Sự hình thành và phát triển của tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nhân dân nằmtrong tiến trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nhằm thực hiện đườnglối cách
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ THỊ NGÀ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
VŨ TRANG NHÂN DÂN VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Tư tưởng Hồ Chí Minh
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS Vũ Quang Ánh
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn quýthầy cô giáo trong Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh đã quan tâm, giúp đỡ emtrong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em đặc biệt biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo, TS Vũ Quang Ánh đãtận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này Thầykhông chỉ cung cấp cho em những kiến thức về mặt lý luận, mà còn đónggóp cho em hình thức, nguyên tắc của một khóa luận tốt nghiệp Em trântrọng cảm ơn Thầy
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng
do khả năng và điều kiện nên không tránh khỏi những hạn chế và thiết sót Vìvậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo
để em hoàn thiện hơn nữa kiến thức của bản thân trong quá trình học tập vàcông tác tiếp theo
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Lê Thị Ngà
Trang 3MỞ ĐẦU 1CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY
DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN 61.1 Một số khái niệm cơ bản 61.2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng
vũ trang nhân dân 7CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG 29LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN 292.1 Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mang bản chất cách mạng của
giai cấp công nhân 292.2 Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt các lực lượng vũ
trang 322.3 Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân - một tổ chức quân sự Việt
Nam kiểu mới 342.4 Kết hợp xây dựng con người, trang bị vũ khí và huấn luyện quân sự,
nâng cao sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang nhân dân 412.5 Xây dựng cách đánh của lực lượng vũ trang nhân dân 49CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY
DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN TRONG GIAIĐOẠN HIỆN NAY 573.1 Bối cảnh lịch sử Thế giới và Việt Nam 573.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay 63KẾT LUẬN 74TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, anh hùnggiải phóng dân tộc, nhà chiến lược thiên tài của chiến tranh cách mạng ViệtNam Cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phongphú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của Người đã để lại cho Đảng và nhân dân
ta một hệ thống tư tưởng có giá trị to lớn, trong đó có tư tưởng về quân sự
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là một
bộ phận trong tư tưởng quân sự của Người Sự hình thành và phát triển của tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nhân dân nằmtrong tiến trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nhằm thực hiện đườnglối cách mạng do Đảng đề ra Đó là một trong những nhân tố rất quan trọng,quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta
Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về đấu tranh vũ trang cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồngthời kế thừa và phát huy tinh hoa truyền thống dân chúng vũ trang kết hợpvới xây dựng quân đội dân tộc của cha ông ta trước đây, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã sáng lập, tổ chức xây dựng nên lực lượng vũ trang nhân dân ViệtNam Đây là lực lượng làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc khi đất nước
có chiến tranh và toàn dân xây dựng, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốckhi đất nước hòa bình
Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trangnhân dân ta trong hơn nửa thế kỷ qua là kết quả của đường lối xây dựng lựclượng vũ trang đúng đắn của Đảng Đường lối đó được hình thành và pháttriển ngày càng hoàn chỉnh theo những giá trị tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh
về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân So với các thời đại trước đây tronglịch sử dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam từ khi có Đảng lãnh
Trang 5đạo đến nay được xây dựng theo tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có những bước phát triển mới về bản chất giai cấp, hình thức tổ chức lựclượng, huấn luyện, trang bị vũ khí cũng như nghệ thuật quân sự và sức mạnhchiến đấu
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn “tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân và sự vận dụng của Đảng ta trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp.
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
về quân sự nói chung và quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dâncủa Người nói riêng như:
PGS.TS Mạch Quang Thắng (1996), “Một số vấn đề về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cùng với việc khẳng
định tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của phong trào yêu nước kết hợp vớichủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng nước ta, nội dungchủ yếu của cuốn sách còn đề cập đến những vấn đề cơ bản của hệ thống nộidung tư tưởng của Người trong đó có vấn đề quân sự
Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2001), “Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nxb Thống Kê, Hà Nội Tác phẩm là công trình
khoa học được biên soạn công phu, nghiêm túc, có nhiều tư liệu quý Cuốnsách tái hiện được những hoạt động lý luận và thực tiễn về quân sự phong phúcủa Người
Đại tá Phạm Chí Nhân (2004), “Nhà chiến lược quân sự Hồ Chí Minh”,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Với bề dày tích lũy qua thực tiễn chiến đấutrên chiến trường và thực tiễn công tác ở cơ quan chiến lược quân sự, tác giả
đã trình bày có hệ thống những quan điểm, luận điểm sáng tạo, độc đáo củalãnh tụ Hồ Chí Minh về: cách mạng bạo lực, đại đoàn kết trong chiến tranh,
Trang 6khởi nghĩa vũ trang toàn dân và chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũtrang nhân dân, xây dựng căn cứ địa…
TS Lê Văn Thái (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng
vũ trang cách mạng Việt Nam trong thời 1930 - 1945”, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội Cuốn sách góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc, quá trình hình thành
và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang trong giaiđoạn từ tháng 02/1930 đến tháng 08/1945 - giai đoạn hình thành những quanđiểm rất cơ bản không chỉ soi sáng cho thực tiễn xây dựng lực lượng vũ tranglúc bấy giờ mà còn tiếp tục soi sáng cho các giai đoạn lịch sử kế tiếp nhằmtiếp tục củng cố nền tảng tư tưởng quân đội và vận dụng, phát triển nhữngquan điểm của Người vào thực tiễn xây dựng lực lượng vũ trang trong côngcuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và củng cố nền quốc phòngtoàn dân hiện nay
PGS.TS Hồ Kiếm Việt (2007), “Về hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng quân đội nhân dân về chính trị”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách
tập hợp trên 60 bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí và kỷ yếu các Hội thảo
khoa học trong khoảng 30 năm (1975 - 2005) Trong số đó có bài “Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường tiềm lực quốc phòng” in trên tạp chí
quốc phòng, số 1, 2002, bài viết này khẳng định vai trò của kinh tế cho quốcphòng và đặt ra yêu cầu gắn liền việc xây dựng tiềm lực kinh tế cho quốcphòng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, theo định hướng
Trang 7Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, làm rõ và có những đóng gópmới về quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh Qua nộidung cuốn sách, bạn đọc giới thiệu một cách hệ thống những luận điểm sángtạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng quân sự.
Từ những cách tiếp cận khác nhau, các công trình nói trên đã đề cậptới những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh nói chung và
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nói riêng… Nhữngkết quả nghiên cứu của các công trình là nguồn tài liệu quý và quan trọnggiúp người viết tiếp thu, tham khảo, làm định hướng cho đề tài nghiên cứucủa mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, làm rõ cơ sở hình thành, nội dung của tư tưởng HồChí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Trên cơ sở đó vận dụngtrong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở hình thành, nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân
- Đề xuất một số phương hướng vận dụng tư tưởng tư tưởng Hồ ChíMinh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong công cuộc đổi mới, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân và tình hình vận dụng quan điểm này củaNgười vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 84.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự nói chung, tưtưởng của Người về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong quân sựnói riêng và vận dụng tư tưởng đó vào trong công cuộc đổi mới, xây dựng
-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử
Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:Phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, điềutra, quan sát…
Đề tài còn kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu về Hồ ChíMinh, đặc biệt là những quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân củaNgười, coi đó là những chỉ dẫn gợi mở giúp thực hiện mục tiêu và nhiệm vụnghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã góp phần làm rõ tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang nhândân của Hồ Chí Minh, nhất là trong khởi nghĩa vũ trang, trong chiến tranhnhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Trên cơ sở đó vận dụngtrong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàigồm 3 chương 9 tiết
Trang 9CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Lực lượng
Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (1996), khái niệm “lựclượng” là toàn bộ sinh lực, phương tiện vật chất và các khả năng khác được sửdụng để tiến hành chiến tranh cách mạng và các hoạt động khác Có lực lượngquân sự, lực lượng kinh tế, lực lượng chính trị, lực lượng vật chất, lực lượngchủ yếu, lực lượng thứ yếu…
Theo Hồ Chí Minh “lực” là sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thầncủa mỗi con người, mỗi đơn vị, mỗi địa phương và của cả đất nước Sứcmạnh vật chất là sức người, sức của và khả năng huy động sức người, sứccủa phục vụ cho chiến tranh, được biểu hiện ở sức mạnh của các lực lượngtham gia chiến tranh, ở khả năng huy động nền kinh tế, vũ khí, trang bị,phương tiện…phục vụ cho chiến tranh Sức mạnh tinh thần là sức mạnh của
ý chí, quyết tâm, sự trung thành với mục tiêu, lý tưởng cộng sản, lòng cămthù giặc, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội…của quân và dân cả nước
1.1.2 Lực lượng vũ trang
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa (2010), lực lượng vũtrang là các tổ chức được trang bị vũ khí, chuyên dùng để tiến hành đấu tranh
vũ trang, giữ gìn trị an, bảo vệ đất nước
1.1.3 Lực lượng vũ trang nhân dân
Lực lượng vũ trang của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh
Trang 10đạo; là lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân.Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam gồm quân đội nhân dân (bộ đội chủlực, bộ đội địa phương), dân quân tự vệ, bộ đội biên phòng và lực lượng anninh vũ trang Lực lượng vũ trang nhân dân sinh ra từ lực lượng chính trị củaquần chúng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trưởng thành quaKháng chiến chống Pháp, Kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
1.2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
1.2.1 Nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang
1.2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam là kết quả của sự vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Trước hết cần khẳng định rằng, trước khi ra đi tìm đường cứu nước, HồChí Minh đã tiếp nhận truyền thống quân sự của dân tộc và sớm thấy được sựhạn chế trong con đường cứu nước của các vị tiền bối như Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám Trên nền tảng đó, khi đến với chủ nghĩaMác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin để xác định con đường giảiphóng dân tộc đúng đắn, phù hợp với xu thế mới của thời, Người đồng thờitiếp thu học thuyết quân sự Mác - Lênin để giải quyết các vấn đề quân sự củacách mạng Việt Nam
Người tiếp thu tư tưởng cách mạng và khoa học triệt để của chủ nghĩaMác - Lênin, vận dụng tư tưởng đó xác định mục tiêu cách mạng Việt Nam,
từ đó khẳng định lý tưởng chiến đấu của lực lượng vũ trang, quân đội nhân
dân là thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ, “đi tới xã hội cộng sản”.
Trang 11Được tư tưởng cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân quốc tếsoi sáng, Hồ Chí Minh đã xác định chính xác mục tiêu của cách mạng ViệtNam Tư tưởng bao trùm tác phẩm Đường cách mệnh (1927) và Chánh cươngvắn tắt (1930) do Người soạn thảo là thực hiện ở Việt Nam một cuộc cách
mạng “đến nơi”, “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản” Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Người khẳng định tôn chỉ của Đảng là “lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giaicấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hộicộng sản” Mục tiêu cách mạng đó cũng là mục tiêu của khởi nghĩa vũ trang
và chiến tranh cách mạng, gắn cứu nước với cứu dân, giải phóng Tổ quốc vàxây dựng chế độ mới tốt đẹp, thực sự đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnhphúc cho nhân dân
Từ việc khẳng định mục tiêu của cách mạng, khi thành lập lực lượng vũtrang, nòng cốt là quân đội nhân dân, Người khẳng định lý tưởng chiến đấu làthực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng xác định Lý tưởng chiến đấu giải
phóng dân tộc, nhân dân, “đi tới xã hội cộng sản”, thực sự là bước nhảy vọt
về chất Lý tưởng chiến đấu cao cả của lực lượng vũ trang, quân đội nhân dân
mà Hồ Chí Minh xác định và chăm lo giáo dục bắt nguồn từ lý tưởng cáchmạng của giai cấp công nhân và chính đảng tiên phong của giai cấp côngnhân mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định trong Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản (1948) Đây là điểm quan trọng nhất mà Người tiếp thu
và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng lực lượng vũ trang cáchmạng Việt Nam
Người tiếp thu “phương pháp làm việc biện chứng” của học thuyết quân sự Mác - Lênin, đề ra phương hướng và biện pháp xây dựng lực lượng
vũ trang ở Việt Nam.
Trang 12Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháplàm việc biện chứng” Người đã nắm chìa khóa vàng đó để giải quyết các vấn
đề trong lĩnh vực quân sự Những nguyên lý và phép biện chứng trong họcthuyết quân sự Mác - Lênin là “cẩm nang” giúp Người giải quyết vấn đề trungtâm là chuyển hóa tương quan lực lượng ta - địch trong khởi nghĩa và chiếntranh, thực hiện thành công trong thực hiện lời chỉ dẫn của Ph.Ăngghen vềmột quân đội yếu đương đầu thắng lợi với một quân đội mạnh để giành độclập dân tộc thì nhất thiết không được giới hạn trong những phương thức tiếnhành chiến tranh thong thường, mà phải khởi nghĩa quần chúng, chiến tranhcách mạng, các đội du kích mọc khắp nơi
Phép biện chứng trong học thuyết quân sự Mác - Lênin còn giúp Ngườigiải quyết thành công một loạt vấn đề trong xây dựng lực lượng vũ trang ởmột nước thuộc địa bị chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân thống trị bằngquân sự rất ác độc như: xác định chính xác phương hướng xây dựng; định ratrọng điểm, trọng tâm của mỗi thời kỳ; nêu ra các giải pháp cụ thể để thựchiện Theo Người, vấn đề mấu chốt trong xây dựng lực lượng vũ trang là phảixây dựng lực lượng chính trị trước Trên nền tảng đó mà xây dựng lực lượng
vũ trang với quy mô thích hợp với phong trào cách mạng; đi từ thấp lên cao,khi cách mạng có bước nhảy vọt thì lực lượng vũ trang đồng thời cũng đượcxây dựng, phát triển tương ứng Dựa vào dân để phát triển nguồn lực, trang bị
vũ khí; được dân tin yêu, che chở, giúp đỡ, đó là chìa khóa của mọi thắng lợi
Người tiếp thu và vận dụng sáng tạo các nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của học thuyết quân sự Mác - Lênin.
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và vận dụng các nguyên tắc xây dựng lựclượng vũ trang, nòng cốt là quân đội nhân dân, phải toàn diện, cả về chính trị,quân sự và cơ sở vật chất kỹ thuật Người đặc biệt nhấn mạnh vấn đề mấuchốt trong nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới là phải ra sức xây dựng và
Trang 13không ngừng bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội kiểu mới là
phải ra sức xây dựng và không ngừng bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội Theo Người, phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, thực
hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với quân đội; chăm locông tác chính trị, đoàn kết nội bộ, quân dân, quốc tế; tự giác chấp hành kỷluật,v.v
Như vậy, đến với chủ nghĩa Mác Lênin, học thuyết quân sự Mác Lênin, Người đã tiếp thu nhiều nội dung quan trọng Những điểm chủ yếunhất mà Người tiếp thu là: tư tưởng cách mạng và khoa học của các nhà sánglập chủ nghĩa Mác - Lênin để xác định mục tiêu cách mạng Việt Nam, từ đóxác định lý tưởng chiến đấu cao cả của lực lượng vũ trang là thực hiện mụctiêu cách mạng do Đảng đề ra Phép biện chứng (Người nói là phương pháplàm việc biện chứng) giúp Người xác định chính xác phương hướng xây dựnglực lượng vũ trang và đề ra các biện pháp đúng đắn để thực hiện Người tiếpthu các nguyên lý xây dựng quân đội kiểu mới, cốt lõi là nguyên lý xây dựngquân đội về chính trị Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết quân sự Mác - Lênin
-là nguồn gốc quyết định bản chất giai cấp của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam
1.2.1.2 Kế thừa và phát triển giá trị truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang đặc sắc của dân tộc
Ph.Ăngghen đã từng nhấn mạnh rằng, quân sự là một lĩnh vực in đậmdấu ấn đặc biệt và truyền thống dân tộc Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng lực lượng vũ trang, dấu ấn “truyền thống dân tộc” rất đậm nét Điều đóbắt nguồn từ nhận thức sâu sắc giá trị to lớn truyền thống quân sự dân tộc
Do hiểu sâu sắc về truyền thống quân sự dân tộc, nên trong quá trìnhhoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh vừa tiếp thu học thuyết quân sự Mác -Lênin vừa kế thừa và phát triển truyền thống quân sự của dân tộc lên một
Trang 14trình độ mới, phù hợp với đặc điểm mới của thời đại chống chủ nghĩa đếquốc, chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Những nội dung mà Người kế thừa và phát triển “truyền thống quý giácủa cha ông” về xây dựng lực lượng vũ trang không chỉ phản ánh trong cáctác phẩm, mà còn phản ánh sâu sắc trong chỉ đạo thực tiễn xây dựng lựclượng vũ trang
Người kế thừa và phát triển truyền thống đặc sắc của dân tộc về vũ trang toàn dân, xây dựng quân đội sâu đậm tính chất nhân dân.
Vũ trang toàn dân, mỗi người dân là một người lính (tận dân vi binh),trăm họ là lính (bách tính giai binh) xây dựng quân đội đậm đà tính chất nhândân, cả nước cùng đánh giặc là đặc điểm nổi bật và xuyên suốt từ cuộc khángchiến chống quân Tần xâm lược thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến thờihiện đại trong lịch sử Việt Nam Tạo nên nét đặc sắc đó không chỉ do cáccuộc kháng chiến của nhân dân ta chống quân xâm lược là chính nghĩa, nhândân ta có lòng yêu nước nồng nàn, mà còn do các nhà lãnh đạo quốc gia trongnhiều thời kỳ lịch sử đã hết sức chăm lo cho sự bền vững xã hội, biết dựa vàodân, lấy dân làm gốc (dân vi bang bản)
Vừa nhấn mạnh đoàn kết toàn dân, dân tộc, quốc tế, trong quá trìnhcùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng, Người hết sức chăm lo đếnđời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Cho đến lúc tuổi cao, sức yếu,khi viết Di chúc, theo gương người xưa “khoan thư sức dân”, Người dặn lạisau ngày kháng chiến thắng lợi, miễn thuế nông nghiệp một năm để đồng bàonông dân hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất
Người kế thừa và phát triển truyền thống dân tộc về xây dựng quân đội cốt tinh, mấu chốt là rèn luyện đội ngũ cán bộ giỏi, trung thành.
Trong lịch sử, dân tộc ta đã giải quyết “việc binh” rất sáng tạo Nét đặcsắc của truyền thống dân tộc về xây dựng quân đội là rất coi trọng yếu tố chất
Trang 15lượng “quân quý ở tinh nhuệ” Do đó, quân đội Đại Việt trong nhiều triều đạikhông đông lắm về số lượng, nhưng đặc biệt tinh nhuệ, thiện chiến, đã đánhbại nhiều đạo quân xâm lược như quân Tống thời Lý, quân Mông - Nguyênthời Trần, quân Minh thời Lê Sơ, quân Thanh thời Tây Sơn, v.v
Để xây dựng quân đội mạnh, dân tộc ta đặc biệt quan tâm giải quyết hai
khâu then chốt Thứ nhất, tuyển chọn và rèn luyện đội ngũ tướng lĩnh có năng
lực chỉ huy, tài trí, trung thành, quân sĩ được huấn luyện tốt, đánh giặc giỏi
Thứ hai, giáo dục sự đoàn kết nhất trí, chung sức, chung lòng của tướng sĩ để
có được “đội quân một lòng như cha con” Cả hai khâu then chốt đó khôngnhững được tổ tiên ta đề cập đậm nét trong các tác phẩm lý luận quân sự màcòn được vận dụng nhuần nhuyễn trong thực tiễn, đưa đến sự thành công về
xây dựng quân đội “tinh nhuệ”, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc thắng lợi
trong các thời kỳ lịch sử
Kế thừa và phát huy truyền thống xây dựng quân đội “cốt tinh” của cha
ông, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng quân đội có chất lượng cao, vững mạnh toàn diện Hai khâu then chốt mà cha ông ta lưu tâm giải quyết trong
xây dựng quân đội, cũng là những vấn đề mà Hồ Chí Minh đề cập sâu đậmtrong các bài nói, bài viết của Người cũng như trong chỉ đạo thực tiễn xâydựng lực lượng vũ trang cách mạng
Trong chỉ đạo thực tiễn, Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề đào tạo bồidưỡng đội ngũ cán bộ quân đội về mọi mặt Nếu như trước đây, để có đội ngũtướng lĩnh mưu lược, trung thành, tổ tiên ta đã mở nhiều trường huấn luyện
quân sự, nổi tiếng là Giảng võ đường thời Trần, thì ngay trong thời kỳ chuẩn
bị tổng khởi nghĩa năm 1945, Hồ Chí Minh đã chỉ thị mở Trường quân chính kháng Nhật, tiếp sau đó nhiều trường đào tạo cán bộ quân đội lần lượt được
thành lập Hàng vạn cán bộ được đào tạo ở các cấp học khác nhau trong cácthời kỳ cách mạng là biểu hiện sinh động quan điểm coi “cán bộ là cái gốc
Trang 16của mọi công việc” của Người Cho đến sau này, Người vẫn hết lòng quantâm đến giáo dục đội ngũ cán bộ quân đội Trong buổi gặp mặt đại biểu cán
bộ cao cấp toàn quân (5 - 1969), Người đã ân cần căn dặn: Phải xây dựng lựclượng thật tốt, chất lượng thật cao (…); phải cố gắng học tập và luôn luôngương mẫu về đạo đức cách mạng Đó là sự đúc kết cô đọng quan điểm xâydựng quân đội chất lượng cao, vững mạnh toàn diện, có đội ngũ cán bộ đứctài mà Người đã dạy quân đội từ ngày đầu thành lập
Người kế thừa và phát triển truyền thống chung sức, chung lòng,“đồng cam cộng khổ” giữa cán bộ và chiến sĩ.
Truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang của dân tộc còn có nét đặcsắc về sự gắn bó bền chặt, chung sức, chung lòng, “đồng cam cộng khổ” giữatướng lĩnh và binh sĩ Mối quan hệ “phụ tử chi binh” thời Trần, “huynh đệ chibinh” thời Lê, Tây Sơn là biểu hiện sinh động của truyền thống đó Mối quan
hệ gắn bó chặt chẽ giữa tướng lĩnh và binh sĩ đó được hình thành không chỉxuất phát từ truyền thống nhân ái của dân tộc, từ lòng yêu nước, đoàn kếtchiến đấu chống kẻ thù để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của người dânĐại Việt, mà còn do tác dụng to lớn, trực tiếp của sự giáo dục, dạy bảo củacác nhà lãnh đạo và chỉ huy đối với binh sĩ trong các thời kỳ lịch sử
Như vậy, trong lĩnh vực xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh đã
kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc về vũ trangtoàn dân, về xây dựng quân đội sâu đậm tính chất nhân dân, quân cốt tinh,trên cơ sở chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ mưu trí, mưu lược, trungthành, quân sĩ thiện chiến; tăng cường giáo dục mối quan hệ đoàn kết gắn bógiữa cán bộ và chiến sĩ, chung sức, chung lòng thực hiện nhiệm vụ Truyềnthống xây dựng lực lượng vũ trang đặc sắc của dân tộc là nguồn gốc có vị tríđặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cáchmạng Việt Nam
Trang 171.2.1.3 Nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa quân sự thế giới về xây dựng lực lượng vũ trang
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ViệtNam không chỉ có nguồn gốc từ học thuyết quân sự Mác - Lênin và kết tinhnhững giá trị truyền thống tốt đẹp về xây dựng lực lượng vũ trang của dân tộc,
mà còn có yếu tố tinh hoa quân sự thế giới Bởi vì, trong quá trình hoạt độngcách mạng, Hồ Chí Minh luôn có thái độ đúng đắn và phương pháp khoa họctrong việc nghiên cứu lịch sử quân sự từ nhiều ngọn nguồn khác nhau, khảosát kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang của nhiều nước, qua đó, chắt lọcnhững nội dung tích cực và phù hợp để phục vụ cho mục đích xây dựng lựclượng vũ trang của dân tộc mình
Ngay từ khi còn nhỏ, Người đã tiếp nhận nền học vấn Nho học Tuổithiếu niên, Người tiếp cận với những yếu tố văn hóa phương Tây qua trườnghọc Việt - Pháp Nguồn văn hóa phương Tây tác động tới Người, trước hết là
tư tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà giai cấp tư sản đương thời đang lên
đã nêu cao để tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chế độ phong kiến Đây là mộttrong những nguyên nhân thúc đẩy Người đi sang Pháp năm 1911
Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Người đi khắp các châu lục,sinh sống và hoạt động ở những trung tâm văn minh đương thời phương Tây.Tại Pari, thủ đô nước Pháp, Người nghiên cứu nhiều vấn đề quân sự của cáchmạng tư sản Pháp, của công xã Pari và quân đội nước Pháp lúc đó Đối vớivấn đề quân sự trong cách mạng tư sản Pháp, Người ngợi ca tấm gương anhdũng chiến đấu của quần chúng lao động Không chỉ đề cập đến vấn đề cơcấu, qua đó lên án chủ nghĩa thực dân Pháp trong việc bắt người bản xứ bổsung cho quân đội Pháp, mà quan trọng hơn, Người đề cập đến vấn đề mànhiều chiến sĩ cách mạng quốc tế ít biết đến, tức là sử dụng binh lính thuộcđịa để đàn áp cách mạng ở cả “chính quốc” lẫn cách mạng ở thuộc địa một
Trang 18cách mù quáng, điều mà những người lính Pháp “có giác ngộ hơn” có thể từchối không chịu tiến hành Báo cáo đề cập đến nội dung trên được viết từ năm
1923 với nhan đề Đội quân chống cách mạng, là kết quả nghiên cứu của
Người về một loại hình tổ chức quân đội - quân đội của chủ nghĩa đế quốc,
thực dân, góp phần làm phong phú vốn hiểu biết của Người, đặt cơ sở cho việc tuyên truyền địch vận về sau, nhất là đối với binh lính người bản xứ trong
quân đội Pháp thời đó
Hoạt động nhiều năm trên quê hương Cách mạng Tháng Mười, Người cóđiều kiện nghiên cứu về Hồng quân Xô Việt Vốn hiểu biết đó về sau được
Người sử dụng vào thời điểm thích hợp, tức là lúc chúng ta đương tổ chức quân đội Người chỉ ra rằng, trải qua 15 năm “kiến thiết” trước chiến tranh thế
giới thứ hai, Hồng quân Xô Viết đã là một đội quân có tổ chức chặt chẽ, huấnluyện chu đáo, vũ khí tối tân Đội quân đó trong những năm 1938 - 1939 đã
đánh “quân phát xít phương Đông là Nhật Bản ở Trương Cao Phong”, tiếp đó đánh “phát xít Đức đã từng xưng hùng, xưng bá ở châu Âu phải hoảng vía, rồi đến bị chôn sống không ngóc đầu lên được” Lập được chiến công huy
hoàng đó là do Hồng quân Xô Viết có nhiều ưu điểm Người rút ra bốn ưuđiểm của Hồng quân mà ta cần học tập
Thứ nhất, Hồng quân Xô viết “biết phép chiến đấu” Người phân tích:
Đây là một ưu điểm rất quan trọng Vì rằng, nếu chỉ dựa vào vũ khí tối tân và
binh lực mà không “biết phép chiến đấu” thì không thắng nổi đối phương.
Thứ hai, Hồng quân Xô viết được hưởng một nền văn hóa giáo dục tốt
đẹp Nhờ đó, các binh sĩ Xô viết, từ các chiến sĩ bộ binh đến các chiến sĩ ởcác binh chủng kỹ thuật như pháo thủ, xe tăng, lái máy bay đều am hiểu kỹthuật, chiến thuật, làm chủ vũ khí, phương tiện chiến đấu
Thứ ba, Hồng quân Xô viết là đội quân có mối quan hệ đặc biệt giữa
quân và dân Quân, dân nhất trí Trong Hồng quân, tướng lĩnh và binh sĩ đều
Trang 19là những con em của thợ thuyền, dân cày và trí thức Do nền tảng giai cấptrong xã hội Liên Xô biến đổi nên quân đội với nhân dân “cũng như anh emmột nhà”, có tinh thần đoàn kết cao Nhân dân Liên Xô chẳng những hăng háitham gia quân đội, mà còn tích cực ủng hộ, giúp đỡ quân đội Người nêu rõ:
Quân và dân hợp tác triệt để là một đặc điểm nổi bật trong quân đội Xô viết Thứ tư, Hồng quân Xô viết có những vị chỉ huy tối cao sáng suốt, đủ đức
tài Nhờ đó, Hồng quân Xô viết lập được nhiều chiến công hoàn thành nhiệm
vụ được giao Người nhận xét đó là những “kinh nghiệm quý báu” Tinh thầncủa những kinh nghiệm đó được Người đề cập trong nhiều tác phẩm cũng nhưtrong chỉ đạo thực tiễn, nhất là trong thời kỳ đầu xây dựng lực lượng vũ trangcách mạng Việt Nam
Người không chỉ nghiên cứu và rút ra “những ưu điểm” của Hồng quân
Xô viết mà còn nghiên cứu Hồng quân Trung Quốc, kể cả quân đội Quốc dân
Đảng, bởi vì như Người đã nói: “Văn hóa của các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể tiếp thu nhiều hơn cho chính mình” [26, tr 517] Trong cuốn sổ chép những bài thơ Nhật ký trong tù (Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép từ tháng
8 - 1942 đến tháng 9 - 1943), những trang cuối là Mục đọc sách và Mục đọc báo Trong Mục đọc sách, Người ghi Những hiểu biết cơ bản về quân sự, bao gồm các vấn đề xây dựng quân đội chính quy như: Tổ chức biên chế, chỉ huy,
kỷ luật, sinh hoạt, huấn luyện quân sự, giáo dục tư tưởng.
Cùng với việc nghiên cứu về xây dựng lực lượng vũ trang thời hiện đạicủa nhiều nước, Hồ Chí Minh còn quan tâm nghiên cứu, chắt lọc những giá trịtrong di sản quân sự phương Đông cổ đại theo phương pháp của Lênin Năm
1943, Người biên dịch xong Phép dùng binh của ông Tôn Tử Tài liệu đó Bộ
Tuyên truyền Việt Minh xuất bản tháng 2 - 1945 Và trong hoàn cảnh thựcdân Pháp gây hấn ở Nam Bộ và lăm le cướp nước ta một lần nữa, từ ngày 17 -
Trang 205 đến ngày 8 - 11 - 1946, Người viết một loạt bài với bút danh Q.T và Q.TH
lược thuật Binh pháp Tôn Tử đăng trên báo Cứu quốc.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cáchmạng Việt Nam là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyếtquân sự Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam kết hợp với kế thừa,phát triển những giá trị tốt đẹp của truyền thống quân sự dân tộc và chắt lọcnhững yếu tố tích cực của tinh hoa quân sự thế giới về xây dựng lực lượng vũtrang Ngoài nguồn gốc lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng
vũ trang cách mạng Việt Nam còn có nguồn gốc thực tiễn Bởi vì, bất cứ tưtưởng lý luận nào, ngoài sự kế thừa những tư tưởng trước đó, còn phải bắtnguồn từ thực tiễn, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và phát triển sáng tạo quahoạt động thực tiễn Lý luận nào cũng hình thành từ sự tổng kết lịch sử vàtổng kết thực tiễn
1.2.2 Nguồn gốc thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
1.2.2.1 Thực tiễn thời đại
Năm 1848, với sự ra đời của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản chủ nghĩaMác đã phát triển đến độ chín muồi Sau nửa thế kỷ đấu tranh chống hệ tưtưởng tư sản và các trào lưu cơ hội chủ nghĩa dưới mọi màu sắc, chủ nghĩaMác đã trở thành hệ tư tưởng chính thống của phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế V.I.Lênin kế tục tư tưởng và sự nghiệp của C.Mác vàPh.Ăngghen, trong giai đoạn lịch sử mới, đã cùng với Đảng Bônsêvích lãnhđạo cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công Đây là bước ngoặt
vĩ đại trong lịch sử nhân loại, mở đầu cho thời đại mới
Cách mạng Tháng Mười Nga là tấm gương, là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đốivới phong trào giải phóng dân tộc “Từ những người nông dân An Nam đếnngười dân săn bắn trong các rừng Đahômây, cũng đã thầm nghe nói rằng ở
Trang 21một góc trời xa xăm có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn chủ bóc lột họ vàhiện đang tự quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọn chủ và bọn toànquyền Họ cũng đã nghe nói rằng nước đó gọi là nước Nga, rằng có những
người dũng cảm, mà người dũng cảm nhất là Lênin”.
Đối với Nguyễn Ái Quốc, do được rèn luyện trong cuộc sống lao động
và hoạt động nhiều năm trước đó nên tuy lúc đầu chưa hiểu biết hết ý nghĩacực kỳ to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga, nhưng với sự nhạy cảm vềchính trị, Người nhận thấy đây là một biến cố lớn, có sức lôi cuốn kỳ diệu Từnhận thức ban đầu ấy, Người tiếp tục tìm hiểu thêm về Cách mạng ThángMười Nga thông qua sách báo, đồng thời tham gia tích cực cuộc đấu tranhủng hộ, bảo vệ nước Nga Xô viết Kết quả những hoạt động đó nâng cao hơnnhận thức của Người về ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga Từ
đó, Người thấy rõ chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lạicho mọi người - không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, sự tự do, bìnhđẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no; mang lại việc làm cho mọi người và vì niềm
vui, hòa bình, hạnh phúc của mọi người Về sau, trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927), luận giải Cách mạng Nga đối với Cách mạng An Nam thế nào?, Người nêu rõ: “Trong thế giới bây giờ chỉ có Cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc
tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam…”.
Những kết luận ấy phản ánh sự tác động mạnh mẽ, sâu sắc của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đối với Nguyễn Ái Quốc, giúp Người xác định đúng đắn phương hướng chiến lược cách mạng giải phóng thuộc địa, hướng cách mạng Việt Nam vào con đường cách mạng vô sản.
Do ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cách mạngthế giới phát triển mạnh mẽ Ngày 4 - 3 - 1919, Quốc tế Cộng sản ra đời Đây
Trang 22là một sự kiện lịch sử trọng đại sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công.Sau khi thành lập, Quốc tế Cộng sản đã nhanh chóng trở thành trung tâmnghiên cứu lý luận, đường lối, sách lược và tổ chức chỉ đạo phong trào cộngsản và công nhân quốc tế Trong thời gian đầu, Quốc tế Cộng sản doV.I.Lênin lãnh đạo, đã nhanh chóng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vàonhiều nước Điều quan trọng là Quốc tế Cộng sản lúc bấy giờ đã đề ra hàngloạt biện pháp nhằm thúc đẩy phong trào cộng sản, phong trào công nhân vàphong trào giải phóng dân tộc phát triển.
Ngày 16 và 17 - 7 - 1920, báo Nhân đạo đăng toàn văn các văn kiện Đại
hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản, trong đó có Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin Văn kiện đó
đã luận giải những nội dung chính yếu về cách mạng giải phóng dân tộc, soisáng hướng đi và biện pháp quan trọng nhất đưa sự nghiệp giải phóng dân tộcthuộc địa giành thắng lợi hoàn toàn Những quan điểm chủ yếu do V.I.Lênintrình bày trong Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc vàvấn đề thuộc địa và những điều kiện các đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản,nhất là điều thứ 8, thu hút sự quan tâm đặc biệt của Nguyễn Ái Quốc, làm choNgười rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng; làm bừng nở ở Ngườinhững năng lực và sức sáng tạo mới trong hoạt động lý luận cũng như hoạtđộng thực tiễn
Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc công bố hai luận văn
nổi tiếng, nhan đề Đông Dương và Phong trào cộng sản quốc tế - Đông Dương trên tạp chí Cộng sản - cơ quan lý luận, chính trị của Đảng Cộng sản
Pháp, số tháng 4 và tháng 5 - 1921 Trong hai tác phẩm đó, sau khi luận giảicủa nghĩa cộng sản dễ dàng thâm nhập vào châu Á, Người đã nêu lên luậnđiểm về tính chủ động của cách mạng thuộc địa
Trang 23Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (1919) và bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa (1920) của V.I.Lênin
đã tác động sâu sắc, trực tiếp đối với hoạt động và sự hình thành tư tưởngcách mạng, tư tưởng quân sự của Nguyễn Ái Quốc
Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở các châu lục là căn cứ thực tiễn để Nguyễn Ái Quốc đúc kết phương pháp cách mạng.
Sau khi khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam
là đi theo con đường cách mạng vô sản, thì vấn đề tiếp theo là xác địnhphương pháp cách mạng
Để xác định phương pháp cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đọcnhiều tác phẩm lý luận Điều mà Người đặc biệt lưu ý là kết luận của C.Mác
và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về bạo lực là quy luật phổ biến của cách mạng và
nó có thể diễn ra bằng khởi nghĩa vũ trang, bằng chiến tranh cách mạng hoặckết hợp giữa các hình thức đó; lưu ý đến những quy tắc và nghệ thuật khởinghĩa được trình bày trong các tác phẩm dưới dạng khái quát sâu sắc Ngườicòn quan tâm đến nhiều bài học về khởi nghĩa ở nước Nga năm 1917 doV.I.Lênin trực tiếp tổ chức và lãnh đạo Nhưng, Người cũng nhận thấy rằng,điều kiện đấu tranh dân tộc và giai cấp ở các nước thuộc địa chưa có lựclượng giai cấp công nhân đông đảo để có thể giác ngộ, tổ chức thành lựclượng hùng hậu cho khởi nghĩa nổ ra ở thành phố như Cách mạng Nga
Bởi vậy, Người theo dõi sát sao các cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới các màu sắc khác nhau đang diễn ra lúc đó ở các nước thuộc địa.
Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công và Quốc tế Cộng sảnthành lập, phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóngdân tộc trên thế giới phát triển Sự chỉ đạo sát đến nhiều nước của Quốc tếCộng sản làm cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụthuộc dâng cao Cao trào cách mạng bùng nổ ở châu Á, lan rộng ra châu Phi
Trang 24và khu vực Mỹ Latinh Ở Trung Quốc, phong trào Ngũ Tứ (4 -5 -1919), mởđầu cho cuộc cách mạng dân chủ mới Ở Ấn Độ, bãi công của công nhân, đấutranh của nông dân diễn ra mạnh vào những năm 1923 - 1928 Ở các nướcĐông Nam Á, phong trào đấu tranh giành độc lập diễn ra sôi nổi ở Việt Nam,Inđônêxia Ở Trung Đông, Bắc Phi, Mỹ Latinh, phong trào dân tộc bùng nổ
và những yêu sách về tự do dân chủ và ruộng đất Thực tiễn đó cung cấpnhững cứ liệu sinh động để Người viết hàng loạt bài báo, trong đó có các bàiPhong trào cách mạng ở Ấn Độ (1921), Đông Dương và Thái Bình Dương(1924), Những vấn đề châu Á (1925), Các sự kiện ở Trung Quốc (1926).Qua khảo sát thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc rút ra hai kết luận quan trọng
Thứ nhất, theo quy luật, có áp bức thì có đấu tranh Nhưng các cuộc đấu tranh
của nhân dân các nước thuộc địa có những nét riêng biệt so với các cuộc đấu
tranh giai cấp ở các nước chính quốc Họ bị kẻ thù đàn áp khốc liệt Thứ hai,
trong các cuộc đấu tranh giải phóng ở thuộc địa, lần đầu tiên trong lịch sử đãxuất hiện một lực lượng mới tham gia Đó là giai cấp công nhân Nguyễn Ái
Quốc coi đó là “dấu hiệu mới của thời đại” Vấn đề đặt ra là phải tăng cường
tình đoàn kết giai cấp cùng chống kẻ thù chung
Từ những căn cứ đó, năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định
phương pháp cách mạng ở các nước thuộc địa bằng khởi nghĩa vũ trang, khởi
nghĩa vũ trang là một phương thức cơ bản để giành chính quyền thông quaviệc lật đổ hệ thống chính quyền thực dân thuộc địa, chứ không phải bằng conđường cải cách dần, một cuộc đảo chính giản đơn, hay một cuộc cách mạng từ
trên dội xuống Người nói về tổ chức càng nhiều càng tốt những nhóm vũ trang của những người nông dân và công nhân Đó là những tế bào có thể
hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa mà Người tin chắc chắn sẽ nổ ra.Cũng trong năm 1924, trên cơ sở tổng kết lịch sử và tổng kết thực tiễn phongtrào đấu tranh yêu nước ở Việt Nam, Người viết Báo cáo về vấn đề Bắc Kỳ,
Trang 25Trung Kỳ và Nam Kỳ, đề cập đến vấn đề sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc.Trong báo cáo đó, vấn đề khởi nghĩa vũ trang lại được nêu ra Người nhấnmạnh rằng, cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương muốn thắng lợi phải cótính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn.Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố,theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ởbiên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trướcđây Những quan điểm cơ bản và sáng tạo trên của Nguyễn Ái Quốc là cơ sở
lý luận để Người và Trung ương Đảng hoàn chỉnh lý luận khởi nghĩa vũtrang, đề ra các chủ trương, biện pháp tiến hành chuẩn bị, tiến lên khởi nghĩatừng phần, tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong phạm vi cả nước về sau
Khẳng định phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc bằng khởi nghĩa vũ trang “có tính chất một cuộc khởi quần chúng”, cả dân tộc tiến hành, tất yếu đến phải xây dựng lực lượng vũ trang Bởi vì, như V.I.Lênin đã
chỉ rõ, để thực hiện được một cuộc chuyển biến cách mạng, không phải chỉcần có ưu thế tinh thần, rằng ưu thế tinh thần đã rõ ràng, là điều kiện cần thiết,nhưng còn chưa phải là điều kiện đầy đủ Vì vậy, khẩu hiệu khởi nghĩa làkhẩu hiệu giải quyết vấn đề bằng lực lượng vật chất - mà trong nền văn minhhiện nay thì lực lượng vật chất đó chỉ có thể là lực lượng quân sự
1.2.2.2 Thực tiễn của dân tộc và hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Thực tiễn dân tộc bị ách áp bức thực dân
Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Trước nạnngoại xâm, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên đấu tranh, nhưng bị kẻthù đàn áp khốc liệt Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp câu kết với giai cấpphong kiến địa chủ thống trị nhân dân Việt Nam vô cùng độc ác Chúng biếnnước Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập thành một nước thuộc địa
Trang 26nửa phong kiến Chúng chia cắt quốc gia Việt Nam thống nhất thành ba kỳ với
ba chế độ chính trị khác nhau để dễ bề cai trị và đàn áp Chúng vơ vét tài nguyên
và bóc lột nhân dân ta tận xương tủy Năm 1940, phát xít Nhật vào ĐôngDương Từ đó, nhân dân Việt Nam bị bóc lột thậm tệ hơn
Thực tiễn đất nước bị nô lệ, nhân dân ta bị thực dân Pháp bóc lột vôcùng dã man về mọi phương diện là những cứ liệu xác thực mà Nguyễn ÁiQuốc sử dụng để viết hàng loạt bài báo kết án chủ nghĩa thực dân, lần lượt
công bố trên các báo Le Paria (Người cùng khổ), La vie ouvriere (Đời sống công nhân), L’Humanité (Nhân đạo), La correspondence internationale (tạp chí Thư tín quốc tế), v.v , và kết tinh trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925).
Sau khi phân tích, kết án chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chínhquyền thuộc địa về kinh tế, chính trị, quân sự, v.v , nêu rõ đặc trưng thống trịtrực tiếp, bằng bạo lực của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc
rút ra kết luận: “trong thời gian ngắn nhất phải tạo ra một phong trào đối kháng mang tinh thần cộng sản, chống chủ nghĩa tư bản và hai hình thức đặc biệt của nó là chủ nghĩa đến quốc, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa pháo thuyền ở các thuộc địa” [11, tr 480].
Thực tiễn đời sống và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Trong các hoạt động cách mạng trên thế giới, thật hiếm người có cuộcsống và hoạt động thực tiễn đa dạng, phong phú như Nguyễn Ái Quốc - HồChí Minh Rời Tổ quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước khác; sau đósang Mỹ (1912 - 1913), rồi tới Anh (1913), Tháng 12 - 1917, Người rời LuânĐôn trở lại Pari để có điều kiện hoạt động trong phong trào Việt kiều vàphong trào công nhân Pháp Suốt nhiều năm xông pha, Người đã có mặt ởnhiều nước, tiếp xúc với nhiều lớp người thuộc nhiều dân tộc khác nhau Đếncác nước tư bản phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ, Người tận mắt nhìn thấy
Trang 27cảnh giai cấp công nhân và quần chúng lao động bị áp bức, bị đối xử vô cùngthậm tệ Khi tới các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và MỹLatinh, Người lại tận mắt chứng kiến những tội ác không thể tưởng tượngđược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân Đồng thời, Người cũng thấy
rõ ý chí quật cường của giai cấp công nhân và những người lao động cùngkhổ ở khắp mọi nơi
Qua thực tiễn đó, Người rút ra kết luận quan trọng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu
ái vô sản”[11, tr 287] Hoạt động ở nhiều nước trên thế giới không chỉ hun
đúc ở Người tình cảm cách mạng nồng thắm, mà còn bồi bổ cho Người trí tuệanh minh
Thời gian dừng chân ở nước Mỹ, Người đã ở Brúclin, đến chiêm ngưỡng tượng thần Tự do và đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước
Mỹ Người khâm phục ý chí kiên cường trong đấu tranh giành độc lập tự docủa nhân dân Mỹ và khâm phục những tư tưởng lớn của Jépphécsơn,Oasinhtơn, Lyncôn, nhưng Người cũng phát hiện những nghịch lý, đó là sựnghèo đói, bất bình đẳng và nạn phân biệt chủng tộc ghê gớm
Ở Pari, thủ đô nước Pháp, Người vừa hăng hái tham gia phong trào đấutranh cách mạng, vừa quan tâm tìm hiểu những giá trị tư tưởng chứa đựngtrong các tác phẩm của các văn hào nổi tiếng như Vônte, Điđơrô,
Môngtétxkiơ, Rútxô; tìm hiểu tư tưởng bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp và nghiên cứu nhiều vấn đề trong lĩnh vực quân sự Người đã tự làm giàu trí tuệ của mình khiến nhiều người trọng nể.
Cụ Phan Châu Trinh vui mừng nhận xét Nguyễn Ái Quốc: “nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông” Còn Tiến sĩ Phan Văn Trường thì hy vọng “Tương lai của nước ta có được cái gì chỉ là nhờ Nguyễn Ái Quốc”.
Trang 28Thời gian sống ở Liên Xô, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Nguyễn
Ái Quốc lại có điều kiện bổ sung kiến thức về xây dựng Đảng kiểu mới củagiai cấp công nhân, kinh nghiệm xây dựng các tổ chức quần chúng, kinhnghiệm xây dựng Hồng quân Xô viết
Người cũng đã có nhiều năm hoạt động trên đất nước Trung Quốc.
Năm 1924, tại Quảng Châu, trung tâm của Cách mạng Trung Quốc lúc bấygiờ, Người đã có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với chủ nghĩa Tam dân củaTôn Trung Sơn Đặc biệt, qua khảo sát thực tiễn phong trào đấu tranh cáchmạng của nhân dân Trung Quốc và nhiều nước khác, Người đã đúc kếtđược những kinh nghiệm đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũtrang Trên cơ sở những tri thức đó, cuối năm 1927, trong thời gian ngắn ở
Mátxcơva, Người đã viết cuốn sách Công tác quân sự của Đảng trong nông dân, trong đó đưa ra luận điểm quan trọng: “Bất kỳ một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang (…), đó là điều hoàn toàn cốt lõi để bàn luận công tác quân sự của Đảng trong nông dân suốt thời gian dài” [12, tr 571].
Rõ ràng, những sự kiện lớn của thế giới, tiêu biểu là thành công của Cáchmạng Tháng Mười Nga (1917), sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (1919) và
Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (1920), phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới dâng cao
đã tác động đến Nguyễn Ái Quốc Đó là điều kiện khách quan Hoàn cảnh
dân tộc Việt Nam bị ách áp bức thực dân đè nặng, phong trào yêu nướcchống thực dân Pháp, giải phóng đất nước đòi hỏi con đường cứu nướcđúng đắn; tình cảm và tài năng được hun đúc qua hoạt động cách mạng của
Nguyễn Ái Quốc là điều kiện chủ quan Chính sự thống nhất giữa điều kiện
khách quan và điều kiện chủ quan đã giúp Nguyễn Ái Quốc tìm được con
Trang 29đường cứu nước đúng đắn, từng bước hình thành nhiều quan điểm chínhtrị, quân sự cơ bản trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân
dân có nguồn gốc hình thành phong phú Tư tưởng đó của Người là kết quả
của quá trình nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vàođiều kiện thực tiễn Việt Nam Những vấn đề chủ yếu nhất Người tiếp thu là
tư tưởng cách mạng và khoa học kết tinh trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, từ đó xác định lý tưởng chiến đấu của lực lượng vũ trang là thực hiện
mục tiêu cách mạng do Đảng xác định Phép biện chứng (Người gọi làphương pháp làm việc biện chứng), giúp Người xác định chính xác phươnghướng xây dựng, định ra trọng điểm, trọng tâm trong mỗi thời kỳ, đề ra cácgiải pháp đúng đắn để thực hiện Người đặc biệt quan tâm vấn đề cốt lõi làxây dựng quân đội mang bản chất giai cấp công nhân, vững mạnh toàndiện, cả về chính trị và quân sự Bên cạnh đó, Người còn hấp thụ nhữngyếu tố tích cực, tinh hoa quân sự thế giới từ nhiều ngọn nguồn khác nhau,
từ cổ chí kim, từ phương Đông đến phương Tây để phục vụ cho việc xâydựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam Trong ba nguồn gốc đó, họcthuyết quân sự Mác - Lênin là nguồn gốc quyết định bản chất giai cấp,truyền thống quân sự dân tộc có vị trí đặc biệt quan trọng Ngoài ba nguồngốc lý luận cơ bản đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũtrang cách mạng Việt Nam có nguồn gốc thực tiễn Thực tiễn của thời đại,của dân tộc, của bản thân cuộc sống và hoạt động của Người cũng là nguồngốc, là cơ sở quan trọng làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lựclượng vũ trang hình thành, hoàn thiện và phát triển
1.2.3 Nguồn gốc chủ quan Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh - một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cáchmạng, một trái tim thương dân, thương yêu những người cùng khổ, tin tưởng
Trang 30ở nhân dân, có đầu óc thực tiễn, sẵn sàng hy sinh vì độc lập - tự do của dântộc, vì hạnh phúc của nhân dân Phẩm chất và năng lực của chính bản thân HồChí Minh có vai trò quan trọng để Người làm được điều đó.
Và có thể nói rằng, nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân xuất phát từ chủ quan Hồ Chí Minh Đây lànguồn gốc mang yếu tố nhận thức quyết định đến quá trình hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh
Đó là khả năng tiếp thu rất nhanh nhạy những tri thức của nhân loại, nhất
là đối với cái mới Sự kết hợp giữa trí thông minh và tư duy đổi mới, đầu óctiếp thu, phê phán, chọn lựa những tri thức, luôn luôn học tập ở mọi nơi có thểhọc được, học trên ghế nhà trường, trong thực tiễn hoạt động cách mạng Tạisao cuộc cách mạng đó thắng lợi? Ai lãnh đạo? Phương pháp gì? luôn là câuhỏi được đặt ra mỗi khi bắt gặp vấn đề mới
Hồ Chí Minh là một con người có chí lớn, có hoài bão lớn lao Ngườichủ động, tự nguyện dấn thân vào cuộc đời gian khổ để mưu việc lớn Cái chílớn lao đó làm nên tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh Đã quyết tâm thìkhông gì ngăn cản được - đó là ý chí dời non lấp biển, sẵn sàng chấp nhận hysinh, mất mát của Hồ Chí Minh trên con đường cứu nước
Và đặc biệt một điều dễ nhận thấy ở Hồ Chí Minh là người có đạo đứccách mạng, làm chủ bản thân mình trong mọi tình huống Hồ Chí Minh làngười làm chủ mọi hành vi của bản thân mình Mặc dù cuộc sống vật chấtnhiều lúc thật cực, Người đã chịu mọi khổ ải của chúng sinh, nhất là lúc hoạtđộng bí mật và đặc biệt thời gian ở trong tù bị mất tự do, bị cuộc sống vật chấtkhổ ải làm hao mòn sức lực Song, Người không để những điều đó làm ảnhhưởng đến ý nguyện thực hiện sự nghiệp cách mạng của mình, mang độc lập -
tự do - hạnh phúc cho quốc dân đồng bào
Trang 31Như vậy, bằng tư duy sáng tạo, trí tuệ thiên tài của Hồ Chí Minh đã đi
từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, chủ nghĩa nhân văn cao cả đến với chủnghĩa Mác - Lênin, cùng với việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa củanhân loại, kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,hiểu sâu sắc yêu cầu của thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược của nhân dân ta Đó chính là những nguồn gốc cơ bản của tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Thực chất là sựkết hợp nhuần nhuyễn giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan để hìnhthành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lượng vũ trang nhân dân
Trang 32CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
2.1 Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân
Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng ra và Chủ tịch Hồ ChíMinh xây dựng mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tínhnhân dân và tính dân tộc sâu sắc Xác định bản chất cách mạng cho lực lượng
vũ trang là nguyên tắc hàng đầu của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Tư tưởng
đó bắt nguồn từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, coi “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Người chỉ rõ: “Không có dân thì không có bộ đội”, còn bộ đội thì “ở trong dân, bênh vực quyền lợi cho dân, vì dân mà hy sinh chiến đấu”, “tận tâm tận lực vui lòng hy sinh vì sự nghiệp cứu nước, vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng” [37, tr 71] Tư tưởng đó còn xuất phát từ quan điểm
Mác - Lênin rằng, lực lượng vũ trang là công cụ bạo lực của giai cấp, phảituyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của chính đảng vô sản Xuất phát từ những
quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tên cho lực lượng vũ trang là Lực lượng vũ trang nhân dân và Quân đội nhân dân.
Một trong những nội dung cơ bản trong xây dựng lực lượng vũ trangnhân dân được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu là xâydựng bản chất cách mạng của nó Nhìn nhận bản chất cách mạng của lựclượng vũ trang nhân dân có thể xem các mối quan hệ của lực lượng vũ trangnhân dân với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với nội bộ, với bạn bè và với
kẻ thù Cũng có thể nhận rõ bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang nhândân theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở mục tiêu chiến đấu vì Đảng, vì nước, vìdân, do dân và có Đảng Cộng sản lãnh đạo Lực lượng cũ trang nhân dân là
Trang 33công cụ bạo lực chủ yếu của Đảng, của Nhà nước ta và đó là lực lượng nòngcốt cho toàn dân tiến hành khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền, tiến hànhchiến tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong thời đại mới - thời đại HồChí Minh, đã kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp, nhưng lại kháchẳn về bản chất so với lực lượng vũ trang trong lịch sử dân tộc Chủ tịch HồChí Minh là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân ta, đồng thời
là Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam Trongxây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Người nhấn mạnh: vấn đề cơ bản làphải tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho lực lượng vũ trang ta
Tư tưởng chỉ đạo cơ bản trong xây dựng bản chất cách mạng cho lực
lượng vũ trang nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ là: “Trung với nước, hiếu với dân” Đó là bổn phận thiêng liêng của mỗi cán bộ, chiến sĩ
trong các lực lượng vũ trang ta Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân
là bản chất chính trị, tư tưởng của lực lượng vũ trang nhân dân, đồng thờicũng là bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân Được Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, được vũ trang nhân dân ta mangtrong mình bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, bản chất nhân dân củamột tổ chức quân sự kiểu mới ở Việt Nam
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ ChíMinh hết sức coi trọng việc xây dựng và không ngừng tăng cường bản chấtcách mạng của giai cấp công nhân cho các lực lượng vũ trang, coi đó là yếu tố
cơ bản cho lực lượng vũ trang ta ngày càng có sức chiến đấu mạnh mẽ, luôn
là công cụ bạo lực tin cậy của Đảng và Nhà nước
Lực lượng vũ trang nhân dân ta vốn xuất thân từ nhân dân và trở thànhmột lực lượng đặc biệt của nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng, che chở, bảo
vệ Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Trang 34Phải xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như xây dựngquân đội thực sự là của dân, do dân, vì dân Đây là điểm cốt lõitrong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang Nókhẳng định nguồn gốc của lực lượng vũ trang ta từ nhân dân mà ra.Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn lực lượng vũ trang phảiđánh giặc là vì dân, nhưng không phải là “cứu tinh” của dân, mà phải có trách
nhiệm phụng sự nhân dân Để làm tròn nhiệm vụ đó, Người chỉ rõ: “Phải dựa vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được” [9, tr 130] Chỉ có dựa chắc
vào dân, lực lượng vũ trang nhân dân ta mới có thể phát triển được nhanhchóng, vững chắc và sức mạnh chiến đấu mới không ngừng được nâng cao.Trong việc xây dựng và không ngừng bồi đắp, tăng cường bản chất cách
mạng các lực lượng vũ trang nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mạng…Đảng có vững cách mạng mới thành công”
[12, tr 289] và chính Người đã sáng lập, tổ chức ra Đảng Cộng sản Việt Nam,một chính đảng kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân, đảm nhận sứmệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối vềmọi mặt đối với lực lượng vũ trang nhân dân nhằm bảo đảm cho lực lượng vũtrang mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, thể hiện đầy đủ vàsâu sắc tính nhân dân và tính dân tộc Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trongxây dựng bản chất của lực lượng vũ trang nhân dân, không thể chia sẻ cho bất
cứ giai cấp, đảng phái hoặc cá nhân nào khác
Một nội dung khác trong xây dựng lực lượng vũ trang được Đảng ta vàChủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng là xây dựng về chính trị Đây cũng làmột nguyên tắc rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trangnhân dân theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Lực lượng vũ trang ta khởi đầuhình thành từ phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân, tuyển chọn trong
Trang 35số hạt nhân tiêu biểu của quần chúng cách mạng, và ngay từ buổi “ấu thơ” đó,
nó đã thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ phong trào chính trị và hỗ trợ quầnchúng đấu tranh cách mạng Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyêntruyền giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phương châm xây dựngquân đội là “chính trị trọng hơn quân sự” Tư tưởng đó của Người tiếp tụcđược giữ vững, phát huy cao độ trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trangtrở thành một công cụ sắc bén của Đảng, lấy bản chất chính trị và mục tiêuchính trị của cách mạng làm nội dung hoạt động
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mang bản chất cách mạng củagiai cấp công nhân, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về vấn đề này luôn chútrọng việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh theo hướng cáchmạng, chính quy, từng bước hiện đại hóa và đây cũng là một nguyên tắcxuyên suốt của cả quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trangnhân dân Quán triệt tư tưởng đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựnglực lượng vũ trang ta mang bản chất cách mạng triệt để của giai cấp côngnhân, tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn cho các lực lượng vũ trangnhân dân
2.2 Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt các lực lượng
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, khi nói về những
điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng Người viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững, cách
Trang 36mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” [12,
tr 289]; năm 1944, khi tổ chức đội vũ trang tập trung, Người khẳng định: “Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo”.
Trong hơn nửa thế kỷ Đảng lãnh đạo quân đội đã bốn lần thay đổi cơchế, nhưng chủ yếu vẫn làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã nêu ra từ năm
1944: “Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo”, “quân sự phải phục tùng chính trị, quân sự mà không có chính trị như cây không gốc, vô dụng lại
có hại”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang điểm cốtlõi là để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị, thực chất là xâydựng quân đội kiểu mới ở Việt Nam theo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác
- Lênin, quân đội của dân, do dân, vì dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân màchiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân, tính dân tộcsâu sắc, vừa là lự lượng chính trị tin cậy, vừa là lực lượng vũ trang sắc bén,vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác, tuyệt đối trung thành vớiĐảng, hết lòng phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự docủa Tổ quốc vì chủ nghĩa xã hội
Quá trình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ tranghơn nửa thế kỷ qua, là quá trình bảo đảm mọi thắng lợi, trưởng thành củaquân đội, không chỉ đánh thắng các đế quốc to, mà còn hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ chính trị khác, vượt qua bão tố chính trị, luôn là lực lượng đáng tincậy của nhân dân
Quá trình thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo các lựclượng vũ trang cũng là quá trình xây dựng nên hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” -một giá trị tinh thần vĩnh cửu
Bộ đội Cụ Hồ không chỉ hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, mà còn làmnhiệm vụ quốc tế cao cả, không chỉ trong chiến đấu mà còn trong xây dựng, là
Trang 37lực lượng xung kích cứu giúp nhân dân khi thiên tai lũ lụt, là người lính tiênphong trong công cuộc đấu tranh với những tư tưởng và hành vi sai trái, trởthành những điểm sáng văn hóa trong các sinh hoạt cộng đồng; khi không còntrong quân ngũ, “Bộ đội Cụ Hồ” về địa phương, cũng vẫn giữ được phẩmcách, truyền thống, là chỗ dựa về chính trị của chính quyền và nhân dân nơi
cư trú
2.3 Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân - một tổ chức quân
sự Việt Nam kiểu mới
Lực lượng vũ trang nhân dân được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổchức, giáo dục và rèn luyện là lực lượng vũ trang cách mạng kiểu mới gồmcác tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân các dân tộc sống trên đấtnước Việt Nam Đó thực chất là quân đội của công nông (đội quân chủ lựchùng hậu của cách mạng) Đội quân đó được tổ chức chặt chẽ và vũ trang vớimức độ khác nhau, hoàn toàn thoát ly sản xuất, hoặc không thoát ly sản xuất
tự nguyện chiến đấu theo mục đích chính trị của cách mạng dưới sự lãnh đạocủa Đảng
Với truyền thống chống ngoại xâm gắn liền giữa xây dựng và bảo vệ đấtnước, dân tộc ta đã sớm thực hiện “cả nước là binh”, huy động được đông đảodân chúng tham gia dưới nhiều hình thức cao nhất là dân chúng vũ trang kếthợp với quân đội của triều đình Trừ một số ít trường hợp chỉ có lực lượng vũtrang của dân chúng hoặc chỉ có quân đội triều đình, còn nhìn chung, lựclượng vũ trang thường tổ chức thành ba bộ phận, gồm quân triều đình (thườnggọi là quân trong kinh hoặc cấm quân), quân địa phương (quân các lộ, cácchâu) và lực lượng dân binh (hương binh ở vùng đồng bằng, thổ binh ở miềnnúi) Quân triều đình và quân các lộ, châu là lực lượng vũ trang thường trựccủa Nhà nước, được tổ chức với số lượng vừa phải và huấn luyện chính quy,tinh nhuệ Dân binh là lực lượng vũ trang dân chúng rộng rãi, được động viên
Trang 38vào đội ngũ khi xảy ra chiến tranh để chiến đấu tại chỗ hoặc tác chiến cơ độngtheo sự điều động của Nhà nước Việc kết hợp giữa các bộ phận lực lượngnày đã trở thành nguyên lý trong xây dựng lực lượng vũ trang của dân tộc tathời trước.
Là lãnh tụ có tầm nhìn chiến lược, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãnhận thức sâu sắc rằng, trong điều kiện đất nước bị ngoại xâm thống trị, nhândân bị áp bức bóc lột, nặng nề, thì vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang đượcđặt ra cần thiết, có vai trò quyết định đối với tiến trình phát triển và thắng lợi
của cách mạng Việt Nam Sau khi bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới
hội nghị Vécxây (năm 1919) không có kết quả, Người rút ra lết luận: Các dân
tộc muốn được giải phóng phải “trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”
[11, tr 65] Năm 1924, Người khẳng định:
Công cuộc giải phóng Việt Nam sẽ được tiến hành bằng cáchmạng khởi nghĩa trong cả nước Muốn thế, phải “tổ chức càngnhiều càng tốt những nhóm vũ trang của những người nông dân vàcông nhân tại Việt Nam Đó là những “tế bào” có thể hợp thành hạtnhân của cuộc khởi nghĩa [27, tr239]
Đây hẳn là luận điểm ghi dấu ấn đầu tiên của Người về tổ chức vũ trang
và vai trò của nó trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Để chuẩn bị cho việc xây dựng lực lượng vũ trang trong tương lai, từnhững năm hoạt động ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu về tìnhhình tổ chức quân đội của nước đang thống trị dân tộc mình, xem xét cơ cấu,nguồn gốc cũng như tính chất nguy hiểm của nó đối với giai cấp vô sản ởchính quốc và các nước thuộc địa Tiếp đó, Người nghiên cứu Công xã Pari
và tổ chức quân đội của công xã Dù vậy, phải đến khi sang nước Nga, sau đó
là Trung Quốc thì từ đó trở đi, tư tưởng của Người về các vấn đề này mới trởnên rõ ràng hơn Nghiên cứu các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vũ
Trang 39trang dân chúng, về tổ chức Hồng quân - một quân đội kiểu mới trên cơ sở vũtrang toàn dân của Lênin; đồng thời kế thừa và phát triển kinh nghiệm xâydựng lực lượng vũ trang dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước xácđịnh nguyên tắc, cơ cấu lực lượng vũ trang của Việt Nam về mặt lý luận,chuẩn bị tiền đề cần thiết để tổ chức xây dựng nó sau này.
Trong những năm 1930 - 1940, từ phong trào đấu tranh cách mạng củaquần chúng đã xuất hiện lực lượng vũ trang, nhưng cơ cấu, nguyên tắc tổchức xây dựng chưa rõ ràng, chưa thống nhất, còn nặng tính du kích Chỉ đếnkhi Hồ Chí Minh về nước (1941), vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang mớiđược giải quyết đúng đắn Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (8 - 1941)
do Người chủ trì, lần đầu tiên khái niệm cơ cấu lực lượng vũ trang ta gồm ba thứ quân được nêu ra Lực lượng vũ trang ta có lực lượng cơ sở và lực lượng
chính quy Trong lực lượng cơ sở có bộ phận thoát ly công tác Vì vậy,nguyên tắc xây dựng đối với từng lực lượng, nhất là vũ trang tập trung thoát
ly sản xuất, đòi hỏi phải được giải quyết rõ ràng về mặt lý luận Đây là vấn đềmới trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Về vấn đề này, trước khi
tổ chức ra đội vũ trang tập trung Cao Bằng, Hồ Chí Minh đã xác định:
1- Đội du kích từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu Phải dựavào dân
2- Phải thống nhất ý chí, coi nhau như ruột thịt
3- Kỷ luật là xương sống của đội Kỷ luật sắt
4- Vừa là đội quân chiến đấu, vừa là đội quân công tác
5- Phải vừa chiến đấu vừa xây dựng
6- Chiến đấu để tiêu hao, tiêu diệt địch Đánh địch nhằm bồi dưỡng lựclượng ta
Thực hiện chỉ thị trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 11 năm
1941, đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Cao Bằng được thành lập, làm
Trang 40nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo Đảng, giữ vững thông tin liên lạc, vũ trangtuyên truyền trong quần chúng, huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu Đội gồm
12 người do đồng chí Lê Quảng Ba làm đội trưởng, đồng chí Hoàng Sâm làmđội phó, đồng chí Lê Thiết Hùng làm chính trị viên Sau này, một số cán bộ,đội viên của đội được lựa chọn vào Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóngquân, số còn lại nhận nhiệm vụ khác
Với việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, hệthống tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng gồm ba thứ quân do Hồ ChíMinh đề ra và chỉ đạo tổ chức đã bước đầu hình thành: đội quân chủ lực củakhu căn cứ Cao - Bắc - Lạng (sau này là chủ lực của cả nước), các đội du kíchtập trung của các huyện, tỉnh và lực lượng tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu ởkhắp các làng xã Đến đây, mô hình về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
- tổ chức quân sự cách mạng kiểu mới của dân tộc ta theo tư tưởng Hồ ChíMinh đã ra đời Đó là lực lượng vũ trang kiểu mới, do Đảng ta và Chủ tịch HồChí Minh sáng lập và lãnh đạo, là lực lượng vũ trang cách mạng từ nhân dân
mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, từng bước được xây dựng ngày càng hoànchỉnh và không ngừng lớn mạnh Thực hiện Nghị quyết hội nghị quân sự cáchmạng Bắc kỳ, ngày 15 tháng 5 năm 1945, Đội Việt Nam tuyên truyền Giảiphóng quân và các đơn vị Cứu quốc quân được thống nhất thành lực lượng bộđội chủ lực mang tên Việt Nam Giải phóng quân địa phương được thành lập.Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ ChíMinh, các lực lượng vũ trang đã làm nòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa giànhchính quyền trong cả nước Cách mạng Tháng Tám thành công, nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một thời đại mới trong lịch sử ViệtNam, thời đại toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứnglên làm chủ vận mệnh của mình Cũng từ đây, lực lượng vũ trang ba thứ quân