò, vị trí của
con người trong xã hội
Hai là: Coi nhân cách là đặc trưng bản chất của con người [46, tr.11]
Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức
và tài của con người
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác thống nhất với khuynh hướng thứ hai và đặc biệt chú ý tới bản chất xã hội của con người, lý giải các quan hệ
xã hội tham gia vào sự hình thành bản chất con người Từ những luận điểm trên,Mác đưa ra nhận xét bản chất con người đặc thù không phải là râu của
nó, không phải là máu của nó, không phải là bản chất thể xác trừu tượng của nó mà chính là phẩm chất xã hội của nó Như vậy, nhân cách là sự tổng hòa không phải những đặc điểm của con người mà chỉ là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội
Nhân cách là một vấn đề rất phức tạp trong các vấn đề phức tạp của
con người Nhân cách của một con người là “độc nhất vô nhị”, không thể
có trường hợp nhân cách của hai người hoàn toàn giống nhau, mỗi người
có khả năng tiếp nhận và chọn lọc những gì phù hợp với mình, sống trong
xã hội nào thì lĩnh hội nền văn hóa xã hội của xã hội ấy Con người được sinh ra trong những hoàn cảnh, môi trường gia đình và môi trường xã hội khác nhau nên mỗi người đều mang những bản sắc độc đáo, riêng biệt Nhân cách con người luôn cải tạo thế giới khách quan và biến thế giới khách quan thành sản phẩm phục vụ cho con người, không phải ai cũng có
mà chỉ ở con người có nhân cách mới có
Khác với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo quan niệm có “tính người bẩm sinh” “nhân cách là yếu tố tinh thần đầu tiên của tồn tại người” và
Trang 15chúa là nhân cách tối cao nhất có trước và chi phối nhân cách con người…” Chủ nghĩa duy vật ngoài Mác - xít và khoa học cụ thể thường có
xu hướng tuyệt đối hoá mặt tâm lí, sinh lí, xem nhẹ mặt xã hội hay tách rời mặt xã hội, mặt tự nhiên của nhân cách
Ngày nay, do những thành tựu của nhiều ngành khoa học, nghiên cứu
về nhân cách người ta đưa ra một quan niệm tổng hợp và đúng đắn về nhân
cách: nhân cách là tổ hợp thái độ, thuộc tính riêng trong quan hệ hành động của từng giới tự nhiên, với xã hội và bản thân [16, tr.1]
Khái niệm này nhấn mạnh vấn đề “hành động”, nghĩa là nhân cách
của con người chỉ bộc lộ trong hành động, thông qua các mối quan hệ ứng
xử với tự nhiên, xã hội và bản thân Vì lẽ đó, Platon có lý khi ông nói người đang ngủ thì kẻ cướp cũng như thiên thần
Nhân cách phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội, phản ánh mức
độ cá thể hóa, tính độc đáo trong mỗi người Nhân cách là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố xã hội và cá nhân trong mỗi con người Triết học
Mác - Lênin xem nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân có tính lịch sử cụ thể, nó tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò chủ thể của nhận thức và của sự phát triển xã hội
Khái niệm nhân cách là một khái niệm rộng và phức tạp, vì vậy có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách Nhân cách biểu hiện phong cách, cách sống của con người, nhưng không phải cứ là con người, là cá nhân thì nghiễm nhiên là một nhân cách Vậy nhân cách qui định bản sắc riêng của
cá nhân, trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng, mà cá nhân đó là đại biểu nhân cách, biểu hiện tính riêng biệt, tính không đồng nhất, tính tích cực, trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh, của bản thân Nhân cách thể hiện trong mối liên hệ với nhân cách khác và nhân cách được xem như một chủ thể, đang tích cực hoạt
Trang 16động, vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của hoạt động Thông qua tổng hòa các mối quan hệ giáo dục, thang giá trị, hệ thống giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị, con người trở thành nhân cách
Nói tóm lại, những kiến giải về khái niệm nhân cách trên sẽ làm cơ
sở nền tảng để tác giả nghiên cứu tư tưởng của Arixtốt về nhân cách trong
tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
1.2 Tiền đề cho sự ra đời tư tưởng nhân cách trong tác phẩm
“Đạo đức học của Nicomaque” của Arixtốt
1.2.1 Tiền đề về kinh tế, xã hội
Theo C Mác “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [34, tr.15]
Trung thành với quan điểm khoa học đó, trước khi tiến hành nghiên cứu tư
tưởng về nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”, chúng ta cần tìm hiểu, những nét đặc thù trong điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội ở thời đại mà Arixtốt sống Trên cơ sở đó, chúng ta có được nhận thức khách quan đánh giá về những giá trị và hạn chế, một cách
đúng đắn về tư tưởng nhân cách của Arixtốt
Một là, điều kiện về kinh tế
Arixtốt sinh ra và lớn lên ở Hy Lạp cổ đại, là cái nôi của nền triết học phương Tây Đây là một quốc gia rộng lớn, có điều kiện thiên nhiên khá ưu đãi, với mưa thuận gió hoà Lãnh thổ Hy Lạp cổ đại bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo
ở biển Êgiê Miền lục địa Hy Lạp được chia làm ba khu vực: Bắc bộ, Trung
bộ và Nam bộ, trong đó, phía Nam bộ là bán đảo Pelopongnedo, với nhiều đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, rất thuận lợi cho việc trồng trọt và phát triển nông nghiệp, miền Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, tập trung nhiều dân cư, nơi có thành phố lớn như Aten
Trang 17Hy Lạp có vị trí địa lý, với rất nhiều lợi thế, các mặt của lãnh thổ gần như tiếp giáp với biển, đặc biệt là vùng bờ biển phía đông của bán đảo Ban Căng, khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển Các đảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi Vùng ven biển Tiểu Á, là đầu mối giao thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông
Tất cả những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, đã tạo nền tảng vững chắc cho Hy Lạp cổ đại nhanh chóng trở thành một quốc gia, có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hoá tinh thần phong phú, đa dạng, và chính nơi đây, đã trở thành cái nôi của nền triết học phương Tây, với những triết lý bất hủ, trong đó có nhà đại hiền triết Arixtốt
Về kết cấu giai cấp, từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI trước công nguyên là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại, bởi đây là thời kỳ nhân loại, chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Sự thay thế công cụ lao động, đã tạo năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm làm
ra ngày càng nhiều, dẫn đến dư thừa, chế độ chiếm hữu tư nhân được xác lập và ngày càng được củng cố Sự phát triển của lực lượng sản xuất, đã kéo theo sự phân công mạnh mẽ lao động trong xã hội Trong nông nghiệp, chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt Chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành, ngày càng rõ rệt kéo theo quan hệ xã hội trở nên phức tạp, tổ chức xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ Nếu như, trước đây, các quan hệ cũ trong phạm vi bộ tộc, bộ lạc mang tính cộng đồng cao, các cá nhân muốn tồn tại và phát triển, buộc phải hoà mình vào cuộc sống cộng đồng, trong xã hội, vẫn chưa xuất hiện giai cấp, thì nay chế độ chiếm hữu ra đời, đã xuất hiện các tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải, làm hình thành giai cấp đối kháng với hai giai cấp cơ bản trong xã hội, là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Trong đó, giai cấp chủ nô là giai cấp thống trị, bóc lột, còn giai
Trang 18cấp nô lệ là giai cấp bị trị, bị bóc lột Giai cấp nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội, tạo ra của cải vật chất trong xã hội Song dưới ánh mắt của người Hy Lạp cổ đại, nô lệ chỉ được coi là công cụ biết nói Họ không bao giờ được hưởng một chút quyền lợi chính trị nào, kể cả quyền làm người
Hai là, điều kiện về chính trị, xã hội
Do điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hoá mà các chuyến vượt biển từ Hy Lạp đến các nước phương Đông trở nên thường xuyên Chính vì vậy, tầm nhìn của người Hy Lạp cũng được mở rộng, những thành tựu văn hoá của Ai Cập, Babilon đã làm cho họ ngạc nhiên Tất cả các thành tựu, những yếu tố tích cực của các nước láng giềng đều được người Hy Lạp đón nhận Sự phát triển kinh tế còn là tiền đề dẫn tới sự phân công lao động là lao động trí óc và lao động chân tay Chính sự phân công này, góp phần hình thành nên tầng lớp trí thức trong xã hội Hy Lạp cổ đại Họ là những nhà triết học, nhà khoa học, nhà y học, những nhà sáng tác nghệ thuật… những phát kiến, phát minh, sáng chế, những sự nhận thức các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội, quy luật tư duy của họ đã thúc đẩy nền văn minh Hy Lạp cổ đại phát triển rực rỡ Vì thế, họ được xã hội trọng vọng, tôn vinh Họ được xem là tầng lớp trên, tầng lớp tinh tuý nhất trong
xã hội, còn những người lao động chân tay, những người nô lệ thường bị xã hội coi thường, thậm chí bị xem chỉ là “công cụ biết nói” Điều này cũng dẫn tới việc, khi đánh giá về đạo đức con người, các nhà triết học Hy Lạp
cổ đại đa phần cho rằng, chỉ có giai cấp chủ nô, tầng lớp trí thức mới có đạo đức, mới đạt được cái “tối thiện” Họ coi thường những người nô lệ, người lao động chân tay, cho rằng đối với người này, thì thường không có đạo đức và sự tuân thủ, chính là hành vi đạo đức
Thời kỳ này, đã xuất hiện chế độ cộng hoà dân chủ, song nó chỉ giành
Trang 19cho dân tự do thuộc giai cấp chủ nô, còn đối với đông đảo nô lệ và kiều dân,
đó chỉ là nền tàn bạo của giai cấp chủ nô mà thôi Do đó, xã hội chiếm hữu nô
lệ, ngày càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô với nô lệ, giữa người giàu và người nghèo, ngày càng mâu thuẫn Ph.Ăngghen viết:
Chúng ta không bao giờ được quên rằng, tiền đề của toàn bộ
sự phát triển kinh tế, chính trị và trí tuệ của chúng ta là tình trạng, trong đó, chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết, giống như nó được tất cả mọi người thừa nhận Theo nghĩa đó, chúng ta có quyền nói rằng, không có chế độ nô lệ cổ đại thì không có chủ
nghĩa xã hội hiện đại [36, tr.254]
Lao động trong xã hội đã có sự phân chia rõ rệt giữa lao động trí óc
và lao động chân tay, chính điều này tạo điều kiện cho một số người, chỉ chuyên tâm lao động trí óc Họ suy ngẫm về thế giới, về xã hội và con người, dần dần làm nảy nở các tư tưởng triết học Các tri thức triết học và khoa học, đã phá vỡ ý thức thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ thời đó Tuy nhiên, ngay khi mới ra đời, các tư tưởng triết học cũng mang tính giai cấp sâu sắc, bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị Nó là thế giới quan của giai cấp chủ nô và trở thành tư tưởng thống trị xã hội
Thời kỳ cổ đại, Hy Lạp được phân chia thành nhiều nước nhỏ Mỗi nước lấy một thành phố lớn làm trung tâm Trong đó có hai thành phố lớn
và hùng mạnh nhất là Spác và Aten Thành phố Spác nằm ở vùng bình nguyên, đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Chính quyền nơi đây được giai cấp chủ nô quý tộc, duy trì theo kiểu cha truyền con nối Do đó, Spác đã xây dựng một thiết chế nhà nước dân chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với giai cấp nô lệ Thành bang Aten nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp Đây là thành phố rất phát triển của Hy Lạp thời kỳ cổ đại là trung tâm kinh tế - văn hoá và là cái nôi của
Trang 20triết học Châu Âu Tương ứng với sự phát triển kinh tế văn hoá là thiết chế nhà nước dân chủ Aten
Từ sự chuyển biến sâu sắc trong lĩnh vực kinh tế, dẫn đến sự tan rã của chế độ thị tộc Từ khoảng thế kỉ VI TCN, xã hội Hy Lạp đã có sự phân hoá sâu sắc thành hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ Giai cấp chủ nô nắm trong tay nhiều tư liệu sản xuất và sống dựa vào sức lao động, của những người nô lệ Những thành viên của xã hội thị tộc cũ, bị phân hoá, một số hoàn toàn bị mất hết ruộng đất, bị bán thân thành nô lệ Số khác hoặc có ít, hoặc không có tư liệu sản xuất, phải nhận lĩnh canh ruộng đất hoặc làm thuê trong các xưởng thủ công, tạo ra một lớp người bình dân Đêmốt - với những quyền lợi và nguyện vọng khác trong lịch sử Hy Lạp cổ đại Trong giai đoạn này, xã hội hình thành ba giai tầng khá rõ nét, đó là chủ nô (chủ nô ruộng đất và chủ nô công thương), những người bình dân Đêmốt và những người nô lệ trong đó giai cấp chủ nô lại phân hoá thành chủ nô dân chủ - có tiến bộ và chủ nô quý tộc - bảo thủ, phản tiến bộ Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, đặc biệt là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ, nhiều cuộc đấu tranh của nô lệ diễn ra, chống lại sự bóc lột của giai cấp chủ nô, điển hình là cuộc đấu tranh của Spáctatuyt Điều này chứng tỏ, sự đối kháng giai cấp, đã đạt đến mức không thể điều hoà được Cuộc đấu tranh giữa hai phái chủ nô này, cũng như giữa chủ nô và nô lệ, là điều kiện chính trị - xã hội quan trọng cho cuộc đấu tranh ý thức hệ và thế giới quan trong triết học Hy Lạp cổ đại, cũng như việc hình thành các quan niệm về đạo đức khác, ở các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Trong xã hội đã diễn ra các cuộc nổi dạy của giai cấp nô lệ, nhưng đều thất bại, vì họ xuất thân từ nhiều bộ lạc, họ nổi dậy một cách tự phát, không có ngôn ngữ chung và không được tham gia các hoạt động chính trị,
xã hội Nhân cơ hội này, vua Philip ở phía Bắc Hy Lạp, đã đem quân xâm
Trang 21chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp vào thế kỷ thứ II trước công nguyên, trong điều kiện suy yếu, Hy Lạp nhanh chóng bị rơi vào tay của đế quốc La Mã Tuy nhiên đế quốc La Mã đã chiếm được Hy Lạp song do nền văn hoá Hy Lạp phát triển rực rỡ, khiến đế quốc La Mã, lại bị đồng hoá về mặt văn hoá
Thời kỳ cổ đại, Hy Lạp đã xây dựng được những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực như văn học, thiên văn học, nghệ thuật…đây là cơ sở để hình thành nền văn minh phương Tây hiện đại
Khoảng thế kỷ V - IV TCN, nền văn minh này đã đạt đến đỉnh cao của nó, với những thành tựu vượt bậc, những khám phá của các ngành khảo
cổ học, địa chất học trong những năm gần đây, đã chứng minh một cách sáng tỏ sự nguy nga, tráng lệ của nền văn minh đó Tuy nhiên, sau nửa thế
kỉ tồn tại và phát triển, nền dân chủ Aten bước vào thời kỳ khủng hoảng, chiến tranh liên miên với những nước xung quanh Thời kỳ này, tình hình chính trị xã hội của Hy Lạp cổ đại nói chung, hết sức phức tạp, nhiều tiểu quốc mới được hình thành, nhiều liên minh ra đời và tan rã (liên minh Pêlôpônedơ…) Có thể thấy, đây là giai đoạn có nhiều biến động, trong lĩnh vực chính trị, xã hội, các giá trị trong cuộc sống, liên tục đổi thay, con người dường như đánh mất niềm tin vào giá trị, chuẩn mực cuộc sống Đứng trước tình hình đó, các nhà triết học thời kỳ này, thời kỳ nền dân chủ Aten, đã có nhiều băn khoăn và cố gắng tìm những giải pháp khắc phục tình trạng biến động về đạo đức của xã hội Triết học đạo đức của Arixtốt
đã ra đời trong bối cảnh lịch sử hết sức biến động Những tư tưởng này chính là cơ sở nền tảng hình thành tư tưởng của Arixtốt về nhân cách trong
tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
1.2.2 Tiền đề về lý luận
Hy Lạp là một cái nôi của nền văn minh nhân loại Nơi đây đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ với sự phát triển của những tư tưởng triết học
Trang 22sau này Có thể nói, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới, là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa Những tư tưởng đó là tiền đề lý luận quan trọng cho sự hình thành nhân cách của Arixtốt Arixtốt là nhà triết học, nhà giáo dục và nhà khoa học đã tạo nên ảnh hưởng hết sức lớn lao trong nền văn minh phương Tây Cùng với Platon, Arixtốt được coi là một trong các nhà triết học Hy Lạp quan trọng nhất Arixtốt hiểu rõ toàn thể học thuật
Hy Lạp của các thời đại trước, đã cứu xét, tóm tắt, nhận xét và làm phát triển kiến thức của nhân loại, gây ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ về sau
Trong quá trình hình thành những quan điểm, tư tưởng của mình về triết học nói chung, tư tưởng về nhân cách nói riêng Arixtốt đã kế thừa và phát huy nhiều giá trị tư tưởng triết học của phương Đông và phương Tây
Một là, quan niệm của Xôcrat về đạo đức - nền tảng nhân cách
Xôcrat là một trong những người khởi đầu cho nghiên cứu về con người của nền triết học Hy Lạp Xôcrat là người đầu tiên trong lịch sử triết học, chủ trương triết học là nghiên cứu về nhận thức của con người về bản thân mình Theo ông, cái thiện và cái ác là từ lời răn của chúa trời Xôcrat cho rằng, cái thiện và cái ác, không phải là hai cái khởi nguyên tự có, đức tính, phẩm hạnh thì không thể học hỏi được, đó là trí năng của Chúa, còn chỉ có những nhà hiền triết mới có thể đạt được Theo Xôcrat, người có đạo đức là phải nhận thức được chính mình, nhưng nhận thức chính mình không được tách khỏi nhận thức chung của xã hội, như thế mới mang tính khách quan Đó mới là cơ sở của nhận thức chân lí một cách đích thực và đúng đắn Nhận thức của con người vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan, nó là cơ sở cho ý thức của con người, trong mối quan hệ đạo đức giữa con người với con người và giữa con người với xã hội
Xôcrat quan niệm, cái thiện gắn liền với hạnh phúc, ngược lại nếu
Trang 23con người chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, bất chấp mọi dư luận xã hội thì không thể có hạnh phúc, đó là sự bất hạnh Xôcrat nhấn mạnh, sự hiểu biết
là cơ sở của đạo đức, ông là người có công trong việc gắn lí luận đạo đức với thực tiễn đạo đức, thực hành đạo đức
Hai là, quan điểm của Platon về đạo đức
Platon xem đạo đức như là sự điều hòa của tập thể, sự công bằng, sự phối hợp hoàn hảo Toàn bộ những tư tưởng về chính trị, xã hội của Platon
được gói gọn trong mô hình “Quốc gia lí tưởng” mà ông đã dày công gây
dựng suốt cả cuộc đời Mô hình quốc gia lí tưởng thể hiện đầy đủ, các vấn
đề của đời sống, trong quốc gia trong ấy, mọi người luôn được sống êm đềm hạnh phúc, đầy đủ và thoả mãn với những gì mà họ tạo ra Đạo đức học của Platon được xây dựng trên cơ sở học thuyết ý niệm Theo ông, bản chất con người gồm thể xác và linh hồn, linh hồn tồn tại vĩnh cửu, độc lập với thể xác Linh hồn gồm ba bộ phận: lí tính, cảm xúc và cảm tính Trên
cơ sở đó, Platon chia xã hội thành ba hạng người
Hạng người thứ nhất, là người thuộc lí tính, đóng vai trò chủ đạo trong hành động tư duy, đó là những nhà triết học, nhà thông thái, họ hướng tới trật tự của các ý niệm Những người này thể hiện đạo đức cao cả và luôn hướng tới những điều tối cao của cái thiện Hạng người thứ hai, là người mà ý niệm của họ là lòng dũng cảm, gan dạ, tràn đầy hạnh phúc, họ như những binh sĩ Hạng người thứ
ba, là những người thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công, linh hồn của họ, chỉ thích nghi với lao động chân tay [52, tr.20]
Platon cho rằng, nguồn gốc của đạo đức không phải từ bản chất của con người, mà nguồn gốc của đạo đức, là linh hồn vĩnh cửu, độc lập với con người Thế giới hiện thực, chỉ là nguồn gốc của những sai lầm, của cái
ác Trong ba bộ phận của linh hồn, bao gồm phần khôn ngoan, phần mãnh
Trang 24liệt là cơ sở của lòng dũng cảm, phần khao khát, là cơ sở của sự thận trọng hay chừng mực Nếu kết hợp được ba phần này thì con người sẽ đạt đến chính nghĩa, cái thiện tối cao và đạt đến hạnh phúc
Platon phê phán tình trạng vô đạo đức trong xã hội, theo Ông, con người và xã hội loài người, cần phải đấu tranh để đạt đến cái thiện, muốn thể hiện cần phải xây dựng phẩm hạnh đạo đức ở con người Trong quá trình xây dựng đạo đức, thượng đế là quan toà tối cao để phán xét hành vi vô đạo đức của con người và định hướng hành vi đạo đức cho con người Platon còn cho rằng, tôn giáo là điều kiện cần thiết, để hướng con người sống thiện
Đạo đức học của Platon vẫn không thoát khỏi hạn chế về mặt giai cấp, nó gắn liền với việc bảo vệ giai cấp chủ nô quý tộc, còn nô lệ thì không có cái thiện và mù quáng trước những việc làm thiện Từ đó, ông yêu cầu xây dựng một nhà nước chỉ có tôn trọng, bảo vệ, quyền và phục vụ giai cấp quí tộc là chủ yếu
Tư tưởng của ông và bình đẳng xã hội của Platon, đã có ảnh hưởng
đến tư tưởng của Arixtốt sau này Trong hai tác phẩm “Nhà nước” và “luật lệ”, Platon đã khẳng định rằng, không thể có sự bình đẳng giữa những tầng
lớp khác nhau trong xã hội Platon cho rằng :
Bản thân nhà nước xuất hiện từ chính sự đa dạng của nhu cầu con người Do có sự đa dạng ấy nên xã hội phải duy trì các hạng người khác nhau thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của xã hội và do đó, không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa họ [53, tr.192]
Tuy nhiên, Ông cho rằng, dù xã hội không có sự bình đẳng nhưng vẫn có sự công bằng và cái được nhấn mạnh không phải là sự ngang bằng nhau giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ,
mà là sự phân định về đẳng cấp Công bằng là công bằng giữa những
Trang 25người, ở trong cùng một đẳng cấp, chứ không phải, giữa những người ở những đẳng cấp khác nhau
Trong số học trò của Platon, Arixtốt là môn đệ thông minh xuất chúng Ông có quan niệm rất lành mạnh về bản chất của con người Thuyết
“trung dung” biểu tả quan niệm đạo đức của ông:
Đạo đức học tùy thuộc vào sự suy luận chính xác, sự kiểm soát tinh thần, sự bình quân của lòng ham muốn Đó không phải
là đức tính của những người thường, mà là kết quả của sự tập luyện và kinh nghiệm trong những người hoàn toàn trưởng thành Con đường đi đến mục đích, đó là ý niệm trung dung Mỗi một tính có thể xếp thành ba loại Loại đầu và loại chót là những đặc tính quá khích, chỉ loại giữa mới là đạo đức Tính can đảm thuộc
về loại giữa, nghĩa là đạo đức [7, tr.217]
Tuy nhiên thuyết trung dung, chưa phải là bí quyết đến hạnh phúc một cách hoàn mĩ Arixtốt cho rằng, những nhu cầu vật chất, một tài sản vừa phải có thể đem đến cho con người đời sống tự do, không tham lam, dành dật quá đáng Mặc dù tiện nghi vật chất là cần thiết cho đời sống hạnh phúc Song, yếu tố chính vẫn là sự sáng suốt của tâm hồn Hạnh phúc là sự khoái lạc của tâm trí
Có thể nói trước Arixtốt chưa có khái niệm về nhân cách, mà chỉ có những quan điểm về tính cách, con người, cá tính, hầu hết các nhà triết học đánh đồng giữa đạo đức và nhân cách, họ chỉ dừng lại ở việc mô tả các biểu hiện đặc trưng của nhân cách, chưa lí giải được sự hòa nhập nhân cách vào xã hội, cũng như chưa đề cao vai trò của việc hình thành và phát triển nhân cách Tất cả những tri thức lý luận phương Đông, lý luận phương Tây
về đạo đức, tính cách, phẩm chất của những nhà khoa học là cơ sở lý luận quan trọng hình thành nên tư tưởng về nhân cách của Arixtốt và tiền đề lý
Trang 26luận phương Tây đã góp phần hình thành tư tưởng nhân cách của Arixtốt
1.3 Tổng quan về triết học của Arixtốt và tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
1.3.1 Khái quát về triết học của Arixtốt
Arixtốt sinh ra trong một thành phố nhỏ có tên là Stagire, nằm ở phía bắc biển Egie, gần biên giới Macesdonie, cách Aten 200 dặm về phía Bắc Ông là người Iônê - được xem là những người Hy Lạp thông minh và can đảm nhất, đã lập nhiều thuộc địa trong vùng biển Êgiê và Bắc Hải Ông xuất thân trong một gia đình trí thức Bố ông là thầy thuốc của Hoàng gia Macedonie (sau này ông lấy tên cha để đặt cho con trai người vợ thứ hai) là quan ngự y của vua Amytas II, vị vua đang cai trị nước Maxêđôn Cha mất khi ông còn nhỏ, vì vậy Arixtốt được Prôxenut nhận là cha đỡ đầu Cuộc đời Arixtốt có nhiều thăng trầm, có lúc ông được trọng vọng đến tột bậc của vua Philip Maxêđôn nhưng cũng có khi ông như Xôcrat - bị xem như là một biện thuyết đầy tai hại, chuyên reo rắc những mầm mống phản loạn, làm hư hỏng tầng lớp thanh niên của thành phố Aten
Quan hệ gần gũi với Hoàng gia, trở thành một trong những nguyên nhân chính để Arixtốt được mời làm thầy dạy của Alexandre, khi mới mười
ba tuổi, con trai của vua Philip đệ nhị và là người sẽ sáng lập ra cường quốc rộng lớn Năm lên mười bảy tuổi, Arixtốt đến Aten và trở thành thính giả trong Acdemie của Platon Tại đây, Ông sống 20 năm đến khi người thầy vĩ đại của mình là Platon qua đời vào năm 347 TCN, sau sự kiện này, Ông sống 4 năm ở Yonia và trở thành thầy dạy của vị Vua Alexandre, Ông
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân cách của Vua Alexandre Năm 334 TCN, Arixtốt một lần nữa lại đến Aten Một giai đoạn mới bắt đầu trong cuộc đời của nhà tư tưởng vĩ đại, khi ông sáng tác tất cả những tác phẩm quan trọng nhất của mình Arixtốt không quay lại Acdemie, vì các quan điểm triết học
Trang 27riêng của ông ở thời kì này, đã không còn phù hợp với chủ nghĩa Platon Ông sáng lập trường phái triết học riêng, nằm cạnh đền thờ Apollo - Licee,
từ đó tên gọi của nó là Licee Trường này nằm bên cạnh Học viện Platon,
do người bạn đồng môn Xenocrates, người đã có một thời cùng Arixtốt, bôn ba truyền bá sự học của Platon làm viện trưởng Tuy nhiên, Aten lúc này không phải là Aten tự do của 12 năm trước Alecxandrơ đã chiếm đóng toàn cõi Hy Lạp và đặt Aten làm đất bảo hộ của Macodonia dưới quyền quản trị của toàn quyền Antipater, thuộc liên minh Corinth Trong cương vị toàn quyền, Antipater ủng hộ khái niệm chính trị quả đầu, một chế độ chính trị dựa trên giai cấp, thay vì để Aten sinh hoạt dưới thể chế dân chủ như trước kia Một điều ngẫu nhiên, lí thú là Antipater và Arixtốt, đã từng quen biết nhau từ trước tại Macedonia và vẫn giữ liên lạc thường xuyên, nay lại tái ngộ ở Aten trong hai địa vị khác nhau Tuy nhiên, tình bạn giữa hai người vẫn khăng khít như xưa và những chính sách của Antipater đã ảnh hưởng không ít đến những tư tưởng của Arixtốt sau này Một cách cụ
thể, Arixtốt chủ trương xây dựng một thể chế “trung dung”, ủng hộ các giai
cấp có tài sản Đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc đời Arixtốt
Trong học viện Licee, Arixtốt chia ra hai chương trình giáo dục, chương trình buổi sáng dành cho các học viên chuyên sâu vào các môn triết học và khoa học tự nhiên, buổi chiều dành cho mọi đối tượng mà nội dung chủ yếu là bàn về cách thức lí luận hiện nay, hay phương pháp tu từ học Đặc điểm của phương pháp dạy và học của trường Licee, là thầy và trò vừa
đi dạo vừa truyền đạt kiến thức, do vậy nên có tên gọi là môn phái “tiêu dao” Arixtốt đã giảng dạy tại trường 12 năm và là thời kì mà sự nghiệp
sáng tác của Arixtốt, để lại cho hậu thế sung mãn nhất Cũng thời gian này, Alecxandre cất quân đi chinh phục nhiều nơi và đã mở rộng được quốc gia rộng lớn Thế nhưng vào năm 33 tuổi (323 TCN), trên đường đến đánh
Trang 28Babilon, Alecxandre đã đột ngột qua đời, để lại sự nghiệp hào hùng đang thực hiện dở dang Cái chết của Philip Alecxandre đã kéo theo sự tan rã của đảng Maxêđôn và số phận những người thân Maxêđôn cũng lâm vào tình trạng nguy ngập, khi bị những người Aten săn đuổi Bản thân Arixtốt cũng nằm trong số ấy Do vậy, để tránh biến cố chính trị sắp giáng xuống đầu và tránh cho người Aten phạm tội ác thứ hai, chống lại triết học (tội ác thứ nhất là toà án Aten đã kết tội tử hình Xôcrat năm 339 TCN) Arixtốt đã giao quyền quản lí trường Licee và toàn bộ thư viện cùng kho lưu trữ của mình, cho người phụ tác tin cẩn là Têôphrat, trở về quê mẹ ở Chanxit
Từ lúc sáng lập, Licee ngày càng trở nên phổ biến, số học trò ngày một tăng Khi Alexandre Đại đế mất (vào khoảng năm 323 tr.CN), phong trào chống Macodonia, bắt đầu diễn ra ở Aten Arixtốt buộc phải chạy khỏi thành phố về thái ấp của mình ở Eubeia, chẳng bao lâu ông mất tại đây (vào năm 322 tr.CN) do bệnh dạ dày và thọ 62 tuổi Trước khi mất, ông đã sắp đặt chu toàn mọi việc trong gia đình và ngoài xã hội Cho đến lúc về với Chúa, Arixtốt vẫn luôn canh cánh trong lòng trách nhiệm với cuộc đời
Có thể nói, Arixtốt không chỉ vĩ đại trong khoa học mà còn thật cao cả trong đời sống Một trong những câu nói nổi tiếng của Arixtốt đã có ảnh hưởng tới
sự phát triển của tư tưởng nhân loại là “giá trị đích thực của đời người ở sự thức tỉnh và năng lực suy nghĩ, chứ không phải ở sự tồn tại” Cuộc đời của
ông là một cuộc đời “đích thực” theo đúng cách mà ông đã nói
Arixtốt là đại biểu xuất sắc về triết học của thời cổ đại Hy Lạp Mác
gọi ông là “nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại, là khối óc toàn diện nhất trong những nhà triết học cổ Hy Lạp” Ông nghiên cứu nhiều lĩnh
vực: triết học, logic học, tâm lí học, sử học, chính trị học, đạo đức học, thẩm mĩ học và các khoa học tự nhiên…Ông là nhà đại bách khoa Có thể nói cuộc đời bôn ba đây đó, đã giúp Arixtốt rất nhiều trong việc học hỏi và
Trang 29tích luỹ nhiều nguồn kiến thức Mặt khác, với tài năng của mình, Arixtốt đã
để lại nhiều công trình đồ sộ mà mãi đến hôm nay, cả thế giới vẫn phải nghiêng mình ngưỡng mộ Arixtốt đã kết thúc một cách rực rỡ, thời kỳ vinh quang của triết học, trong giai đoạn nền dân chủ Aten Qua đó có thể khái quát những thành công về triết học của Arixtốt như sau:
Một là, Arixtốt phân chia triết học với tư cách tri thức nói chung,
thành ba bộ phận: Triết học lí thuyết; triết học thực tiễn với những bộ phận
cơ bản là đạo đức học, kinh tế, chính trị; triết học poietika
Hai là, Arixtốt là người đầu tiên, đi sâu phân tích các hình thức và
qui luật của tư duy (sau này gọi là logic hình thức) giữ một vị trí đặc biệt,
nó chuẩn bị và mở đầu cho quá trình nghiên cứu Mục đích đem lại kỉ cương cho tư duy, cung cấp cho tư duy những phương tiện đáng tin cậy, để phán đoán có căn cứ và né tránh những sai lầm Chính việc xây dựng logic học là công lao lịch sử quan trọng nhất của Arixtốt
Ba là, Arixtốt là người đầu tiên phân vận động, thành các hình thức
vận động cụ thể, đồng thời là một trong những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại, biết sưu tầm những tài liệu viết tay thời bấy giờ, để lập thành một thư viện Nhà của Arixtốt được Platon gọi là nhà đọc sách, nhiều người cho đó là lời khen, nhiều người lại cho đó là một lời chê có ý ám chỉ đến tinh thần quá chú trọng vào sách vở của Arixtốt
Arixtốt cũng nghiên cứu chuyển động của các thiên thể, qua tác
phẩm “On the Heavens” (về bầu trời) và tìm hiểu các tay đổi khi một vật
được tạo ra hay bị huỷ diệt Trong thiên văn học, Arixtốt đề xuất một vũ trụ hữu hạn, có hình cầu với Trái đất là trung tâm Vùng trung tâm được tạo bởi bốn nguyên tố là đất, nước, lửa và khí Trong vật lí học của Arixtốt, mỗi một nguyên tố có vị trí thích hợp, được xác định bởi tính năng tương đối của nó, trọng lượng riêng của nó Đối với Arixtốt, hai bộ môn đạo đức
Trang 30học và chính trị học đều khảo cứu kiến thức thực tế, đây là sự hiểu biết, cho phép con người hành động đúng cách và sống hạnh phúc Qua tác phẩm đề tặng cho con trai tên là Nicomachus và được gọi tên là Nicomachean Ethics (Đạo đức học của Nicomaque), Arixtốt đã phân tích
cá tính và trí thông minh, khi những tính cách này liên quan đến hạnh phúc
và Ông cho rằng một cuộc đời hạnh phúc của con người là cuộc đời làm theo lí trí
Bốn là, các tác phẩm thuộc khoa học xã hội, là lĩnh vực chiếm một
dung lượng khá lớn, trong toàn bộ các tác phẩm của Arixtốt Trong những tác phẩm này, ông thể hiện quan điểm của mình, dựa trên một cơ sở khá vững chắc, đó chính là con người hiện thực Từ cơ sở đó, Arixtốt đã mở rộng nghiên cứu trong nhiều ngành khoa học khác nhau Từ những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của con người như kinh tế học đến những lĩnh vực, quan hệ đến vai trò, hoạt động, cũng như giá trị của con người như tâm lí học, đạo đức học, logic học Trong những tác phẩm nghiên cứu ở lĩnh vực này, Arixtốt đã đề cập một cách khá sâu sắc, mọi hoạt động sống của con người, cũng như thừa nhận tính tích cực của vai trò của con người trong lĩnh vực nhận thức Điều này sẽ được thể hiện một cách rõ nét, khi nghiên cứu về phương pháp nhận thức các qui luật cơ bản của tư duy, như Arixtốt đề ra
Nếu như trong lĩnh vực triết học về tự nhiên, Arixtốt đã thể hiện những khiếm khuyết nhất định, thì ngược lại trong lĩnh vực triết học xã hội, Arixtốt đã có những bước tiến khá dài, vượt lên hẳn các trào lưu tư tưởng của thời đại Trong triết học về xã hội, những tác phẩm của Arixtốt liên quan đến một số lĩnh vực sau: kinh tế học, các lí thuyết về kinh tế, chính trị học, bàn về các thể chế chính trị, nguyên nhân hình thành Nhà nước, các kiểu Nhà nước trong lịch sử; đạo đức học như: Ethics Nicomaque, Ethics Euduem, Grandle Morale…lí giải mục tiêu, ý nghĩa cuộc sống, các nguyên
Trang 31tắc, chuẩn mực để đạt đến mục tiêu đó; logic học: Categoria, Topics First, Analyse…các phương pháp nhận thức; nghệ thuật: bàn về vai trò, nhiệm
vụ, chức năng của các loại hình nghệ thuật Sự nghiệp của Arixtốt được thực sự khởi đầu, từ những năm tháng ở học viện của Platon Trong thời kì này, Arixtốt đã phác thảo nên những tác phẩm đầu tay, dưới hình thức là các bộ biên khảo, mang ảnh hưởng của một phần nào phong cách của Platon, thời kì chín muồi về tư tưởng của Arixtốt, đồng thời cũng là thời kì ông để lại nhiều tác phẩm, đó là giai đoạn dạy học ở trường Licee Arixtốt quan niệm đạo đức phải gắn với chính trị
Năm là, quan niệm về bản chất con người của Arixtốt là quan niệm
rất lành mạnh, tất cả những lí tưởng đều có một căn bản thiên nhiên và tất
cả những cái gì thiên nhiên đều có thể nảy nở thành lí tưởng Arixtốt chấp nhận một cách thẳng thắn rằng mục đích trực tiếp của cuộc đời không phải
là cái hay, cái đẹp mà chính là hạnh phúc
Arixtốt thiên về chế độ quí tộc, mặt khác với tư cách là thầy học của một vị hoàng đế và chồng của một vị công chúa, Arixtốt không có lí do, để thiên thể thuyết dân chủ hoặc có cảm tình với giai cấp thương gia: túi tiền của chúng ta nằm ở đâu triết lí của chúng ta nằm ở đó Ông ước mong, tìm lại nền an ninh trật tự và hòa bình Ông cho rằng, cần phải chấm dứt những cuộc phiêu lưu chính trị, chỉ trong những tình thế ổn định con người mới có quyền quá khích
Con người lí tưởng của Arixtốt không làm việc nguy hiểm một cách
vô ích nhưng gặp trường hợp cần thiết, họ có thể hi sinh tính mạng, vì có nhiều lúc đời sống thật không còn đáng sống Họ sẵn lòng giúp đỡ kẻ khác nhưng nhận sự giúp đỡ một cách rất dè dặt, họ không tìm cách phô trương,
họ thẳng thắn nói lên những điều ưa và ghét, hành động một cách chân thật Arixtốt luôn luôn tìm sự mới lạ trong lĩnh vực chính trị, đi từ cải cách
Trang 32này đến cải cách khác
Sáu là, sự phê phán của Arixtốt đối với Platon là một đóng góp quan
trọng trong lịch sử triết học Mặc dù, đả kích Platon, Arixtốt cũng đi đến kết luận gần giống Platon, khi ông chủ chương rằng các tài sản trong xã hội cần phải đem ra sử dụng chung Ông bênh vực quyền sở hữu nhưng ông không thấy rằng, quyền sở hữu chỉ có ích đối với xã hội khi vật sở hữu, là những món đồ dùng cá nhân không quan trọng Trái lại khi quyền sở hữu
cá nhân liên quan đến các phương tiện sản xuất rộng lớn, nó sẽ đưa đến sự tập trung quyền hành quá mạnh và sự bất bình đẳng quá lớn Arixtốt đã đề
ra một loạt luận điểm quan trọng phản bác lại chủ nghĩa duy tâm của Platon Arixtốt thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, giới
tự nhiên là toàn bộ những sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động
và biến đổi Do đó, muốn giải thích thế giới vận động và biến đổi thì không
cần đến những “ý niệm” của Platon Như vậy, trong khi phê phán Platon,
Arixtốt đã chống lại những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa duy tâm nói chung Tuy nhiên, học thuyết của Arixtốt chưa vượt qua được những quan điểm thần học và mục đích luận và do đó mâu thuẫn với tất cả những cái
tiến bộ trong “khoa học bách khoa” của ông Chúng gần gũi với “đường lối Platon” và bộc lộ chủ nghĩa duy tâm của Arixtốt
Qua việc khái quát hóa những thành công của Arixtốt trong sự nghiệp nghiên cứu triết học của Ông, tác giả muốn tập trung làm rõ tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” và những tư tưởng về nhân cách của Arixtốt qua tác phẩm này
1.3.2 Giới thiệu chung về tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque”
1.3.2.1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Arixtốt là người nêu cao ngọn đuốc văn minh cho nhân loại đồng soi chung Ông đã đặt nền móng cho một hệ thống tư tưởng vững chắc và giúp
Trang 33cho các thế hệ tương lai dựa vào đó, để phát triển sự nghiên cứu, sưu tầm, tiến trên con đường tìm chân lí Một số tư tưởng của ông đã ngự trị trong lịch sử văn minh nhân loại hàng chục thế kỉ, trước khi bị lu mờ bởi những chứng minh khoa học Ông đã để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ, các tác phẩm của Ông lần lượt được phiên dịch trong suốt quá trình tiến triển của nhân loại, nhất là vào thế kỉ thứ 5, 10,13 và 15
Các công trình nghiên cứu của Arixtốt về đạo đức học bị ảnh hưởng quá nhiều của luân lí học Lí tưởng của Arixtốt thiên về một đời sống quá bình thản, quá ôn hòa, một đời sống mà người ta thường gán cho giai cấp thượng lưu ở Anh Một điểm đặc biệt là những tác phẩm về đạo đức học của Arixtốt được hai trường đại học Oxford và Cambridge dùng làm sách giáo khoa Nhiều thế hệ sinh viên Anh xem tác phẩm của Arixtốt như kinh nhật tụng
Trong các tác phẩm về lĩnh vực xã hội, phải kể đến các tác phẩm bàn
về chính trị, đạo đức, nghệ thuật Đặc biệt, tác phẩm giúp cho Arixtốt trở thành người đầu tiên xây dựng khoa học đạo đức trở thành hệ thống trong
lịch sử, đó là tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” Tác phẩm trình bày
một cách có hệ thống về các khái niệm, phạm trù của đạo đức học cũng như mối quan hệ giữa đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, kinh tế, nghệ thuật
Tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” của Arixtốt là tác phẩm
nổi tiếng, chứa đựng nhiều tư tưởng triết học và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới
sự phát triển, của tư duy triết học và học thuyết chính trị của nhân loại Trong tác phẩm này, ông đã thể hiện một phong cách riêng của mình khi trình bày các quan điểm, các ý tưởng Theo một số nhà nghiên cứu về văn bản học (Werner Joeger, Bekker, F,G,Kenyon…), văn phong của Arixtốt không bóng bẩy, thi vị như của Platon nhưng đó là một thứ văn chương
Trang 34mang tính chính xác và khoa học, dù vấn đề được đề cập có khó khăn hay thuộc bất cứ lĩnh vực phức tạp nào Có thể nói, Arixtốt đã cống hiến suốt
cả cuộc đời cho sự nghiệp khoa học, mà một trong những minh chứng hùng hồn nhất cho sự nghiệp vĩ đại của ông, chính là di sản đồ sộ của các công trình nghiên cứu mà ông để lại, trong đó phải kể đến những di sản trong lĩnh vực đạo đức học
Tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” mà luận văn sử dụng làm
tài liệu nghiên cứu, là tác phẩm do Lê Tôn Nghiên, Lá Bối, dịch ra tiếng Việt năm 1974, nhà xuất bản Sài Gòn Tuy việc dịch từ bản gốc sang nhiều thứ tiếng khác nhau rất có thể làm sai lệch một số tư tưởng của Arixtốt, song những nội dung cơ bản, cốt lõi vẫn được thể hiện đầy đủ trong bản dịch của Lê Tôn Nghiêm, Lá Bối Đây cũng là bản dịch được giới chuyên môn đánh giá cao và dùng phổ biến khi nghiên cứu về Arixtốt ở Việt Nam hiện nay Nội dung trọng tâm và xuyên suốt của tác phẩm là bàn về vấn đề đạo đức, trong đó làm rõ nội dung về đức hạnh, tính công bằng, tiết độ và
vô tiết độ, tình thân hữu và lạc thú, mối quan hệ thống nhất và đối lập giữa lạc thú, hạnh phúc, tiết độ và vô tiết độ Muốn xây dựng một nhà nước công bằng và một công dân có đức hạnh chân chính thì phải làm thế nào?
Tác phẩm “Đạo đức học của Nicomque” của Arixtốt là sự hòa quyện giữa
triết học và văn học ở mức độ cao nhất, đã khiến nó trở thành một tác phẩm kinh điển vô tiền, kháng hậu trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại
Trước khi nghiên cứu tư tưởng nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm
“Đạo đức học của Nicomaque”, cần phải phác hoạ những đường nét chính
về kết cấu và nội dung cơ bản, nhằm đưa ra bức tranh chung của tác phẩm Đồng thời giúp cho việc nghiên cứu được sâu sắc và đảm bảo được tính logic trong quá trình tìm hiểu tư tưởng của Arixtốt về nhân cách
Trang 351.3.2.2 Nội dung của tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” Tác phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” mà luận văn sử dụng làm
tài liệu nghiên cứu gồm 399 trang, được viết theo từng chuyên đề Tác phẩm được chia thành 10 quyển Nội dung cơ bản đi vào năm vấn đề sau:
Nội dung thứ nhất là, Điều thiện và hạnh phúc
Đây là nội dung cơ bản của tác phẩm Tác giả dành quyển thứ nhất,
nêu lên khái niệm về điều thiện “là cái gì khiến trong mọi trường hợp, người ta hướng về đấy” [4, tr.21] Đây là một định nghĩa căn bản trong
triết học Arixtốt Khi hành vi có mục đích, người ta mong muốn mục đích
ấy, còn mục đích khác chỉ được theo đuổi vì mục đích trên, chúng ta cũng không quả quyết hành động trong mọi trường hợp, mục đích cuối cùng có thể là điều thiện Chẳng hạn, để luận giải một vấn đề tổng quát, phải có học vấn phổ thông, thiếu niên ít khả năng để học chính trị, vì thiếu kinh nghiệm
về việc đời Mục đích của chính trị không phải là kiến thức thuần tuý mà là
sự thực hành
Khi đề cập tới vấn đề hạnh phúc, Ông cho rằng những vấn đề quyết định tự do đều nhằm điều thiện nào đó, mục đích của chính trị và hoạt động của chúng ta là hạnh phúc Hạnh phúc hỗn hợp đồng nhất với đức hạnh nhưng chỉ định hạnh phúc là mục đích cuộc đời, hạnh phúc là điều tốt Nguyên tắc của hạnh phúc không nhờ những kết luận của chúng ta mà còn nhờ dư luận thông thường… Khái lược một cách tổng quát về hạnh phúc,
vì coi hạnh phúc là mục đích của hành vi loài người
Trong xã hội có 3 cách sống thượng đẳng: lối sống thứ nhất, quần chúng và những người thô tục để hạnh phúc trong khoái lạc Lối thứ hai, giới
thượng lưu và những người hoạt động để hạnh phúc trong danh vọng, bởi vì chính đó là mục đích cả đời chính trị…đối với những người đấy, tài trí là điều
thiện tối thượng Lối sống thứ 3, có mục đích là sự chiêm ngưỡng Điều thiện
Trang 36chân chính có tính cách cá nhân và không thể mất nơi người chấp hữu
Điều thiện có nhiều phạm trù như thực thể, thực vật, là bản thể, điều thiện tối thượng là trời và trí tuệ, là phẩm thì điều thiện là những đức hạnh;
là lượng thì là sự chừng mực đúng đắn; là tương quan thì là sự ích lợi, trong thời gian thì là cơ hội, trong không gian thì là những miền mỹ tục
Chúng ta có thể chia điều thiện làm 3 loại: điều thiện bề ngoài, điều thiện của tâm hồn hay tâm thiện, điều thiện của thân thể hay thể thiện
Nói tóm lại, tác phẩm đề cập tới điều thiện và hạnh phúc, phân tích các phạm trù liên quan và mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa điều thiện và hạnh phúc Cuối cùng hạnh phúc, như một tặng phẩm của thần linh, hạnh phúc là điều thiện quý báu nhất, loại bỏ yếu tố duy tâm trong quan niệm về điều thiện và hạnh phúc của Arixtốt thì đây là cơ sở, nền tảng quan trọng trong tư tưởng về nhân cách của Arixtốt trong tác phẩm này
Nội dung thứ hai, Arixtốt đề cập tới là đức hạnh, các đức hạnh và những đức hạnh thuộc về trí tuệ
Đức hạnh là nội dung chính của tác phẩm, được tác giả dành bốn quyển, để đi sâu phân tích các khía cạnh một cách cụ thể nhất, đầy đủ nhất Trước tiên tác giả làm rõ khái niệm đức hạnh, các loại đức hạnh và cuối cùng đề cập đến những đức hạnh thuộc về trí tuệ Đức hạnh hiện ra dưới hai vẻ, một vẻ trí tuệ, một vẻ luân lý; đức hạnh trí tuệ một phần lớn tự học thức mà ra, cần học thức để biểu lộ và phát triển, cho nên đòi hỏi sự thực hành và thời gian, còn đức hạnh luân lý là con đẻ của thói quen tốt Đức hạnh là một sự trung bình, nó là trung tâm giữa hai thói xấu, cái này vì thái quá, cái kia vì bất cập, bản chất của nó bắt nguồn ở chỗ nó nhằm sự quân bình ở nhiệt tình cũng như ở hành vi Các đức hạnh mà tác phẩm đề cập tới
ở con người đó là: tính quảng đại, lòng e lệ, lối cư xử… tính đại độ là một thứ trang sức gồm tất cả đức hạnh, tính dịu dàng là sự chừng mực đứng đắn
Trang 37giữa những tính khi tức giận Có 3 thái độ trung bình, thái độ thuộc sự thực, hai thái độ về niềm du khoái trong đó thái độ phát lộ trong cuộc tiêu khiển và thái độ kia trong những thế sự khác [4, tr.161- tr.164]
Ngoài những đức hạnh kể trên, Arixtốt còn dành cả quyển 6 nói về những đức hạnh thuộc về trí tuệ Nghiên cứu về tâm hồn, có ba yếu tố quyết định một cách tối cao, hành vi và chân lí; cảm giác, tư tưởng, khuynh hướng Chỉ ra năm loại hoạt động nhờ đó tâm hồn diễn đạt được chân lí hoặc bằng sự khẳng định hoặc bằng sự phủ định Sự phân biệt giữa sự sáng tác và sự hành động là cốt yếu trong triết lí của Arixtốt Đặc tính của hai phần hồn, có liên quan với trí tuệ và chân lí, đối tượng của khoa học chứng minh được, còn đối tượng của nghệ thuật là sự khôn ngoan
Ông kết luận người nào có sự sâu sắc và sự sáng suốt, thì người ấy thông minh và minh mẫn Triết gia phân biệt chính nhân và thiện nhân và
đề cao thiện nhân; phân biệt sự khôn ngoan và sự khôn khéo và đề cao sự khôn ngoan
Arixtốt đề xuất ba tiêu chí để phân biêt người đạo đức: đầu tiên người đạo đức biết họ đang hành xử một cách đúng đắn, thứ hai, họ chọn
để hành xử theo cách phù hợp với lợi ích của việc đạo đức và thứ ba, hành
vi của họ thể hiện như là một phần của một cố định, bố trí đạo đức Sau khi kiểm tra đạo đức trong trừu tượng, Arixtốt kiểm tra từng nhân đức đặc biệt Trong phẩm chất nhân đức, Arixtốt đề cập rõ:
Một là, Arixtốt đề cập tới là lòng can đảm
Lòng can đảm được Arixtốt định nghĩa là thái độ thích hợp với sự sợ hãi Can đảm không có nghĩa là không sợ hãi, như có một số điều chẳng hạn, sự xấu hổ hay sự tàn bạo đối với gia đình của một người, mà người ta phải lo sợ
Hai là, tính tiết độ
Trang 38Lòng can đảm và tính tiết độ, hai đức tính này đều thuộc về phần tâm hồn, không thuộc lí trí, nó trung dung Người tiết độ, phải có sự hòa hợp giữa tâm hồn, sở thích, ý chí và theo đuổi mục đích là điều thiện Tác giả đưa ra luận điểm để trở nên một người công bình, phải chăng cần thực hành sự công bình, sự tiết độ để trở nên một người tiết độ Chúng ta suy luận về cái gì tuỳ thuộc chúng ta và chúng ta có thể làm được Con người là nguyên lý hành vi của mình, vì hành vi bị chi phối bởi kết quả
Ba là, tính công bằng
Tác phẩm đi sâu nghiên cứu tính công bằng và thói bất công, tìm xem nó liên quan đến những hành vi nào? Để tìm hiểu xem đến độ bất công nào, người ta thành ra bất công trong mỗi loại hành vi bất công, nhận thấy trong chính trị pháp, tất cả đều có cái đặc tính, là được ấn định bởi những luật lệ hay thay đổi, nhận thấy nguồn gốc khác nhau của luật lệ Hành vi bất công hay công bằng, được định nghĩa do tính cách hữu ý hay vô ý Một câu hỏi nữa, lại được đặt ra trong tác phẩm, con người có thể chịu đựng sự bất công một cách hoàn toàn vui lòng hay không? Và người ta có thể phạm lỗi bất công với chính mình không? Đây là câu hỏi không hề đơn giản, để trả lời vấn đề này, thứ nhất chúng ta quan tâm về vấn đề chính trị và xã hội, bàn về hình thức của tính công bằng, điều bất công, sự công bằng là một mực trung dung, điều công bằng ở cách ngang nhau mối lợi và sự thiệt; thứ hai tìm hiểu về giá trị của tiền, tiền có thể coi là một vật trung gian, nó ảnh hưởng to lớn tới các giá trị xã hội cũng như sự hình thành, phát triển nhân cách con người và cuối cùng là xem xét mối tương quan giữa sự tương bình
và sự công bình
Bốn là, vô tiết độ và lạc thú
Ở quyển ba, tác giả đề cập tới bản tính của đức hạnh là tính tiết độ, để
đi sâu phân tích làm rõ tính tiết độ, chúng ta nghiên cứu đức tính đối lập với
Trang 39nó là tính vô tiết độ và lạc thú mà tác giả đề cập ở quyển bẩy và quyển mười
Khi đề cập đến sự vô tiết độ tác giả bàn về phong tục của quốc gia,
có ba thói xấu phải tránh: sự ác nghiệt, sự vô tiết độ và thú tính Nêu quan
điểm của Xôcrat đả kích ý tưởng, người ta có thể tỏ ra vô tiết độ một cách
ý thức, Ông cho rằng nguồn gốc duy nhất của đức hạnh là tri thức, của tệ tính là vô tri Người vô tiết độ cho rằng, cần tìm kiếm những khoái lạc thể xác vì không trái với luân lí đạo đức; kẻ bất tự chủ không dám nghĩ thế Khi người ta phạm tội phải xem xét, người ta phạm lỗi một cách có ý thức hay vô thức Sự không tự chủ và sự tự chủ cùng với sự vô tiết độ và sự tiết
độ, chỉ hướng hành động tới những đối tượng đồng nhất
Triết gia đưa ra khái luận về lạc thú, nói tới cái gì làm hoàn bị vẻ đẹp
và sự hoàn bị hỗ tương giữa vẻ đẹp này Đồng thời phân biệt hai loại lạc thú lạc thú cần thiết và đáng ước mong Những tư tưởng của Arixtốt về lạc thú đã gây nhiều lời phê bình Triết gia chỉ định điều thiện theo hai cách: Tuyệt đối và tương đối với một người
Năm là, tình thân hữu
Arixtốt tập trung đề cập ở quyển tám, quyển chín của tác phẩm Triết gia nói về tình thân hữu là một đức hạnh và có ba thứ tình thân hữu cũng như ba thứ đức tính khả ái Những điều kiện cốt yếu để tình thân hữu có thể tồn tại, là người ta tìm thấy trong những cuộc giao thiệp thân tình, cùng một thứ lợi ích Ông cho rằng ý niệm về tình thân hữu chân chính, là cả hai thân hữu đều đó, đều nhận bằng nhau về tình yêu mến cũng như về sự giúp
đỡ Cho nên có thể phân biệt được, những tình cảm yêu thương căn cứ vào một hình thức của tình thân hữu sinh ra ở tình bằng hữu Nói đến công bình, là nói đến tỷ lệ, chứ không phải nói đến sự bình đẳng tuyệt đối, sự tôn kính của kẻ dưới đối với người trên và được cụ thể hoá bằng những vinh hiệu, nên sự tôn kính ấy có thể biểu lộ nhiều ít tuỳ theo năng lực mỗi người
Trang 40Trong phần này, Arixtốt còn đề cập tới ba chính thể: chính thể quân chủ và chính thể quý tộc và chính thể cộng hoà
Sự phân tích niềm vui sướng của lương tâm, cũng như sự phân tích
kế tiếp về những nỗi đau buồn kèm theo những hành vi xấu, khiến chương bốn quyển chín, là một trong những chương hay nhất của tác phẩm Khi ta nhìn nhận đời sống là một điều thiện hảo, một lạc thú là ngụ ý nhìn nhận cần thân hữu Vì không thân hữu, đời sống không hoàn toàn là một điều thiện hảo, một lạc thú Vậy lòng khoan hảo, bắt nguồn ở đức hạnh và sự lương thiện Tư tưởng mà triết gia cho rằng, trong đời sống chung, sự sống phát lộ thành hành vi, hoạt động nhiều hơn trong đời sống cô đơn; trong đời sống này, người ta chiêm ngưỡng, trầm tư mặc tưởng nhiều hơn
Có thể nói, từ việc phân tích toàn bộ các nội dung cơ bản của tác
phẩm “Đạo đức học của Nicomaque” là cơ sở nền tảng quan trọng cho việc
khái quát những tư tưởng đầu tiên của Arixtốt về nhân cách ở chương 2 của luận văn