Hai cuộc đổi mới từ Tiền Lê sang Lý, từ Lý sang Trần đã thành công trong việc chuyển giao quyền lực chính trị, cuộc cải cách của Khúc Thừa Dụ cũng đã giành được những thắng lợi cơ bản, t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TUYỀN
PHẠM VĂN ÂN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ QUÝ LY
VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu tài liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác luận văn
Phạm Văn Ân
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
6 Những đóng góp khoa học của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ QUÝ LY 10
1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cuối triều Trần 10
1.2 Con người và kinh nghiệm hoạt động chính trị của Hồ Qúy Ly 25
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ QUÝ LY 39
2.1 Tư tưởng đức trị kết hợp với pháp trị 39
2.2 Tư tưởng củng cố quyền lực theo hướng tập quyền 53
2.3 Tư tưởng cải cách toàn diện, lấy cải cách kinh tế làm trọng tâm 62
Chương 3: Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ HỒ QUÝ LY ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 75
3.1 Ý nghĩa đối với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 75
3.2 Ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới 82
3.3 Ý nghĩa về xây dựng sức mạnh lòng dân 85
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tư tưởng chính trị là một trong những hình thái của ý thức xã hội Tư tưởng chính trị luôn phản ánh thực tiễn chính trị ở một giai đoạn lịch sử nhất định Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, lịch sử suy cho cùng là lịch sử của vận động và đấu tranh giai cấp Từ quá trình vận động của đấu tranh giai cấp
đó dẫn đến sự vận động không ngừng của các quan hệ kinh tế, chính trị xã hội trong mỗi một giai đoạn lịch sử của các khu vực chính trị cũng như mỗi quốc gia dân tộc Nghiên cứu về tư tưởng chính trị cho chúng ta thấy những tri thức
cơ bản về quá trình phát sinh, phát triển, điều kiện kinh tế xã hội và các quan
hệ chính trị trong một giai đoạn lịch sử nhất định, tìm ra các quan hệ, quy luật hay những vấn đề có tính quy luật của đời sống chính trị, giá trị và những hạn chế từ đó có thể gợi mở, vận dụng trong thực tiễn hoạt động chính trị Đồng thời qua nghiên cứu tư tưởng chính trị đánh giá được vị thế, vai trò của quốc gia, dân tộc trong tiến trình phát triển trong mối quan hệ chung của lịch sử và
tư tưởng chính trị thế giới
Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều biến cố thăng trầm và đã sớm khẳng định vị thế quốc gia, dân tộc mình trên thế giới Trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, sự thiết lập quyền thống trị, thịnh vượng, suy vong của các triều đại phong kiến diễn ra theo các quy luật lịch sử nhất định Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử đều có những nhân vật kiệt xuất, những nhà tư tưởng, những nhà chính trị mà tư tưởng và hoạt động chính trị của họ để lại nhiều giá trị cho chúng ta tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và vận dụng thực tiễn công cuộc đổi mới
và xây dựng đất nước hiện nay
Lịch sử Việt Nam từ khi dựng nước cho đến nay có nhiều nhà tư tưởng chính trị lỗi lạc mà tư tưởng và quá trình hoạt động chính trị của họ đã được lịch sử khẳng định Đặc biệt là vào những thời khắc lịch sử quyết định đến sự
Trang 5tồn vong của một lực lượng chính trị, thì tư tưởng chính trị tiên phong và hoạt động chính trị của người thủ lĩnh trong thời khắc lịch sử đó có ý nghĩa quyết định đến sinh mệnh chính trị của cả một lực lượng chính trị, chế độ chính trị Xét trong lịch sử Việt Nam giai đoạn từ khi giành quyền độc lập tự chủ cho đến 1945 đã có rất nhiều cuộc cải cách, đổi mới nhằm hoàn thiện bộ máy nhà nước và các chính sách cai trị Đặc biệt là từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV, qua năm thế kỷ phát triển từ các phương thức sản xuất tiền phong kiến sang phong kiến không phải trải qua một cuộc cách mạng vũ trang nào, nhưng lại qua các cuộc cải cách, đổi mới có hiệu quả Mà đặc biệt là hai cuộc cải cách (của họ Khúc và nhà Hồ) và hai cuộc đổi mới (từ Tiền Lê sang Lý, từ Lý sang Trần)
Các cuộc đổi mới, cải cách trên đều nhằm giải quyết những khủng hoảng xã hội, củng cố lại bộ máy nhà nước, xây dựng xã hội tiến bộ Hai cuộc đổi mới (từ Tiền Lê sang Lý, từ Lý sang Trần) đã thành công trong việc chuyển giao quyền lực chính trị, cuộc cải cách của Khúc Thừa Dụ cũng đã giành được những thắng lợi cơ bản, tạo ra được bước phát triển tích cực của
xã hội phong kiến Việt Nam, thì cuộc cải cách của Hồ Quý Ly cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV còn một số hạn chế nhất định Tuy nhiên, tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly có vị trí đặc biệt đã tạo điều kiện cho việc xác lập một thể chế chính trị mới, mạnh dạn đổi mới về kinh tế, hành chính, quân sự, quốc phòng và nhiều lĩnh vực khác Cuộc cải cách của ông đang thực hiện còn giang dở nhưng có ý nghĩa rất lớn để chúng ta tiếp tục tìm tòi khám phá
Công cuộc đổi mới, cải cách của chúng ta hiện nay đã kế thừa truyền thống của cha ông, rút ra những kinh nghiệm từ lịch sử dân tộc và thế giới, phát huy đến cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, nắm vững quyền dân tộc tự quyết tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước ta hội nhập và phát triển Trong kho tàng lịch sử tư tưởng chính trị và hoạt động chính trị của các thủ lĩnh chính trị thì Tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly có ý nghĩa đặc biệt
Trang 6Hồ Qúy Ly không chỉ dừng lại ở nhà tư tưởng mà còn là con người chính trị, các tư tưởng về đổi mới, cải cách toàn diện mọi mặt và quá trình ông thực thi tư tưởng đó để lại cho chúng ta nhiều bài học có giá trị lịch sử đặc biệt
là trong mối quan hệ tiếp tục thực hiện công cuộc Đổi mới hiện nay
Việc nghiên cứu tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly có thể cung cấp một cứ liệu khoa học lịch sử tư tưởng chính trị, bổ sung làm rõ hơn nữa một nội dung quan trọng của Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, đó là xu hướng đổi mới và xây dựng nhà nước trung ương tập quyền Đặt trong mối quan hệ giữa công cuộc Đổi mới được Đảng ta thực hiện từ năm 1986 đến nay đã đạt được thành tựu trên các lĩnh vực từ đổi mới tư tưởng, thể chế chính trị, đến các hoạt động quân sự, ngoại giao, kinh tế nhưng cũng còn rất nhiều thách thức, khó khăn vì vậy việc tìm tòi trong lịch sử các cuộc đổi mới, canh tân của Việt Nam trong đó
có tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly là cần thiết và có ý nghĩa
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp, hoạt động chính trị và tư tưởng cải cách, đổi mới của Hồ Qúy Lý đã được nhiều học giả nghiên cứu từ rất sớm,
có nhiều công trình khoa học tiêu biểu về các mảng, các lĩnh vực khác nhau
Có nhiều bài viết của các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về Hồ Qúy
Ly Đồng thời ở Việt Nam đã tổ chức các Hội thảo nghiên cứu sâu sắc các vấn đề về tư tưởng, hoạt động, công cuộc đổi mới do ông tiến hành Nghiên cứu về Hồ Qúy Lý là đề tài lớn đã được nhiều nhà nghiên cứu về khoa học xã hội, tư tưởng chính trị, quân sự, các nhà sử học bàn đến, với nhiều công trình nghiên cứu được công bố:
Những năm 1960 – 1961 Trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử đã có nhiều bài viết đánh giá về các nhân vật lịch sử như Hồ Qúy Lý, Phan Thanh Giản,
Trang 7Nguyễn Trường Tộ … đặc biệt là Hồ Qúy Lý có nhiều vấn đề được đề cập đến như vấn đề về xây dựng tư tưởng chính trị, về cải cách, về xây dựng nhà nước tập quyền … các ý kiến đều khẳng định ông là người có tư duy đổi mới song vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều khác mà do hạn chế tư liệu, do chiến tranh nên chưa có đủ thời gian đề nghiên cứu, đánh giá xác thực hơn về nhân vật lịch sử Hồ Qúy Ly
Năm 1996, tác giả Phan Đăng Thanh - Trương Thị Hoà “Cải cách Hồ Quý Ly” NXB Chính trị quốc gia (1996) đã giới thiệu quá trình khủng hoảng
toàn diện cuối nhà Trần Cuộc đời, sự nghiệp Hồ Quý Ly và vương triều Hồ Cuốn sách còn đề cập tới công cuộc cải cách về các mặt: Chính trị, hành chính, kinh tế, xã hội, tư tưởng, văn hoá, tài chính, giáo dục, quản lý lãnh thổ, an ninh, quốc phòng, đồng thời cũng bàn luận về những hạn chế trong cải cách của Hồ Quý Ly, nguyên nhân sụp đổ của nhà Hồ
Năm 1996, Tác giả Pôliacốp, A.B “Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XIV”: Sách tham khảo, người dịch: Vũ Minh Giang - Viện lịch sử
quân sự Việt Nam (1996) Sách đã khái quát quá trình khôi phục nền độc lập của Đại Việt Diễn biến kinh tế - xã hội qua các triều đại Lý, Trần Chiến thắng vĩ đại của quân dân Đại Việt chống đế quốc Nguyên - Mông Sự phát triển của Đại Việt ở nửa đầu thế kỷ XIV, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nửa sau thế kỷ XIV, sự sụp đổ của nhà Trần và quá trình giành chính quyền của Hồ Quý Ly
Năm 1998,“Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam - Những gương mặt tiêu biểu”, NXB Văn hoá thông tin (1998), cuốn sách giới thiệu tư tưởng,
hoạt động đổi mới của các nhân vật lịch sử trước thế kỉ XIX như: Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Trịnh Cương, Bùi Sĩ Tiêm, Lê Quý Đôn, Quang Trung Nguyễn Huệ Các gương mặt cải cách đổi mới từ đầu thế kỉ XIX đến nay với cuộc cải cách cấp tỉnh dưới thời Minh Mạng, Nguyễn Công
Trang 8Trứ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ , Những người có vai trò lớn trong công cuộc đổi mới hiện nay như Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh
Năm 1998, Võ Xuân Đàn “Hồ Quí Ly nhà cải cách” NXB Giáo dục
(1998) sách đã sơ lược về tình hình xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV, Sự nghiệp chính trị, tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly với sự xuất hiện và kết thúc của nhà Hồ Đánh giá tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam
Năm 2000, tác giả Văn Tạo trong cuốn “Sử học và hiện thực”, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội (2000), tác giả đã khái lược quá trình Hồ Qúy Ly thay thế Nhà Trần và công cuộc cải cách Đến năm 2006 tác giả tiếp tục cho
ra mắt cuốn “Mười cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử Việt Nam” NXB Đại
học sư phạm (2006) tác giả đã khái quát và đánh giá 10 cuộc đổi mới, cải cách trong Lịch sử Việt Nam trong đó có cuộc cải cách của Hồ Qúy Ly Cuốn sách là công trình lý luận bàn về những phạm trù lịch sử và biện chứng cải cách, đổi mới và cách mạng, theo hướng tiếp cận sử học và hiện thực Nội dung chủ yếu đề cập về diễn biến, ý nghĩa của 10 cuộc cải cách trong lịch sử Việt nam: Cải cách của họ Khúc, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Trịnh Cương, Minh Mệnh, Nguyễn Trường Tộ, phong trào đổi mới đầu thế kỷ XX
Năm 2005, Khoa Chính trị học – Học viện Báo chí và Tuyên truyền Hà
Nội xuất bản cuốn “Chính trị học Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia – HN
2005, do GS,TS Dương Xuân Ngọc chủ biên, tập thể tác giả đã khái lược quá trình hình thành và phát triển thể chế chính trị Việt Nam từ thời dựng nước trong đó có thể chế chính trị nhà Hồ và công cuộc cải cách của Hồ Qúy Ly Tuy nhiên ở công trình này, nhóm tác giả chỉ đi sâu về mô hình thế chế, thiết chế chính trị Công cuộc cải cách của Hồ Qúy Ly và các vấn đề liên quan đến ông còn để ngỏ nhiều nội dung
Trang 9Năm 2006, tác giả Quốc Chấn cho tái bản lần thứ 2 cuốn “Những vua chúa Việt Nam hay chữ” sách đã trình bày những sự việc có thật và cả những
giai thoại liên quan đến lòng say mê học tập và khả năng thơ phú, văn chương thể hiện trong cuộc đời và sự nghiệp của 7 vị vua chúa nước ta: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Hồ Quý Ly, Tự Đức
Năm 2007, tác giả Nguyễn Khắc Thuần cho tái bản lần thứ 2 cuốn “Việt
sử giai thoại” NXB Giáo dục (2007) trong đó giới thiệu 36 giai thoại thời Hồ
và thời thuộc Minh: Hồ Quý Ly với đợt công phá đầu tiên vào triều Trần, số phận của Trần Thiêm Bình, vinh và nhục của Hồ Tùng,
Năm 2008, Vũ Ngọc Khánh tác giả cuốn“Người có vấn đề trong sử nước ta”, NXBVăn hoá Thông tin (2008) đã tìm hiểu lịch sử Việt Nam và một
số nhân vật lịch sử đã được sử sách ghi lại những hành động như phản bội tổ quốc, từ bỏ đất nước, có những ảnh hưởng xấu đến đất nước Việt Nam từ xưa tới nay: Lê Hoàn và Dương Vân Nga, Hồ Quý Ly, Gia Long,
Năm 2008, Phạm Hoàng Mạnh Hà tác giả cuốn“Hồ Quý Ly và thành Tây Đô”, NXB Văn hoá Thông tin (2008) sách giới thiệu những câu chuyện
lịch sử kể về Hồ quý Ly và thành Tây Đô trong lịch sử Việt Nam
Năm 2008, Hồ Sĩ Giàng, Trần Bá Chí, Lưu Đức Hạnh nhóm tác giả đã
xuất bản cuốn“Họ Hồ và Hồ Quý Ly trong lịch sử”, NXB Văn hoá Sài Gòn,
(2008), sách đã tập hợp các bài viết nghiên cứu về Hồ Quý Ly, đánh giá những công lao và vai trò của ông đối với lịch sử và đất nước cũng như bối cảnh lịch sử của đất nước trong thời điểm đó
Năm 2011, Nhóm tác giả Doãn Chính, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn
Quỳnh Anh trong cuốn “Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX”,
NXB Chính trị Quốc gia (2011) đã đề cập đến lịch sử tư tưởng của nước ta từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX: tư tưởng cải cách và pháp trị của Hồ Quý Ly, tư tưởng triết học và nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, tư tưởng triết học Lê Thánh Tông, tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì
Trang 10Nhậm đồng thời sách phân tích mặt tích cực và tiêu cực trong tư tưởng của các nhân vật lịch sử trên
Năm 2012, Phạm Văn Chấy trong cuốn “Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành đắp luỹ”, tái bản lần 3, có sửa chữa và bổ sung, Nxb Thanh Hoá
(2012) đã giới thiệu khái quát về dòng tộc, thân thế và sự nghiệp của Hồ Quý Ly cùng những câu chuyện xây thành đắp luỹ mãi lưu truyền cho tới ngày nay
Năm 2012, Nxb Thanh Hoá xuất bản cuốn “Thành nhà Hồ di tích và danh thắng”, của tác giả Lê Khắc Tuế Sách đã khái quát về Hồ Quý Ly và
thành nhà Hồ Vị trí địa lý, lịch sử, quy hoạch tổng thể, cấu trúc xây dựng và các giá trị di sản văn hoá của di tích thanh nhà Hồ - Thanh Hoá cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV
Ngoài ra, còn nhiều sách, báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học đã đăng tải nhiều nội dung về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng chính trị, hoạt động chính trị, tư tưởng cải cách của Hồ Qúy Ly
Có thể khẳng định Hồ Qúy Ly là nhân vật lịch sử đặc biệt thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa học lịch sử, nhà nghiên cứu tư tưởng … Các công trình nghiên cứu độc lập kể trên nghiên cứu các mảng vấn đề khác nhau trong hoạt động của Hồ Qúy Ly, nhấn mạnh công cuộc cải cách do ông tiến hành, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu tư tưởng chính trị và hoạt động cải cách của ông dưới góc độ của chính trị học Tác giả luận văn trên cơ sở nguồn tài liệu trên và các tài liệu khác có liên quan, kế thừa nghiên cứu của các học giả đi trước tiếp tục nghiên cứu tư tưởng chính trị của Hồ Qúy Lý dưới góc độ của chính trị học
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
+ Mục dích nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị của Hồ Qúy Ly, từ đó rút ra ý nghĩa, vận dụng đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 11+ Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Với mục đích xác định trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, xã
hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thể kỷ XV như là những cơ sở, tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Qúy Ly
Thứ hai: Luận văn nghiên cứu những nội dung chính trong tư tưởng Hồ
Qúy Ly
Thứ ba: Ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Qúy Lý đối với công cuộc
đổi mới và xây dựng đất nước hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Đối tượng nghiên cứu
Luân văn tập trung nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Hồ Qúy Lý và rút ra ý nghĩa của tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly đối với công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước hiện nay
+ Phạm vi nghiên cứu
Luân văn tập trung nghiên cứu tư tưởng chính trị của Hồ Qúy Ly Trong đó đi sâu nghiên cứu vào giai đoạn Hồ Qúy Lý giành quyền lực chính trị, thiết lập vương triều Hồ, xây dựng đất nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, quyền lực, và hoạt động chính trị của thủ lĩnh chính trị
Đồng thời luận văn cũng kết hợp các phương pháp khác đề nghiên cứu
và hoàn thiện nội dung luận: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp Lôgic – lịch sử hệ thống hóa, khái quát hóa …
Trang 126 Những đóng góp khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly, đánh giá làm rõ những giá trị lịch sử cũng như ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 13Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ HỒ QUÝ LY 1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cuối triều Trần
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chưa có một triều đại nào đạt được những thành tựu rực rỡ cũng như có được những trang sử oai hùng như triều Trần Vương triều Trần - một một vương triều có bề dày trong lịch sử phong kiến Việt Nam Với 174 năm trị vì (1226 - 1400) trải qua 12 đời vua, triều Trần
đã đạt đến sự thịnh vượng về kinh tế, ổn định về chính trị, vững mạnh về quân sự đặc biệt là với chiến công hiển hách ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược Vương triều Trần trên thực tế đã tạo dựng được sức mạnh quốc gia tổng hợp vô cùng to lớn mà không có mấy triều đại nào trong thời kỳ phong kiến Việt Nam có được Với những thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực từ kinh
tế, văn hóa, chính trị, quân sự dưới triều Trần… đã nâng cao tinh thần dân tộc, vị thế quốc gia trong quan hệ bang giao với các nước trong khu vực
Nhưng những thành quả ấy chỉ kéo dài đến thời vua Trần Minh Tông (1314 - 1329), và cũng từ đây xã hội Việt Nam bắt đầu bộc lộ những rối ren, những tiêu cực, báo hiệu một cuộc khủng hoảng trầm trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội đã bắt đầu Sau một thời gian dài phát triển cực thịnh, nhà Trần bắt đầu suy vong Đó là một quá trình lịch sử kéo dài gần nửa thế kỷ, ở đó có sự đấu tranh mạnh mẽ giữa cái mới và cái cũ, giữa tương lai và quá khứ, giữa sự thắng thế của cái mới là một tất yếu khi mà cái
cũ ngày càng trở nên già nua, đi ngược lại quyền và lợi ích dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước
- Khủng hoảng kinh tế - xã hội
Cuộc khủng hoảng của nhà Trần bắt nguồn chính sách ruộng đất Trong
xã hội phong kiến Việt Nam giai đoạn này công thương nghiệp chưa phát triển
Trang 14mạnh mẽ, sản xuất công nghiệp chưa hình thành, việc khai thác khoáng sản hầu như chưa có nên ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và thuế khóa là nguồn thu duy nhất để duy trì hoạt động của bộ máy phong kiến Nguồn thu thuế từ ruộng đất đã đem lại nguồn lợi ổn định cho phép vương triều hoạt động trong thời gian dài Tuy nhiên đến giữa thế kỷ XIII, do những khó khăn về kinh tế Nhà Trần đã thực hiện tư hữu hóa ruộng đất
Việc tư hữu hóa ruộng đất đã được nhà nước thực hiện vào cuối thế kỷ XIII Năm 1254, nhà nước “bán ruộng công, mỗi diện là năm quan tiền cho phép nhân dân mua làm ruộng tư” [13,tr23] Với chính sách này, địa chủ bình dân ngày càng phát triển, có tác dụng phần nào giải quyết tình hình xã hội Quan hệ địa chủ với nông nô tương đối nhẹ và thân phận nông nô tương đối
tự do hơn đã trở thành những tiến bộ của quan hệ xã hội
Năm 1266, nhà vua cũng “xuống chiếu cho vương hầu quý tộc, công chúa, phò mã, cung tần tập hợp dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ
để khai khuẩn ruộng bỏ hoang thành điền trang Vương hầu có điền trang thực
sự bắt đầu từ đây” [13,tr.33] Với chính sách này phong kiến quý tộc nhà Trần đua nhau tìm mọi cách cướp ruộng đất công, ruộng đất của nông dân để mở rộng điền trang của chúng Người nông dân cày cấy trong điền trang bị bóc lột tàn tệ Một số gia nô phụ trách sản xuất cũng bị đẩy vào cảnh bị cùng cực, đói khổ Lực lượng sản xuất bị phá hoại trầm trọng ngay trong các điền trang Trong khi đó sự bành trướng của các điền trang lại làm thu hẹp lực lượng sản xuất của nhà nước trung ương, cho nên cuối cùng sự bành trướng đó đã trở thành một thế lực gây trở ngại chung cho sự phát triển kinh tế xã hội
Bên cạnh việc thực hiện tư hữa hóa ruộng đất, chế độ công hữu về đất đai vẫn được thực hiện: Đại thể ruộng đất dựa trên chế độ sở hữu lớn của nhà nước bao gồm ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý, hay phong cấp và ruộng đất công giao cho làng xã quản lý Trong tình hình đó, người nông dân lao động trên ruộng công khẩu phần và ruộng tư của mình với tư cách là thần
Trang 15dân có nghĩa vụ nộp tô thuế cho nhà nước Một bộ phận không dân không nhỏ
có ruộng, chịu sự bóc lột trực tiếp của nhà nước Như vậy nhà nước quân chủ tập quyền với chủ sở hữu lớn nhất về ruộng đất và địa chủ các loại kết hợp thành giai cấp thống trị, bóc lột lao động của nông dân, nông nô, nô tỳ dưới hình thức tô thuế, địa tô và các hình thức bóc lột kinh tế khác Với sự xuất hiện của hai hình thức sở hữu ruộng đất trong xã hội là nguyên nhân căn bản gây lên mọi biến động của xã hội và xuất hiện những mâu thuẫn tiếp theo
Vào thời kỳ này, kinh tế hàng hóa tiền tệ đã manh nha hình thành phát triển ở mức độ nhất định và mang tính đặc thù Chế độ nô lệ gia đình, chế độ điền trang thái ấp của quý tộc và việc bảo tồn ruộng đất công hữu đã khiến cho thành phần kinh tế tư hữu tăng lên, kinh tế hàng hóa, tiền tệ, nội ngoại thương phát triển lên một bước nhất định
Sử cũ viết: Mọi thứ đều đã được quy ra tiền, người ta không còn sử dụng hình thức hàng đổi hàng nữa mà sử dụng bằng tiền Năm 1357, giá một thăng gạo trị giá là một tiền và năm 1358 vua “xuống chiếu khuyến khích nhà giàu các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo, các quan địa phương tính toán
để trả lại cho người giàu tiền tương ứng với số thóc bỏ ra”, nội thương phát triển, buôn bán cũng phát triển, có nhiều người phát tài nhờ buôn bán và những người giàu sang được mời đánh bạc với vua quan, tầng lớp thương nhân phát triển, cũng có lối sống xa hoa như quý tộc nhà Trần
Lúc này, đồng tiền đã trở lên có sức mạnh nghê gớm, nó có khả năng làm thay đổi số phận, vị trí của con người trong xã hội Sử chép: “Đời Minh Tông Ngô Dẫn, trại chủ xã Đại Lãi bắt được viên ngọc rết rất lớn đem đến Vân Đồn Các chủ thuyền buôn tranh nhau mua Một người chủ thuyền muốn có được vật lạ đó, đã dốc hết của cải để mua Ngô Dẫn do vậy trở lên giàu có Minh Tông đem con gái là công chúa Nguyệt Sơn gả cho Dẫn” [13,tr.141] Như vậy một nông dân nhờ cơ may và dựa vào sức mạnh của đồng tiền mà nhanh chóng được bước chân vào giới quý tộc Một ông
Trang 16vua coi trọng đồng tiền hơn cả số phận con gái mình thì người ta cũng dễ dàng hình dung ra xã hội đó như thế nào
Lịch sử cũng ghi: Danh tướng như Trần Khánh Dư đến lúc này gia cảnh cũng rơi vào cảnh túng thiếu Tình cảnh thất thế túng quẫn cũng đi buôn, ông buôn than và buôn nón mà cũng trở lên giàu có Vào thời điểm này, ngoại thương cũng phát triển bằng đường biển, có nhiều người nước ngoài vào nước
ta chủ yếu là mua các sản vật như ngọc trai hay sản vật lạ chứ không phải mục đích phát triển học hỏi kinh nghiệm kinh tế Điều đấy cũng dễ hiểu, vua quan chơi bời sa đọa không chú ý đến cả kinh tế nước nhà thì thiếu các chính sách phát triển ngoại thương là lẽ thường
Bên cạnh đó, để phục vụ duy trì bộ máy nhà nước, Nhà Trần thực hiện chính sách thuế má nặng Thuế dưới các triều đại phong kiến Việt Nam chủ yếu thu nhờ thực hiện hai đạo thuế là thuế đinh đánh vào nam công dân và thuế điền đánh thuế và người sử dụng ruộng còn công nghiệp và thương mại chưa phát triển nên chưa có nguồn thu thuế Từ khi thành lập đến trước đời vua Trần Phế Đế, việc thu thuế được căn cứ theo số ruộng sở hữu của mỗi người đánh lũy tiến tăng dần theo diện tích ruộng Nhưng đến năm 1378 vì kho tàng trống rỗng Đỗ Tử Bình đã đề nghị vua đánh thuế 3 quan tiền trên đầu đinh nam trong một năm không phân biệt có ruộng đất hay không và tăng thuế sử dụng ruộng đất Sử cũ đều nhận xét: Theo đề nghị của Đỗ Tử Bình vua Trần đã đánh thuế nặng hơn, việc tăng thuế lại gặp lúc mất mùa, đói khổ
… nên trong dân chúng đã gây nên nhiều ác cảm đối với Triều đình
Kinh tế hàng hóa đã manh nha hình thành, gặp chính sách thuế khóa nặng nề của nhà Trần càng bộc lộ rõ nét mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu phát triển của kinh tế hàng hóa đang diễn ra theo quy luật của nó với một bên
là quý tộc phong kiến nhà Trần quan liêu, trì trệ, ăn chơi sa sỉ, tham ô hối lộ,
nó đã trở thành chướng ngại của xã hội, một viên đá chắn ngang đường phát triển của dân tộc
Trang 17Kinh tế là nền móng cho phát triển chính trị xã hội, khi nền kinh tế khủng hoảng, khi mâu thuẫn trong kinh tế phát sinh thì tất yếu sẽ dẫn đến những khủng hoảng trong thể chế chính trị, xã hội và văn hóa tư tưởng Vì sự thay đổi của cơ sở hạ tầng bao giờ cũng kéo theo sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng đã được chứng minh rõ nét trong lịch sử
Đến cuối thế kỷ XIV, mâu thuẫn xã hội sâu sắc, loạn lạc trộm cướp, khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi, bất công trong xã hội ngày càng rõ rệt Một tầng lớp quý tộc ăn chơi sa đọa, vua quên việc nước, tướng quên việc quân, dân chúng thì đói ăn cùng cực, là cơ hội cho tầng lớp địa chủ tham ô hối
lộ, dựa cớ bóc lột nhân dân Cho nên dẫn đến tình trạng nước nghèo, dân đói nhưng vẫn có một khối lượng của cải lương thực dư thừa trong tầng lớp phú
hộ, địa chủ và quan chức Trong những năm 1354, 1362, nhà nước đứng đầu
là nhà vua đã xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo và số thóc đó bỏ ra của địa chủ được trả bằng tiền
Như vậy, nhà nước nghèo nhưng có một bộ phận địa chủ quan lại không nghèo, không có khả năng cứu nổi dân nghèo, nhà nước phải dựa vào tầng lớp nhiều thóc gạo – không phải ai khác ngoài tầng lớp địa chủ Đầu tiên nhà nước còn trả bằng tiền sau thì trả bằng chức tước
Trong những năm cuối thế kỷ XIV, đời vua Trần Dụ Tông lũ lụt, vỡ đê, hạn hán liên tiếp xẩy ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nông dân Các năm 1355, 1360, 1369, 1382, 1390, 1393 … đều có nước lũ tràn về, dâng cao làm vỡ đê, lúa thóc bị chìm ngập, nước cuốn trôi nhà cửa, người, trâu bò, gia súc bị chết rất nhiều, có năm sẩy ra động đất, có năm bị dịch sâu rầy phá hoại
… Nhà Trần tiếp tục duy trì và thực hiện chính sách thuế Đối với các triều đại Việt Nam cũng như các triều đại các nước Á Đông, vì công thương nghiệp chưa phát triển nên thu thuế để tăng cường công quỹ Thuế thu chủ yếu dựa vào thuế đinh và thuế điền Việc thu thuế được thực hiện theo số ruộng sở hữu của mỗi người, đánh lũy tiến tăng dần theo diện tích ruộng, chứ không căn cứ
Trang 18vào đầu người để đánh thuế đồng loạt nhau Đến năm 1378, vì kho tàng trống rỗng, Nhà Trần áp dụng cách đánh thuế của Nhà Đường “mỗi đinh năm nộp 3 quan tiền một năm không phân biệt có ruộng đất hay không” trừ binh lính [26,tr.37] Việc áp dụng thuế mới, tăng thuế gặp lúc mất mùa và hạn hán thiên tai đã gây lên nhiều ác cảm đối với triều đình, làm mất lòng dân, ít nhiều đã tác động xấu đến tình hình chính trị triều Trần và cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị
Từ khủng hoảng kinh tế kéo theo khủng hoảng xã hội
Giặc giã, cướp bóc, khởi nghĩa nông dân diễn ra liên tục Theo quy luật
xã hội “có áp bức tất có đấu tranh” để giải quyết mâu thuẫn hiện tại của xã hội Theo chính sử cuộc khởi nghĩa của Ngô Bệ nổ ra ở Yên Phụ vào năm
1344, với yết bảng “cứu giúp dân nghèo” đã chiếm lĩnh được một vùng rộng lớn từ Thiên Liêu đến Chí Linh Cuộc khởi nghĩa kéo dài 16 năm Một thời gian sau có cuộc nổi dậy của Tề, xưng là cháu ngoại của Trần Hưng Đạo, “Tề
tụ hợp bọn gia nô bỏ trốn của các vương hầu làm giặc”, giặc cướp đua nhau nổi dậy kéo dài hơn 10 năm
Những năm cuối triều Trần, những cuộc nổi loạn của gia nô, nô tỳ có
vẻ lắng hơn và không diễn ra ở diện rộng như giai đoạn Ngô Bệ khởi nghĩa Thời kỳ này chỉ có bốn cuộc nổi dậy đó là Nguyễn Bỗ dùng phép thuật tiếm hiệu xưng vương (1379); Nguyễn Thanh tự xưng là Linh Đức Vương (8/1389); Nguyễn Kỵ tụ tập cướp bóc tự xưng Lỗ Vương (9/1389); Và tháng chạp năm 1389 Nhà sư Phạm Sư Ôn ở Quốc Oai nổi dậy được nhân dân hưởng ứng đông đảo, tạo nên một lực lượng đáng kể, tạo lập quân đội đánh thẳng vào kinh thành Thăng Long, vua Thuận Tông phải bỏ kinh thành, sau 3 ngày Phạm Sư Ôn cũng với nghĩa quân mới rút khỏi khinh thành
Các cuộc khởi nghĩa trên đều sớm bị dập tắt, nhưng nhìn chung thời gian này những người cầm đầu các cuộc nổi dậy này đều xưng vương, xưng
Trang 19hiệu, thậm chí họ còn đánh vào kinh đô báo hiệu tình trạng rệu rã, suy sụp của
bộ phận đầu não trong bộ máy nhà nước quân chủ quý tộc nhà Trần
Bên cạnh đó, năm 1361, 1366 Chiêm Thành tấn công biên giới Đại Việt (khu Quảng Bình ngày nay), năm 1381 Chiêm Thành tấn công xâm lược, bằng đường biển, cướp phá quấy nhiễu vùng Diễn Châu …Trước đây, Chiêm Thành từng cống nạp cho Đại Việt nay tấn công quấy nhiễu biên cương, bờ cõi cho thấy Nhà Trần không còn đủ sức mạnh, uy tín đối với Chiêm Thành
Trong xã hội thời Trần gian đoạn này vấn đề phân hóa giai cấp cũng diễn ra mạnh mẽ
Tầng lớp nô tỳ ở Việt Nam xuất hiện từ thời Lý, song nhà Lý dùng nhiều biện pháp để hạn chế sự phát triển của tầng lớp nô tỳ cũng như hạn chế
sự bóc lột tầng lớp này Đến đầu thế kỷ XIII, tầng lớp nô tỳ lại có điều kiện phát triển cùng với sự phát triển của các thể lực vương hầu, quý tộc Nhà Trần Năm 1266, vua xuống chiếu cho phép họ hàng và những người thân tín được phép khai khẩn vùng đất mới, mở rộng điền trang không giới hạn và được phép nuôi nô tỳ không giới hạn Như vậy, điền trang càng nhiều, càng rộng thì đội ngũ nô tỳ càng đông, sự phát triển mạnh mẽ của chế độ điền trang thái
ấp đồng nghĩa với nó là sự mở rộng đặc quyền kinh tế và thế lực của tầng lớp thống trị thì kéo theo nó là sự phát triển nhanh chóng của tầng lớp nô tỳ - tầng lớp thấp hèn nhất trong xã hội phong kiến Việt Nam
Trong điều kiện đời sống kinh tế xã hội khó khăn, chiến tranh loạn lạc, thiên tai, dịch họa, mất mùa liên tục xẩy ra thì dân nghèo ngày càng nghèo thêm Sự nghèo đói và bần cùng hóa đễ đưa họ đến chỗ phải bán ruộng, bán nhà, bán thân, bán vợ đợ con … làm nô tỳ Giá nô tỳ thời ấy rẻ mạc, có lúc một người chỉ đổi lấy được 1 quan tiền, 1 quan tiền chỉ mua được 3 thăng gạo [26, tr.67] Nô tỳ là tầng lớp thấp kém nhất và bị bạc đãi nhất trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ, bị đối xử tàn tệ, bị coi là công cụ lao động, bị bóc lột
Trang 20thậm tệ, dã man, bị tách khỏi quần chúng nhân dân, bị thích chữ vào trán … ( Chiếu tháng Chạp năm Canh Tý – 1360) [26, tr.68]
Xã hội thời Trần lúc này hình thành hai giai cấp rõ rệt: Qúy tộc, vương hầu, địa chủ ngày càng có thế lực kinh tế; nông dân, nô tỳ ngày càng bị bóc lột thâm tệ Đồng thời lúc này ở xã hội thời Trần thể hiện rõ mâu thuẫn giữa hai giai cấp trên Giai cấp qúy tộc, vương hầu, quan lại, địa chủ, bộ phận quý tộc, vương hầu là lớp người có nhiều đặc quyền đặc lợi trong xã hội Họ được
sử dụng hai loại ruộng đất để khai thác làm giàu: Ruộng đất thái ấp do vua ban không phải là của riêng quý tộc tôn thất, do đó không có quyền thừa kế Loại thứ hai là điền trang được vua cho phép quý tộc tôn thất triệu tập dân phiêu tán để khai khuẩn ruộng hoang và ruộng đất do mua bán Giai cấp này
đã nắm vững cương vị chủ chốt ở triều đình, đó là quan hàm: Thái sư, Thái phó, Thái bảo… Bộ phận quan lại: do phải tăng cường quản lý bộ máy nhà nước mà nhà Trần mở rộng sử dụng người ngoài tôn thất giữ chức vị Bộ phận này không được phép lập điền trang nhưng vẫn có ruộng đất Bộ phận địa chủ không quan tước chiếm giữ một số lượng ruộng đất lớn, mỗi địa chủ ước cũng
có bốn mẫu đất trở lên Họ có mặt trong hàng ngũ chức sắc của làng xã, có uy thế về kinh tế chính trị ở địa phương
Giai cấp nông dân, nô tỳ, gia nô bị bóc lột thặng dư lao động thông qua các hình thức tô thuế, địa tô và những hình thức bóc lột khác Hai giai cấp này
có mâu thuẫn với nhau, đó là mâu thuẫn giữa một bên đi bóc lột và một bên là
bị bóc lột Mâu thuẫn giữa một bên chiếm số ít lại lắm giữ hết tư liệu sản xuất
và của cải của xã hội và một bên là đa số nhân dân lao động không có tư liệu sản xuất bị áp bức bất công
Bên cạnh mâu thuẫn giữa các tầng lớp quan lại trong giai cấp địa chủ,
đó là sự cách biệt giữa quý tộc tôn thất và quý tộc quan lại Qúy tộc tôn thất được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi rất nhiều so với quý tộc quan lại, chính hai gia cấp này cũng có những mẫu thuẫn góp phần tạo thêm những nguyên
Trang 21nhân gây mất ổn định xã hội Đồng thời trong nội bộ triều đình phong kiến nhà Trần, ngoài việc ăn tiêu xa xỉ, phá phách còn tỏ ra vô cùng thối nát Những cuộc tranh chấp quyền hành giữa các thế lực quý tộc, đã gây ra tình trạng chém giết lẫn nhau và cuối cùng làm suy yếu lực lượng của chính quyền trung ương
- Khủng hoảng chính trị
Khủng hoảng về chính trị nhà Trần bắt đầu bộc lộ khi vua Trần Dụ Tông lên ngôi Vua Trần Dụ Tông tức Trần Hạo là con thứ 10 của thượng hoàng Minh Tông lên ngôi vua năm 1341 do vua Trần Hiến Tông mất mà không có con Vua Dụ Tông lên ngôi lúc đó mới 6 tuổi Khi Thượng hoàng Minh Tông qua đời (1357) Dụ Tông không còn người kiềm chế, can dán, nhà vua bắt đầu “tự do” chìm đắm trong tửu sắc Vua tha hồ rượu chè, trụy lạc, xây cung điện, đào hồ chơi, đắp núi giả, biến cung đình thành sòng bạc, rượu, tiệc linh đình … đại Việt sử ký toàn thư có chép: Mùa hạ, tháng 4 vua gọi Bùi Khoan sang uống rượu, Khoan lập mẹo uống hết 100 thăng rượu được thưởng tước Hai tư, tháng 6 vua vì uống rượu quá say, liền sống sông tắm mà
ốm, tháng 5 năm 1362 ra lệnh cho vuơng hầu, công chua dâng các trò tạp kỹ cho vua xem, hay vua thưởng, vua còn tổ chức đánh bạc trong cung, mỗi tiếng đến 300 quan tiền … Việt sử thông giám cương mục khi nhận xét về vua Trần Dụ Tông có đoạn chép “Vua nghiên rựu, mê đàn hát, xa xỉ làm cung điện, lãng phí tiền dân, hoang dâm chơi bời … món gì Dụ Tông cũng mắc Cơ nghiệp nhà Trần sao khỏi suy được?” [35, tr.278]
Năm Kỷ Dậu 1379, Dụ Tông qua đời, Dương Nhật Lễ là con nuôi của anh trai ruột vua được truyền ngôi Nhật Lễ lên ngôi nhưng cũng đam mê tửu sắc, yến tiệc ngày đêm, muốn đổi lại họ Dương Thấy vậy tôn thất nhà Trần nhu nhược chốn lên mạn Đà Giang, sau họp nhau lại mà lấy lại ngôi vị Cuộc chính biến Dương Nhật Lễ kéo dài 17 tháng, ngôi vị nhà Trần suýt về tay họ Dương… qua đó cho thấy triều Trần đã khủng hoảng đến mức trầm trọng,
Trang 22mất vị thế, mất vai trò chính trị, có thế nói đến đây Nhà Trần tồn tại là nhờ vinh quang từ thế kỷ trước
Cuộc khủng hoảng chính trị nhà Trần còn kéo dài tiếp diễn đến các vua đời sau Năm 1370 vua Trần Nghệ Tông lên ngôi và ở ngôi vị 2 năm, sau đó ở ngôi vị Thái thượng hoàng 22 năm (1372-1394) Trên nguyên tắc, quyền lực tối cao thuộc về thượng hoàng Trần Nghệ Tông, nhưng thực tế trong quá trình nắm giữ quyền lực tối cao này có sự hiện diện của nhân vật Lê Qúy Ly Các đời vua sau như Trần Duệ Tông thì tự phụ tuy có tài cầm binh nhưng chủ quan nên thất bại tại chiến trường trên đất Chiêm Thành, bỏ mạng tại đó Các vua sau này từ Đế Hiện, Thuận Tông và Thiếu Đế đều là vua trẻ, bù nhìn, vua Thuận Tông được Quý Ly gả con gái lớn Thánh Ngâu cho và sinh ra Thiếu
Đế, Thiếu Đế lên ngôi mới 3 tuổi Đến lúc này thì mọi việc triều chính đều trong tay Lê Qúy Ly
Cuộc khủng hoảng chính trị triều Trần còn biểu hiện rõ nét trong việc phân hóa, suy thoát của bộ máy quan lại triều đình
Lịch sử đã chỉ rõ: Vua sáng tôi hiền, đức hạnh của vua như thế nào thì đức hạnh của bầy tôi như thế ấy Bởi triều đình là bộ máy để thực thi quyền lực, thực thi ý đồ của người nắm giữ quyền lực tối cao trong triều đình, thực thi quyền lực của Nhà vua Thượng hoàng Trần Minh Tông đã từng nói: “ Nếu ta là hiền thì những người được ta dùng cũng hiền … nếu ta là không hiền thì những người mà ta dùng cùng không hiền …” Dưới đời vua Trần
Dụ Tông, có đám người phục vụ việc trác táng của vua như Trâu Canh bày vẽ cho vua dâm dật, Bùi Khoan vẽ trò uống rượu … bọn quyền thần lợi dụng việc vua tối tăm, sa đọa mà thi nhau rượu chè, làm mưa, làm gió trong triều đình, ức hiếp dân chúng, quan chức thì chiếm ruộng đất của dân … nịnh thần hoành hành, hiền thần bất lực “Dụ Tông ham chơi bời, lười chính sự Quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước Chu Văn An khuyên Dụ Tông không nghe bèn dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần Sớ dâng lên nhưng không được trả lời,
Trang 23ông liền treo mũ từ quan Trần Nguyên Đán thì lui về Côn Sơn Trí Sỹ để tránh họa sau này” [13,tr.171]
Bọn quan tham nhũng không chỉ trong nước mà còn diễn ra cả những
vụ ngoại giao với nước ngoài gây nên những mâu thuẫn giữa nước nhà với Chiêm Thành thời cuối Trần: “Chúa Chiêm là Chế Bồng Nga đã đem dâng lên vua 10 mâm vàng Tử Bình ỉm đi cướp làm của mình, nói rằng Bồng Nga ngạo mạn vô lễ nên đem quân đánh Vua giận lắm quyết y thân chinh cầm quân đánh giặc” [13,tr.147]
Bên cạnh đó nạn ngoại xâm tứ phía, một đất nước nhỏ bé đang trong tình cảnh kinh tế, chính trị, xã hội hỗn loạn, nhà nước đang mất dần chức năng cai trị Vua quan chơi bời mạc nhược, vua tôi không đồng thuận, nhân dân khởi nghĩa khắp nơi đây là cơ hội cho những kẻ đang có âm mưu nhòm ngó xâm lược nước ta Ở phía Nam, quân Chiêm Thành đã thực hiện xâm lược nước ta bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XIV, và những cuộc xâm lược cứ liên tục diễn ra ngày càng nhiều Nhiều vùng đất của Đại Việt đã bị quân Chiên Thành chiếm đóng như Huế, Nghệ An, Thanh Hóa Bước vào cuối thế kỷ XIV Chiên Thành liên tục quấy phá xâm lăng Đại Việt lên đến 16 lần, trong đó có ba lần tiến vào kinh đô Thăng Long Vua Trần phải hai lần bỏ kinh đô đi lánh nạn Trong lần xâm lược cuối cùng 1389 –
1390 chúa Chiêm bị quân Trần Khắc Chân bắn chết, đến đây họa xâm lăng từ phương Nam mới tạm thời chấm dứt
Ở phương Bắc lúc này, nhà Minh đã thay thế nhà Nguyên, cục diện thay đổi Đầu thời Minh, do chưa ổn định được tình hình chính trị, quân sự,
xã hội nên mối quan hệ giữa hai nước vẫn giữ được trên cơ sở triều cống Ý
đồ Nam chiếm được thể hiện qua việc nhà Minh yêu cầu vật cống vô lý mà nhà Trần không thể thực hiện được, có thể xem đấy là một thủ đoạn để viện
cớ xâm lược Năm 1384, nhà minh buộc nhà Trần cấp lương thực cho quân Minh đánh Vân Nam, nhà Trần phải nộp 5000 thạch lương Năm 1385, nhà
Trang 24Trần phải tuyển 20 nhà sư đưa sang Kim Lăng nộp cho nhà Minh Năm 1386, nhà Minh lại đòi dâng nộp 50 thớt voi, chuẩn bị lương thảo dọc đường từ Nghệ An trở ra để vận chuyển đến Vân Nam Năm 1394, nhà Minh đòi nộp
8000 thạch lương và phải chở sang tận Long Châu Năm 1395, còn phải nộp voi và lương thực Nguy cơ xâm lược đất nước ta của nhà Minh ngày càng đến gần, nhưng vương triều Trần đã bất lực, không còn đủ khả năng để tổ chức, lãnh đạo dân tộc kháng chiến như trước đó
Như vậy, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội vào những năm cuối thời Trần vô cùng hỗn loạn, mâu thẫn sâu sắc, bộ máy cai trị của nhà nước đã rệu
rã, đã suy đồi, xã hội loạn lạc, các cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân, rồi những vụ trộm cướp xảy ra khắp nơi Nhà Trần không đảm bảo được chức năng cai trị của nhà nước như trước đây nữa, nguy cơ sụp đổ của một vương triều đang đến gần
- Về văn hóa tư tưởng
Văn hóa tư tưởng là nền tảng tinh thần của xã hội, là hoạt động có mục đích của một giai cấp nắm giữ quyền lực trong xã hội nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và hoàn thiện hệ tư tưởng, là quá trình phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng trong nhân dân, định hướng các giá trị, tạo niềm tin để thúc đẩy quần chúng nhân dân hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, bảo vệ giai cấp thống trị, giai cấp nắm giữ quyền lực nhà nước
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên đã có tác dụng thống nhất nhân tâm tạo điều kiện cho nhà nước quân chủ phát triển cho đến thế kỷ XIV Do vậy, Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống dân tộc Đáp ứng được nhu cầu củng cố địa vị của giai cấp phong kiến, được giai cấp thống trị khai thác và đưa lên làm quốc giáo qua nhiều đời vua Sử chép: Nghệ Tông lên ngôi “mọi công việc đều theo lệ cũ ” Vua từng nói “triều trước dựng nước có pháp luật, chế độ riêng không theo quy chế của nhà Tống là vì Nam Bắc nước nào làm chủ nước đó không phải
Trang 25bắt chước nhau”[13, tr.131] Như vậy cho đến thời điểm này thì Phật giáo vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong hệ tư tưởng của tầng lớp thống trị
Nhưng giáo lý của Phật giáo không hướng con người vào cuộc sống hiện thực để giải quyết cuộc sống khó khăn mà lại hướng con người sang cuộc sống bên kia, trông chờ vào quả báo Nên từ giữa thế kỷ thứ XIV trở đi Phật giáo ngày càng trở lên kém hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội cuối thời Trần Từ đây, đạo Phật sa sút để nhường địa
vị thống trị về mặt ý thức hệ cho Nho giáo
Nho giáo là học thuyết bao gồm các quan niệm về triết học, luân lý, xã hội xuất hiện vào thế kỷ VI đến V trước công nguyên ở Trung Quốc Nho giáo dưới cách nhìn của chính trị học còn được gọi là “đức trị” – học thuyết
về cai trị bằng đức, dùng đức để cai trị.Nho giáo vào nước ta theo dấu chân quân xâm lược phương Bắc Suốt hơn một ngàn năm bắc thuộc và ngót hơn một thế kỷ sau này đất nước ta giành được độc lập tự chủ, Nho giáo vẫn chưa
có vai trò gì đáng kể trong xã hội Việt Nam
Bắt đầu sang thời Lý và đến thời Trần, nhất là cuối thời Trần Nho giáo phát triển thịnh đạt Do nước Đại Việt lúc này chế độ phong kiến phát triển đòi hỏi không ngừng củng cố chế độ quân chủ tập quyền Cho nên các triều đại đã có chủ trương đưa ra chính sách cụ thể nhằm phát triển Nho giáo, đề cao tư tưởng của Khổng Tử và có tổ chức học tập thi cử và tuyển dụng nhân tài quan lại và tầng lớp nho sĩ Lúc này trong xã hội tồn tại một bộ phận quan lại có học vấn cao chủ yếu thông qua thi cử bằng Nho giáo
Nho giáo ngày càng đóng vai trò quan trọng và dần thay thế Phật giáo trong hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam lúc này Trong khi đó, Phật giáo lại luôn bị các nhà khoa bảng Tống Nho chỉ trích Ngay từ đầu thời Lý, khi Nho giáo bắt đầu phát triển, những tiếng nói bài xích Phật giáo đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện Cuối thời Lý, Đàm Dĩ Mông đã phê phán: “Hiện nay số sư sãi đã gần ngang với số phu dịch Tự kết bè lũ lập càn thủ lĩnh, tụ hợp thành bầy làm
Trang 26nhiều việc xấu hoặc ở nơi giới trường tịnh xá mà ngang nhiên rượu thịt, hoặc
ở chốn tăng phòng tịnh mà riêng tư gian dâm Ngày ẩn tối ra như phường cáo chuột, bại hoại phong tục, phương hại giáo lý dần dần đã thành thói quen Nay không cấm đi lâu ngày càng tệ” [13.tr.228]
Đến cuối thời Trần sự chỉ trích Phật giáo ngày càng nhiều Tiêu biểu là
sự chỉ trích của Trương Hán Siêu và Lê Quát Năm 1354, Trương Hán Siêu phê phán Phật giáo, đề cao Nho giáo: “Chùa bỏ rồi lại dựng, đã chẳng phải ý muốn của ta Dựng bia rồi khắc chữ, ta biết nói chuyện gì Ngày nay thánh hiền muốn truyền bá phong lại nhà vua, để trấn hưng phong tục đang bị suy đồi, dị đoan đang phải trút bỏ, thánh đạo nên được phục hưng Làm sĩ đại phu không phải đạo Nghiêu Thuấn thì không trình bày, không phải đạo Khổng Mạnh thì không trước thuật Thế mà cứ bo bo lải nhải chuyện Phật, ta định lừa dối ai đây” [13, tr.134]
Đến năm 1370 thời Nghệ Tông, Lê Quát lại chỉ trích Phật giáo nêu cao lòng ngưỡng mộ Nho giáo: “Thuyết họa phúc của nhà Phật tác động đến con người sao mà được người ta tin theo sâu sắc và bền vững đến thế chỗ nào có người ở tất có chùa phái, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông chống lâu dài chiếm đến nửa phần dân cư ” Còn Khổng giáo thì càng kêu ca vì chưa được tôn sùng như ý: “Đạo của thánh nhân để giáo hóa dân chúng và rốt cục vẫn chưa được mộ hưởng tin theo đó là điều khiến ta vô cùng hổ thẹn với bọn tín
đồ phật giáo” [tr.153, 11]
Cuộc đấu tranh giữa Nho giáo và Phật giáo lúc bấy giờ nhằm lên án, phê phán những hậu quả những tệ nạn mà các tín đồ Phật giáo đã gây ra có ảnh hưởng xấu đến sự tiến bộ của xã hội Cuộc đấu tranh này đã báo hiệu sự
sa sút của Phật giáo trong thực tế đời sống xã hội, trong lĩnh vực tư tưởng và hình thái ý thức xã hội, mở đường cho sự độc tôn của Nho giáo ở nước ta ở đầu thế kỷ XV Và điều đó đã được chứng minh bởi việc tăng gia đội ngũ nhà
Trang 27nho trong bộ máy nhà nước cuối thời nhà Trần, thể hiện bước chuyển hóa ở ý thức hệ của giai cấp thống trị nhà Trần từ Phật giáo sang Nho giáo
Như vậy, Nhà Trần tồn tại 175 năm, lúc “thịnh Trần” chính trị vững chắc, kinh tế phát triển, xã hội ôn hòa là nhờ ở chỗ “vua tôi đồng lòng, anh
em hòa mục Vua anh minh, tôi tận tụy liên trung, chính lệnh” Lúc thường thì khoan sức cho dân được tôn trọng, trật tự trị an các hương xã được giữa vững Nhưng vào cuối những năm cuối thế kỷ XIV nhà Trần rệu rã, suy vong là do vua chơi bời vô độ, triều đình bạc nhược, trộm cướp, loạn lạc Quan tham nhũng vô bờ bến, nịnh thần hoành hành, hiền nhân bất lực Đời sống nhân dân
vô cùng khốn khổ đói kém, thuế má tăng cao Đã dẫn đến khủng hoảng trầm trọng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa – tư tưởng xã hội,
và kết quả là đã dẫn đến sự khủng hoảng của cung đình
Tình trạng khủng hoảng trên đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Việt Nam bấy giờ là: Phá bỏ quan hệ ruộng đất điền trang, phân phối lại ruộng đất thỏa đáng hơn cho nông dân, đồng thời phải tạo điều kiện mới cho
sự phát triển của quan hệ sản xuất địa chủ bình dân – tá điền; Ổn định tình hình sản xuất bằng những chính sách khuyến nông cụ thể, sửa sang lại các công trình thủy lợi, đẩy mạnh sản xuất giải quyết nạn đói kém đương thời; Hủy bỏ bộ máy nhà nước quý tộc tôn thất, xây dựng bộ máy nhà tiến bộ, giải quyết tình trạng lưu vong của nông dân và thanh toán chế độ nô tỳ
Một tất yếu lịch sử đã diễn ra là muốn giải quyết khủng hoảng toàn diện xã hội thì không phải chỉ bằng thay đổi ngôi vị nhà vua mà còn phải bằng một cuộc cách mạng, một cuộc cải cách toàn diện
Trước yêu cầu bức thiết của xã hội đòi hỏi phải có sự thay đổi, cải tổ
bộ máy cầm quyền để xây dụng chế độ mới Hồ Qúy Lý là người sinh ra và lớn lên trong thời buổi ấy Nắm vững thời cơ, không ngoan, quyết đoán, năm
1400, một cuộc cải cách cung đình táo bạo và triệt để lật đổ nhà Trần thay thế bằng nhà Hồ với sự ra đời của nước Đại Ngu, Triều đại nhà Hồ Cuộc cải
Trang 28cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội đã
để lại ý nghĩa to lớn cùng những bài học quý báu cho hậu thế hôm nay
1.2 Con người và kinh nghiệm hoạt động chính trị của Hồ Qúy Ly
Để tìm hiều và đánh giá nội dung tư tưởng chính trị Hồ Qúy Ly chúng
ta cần phải tìm hiểu về con người ông và hoàn cảnh xuất thân cũng như tài năng phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm hoạt động chính trị của ông để có thể hiểu và đánh giá đúng được những tư tưởng của Ông
- Thân thế sự nghiệp của Hồ Qúy Ly
Hồ Quý Ly tên chữ là Lý Nguyên, ông sinh năm 1336, cho đến nay chưa rõ năm mất Ông thuộc dòng dõi trạng nguyên Hồ Hưng Dật quê ở Triết Giang – Trung Quốc Vào thời Ngũ Đại, thời Hậu Hán (947 - 905) Hồ Hưng Dật sang làm thái thú ở Diễn Châu – Nghệ An, về sau làm nhà ở hương Bào Đột làm trại chủ Đến thời Lý, họ Hồ có người lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan Đến đời thứ 12 là Hồ Liêm rời ra hương Đại Lãi – Thanh Hóa làm con nuôi Tuyên úy Lê Huấn nên ông phải mang họ Lê, khi giành được ngôi nhà Trần, Qúy Ly đổi thành họ
Hồ - Hồ Qúy Ly, cháu đời thứ 16 của Hồ Hưng Dật, đồng thời đổi tên nước thành Đại Ngu, để tưởng nhớ đến cội nguồn Hồ Công Mãn, dòng dõi vua Thuấn thời cổ đại bên Trung Quốc
Tuổi thơ của mỗi con người rất quan trọng vì đó là những bước đầu tiên trên đường đời của mỗi con người, nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của con người ấy Hồ Qúy Ly là một nhân vật lớn trong lịch sử cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV nhưng thật khó để tìm thấy những trang viết về tuổi trẻ của ông Có chăng chúng ta biết chỉ biết được rằng ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả, từ nhỏ đã theo học võ sư Tề - Một võ sư nổi tiếng ở kinh thành Thăng Long, khi còn trẻ ông cũng hay theo thuyền buôn đi khắp nơi nên hiểu biết không ít Ông thăng quan tiến chức, vào hàng vọng tộc vương gia không phải bằng con đường khoa cử mà là vì ông có hai người cô ruột
Trang 29được Thái thượng hoàng Trần Minh Tông sủng ái, đó là bà Minh Từ và Đôn
Từ Thái hậu, người đã sinh ra cho Minh Tông hai người con trai và cùng đều làm vua đó là Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông Vì vậy Hồ Qúy Ly có quan
hệ ngoại thích với nhà vua, có quan hệ ruột thịt gần gũi và trưởng thành từ thời niên thiếu bên cạnh Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông nên ông chiếm lĩnh được sự tin tưởng, cũng như tình cảm ruột thịt gắn bó với cả hai ông vua cuối triều Trần này
Hồ Qúy Ly bước chân vào chốn quan trường với chức Trưởng cục Chi hậu, một chức vụ cấm quân bảo vệ cung đình mà chỉ những người trong hoàng tộc nhà Trần mới được nắm giữ, nhưng với xuất thân, sự tín nghiệm và tài năng của mình ông đã nắm giữ chức vụ này khi mới 34 tuổi Sự nghiệp chính trị của Hồ Qúy Ly thực sự bắt đầu khi sảy ra sự biến cung đình Dương Nhật Lễ, khi ấy ông đã phò Cung Định Vương Trần Phủ (sau này là Trần Nghệ Tông) và là trợ thủ đắc lực của Trần Nghệ Tông trong cuộc chính biến phế Dương Nhật Lễ, phục hưng nhà Trần, công lao của ông là không nhỏ
Hồ Qúy Ly rất được lòng vua Nghệ Tông nên ông được phong làm đến chức Khu Mật Đại sứ tước Trung Tuyên Hầu tức là chức Thái Sư Phụ Chính Nhà Trần Sau đó vua Trần Nghệ Tông còn gả em gái của mình là công chúa Huy Ninh cho ông nên Hồ Quý Ly trở thành em rể nhà vua, lại càng có nhiều cơ hội thâm nhập vào hoàng gia nhà Trần, đồng thời củng cố địa vị của mình ở triều đình Như việc Công chúa Thánh Ngẫu con gái của ông với công chúa Huy Ninh lại lấy Trần Ngung (con trai của Trần Nghệ Tông) người sau này trở thành Trần Thuận Tông và sinh ra thái tử Trần An, tức Trần Thiếu Đế,
vị vua cuối cùng của nhà Trần
Như vậy với mối quan hệ ngoại thích gần gũi từ vị trí là cháu phía vợ nhà vua rồi dần dà qua năm tháng Qúy Ly trở thành con rể, anh em rể, đỉnh cao là bố vợ và ông ngoại của vua Những mối quan hệ thân tộc trên đã tạo thế đứng chính trị để Qúy Ly tiến bước thênh thang trên hoạn lộ của mình
Trang 30Nhưng càng danh cao chức trọng ông lại càng bị giới quý tộc nhà trần ghen ghét, đố kị Trong khoảng thời gian 25 năm ấy, ông đã có tới 3 lần bị hành thích, nhờ có sự che chắn của Nghệ Tông mà tính mạng của ông mới được an toàn và những kẻ mưu đồ ám sát Qúy Ly đều bị tiêu diệt Tháng 3 năm 1387 vua Trần Phế Đế lấy Qúy Ly làm Đồng binh Chương sự, ban cho một thanh gươm, một lá cờ đề tám chữ vàng “văn võ toàn tài, quân thần đồng đức” Năm 1395, lúc này vua Nghệ Tông biết mình không còn sống được bao lâu nũa đã gọi Qúy Ly vào rồi trăng trối: “Bình Chương (tức Qúy Ly) là họ thân thích nhà vua, mọi việc nước nhà đều giao cho khanh cả Nay thế nước suy yếu, trẫm thì già nua Sau khi trẫm chết, nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi vua” [13.tr.147] Thực tế đây đã
là một hành động truyền ngôi của nhà Trần cho Qúy Ly Khi Nghệ Tông qua đời, lúc này không còn sự ưu ái trợ giúp của vua nữa, bên cạnh đó giới quý tộc nhà Trần ghanh ghét đố kị luôn có âm mưu ám hại Qúy Ly Thế nhưng một mình ông vẫn đơn thương độc mã hướng con thuyền đất nước theo sự chỉ huy của ông trong hoàn cảnh không ít khó khăn
Cũng trong thời gian này, sau khi phò Thuận Tông lên ngôi, Qúy Ly thông qua vị quân vương trẻ tuổi này để giữ chức Nhập viện nội chính Thái
sư, Bình chương quân quốc trọng sư, Tuyên trung vệ quốc Đại vương Với các chức vụ này, Qúy Ly đã nắm quyền hành cao nhất trong vương triều Trần
Và lúc này đã hình thành “nhà nước Đại Ngu” hay đúng như Nguyễn Danh Phiệt nói “vương triều Hồ không có vua Hồ”
Lúc này mọi công việc triều chính đều do Qúy Ly chỉ đạo và những chức danh của ông lúc này là ông tự xưng Năm 1398, ông tự xưng là Quốc tổ nhiếp chính khâm liệt Đại vương Đến năm 1399 ông tự xưng là Quốc tổ Chương Hoàng Đến tháng 2 năm 1400, ông tự xưng vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu, và đổi họ Lê thành họ Hồ, đưa triều đại phong kiến Việt Nam sang một triều đại mới – triều Hồ
Trang 31Từ đây ông đã có quyền lực trong tay mặc nhiên tiếp tục thi hành chính sách cải cách cùng các tư tưởng chính trị xã hội đổi mới của mình, trong đó nổi bật là các chính sách tiền giấy, hạn điền, hạn nô, cải cách quân sự, liệt kê dân số, đo đạc đất đai, thống nhất đo lường, đổi mới giáo dục, thi cử trọng dụng nhân tài, lập Quảng Tế Tự chữa bệnh cho dân Song hành cùng với công cuộc cải cách toàn diện về kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội – giáo dục, Hồ Qúy Ly cũng gấp rút cho cải cách quân sự bởi ông biết rằng cuộc chiến với nhà Minh ở phương Bắc và với quân Chiêm ở phương Nam là điều không thể tránh khỏi, bởi cả hai đều nhăm nhe cơ hội xâm lược khi nước Đại Việt suy yếu Ông chuẩn bị tiềm lực quốc phòng như: Cho đúc súng thần công, rèn đúc gương đao, xây thành đắp lũy, luyện tập binh sỹ, các cửa sông cho đóng cọc nhọn bịt sắt, đóng thuyền lớn, khuyến khích người dân cung cấp ngựa voi cho quân đội Chỉ trong một thời gian ngắn nhà Hồ đã có một đội quân lớn, hiện đại nhưng do mới được thành lập nên đại quân tuy lớn nhưng còn thiếu kinh nghiệm chiến đấu, chưa thống nhất được lòng quân
Học theo nhà Trần, dù làm vua chưa được một năm, Hồ Qúy Ly cũng nhường ngôi vua cho con trai thứ là Hồ Hán Thương, ông lui về giữ chức Thượng hoàng nhưng thực chất mọi quyền quyết định vẫn nằm trong tay ông, Hán Thương là người thi hành những quyết định đó Nhưng có thể nói trong bối cảnh bấy giờ việc truyền ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương là một quyết định chính trị bởi Hán thương là cháu ngoại của Trần Minh Tông, con của Huy Ninh công chúa nên ít nhiều vẫn có tính chính thống hơn là truyền ngôi cho con trai trưởng Hồ Nguyên Trừng – Một con người cũng rất có tài Mặt khác nó thể hiện sự công tâm vì nước chứ không phải mưu đồ lật đổ triều Trần giành vương vị cho dòng họ mình Không có một sự phản ứng bất mãn nào từ Hồ Nguyên Trừng, ngược lại ba cha con họ Hồ còn tỏ ra rất đoàn kết, thống nhất với nhau, đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân dòng tộc
Trang 32Sau khi được Qúy Ly truyền ngôi, Hồ Hán Thương cho sứ sang nhà Minh cầu phong Sứ giả nói dối rằng: Con cháu nhà Trần không còn ai nữa nên Hồ Hán Thương vốn là cháu ngoại của nhà Trần phải ra cáng đáng việc nước Nhà Minh không tin đã cử người sang tận nơi xem, Hồ Qúy Ly đã cho Trăm họ xác nhận là đúng như lời sứ giả nói nên nhà Minh đành phải phong vương cho Hồ Hán Thương Nhưng năm 1404, có Trần Thiêm Bình tự xưng
là con Trần Nghệ Tông sang tận Yên Kinh tâu với Minh Thành Tổ là Hồ Qúy
Ly đã chiếm ngôi của nhà Trần và xin nhà Minh dẫn viện binh đưa về nước đòi lại ngai vua Được tin này, Hồ Qúy Ly sai người đón chờ ở ải Chi Lăng đánh tan quân Minh và giết chết Trần Thiêm Bình
Lấy cớ là Hồ Hán Thương dám giết Thiêm Bình, vua Minh sai Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạch, Lý Bân, Trần Húc chia quân làm hai đạo quân sang đánh nhà Hồ Khi kéo quân đến Thăng Long thì Chu Năng bị bệnh chết, Trương Phụ lên thay Trương Phụ đem bộ binh theo đường rừng, từ Quảng Tây đánh sang Tuy nhà Hồ đã có phòng bị từ trước, nhưng nhà Minh lại có lợi thế vì biết rằng dân chúng vẫn không phục nhà Hồ
Ngoài vệc chiếm ngôi nhà Trần, nhà Hồ còn đang đưa ra nhiều cải cách cải cách toàn diện mang tính phiền hà, mất lòng một bộ phận dân chúng nhất
là tầng lớp quan lại địa chủ, tôn thất nhà Trần nên Trương Phụ sai người viết hịch kể tội của Hồ Qúy Ly, thông cáo rằng quân Minh sang đây là để “Phù Trần diệt Hồ”, là để giúp nhân dân thoát khỏi những chính sách hà khắc phiền nhiễu của nhà Hồ, đặc biệt chúng còn cho khắc vào các mảng gỗ thả trôi về xuôi để phân tán nhân tâm
Cách tuyên truyền giả dối, thâm độc ấy đã làm nản lòng và mất tinh thần chiến đấu của mọi người, do đó nhà Minh đánh đâu được đó, có nơi quân lính nhà Hồ đã bắt trói chủ tướng rồi mở cửa thành ra đầu hàng quân Minh Những cánh quân còn lại, hết lòng trung thành với nhà Hồ thì phải rút về giữ thành Đa Bang (Sơn Tây), họ tích trữ lương thảo để cầm cự lâu
Trang 33dài và cố ý chờ quân Minh mệt mỏi, không quen với thổ nhưỡng nước ta Quân nhà Minh vây chặt thành Đa Bang Trương Phụ ra lệnh, nếu ai leo được lên thành trước, sẽ được trọng thưởng Quân Minh dùng thang đan bằng dây mây để leo lên thành
Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt, ngay trên mặt thành Thành Đa Bang vỡ, quân nhà Hồ thất trận, phải rút về Hoàng Giang Bị thua sau trận Hàm Tử, vua tôi nhà Hồ theo đường biển chạy về Thanh Hóa Quân Minh đuổi theo đánh, quân nhà Hồ tan rã hoàn toàn, Ngụy Thức tâu với Quý Ly: "Nước đã mất, bệ hạ nên tự tử đi, còn hơn là để bị giặc bắt!" Quý Ly giận lắm, bắt Ngụy Thức ra chém, rồi chạy tiếp vào Nghệ An, nhưng đến núi Thiên Cầm thì bị giặc bắt Cả triều đình Hồ Quý Ly bị bắt và đưa về giam ở Kim Lăng
Các quan nhà Hồ, người thì xin hàng, người thì không chịu nhục, nhảy xuống sông tự tử Chỉ có một số người có tài như Hồ Nguyên Trừng thì được nhà Minh trọng dụng do có công trong việc phát minh ra súng thần công, loại hỏa lực mà Trung Quốc chưa có và làm đến chức Thị lang
Bộ Lại của nhà Minh Cũng kể từ đây người ta không biết đến những năm cuối đời của Hồ Qúy Ly ra sao, hầu hết các tài liệu đều nói ông bị giam ở Kim Lăng bị làm lính cho đến khi chết già ở Quảng Tây, nhưng cũng có tài liệu nói ông và vua Hán Thương được nhà Minh trọng dụng bổ chức quan nhưng trên đường đi nhậm chức thì lại cho người lén thủ tiêu đi Dù như thế nào thì đó cũng là cái kết không rõ ràng, đầy bi oán của một con người cao vọng, tâm huyết với công cuộc canh tân đất nước như Hồ Qúy Ly Đó cũng là một dấu chấm hỏi trong lịch sử, các thế hệ sau vẫn đi tìm cầu trả lời nhưng ruốt cuộc vẫn chưa có một lời đáp thỏa đáng về quãng đời cuối cùng của ông vua cải cách nhà Hồ này
- Kinh nghiệm hoạt động chính trị của Hồ Qúy Ly
Hồ Qúy Ly bước chân vào con đường quan lộ thông qua mối quan hệ ngoại thích chứ không phải theo thi cử nhưng văn võ toàn tài ở ông là một
Trang 34điều không thể phủ nhận, bên cạnh đó ông còn có những tài năng và phẩm chất không mấy người có được nên ông đã nhanh chóng trở thành tâm điểm chính trị cuối nhà Trần Mối quan hệ ngoại thích bao giờ cũng bị xã hội xem thường vì đó là nhờ vào mối quan hệ, thế lực, nhờ người nọ người kia mà được thăng tiến, chứ không phải do năng lực phẩm phẩm chất thực có, và thường những người đó hay ỷ lại bất tài mà vô đức Nhưng ở trường hợp của
Hồ Qúy Ly thì ngược lại, có thể ông vào triều là nhờ mối quan hệ ngoại thích nhưng dần dần bằng tài năng thực sự ông dần chiếm được tình cảm tin cậy và
cả sự ủy thác của các vua Trần Năm đời vua cuối triều Trần, vai trò của ông
là không nhỏ Từng bước đi đến đỉnh cao quyền lực cũng là từng bước ông phài đấu tranh với các thế lực luôn muốn loại bỏ ông, quan trường cũng như chiến trường Trước sự chống đối, loại bỏ của tôn thất nhà Trần và các thế lực quan lại khác, kinh nghiệm cũng như bản lĩnh chính trị của ông ngày càng được tôi luyện, rèn rũa để rồi ông nhanh chóng trở thành “đạo diễn” chính, người đứng sau thao túng rồi chỉ đạo sân khấu chính trị của các đời vua cuối nhà Trần và nhà Hồ
Quá trình hoạt động chính trị của ông, cho thấy Hồ Qúy Ly xuất phát
từ thực tiễn, hướng đến thực tiễn đất nước mà giải quyết nên có thể nói Hồ Qúy Ly là một nhà hoạt động chính trị thực tiễn ở nước ta Tư tưởng của ông hướng vào thực tiễn đó là giải quyết những vấn đề nội tại của đất nước đặt ra như khủng hoảng kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội đất nước, giải quyết tình trạng đói khổ của nhân dân, phục dựng năng lực quản lý của nhà nước trước cơn suy thoái biến chất của tầng lớp đứng đầu xã hội Và để giải quyết thực tiễn ấy giải pháp của ông là cải cách kinh tế, xã hội, quân sự, một công cuộc cải cách toàn diện và thực thi những giải pháp một cách táo bạo triệt để Mặt khác để thực hiện được những mục tiêu đề ra ông bất chấp thủ đoạn, bất chấp cách đánh giá của người đời
Trang 35Từ một ngoại thích vươn lên những chức vụ quan trọng của triều đình, đỉnh cao là Thái sư, Tể tướng rồi xóa ngôi nhà Trần lên ngôi vua, rồi lại làm thái Thượng hoàng, đó là con đường hơn 35 một mình ông chèo lái, củng cố địa vị, xây dựng lực lượng trong bối cảnh bị ghanh ghét thậm chí ám sát của vương thất nhà Trần, được Nghệ Tông hết lòng che trở, bênh vực, điều đó nói lên ông là một người thông minh, có tài, trải bao khó khăn và kinh nghiệm hoạt động chính trị của ông cứ dần được tích lũy
Từng làm dân, làm quan và rồi làm vua, hơn ai hết Hồ Qúy Ly đã có những trải nghiệm quý báu về thân, thế của từng của từng giai cấp thành phần trong xã hội, từng theo thuyền đi buôn, từng làm tướng chỉ huy quân đội, từng
là quan văn đầu triều đưa ra những cải cách chính trị xã hội, từng là thầy giáo, phụ chính cho các đời vua Trần, Hồ Qúy Ly có hiểu biết cực kỳ sâu rộng và một bề dầy kinh nghiệm chính trị xã hội, quân sự, giúp ông trở thành nhân vật trung tâm khi triều Trần ngày càng suy vong
Nói đến triều Hồ, người ta thoảng nhớ rằng, ông làm vua thời gian rất ngắn, chỉ có 8 tháng rồi trao quyền lãnh đạo cho con trai, để sau đó cha con ông với chính quyền non trẻ bị nhà Minh đánh bại Tuy ông chưa có đủ thời gian để thực hiện thành công và phát huy thành quả xã hội qua cuộc cải cách, cải tổ, đổi mới ấy Xét mục tiêu, ý tưởng thì tư tưởng cải cách, nội dung cải cách rất vĩ đại, rất mới với cả xã hội Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung trong thời điểm đó
Những cải cách của ông lại đụng chạm đến quyền lợi của giới quý tộc nhà Trần và nó bị phản đối, phẫn nộ ghê ghớm, ông phải dùng biện pháp mạnh để giải quyết mâu thuẫn ấy Nhưng, những hành vi trừng phạt của ông đối với quan lại cùng thời, không bị coi là hôn quân vô đạo, vì ông không màng toan tính lợi dụng vật chất cho cá nhân mình, không có sách cổ nào từng ghi lại rằng ông tham lam vơ vét, dâm ô đồi bại, ngược lại ông vẫn được coi là người anh hùng lỡ vận, sinh bất phùng thời
Trang 36- Tính cách của Hồ Qúy Ly
Hồ Qúy Ly là một nhân vật đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi, có người
đề cao ông nhưng cũng có không ít người thóa mạ ông Các sử gia phong kiến coi ông là ngụy vương là loạn thần tặc tử, là con người thâm độc bất chấp các thủ đoạn, chính sách của ông phiền nhiễu hà khắc làm khổ dân, mất lòng dân Điều đó dễ hiều khi họ đứng trên lập trường của giai cấp phong kiến, chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhà Nho lúc nào cũng lấy “Trung quân ái quốc làm đầu”
dù đó có là ngu trung, trung với hôn quân vô đạo, kém tài kém đức, lúc nào cũng chỉ nghe theo những lời giáo huấn của các bậc tiên Nho như Khổng Tử, Mạnh Tử mà không có lấy một lần dám hoài nghi thắc mắc như Hồ Qúy Ly Điều đó cho thấy Hồ Qúy Ly là một con người rất đỗi thông minh, am hiểu nhiều lĩnh vực, có chí lớn, dám khác biệt, điều mà không ai dám làm lúc đó Hầu hết chỉ muốn an thân, vui thú hưởng thụ, không dám đấu tranh, ngại thay đổi chính vì vậy đất nước mới lâm vào tình trạng khủng hoảng triền miên không bứt phá lên được Có thể nhận định chung về tính cách con người Hồ Qúy Ly như sau:
+ Thứ nhất là văn võ toàn tài, tự tin vào tài năng trí tuệ của mình
Hồ Qúy Ly bước vào con đường quan lộ với chức quan võ, dù ông thua đau nhà Minh nhưng ông cũng đã chiến thắng quân Chiêm, đóng góp không nhỏ trong việc mở rộng biên vực nước ta về phương Nam trong đó có việc thu phục được hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Nam ngày nay, xưa là đất thuộc đất Chiêm Nhưng người ta biết đến ông nhiều hơn ở khía cạnh quan văn, một trọng thần của nhà Trần, ông vua cải cách của nhà Hồ
Văn ngày xưa được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Các chính sách cải cách của ông thể hiện rõ sự thông tuệ của Ông trong nhiều lĩnh vực, nhưng người ta vẫn nói ông là nhà kỹ trị nhưng xét về mặt tư tưởng lý luận ông cũng là người vô cùng xuất sắc Ông là người đầu tiên ở Việt Nam dám phê phán Tống Nho là chỉ lo cóp nhặt, không hướng
Trang 37vào thế sự; dám nghi ngờ những luận điểm của Không Tử, dám xếp lại thứ tự trong Nho giáo rằng Chu Công là tiên thánh, Khổng Tử là tiên sư, trong khi
đó đạo Nho luôn cho rằng Khổng Tử là đứng đầu Mặt khác ông cũng cho Trình Di, Trình Hạo là đạo nho, chính bản thân ông đã viết sách Minh Đạo dâng vua Những nhận định đó với nhà nho được coi là ngỗ ngược Nhưng qua đó ta thấy Hồ Qúy Ly là con người có tâm với sự nghiệp phò vua cứu nước, có tài, tự tin vào tài năng học thuật của mình như thế nào mới dám phát ngôn và có những việc làm táo bạo như vậy
+ Thứ hai là thông minh, khôn khéo nhưng cũng bất chấp thủ đoạn
Con đường quan lộ của Hồ Qúy Ly chỉ có lên mà không có xuống, ngay cả khi bị quý tộc nhà Trần ám sát, mưu hại, ông vẫn bình yên, được Nghệ Hoàng bao bọc che trở Nghệ Hoàng cũng đã vì Qúy Ly mà xử tội nặng với chính tông thất nhà Trần trong đó có vua Trần Phế Đế (con của Trần Duệ
Đế, cháu của Nghệ Hoàng) Như vậy, cho thấy Qúy Ly là người rất khôn khéo, được lòng Trần Nghệ Tông, đồng thời ông cũng có một thế lực rất lớn trong triều mà ông dầy công gây dựng, chính nó đã bảo vệ ông và là nền tảng quan trọng ủng hộ khi ông lên ngôi vua sau này
Hồ Qúy Ly khôn khéo trong đối nội và cũng cả trong đối ngoại, nhất là hành động nhường ngôi cho con trai thứ và việc ba cha con họ Hồ đoàn kết một lòng chung sức vì sự nghiệp phục hưng đất nước Mặt khác nó cũng thể hiện ông không tham quyền cố vị, không vì mong được làm vua mà cướp ngôi nhà Trần Nhiều tài liệu ghi rằng ông là một ngụy vương, gian tà nhưng quả thực chúng ta không thấy bất cứ một tài liệu nào ghi lại rằng ông tiếm ngôi nhà Trần vì là ngai vàng, là vì sự giầu sang phú quý, quyền uy sau nó hay ông là người có tính chơi bời, giữ làm của riêng Điều đó cho thấy với ông, ngai vàng nói riêng, quyền lực nói chung chỉ là phương tiện để ông thực hiện một cách triệt để những cải cách táo bạo của mình
Trang 38Và vì những mục tiêu ấy, có những lúc ông sẽ bất chấp thủ đoạn Trong cái xã hội phong kiến ấy, quyền hành nằm trong tay ai thì người đó có quyền, vì quyền cái vị trí ấy họ cũng không từ bất cứ thủ đoạn nào đối với các định thủ của mình, dù đó có là Hồ Qúy Ly hay một ai khác Tôn thất nhà Trần cũng vậy, tìm mọi cách tiêu diệt Qúy Ly, ôm khư khư quyền lợi của hoàng tộc, có chút nào nghĩ đến quyền lợi của người dân của non sông xã tắc? chính
vì vậy Hồ Qúy Ly cũng tự cho phép chính mình đứng trên dư luận, bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích cuối cùng của mình Chính ở điểm này mà nhiều sử gia phong kiến cho rằng Hồ Qúy Ly là con người thâm độc, cách ông đối xử với tôn thất nhà Trần là quá dã man (giết 370 tôn thất nhà Trần trong hội thề Đốn Sơn và gia đình của họ phụ nữ thì bắt làm nô tỳ, con trai từ
2 tuổi trở lên thì bị dìm chết trong đó có những con người tên tuổi có tài như Trần Khắc Chân, Trần Nguyên Hàng)
Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ quân – thần được quy định trong một khuôn khổ bất di bất dịch bởi lễ vua – tôi, vua là tối cao bởi “vua xử thần
tử, thần bất tử thần bất trung” Trái với ý vua đã là sai chứ chưa nói đến là âm mưu thoán ngôi, dù ông vua đó có là thế nào, vua kém tài hay kém đức Phá
vỡ những quy tắc truyền thống không còn hợp thời đó, ông đã có những hành động bị các sử gia phong kiến gọi là phản nghịch, ông ép Thuận Tông rời đô
về Thành Tây Đô và ép vua xuất gia đi tu, phế vua Trần Thiếu Đế là cháu ngoại của ông để lên ngôi vua và lập ra triều Hồ Dù ông có quan hệ bố vợ, rồi ông ngoại của nhà vua nhưng về nghĩa quân – thần, ông đã có những hành động vượt qua quy định, phá vỡ các quy tắc truyền thống
Cuối cùng khi các tuyến phòng thủ bị vỡ, cha con ông chạy về phía Nam, bị giặc bắt rồi đày sang Nam Kinh Người ta có thể hỏi tại sao ông không “sát thân thành nhân” để đến nổi làm vua một nước mà chịu rơi vào tay giặc, ông chiến đấu đến cùng, không đầu hàng đã đành, mà cũng không tự sát,
Trang 39tìm đến cái chết như thông thường các bậc vua chúa, cả người thường hay làm một khi bị dồn đến đường cùng Lại một lần nữa chúng ta thấy ông hành động vượt ra ngoài thông lệ Cho đến nay chúng ta không biết rõ vào những năm cuối đời của ông ở đất giặc ra sao Nhưng qua những câu thơ trong bài “Cảm hoài” của ông:
“Kim âu kiến khuyết vô do hợp,
Đãi giá tu tri ngọc phỉ khinh”
(Âu vàng bị mẻ, biết hàn gắn làm sao,
Nên biết ngọc còn đợi giá, chứ không phải bị xem rẻ đâu)
Chúng ta có thể thấy rằng dù ở bước đường cùng nhưng Hồ Qúy Ly không hề tuyệt vọng, không khuôn mình bó theo thông lệ Khi còn là bầy tôi của nhà Trần, rồi trở thành hoàng đế, thượng hoàng ông đã khước từ hành động, ứng xử theo lối mòn Trái lại ông luôn kiên định, nhất quán trong tư duy, hành động cách tân - thậm chí đến tàn bạo - vì mục tiêu “tướng quốc”
+ Thứ tư, là tự lực tự cường, tự tôn dân tộc
Nhà Trần với ba lần chiến thắng quân Mông Nguyên có thể nói là đỉnh cao của hào khí Đông A Lúc đó, tinh thần dân tộc đã làm lên sức mạnh
to lớn cho nhà Trần giúp nhà Trần chiến thắng giặc ngoại xâm cũng như xây dựng vương triều hùng mạnh, rất được lòng dân Sau khi nhà Trần mạt vận, vua quên việc nước, quan quên việc dân, ai cũng mải ăn chơi hưởng thụ thì
có thể nói trong thời buổi bấy giờ, khó tìm được ai có được tinh thần dân tộc như Hồ Qúy Ly
Vì quyền lợi của hoàng tộc họ cũng sẵn sàng thủ tiêu người khác, có mấy người có tâm thực lòng vì dân vì nước mà hy sinh lợi ích, ngôi vua của dòng họ mình? Hồ Qúy Ly lại khác, ông là một trọng thần của nhà trần, chức
vụ Thái sư giúp ông đứng trên vạn người, bổng lộc hưởng mấy đời không hết nhưng với ông vai trò Thái sư có trách nhiệm nặng nề, làm ông lao tâm khổ tứ ngày đêm suy nghĩ tìm cho ra con đường giúp nhân dân thoát khỏi đói nghèo,
Trang 40giúp đất nước thoát khỏi họa xâm lăng Xã hội cuối triều Trần đã nằm trong một sự thụ động ỷ lại rất lâu rồi, muốn nó chuyển biến cần phải có một động lực tác động thật lớn và có lẽ chấm dứt sự tồn tại của nhà Trần là giải pháp tốt nhất bởi nhà Trần đã không còn năng lực thống trị xã hội, và chỉ có bằng ngai vua ông mới có tính chính danh cho các cải cách toàn diện của mình
Với Hồ Qúy Ly, tự lực tự cường tức là phải làm cho nhân dân thoát khỏi đói nghèo, muốn thoát khỏi đói nghèo chỉ có đường cải cách kinh tế, trấn chỉnh triều cương loại bỏ những thành phần ăn bám, bất tài vô dụng chỉ mang cái danh hoàng tộc mà không có chút năng lực, trách nhiệm với non sông đất nước Bên cạnh đó còn phải chấn hưng nền văn hóa dân tộc bằng cách đề cao chữ Nôm, sự dụng chữ Nôm trong văn bản hành chính quốc gia Sau cùng đó
là phải bảo vệ được đất nước thảm họa ngoại xâm, không để cho cơ nghiệp của cha ông bị giầy xéo Trước khi quân Minh xâm lược nước ta, Hồ Qúy Ly
đã gấp rút cho quân và dân chuẩn bị mọi mặt để tăng cường tiềm lực quốc phòng, khi nhà Minh sang xâm lược nước ta, ông cùng các con trực tiếp chống lại quân Minh Có thể nói ở thời đại cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV,
Hồ Qúy Ly có tinh thần tự lực tự cường, tự tôn dân tộc, chống quân Minh và quân Chiêm thành một cách rất quyết liệt
Theo đó, chúng ta thấy Hồ Quý Ly là một người hành động, một nhân cách anh hùng Ông luôn nhất quán trong mục tiêu cứu nước, có năng lực và
đủ bản lĩnh hoạt động trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, văn hoá, kiên quyết đến tàn bạo trong hành động, ứng xử Ở lĩnh vực nào ông cũng có nét khác thường, đến nỗi đương thời và về sau, một khi soi nhìn bằng cặp mắt “chính thống”, ông không tránh khỏi bị lên án nặng nề Về quân sự thì bất tài để mất nước; về chính trị là “loạn thần tặc tử”, “tội ác chất đầy”; về văn hoá là “khinh suất”, “không tự lượng sức” Đó là cách nhìn nhận của các sử gia ngày trước Vì quan điểm “chính thống” họ không nhìn nhận, hoặc không giám nhìn nhận ở Hồ Quý Ly những nét đẹp của một nhân cách anh hùng