Triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự đan xen những tư tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được thể hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ..
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐÀO THỊ THÙY LINH
TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA
Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI TƯ TƯỞNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM 8
1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam thế kỷ XVI ảnh hưởng đến tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm 8
1.2 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm 25
Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CHỦ YẾU 41
2.1 Quan niệm về vũ trụ 41
2.2 Tư tưởng về mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng 48
2.3 Tư tưởng về sự vận động, biến đổi của tự nhiên và xã hội 54
2.4 Giá trị và hạn chế chủ yếu của tư tưởng biện chứng Nguyễn Bỉnh Khiêm 83
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại Nghiên cứu tư tưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành, phát triển của thế giới nói chung và của xã hội loài người nói riêng Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời đại và mỗi dân tộc có những giá trị triết học khác nhau
Quan niệm về triết học Việt Nam trong lịch sử của các nhà nghiên cứu
tương đối khác nhau, có hai khuynh hướng chủ yếu: Thứ nhất, một số nhà
nghiên cứu cho rằng Việt Nam không có triết học, Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng - Mạnh nói thế nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phần nào đó thôi Theo các nhà nghiên cứu đó, giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không có khả năng sáng tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhân dân vĩ đại Tóm lại, khuynh hướng này khẳng định: Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng, chỉ có thích nghi, đó là tư tưởng Đại Việt Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các nhà nghiên cứu Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quốc Vượng…
Khuynh hướng thứ hai, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định Việt Nam có
triết học, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam Đại diện cho khuynh hướng quan niệm này là các nhà nghiên cứu Vũ Khiêu, Lê Hữu Tầng… Khuynh hướng này ngày càng cho thấy tính thuyết phục của nó khi nghiên cứu kỹ càng, cặn kẽ những di sản tinh thần của dân tộc
Có thể thấy rằng, nếu như triết học phương Tây thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị, đạo đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn đề nhân
Trang 5sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước Nếu như triết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan (từ bản thể luận đến nhận thức luận, lô gíc học), thì triết học Việt Nam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan Ở Việt Nam, vấn
đề trung tâm, hàng đầu là vấn đề con người, đạo lý làm người, sau đó các nhà
tư tưởng mới đi tìm cách lý giải, đặt cơ sở cho những vấn đề thế giới quan Điều này bị qui định bởi phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Tư tưởng triết học Việt Nam là sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc; nó phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh, vũ trụ lên trình độ lý luận, song do khuynh hướng trội nêu trên nên nó thiếu tính hệ thống chặt chẽ và thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết được du nhập từ bên ngoài nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước
Khi nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, không thể không kể đến những tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn Họ giống như những ngôi sao sáng trên bầu trời triết học nước nhà Những tư tưởng của họ đã tạo nên tiền đề vững chắc cho nền triết học Việt Nam Trong số đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem như cây đại thụ tư tưởng tỏa bóng mát cho triết học Việt Nam đâm chồi và phát triển Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân đã nhận định:
Trên trăm năm về trước, dưới trăm năm về sau không ai hơn được tiên sinh khắp thiên hạ từ quân vương đến bậc hiền nhân kể cũng nhiều lắm Nhưng đều vinh hiển lúc sống, chết đi là hết Duy tiên sinh truyền đến nay 7, 8 đời rồi, mà sĩ thứ các nơi càng chiêm ngưỡng như núi Thái Sơn, sao Bắc đẩu, nghìn năm như một ngày vậy [44, 632] Cho đến nay, đã gần năm thế kỷ trôi qua, những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn chứa đựng nhiều giá trị cho các thế hệ mai sau
Trang 6Tuy nhiên, xưa nay khi nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm người ta thường bàn chủ yếu đến giá trị văn học nghệ thuật và quan niệm nhân sinh Trong khi đằng sau những tư tưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến bộ Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội
và tư duy được diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng Triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự đan xen những tư tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được thể hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ Đây là nét đặc sắc của nền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển nó
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng
trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” làm đề tài luận văn thạc sĩ
triết học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tư tưởng lớn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn, niềm tự hào của dân tộc ta Tư tưởng của ông ảnh hưởng sâu sắc đến các thế
hệ con người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp trí thức Trong lịch sử đã từng có những công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của ông một cách công phu và sâu sắc Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh khiêm đều là sự tập hợp những tác phẩm thơ, văn hoặc sấm mà ông đã viết và phân tích chúng dưới góc độ văn học nghệ thuật hoặc tư tưởng nhân sinh Còn những công trình nghiên cứu mang tính triết học thì ít hơn Cho đến nay có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn Bỉnh Khiêm như sau:
Nhóm công trình nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Cuốn sách Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký do Vũ
Khâm Lân biên soạn năm 1743 Cuốn sách được sưu tập với sự giúp đỡ của người cháu trực hệ bảy đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nguyễn Thì Đương
Trang 7Tuy đây là cuốn sách sớm nhất nhưng cũng được ghi chép sau khi ông mất
190 năm; Đến thế kỷ XIX, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
cũng ghi chép được một số tài liệu ít ỏi về Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng phần lớn là dựa vào phả ký của Vũ Khâm Lân Hai công trình này giống như chiếc chìa khóa mở ra kho tàng tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, là nguồn tư liệu quý
giá cho các công trình nghiên cứu sau này; Năm 1943, cuốn Tuyết Giang phu
tử của Chu Thiên Hoàng Minh Giám ra đời, đây là một công trình khá đặc sắc
và công phu quy tụ những nét chính về thời đại và cuộc đời của danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Cuốn sách đã trở thành tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà khoa học sau này
Từ sau Cách mạng Tháng 8 đến nay, những công trình nghiên cứu về
Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện nhiều hơn, tiêu biểu như các tác phẩm: Thơ
văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn,
Nxb Văn học, năm 1983 Cuốn sách này tập trung 161 bài thơ Nôm và gần
100 bài thơ, văn Hán Việt của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tập sách có lời giới thiệu chung của tác giả với những lời nhận xét thuyết phục về nội dung tư tưởng của thơ văn Trạng Trình
Sau hội thảo khoa học kỷ niệm 400 năm ngày mất Nguyễn Bỉnh Khiêm
tại Hải Phòng (1985) có thêm cuốn “Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, kỷ yếu
hội thảo” với tập hợp nhiều bài viết sâu sắc về Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới
nhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học
Năm 1991, Bộ Văn hóa thông tin và truyền thông cùng Viện khoa học
xã hội công bố cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa” do
Nguyễn Huệ Chi chủ biên Đây cũng là công trình được đánh giá rất cao, là nguồn tư liệu vô cùng quý giá cho các công trình nghiên cứu sau này Tác
phẩm “Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập”, Nguyễn Khuê, nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh (1997); “TrạngTrình sấm và ký”,
Trang 8Nguyên Nghiệp, nhà xuất bản Văn hóa thông tin (2004); “Tuyết Giang phu
tử”, Trần Tuấn Tiến, nhà xuất bản Sân khấu (2011)
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu “Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác
gia và tác phẩm” của Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh tuyển chọn và
giới thiệu Công trình tập trung những bài viết từ trước đến nay của nhiều nhà khoa học lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm được tập hợp một cách hệ thống
và khoa học, gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện:
Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tư tưởng và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa và nay Những bài viết này bao
gồm những lời bình thú vị và sâu sắc về con người, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nhóm công trình nghiên cứu về triết học có một số công trình nghiên
cứu như sau: Trước hết là cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý” của
Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà xuất bản năm 1957 Cuốn sách là cái nhìn mới
về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Các tác giả đã chỉ ra được một số vấn đề mang tính triết học trong tư tưởng của Trạng Trình mà đến nay nó vẫn mang nhiều giá trị Năm 1992, Trung tâm Hán Nôm TP Hồ Chí Minh xuất bản cuốn
sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử triết học Việt Nam” do Phan Văn Các
biên soạn cũng là một cách nhìn mang tính triết học về tư tưởng của Nguyễn
Bỉnh Khiêm; Trong các cuốn sách “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” tập 1 của Nguyễn Tài Thư xuất bản năm 1993 và “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” (văn
tuyển) của Trần Nguyên Việt xuất bản năm 2004, đã đề cập đến những tư tưởng triết học Việt Nam trong đó có tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ngoài ra còn nhiều bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lý,
triết học của Trần Nguyên Việt như: “Tư tưởng về triết học tự nhiên của
Nguyễn Bỉnh Khiêm”, “Vấn đề con người trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm” và các bài viết của PGS, TS Nguyễn Tài Thư về yếu tố Kinh dịch,
Trang 9lý học trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm… được đăng trên các tạp chí triết học đáng để chúng ta đọc và suy ngẫm
Những công trình nghiên cứu kể trên đã phần nhiều nói đến con người chính trị, con người tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, góp phần phân tích, lý giải làm sâu sắc hơn tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm để những
tư tưởng của ông ngày càng gần chúng ta hơn Tuy nhiên, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng giống cuộc đời, con người ông vẫn là một ẩn số
mà chúng ta cần nghiên cứu, tìm tòi nhiều hơn nữa để đạt đến giá trị đích
thực Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tư tưởng biện chứng trong một số
tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” sẽ góp phần nâng cao hiểu biết về tư
tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số tác phẩm của ông và bước đầu đánh giá những giá trị
và hạn chế chủ yếu của những tư tưởng đó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn trình bày điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, môi trường ra đời của tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệt giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của ông
- Phân tích nội dung tư tưởng biện chứng trong các tác phẩm đó và đánh giá những giá trị và hạn chế chủ yếu của nó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn hướng vào nghiên cứu những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số tác phẩm của ông
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Những tác phẩm cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ
sộ Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, luận văn chỉ nghiên cứu những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số sáng tác chủ yếu
nhất của ông (Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Sấm Trạng
Trình và một số bài văn bia).)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng như logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống nhằm sắp xếp, hệ thống, luận giải, phân tích một cách đúng đắn và khoa học các tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn không hướng vào nghiên cứu những giá trị mang tính nghệ thuật, tính hiện thực hoặc hơn nữa là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm mà hướng vào nghiên cứu tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của ông, từ đó góp thêm cách nhìn sâu sắc về nền triết học Việt Nam
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người yêu mến Nguyễn Bỉnh Khiêm và các sinh viên ngành khoa học xã hội, đặc biệt là sinh viên ngành triết học Luận văn cũng góp phần nhỏ vào nghiên cứu lịch sử phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 11Chương 1 ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI TƯ TƯỞNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam thế kỷ XVI ảnh hưởng đến tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1.1 Điều kiện chính trị
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) được ví như cây đại thụ của thế
kỷ XVI, là một trong những nhà trí thức có uy tín nhất thế kỷ Ông sống gần trọn cuộc đời với những thăng trầm biến đổi của thế kỷ này Vì vậy, tư tưởng, thái độ của ông đều mang dấu ấn sâu đậm của thời cuộc Muốn hiểu một cách sâu sắc những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta không thể không tìm hiểu đôi nét về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Việt Nam đương thời
Nếu như thời Lê Thánh Tông là thời kì hoàng kim của nhà Lê thì cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kì suy thoái, kéo theo sự rối ren của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội với sự tranh chấp quyền lực của các thế lực phong kiến khác nhau Trong vòng 24 năm (1503 - 1527), nhà Lê thay đổi đến sáu ông vua, có người (vua Quang Trị) ở ngôi đúng được
3 ngày Trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị mâu thuẫn trầm trọng, các cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực và địa vị diễn ra liên miên Bản thân những người đứng đầu vương triều - các hoàng đế nhà Lê là những kẻ bất tài
vô hạnh, sống xa hoa, trụy lạc Triều đình và cả bộ máy quan lại ngày càng hủ bại, ruỗng nát Xã hội Việt Nam vô cùng rối ren và phức tạp “Lê mạt, Trịnh - Nguyễn phân tranh” Chính điều này đã có sự tác động sâu sắc đến quá trình nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 12Giai đoạn Nguyễn Bỉnh Khiêm bắt đầu trưởng thành và miệt mài kinh
sử Nho giáo với những đạo lí vua tôi tốt đẹp với mong ước:
“Hà phần phụ cập cộng tòng si (sư) Khí nghiệp tương tương viễn đại kỳ”
(Ký hữu nhân)
Dịch:
“Cắp cặp sách cùng theo học ở đất Hà Phần Hẹn ước con đường công danh sự nghiệp xa rộng”
(Gửi bạn)
lại chính là thời kỳ trị vì của hai ông vua thối nát nhất trong lịch sử phong kiến nước ta mà các sử gia sau này gọi là nỗi kinh hoàng của lịch sử Việt Nam, đó là Lê Uy Mục và Lê Tương Dực Và cũng chính sự vô dụng của hai ông vua này dẫn đến hàng loạt những rối ren binh biến sau đó của đất nước
Lê Uy Mục được Thái hậu Nguyễn Thị và hoạn quan Nguyễn Như đưa lên làm vua sau khi Lê Thuần qua đời không có con nối ngôi Sau khi lên ngôi, Lê Uy Mục ăn chơi sa đọa, chỉ chú trọng đến rượu chè, đàn hát, bỏ mặc việc triều chính, không đúng ý là sẵn sàng chém giết
Trước sự bê bối của triều chính và sự ngu dốt, độc ác của Lê Uy Mục, cuối năm 1509, một số đại thần đã nổi quân bắt giết Lê Uy Mục, lập Lê Oanh (anh em thúc bá với Lê Uy Mục) lên làm vua tức Tương Dực Đế (1509 - 1516) Tuy nhiên,
Lê Tương Dực cũng không hơn gì Uy Mục, giết hại anh em, hoang dâm vô độ Thậm chí trong thời Lê Tương Dực, còn có những việc xa xỉ chưa từng có:
Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô đốc thúc nhân dân phải xây một ngôi điện một trăm nóc và xây một ngôi đài gọi là Cửu Trùng Đài Để xây dựng được công trình này nhân dân phục dịch hàng mấy năm không xong Theo sử sách cũ: việc xây dựng điện trăm nóc và Cửu Trùng Đài đã làm chết rất nhiều dân Không những thế nhân dân còn phải đóng rất nhiều thuyền đẹp cho vua để nhà vua bắt những
mỹ nữ chèo thuyền cho hắn đi dong chơi trên Hồ Tây [15, 11]
Trang 13Ngoài ra, chúng còn cho xây dựng nhiều công trình khác như chùa, điện và bao quanh bởi hàng ngàn trượng tường càng làm cho nhân dân khốn khổ mọi bề Một số lớn của cải và nhân công chỉ để phục dịch cho sự xa xỉ của vua chúa phong kiến… Tất cả những điều này làm cho triều chính nhiễu nhương, nhân dân căm hận, đất nước suy yếu về mọi mặt Sự xa xỉ vô lối này
đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm phác họa:
“Thói tà ích hoang dâm lưu lê Sang thì quen thói kiêu căng, Giầu thì xa xỉ há rằng một ai
Sửa sang những tường dài nhà rộng, Nào kẻ hoa trạm bóng vẽ vời
Đường đem chát chõa đồ xôi Sáp đem làm củi đủ mùi xa hoa
Ăn uống phí tiêu pha lại quá, Nào khinh cừu, phi mã rủi rong”
(Bài văn bia quán Trung Tân)
Có lẽ chính do lối trị vì thối nát của những ông “vua quỷ”, “vua lợn” của triều Lê mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù đã mang trong mình “một bồ kinh sách” và tấm lòng “ưu đời ái quốc” sâu sắc, nhưng ông không ra thi thố
và làm quan mà chấp nhận ở quê nhà dạy học, trong những áng thơ của ông thể hiện nỗi niềm mơ ước về một thời đại “Ước một tôi hiền chúa thánh minh” nhưng điều đó thật khó trước bối cảnh thời đại bấy giờ
Cho đến năm 1558, trải qua nhiều lần bạo loạn, lật đổ, truất ngôi, giết chóc…, đất nước Việt Nam rơi vào cuộc nội chiến giữa Nam triều tức Lê - Trịnh và Bắc triều tức nhà Mạc kéo dài hơn năm thập kỷ Trước cảnh triều chính đất nước suy tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót:
Trang 14“Thái hòa vũ trụ bất Ngu, Chu
Hỗ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù
Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu, Uyên ngư tùng tước vị thùy khu
Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã, Hậu hoạn tu phòng nhập thất khu
Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước, Túy ngôn trạch bạn nhậm nhàn du”
tư tưởng nhân nghĩa mang tính biện chứng của ông
Cùng với sự thống trị của triều đình chuyên chế, tô thuế và lao dịch không ngừng tăng thêm Bọn địa chủ, quan lại tìm mọi cách bóc lột nhân dân, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, làm cho đời sống nhân dân ngày càng khốn đốn:
Trang 15“Cư ốc triết vi tân Canh ngưu đồ nhi thực
Nhượng đoạt phi kỉ hóa, Hiếp dụ phi kỉ sắc”
(Thương loạn)
Dịch:
“Nhà ở đem chẻ làm củi Trâu cày đem mổ thịt ăn
Cướp đoạt tài sản không phải là của mình
Hiếp dỗ người không phải là vợ mình”
Chính vì vậy phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân diễn ra khắp nơi Thợ thủ công và nhà buôn nhỏ cũng bị ảnh hưởng nhiều vì chính sách chiếm đoạt đó Những người thợ thủ công bị bắt làm công tượng, không còn được làm công việc của mình mà phải phục dịch cho bọn quan lại Còn lại những người thợ thủ công không bị bắt đi làm công tượng thì quay ra làm ruộng nhưng “đồng ruộng chỉ còn mạ khô”, mà thuế khóa lại nặng nề Những người buôn bán không thể kinh doanh vì nhân dân nghèo đói, không đủ tiền để trao đổi mua bán Đồng thời việc buôn bán lớn tập trung chủ yếu vào tay bọn quan lại có quyền lực Triều chính bê tha, giai cấp thống trị đua nhau tranh giành quyền lực, xung đột diễn ra liên miên, mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ phong kiến ngày càng trở nên gay gắt Dưới ách thống trị thối nát ấy và sự bóc lột cùng kiệt của bọn vua quan phong kiến, phong trào nông dân nhanh chóng lan ra khắp nơi Chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến, đấu tranh của nhân dân chống phong kiến thống trị, những tranh đoạt, chiếm đoạt, xung đột thường xuyên làm xã hội rối loạn Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn mà chua chát:
Trang 16“Chiến tranh hỗ tương tầm Họa loạn chí thử cực”
“Giáo và mộc tua tủa bày ra trước mắt Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn Khốn đốn dắt díu nhau, thở than không có đất”
(Cảm hứng, Bài 4)
Trước tình cảnh đất nước, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn đau đớn, xót xa Ông nhìn thấy hai mâu thuẫn nổi cộm trong xã hội đương thời là mâu thuẫn giữa bọn thống trị phong kiến với nhau và mâu thuẫn giữa chúng với nhân dân đang bị bóc lột, ông cũng thấy rõ rằng những mâu thuẫn đó không dễ dàng giải quyết được Vì vậy, xuyên suốt những áng thơ văn của ông chất chứa nỗi niềm đau đáu với nước với dân và sự khinh rẻ lũ vua quan ngu dốt, hung tàn, sự chán ghét chiến tranh đến cùng cực và sự thương cảm sâu sắc trước nhân dân vô tội
Dường như bất mãn trước thời cuộc tương tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhất quyết không ra làm quan mà chọn cuộc sống “bên đầm say hát nhởn nhơ chơi” Nhưng thực ra cái nhởn nhơ đó chỉ là cái vỏ bọc bên ngoài bởi trong sâu thẳm ông vẫn chất chứa một nỗi niềm ưu dân ái quốc Khi chưa thể lao ra mà giúp đời, giúp người, ông đứng sau để quan sát, để cảm thông, chiêm nghiệm rồi khái quát lên thành những tư tưởng, quy luật của cuộc sống Chính việc tận mắt chứng
Trang 17kiến sự xoay vần của xã hội, sự thay đổi thoán đoạt nhanh chóng của các triều đại, nỗi khổ đau bi đát của nhân dân trước nạn binh đao đã tác động không nhỏ tạo nên những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bởi thực tiễn là cơ
sở, động lực, là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức Chính thực tiễn xã hội đương thời đã tác động đến những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và những
tư tưởng đó được ông thể hiện qua những áng văn thơ sâu sắc
1.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
Điều kiện kinh tế, xã hội
Cùng với sự bất ổn của tình hình chính trị, đời sống kinh tế của người dân vô cùng khốn đốn, nền sản suất nông nghiệp bị giảm sút nhiều Tầng lớp vua quan phong kiến không chăm lo đến sự phát triển nông nghiệp như thời vua Thái Tổ, Thái Tông Đê điều không được quan tâm, tu sửa, đất đai hoặc
bị bọn quan lại chiếm đoạt phục vụ cho mục đích riêng hoặc bị bỏ hoang Người nông dân không có đất cày cấy “khốn đốn dắt díu nhau, thở than không
có đất” [32, 89], còn nếu canh tác được chút ít thì thuế má các loại quá nặng
nề Nạn đói kém, thất bát, mất mùa triền miên, nền nông nghiệp nhìn chung là suy kém, cảnh chết đói, bần cùng xảy ra khắp nơi:
“Đồng ruộng chỉ còn mạ khô, Kho đụn không hạt thóc thừa Vất vả nghèo khổ, người nông phu than vãn Đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc”
(Tăng thử)
Hình ảnh “đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc” là hình ảnh có sức tố cáo mãnh liệt hậu quả của những cuộc chém giết lẫn nhau, của sự bóc lột dân chúng đến tận cùng trong giai đoạn này đồng thời cũng là điều ám ảnh lớn với bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông đã tái hiện một cách sâu sắc, trung thực tình cảnh đất nước thế kỷ XVI vào trong thơ, văn của mình
Trang 18Do ảnh hưởng của việc buôn bán với người Phương Tây và nhu cầu của
xã hội, kinh tế thủ công nghiệp và thương mại, buôn bán không đến nỗi suy yếu như nông nghiệp Từ yêu cầu tất yếu của lịch sử cuối thế kỷ XV đầu thế
kỷ XVI, tình hình thế giới có những bước chuyển biến có ý nghĩa bản lề trong mối quan hệ giữa phương Đông và phương Tây có ảnh hưởng to lớn đến xu thế phát triển của các nước phương Đông Ở phương Tây, cuối thế
kỷ XIV đầu thế kỷ XV, mầm mống tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở một số nước Sau quá trình tích lũy nguyên thủy, đầu thế kỷ XVI chủ nghĩa tư bản
đã ra đời ở những nước tiên tiến của Châu Âu, tiếp đó sang thế kỷ XVI, XVII, XVIII chủ nghĩa tư bản lần lượt thắng lợi ở nhiều nước tạo nên một cục diện mới trên phạm vi thế giới
Sau những phát kiến địa lí cuối thế kỷ XV, từ đầu đầu thế kỷ XVI, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã tràn sang phương Đông Từ thế kỷ XVI, nước ta bắt đầu tiếp xúc với các thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan ngoài sự tiếp xúc về kinh tế, nhiều tư tưởng văn hóa cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam
Triều Lê đã phát triển nghề khai mỏ để đúc đồng, đúc tiền, một phần phục vụ cho cuộc sống xa xỉ của vua chúa, mặt khác để lưu thông buôn bán Việc buôn bán với nước ngoài trong thời gian này đã đem đến một số khởi sắc cho nền thương nghiệp Tiền tệ lưu thông được dễ dàng, những đô thị cũng mọc lên và hình thành một số phú thương mới Tuy nhiên những mối lợi lớn
về ngoại thương là do nhà nước nắm giữ, mặt khác những mại bản Trung Quốc và Nhật Bản đóng vai trò chủ đạo trong buôn bán với bên ngoài, còn thương nhân Việt Nam chỉ đóng vai trò là trung gian bậc dưới, để mua hàng của nhân dân sản xuất ra mà thôi Tầng lớp phú thương này chưa có một tác dụng gì đáng kể trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên Nó không trở thành một lực lượng mới có tính chất cách mạng như ở các nước tư bản thời bấy giờ, tuy thế họ cũng đóng vai trò nhất định trong quá trình lưu thông, buôn bán
Trang 19Trong giai đoạn này, chính sự trao đổi buôn bán đã tạo nên một diện mạo mới cho xã hội, đồng tiền đã mang một sức mạnh vô hình, nó làm đảo lộn mọi trật tự xã hội Sự ảnh hưởng của đồng tiền đã làm thay đổi nhận thức, đạo đức của con người, những tôn ti trật tự, cương thường đạo lí dần mai một, thay vào đó là lối sống vụ lợi chạy theo đồng tiền:
“Giàu sang người trọng, khó ai nhìn Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn
Thuở khó dẫu chào, chào cũng lặng Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen
Quen hiềm dan díu điều bè bạn, Lặng kẻo lân la nỗi bạ men Đạo nọ, nghĩa này trăm tiếng bướm Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”
(Thơ Nôm, Bài 5)
Hay:
“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thời hơn hết mọi nhời Trước đến tay không nào thốt hỏi Sau vào nặng gánh lại vui cười”
(Thơ Nôm, Bài 80)
“Còn bạc, còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết gạo, hết ông tôi”
(Thơ Nôm, Bài 77)
Mặc dù có những thay đổi nhất định, nhưng sự phát triển cũng không đáng là bao bởi còn chịu sự chèn ép của các thế lực phong kiến với thuế má
nặng nề Đời sống nhân dân khổ cực trăm bề Sách Lịch triều hiến chương
loại chí của Phan Huy Chú viết rằng:
Trang 20Thuế thổ sản trung thu hà lạm khiến người ta cùng kiệt không nộp nổi, khốn đốn đến phải bỏ nghề Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn, có người vì thuế lụa mà phải hủy khung cửi, thúc thuế gỗ
mà người ta bỏ rìu búa, thu thuế cá mà người ta bỏ lưới chài, thu thuế mật thì bỏ mía, thu thuế bông chè thì vườn tược bỏ hoang [15, 14] Trước tình cảnh chiến tranh loạn lạc liên miên, đời sống vất vả cực nhọc, sống chết lúc nào không hay dường như con người ta trở nên ích kỉ hơn,
vụ lợi hơn Đây cũng chính là kết quả của một xã hội triều chính đảo điên, chiến tranh xâu xé, tranh giành quyền lực lẫn nhau Nền kinh tế xã hội đương thời đã tác động và chi phối sâu sắc cục diện chính trị của đất nước C Mác
và Ph Ănghen từng khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội (cơ cấu này tất yếu phải
do sản xuất kinh tế sinh ra) là hai yếu tố cấu thành cơ sở lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy” [29, 11] Chính nền kinh tế trì trệ đương thời
là cơ sở hình thành những tư tưởng triết học Những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không nằm ngoài quy luật đó, nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của tình hình kinh tế xã hội của thế kỷ XVI đầy biến động
Trong bối cảnh suy đồi, suy thoái đến mức cùng cực của nhà Lê, khắp nơi dân tình ai oán, sự ra đời của nhà Mạc trên cơ sở thoán đoạt nhà Lê, dù không danh chính ngôn thuận nhưng với cái nhìn khách quan, so với sự suy tàn, thối nát của những “vua lợn”, “vua quỷ” đương thời và lũ lâu la nịnh thần, triều Mạc là một vương triều mới, có nhiều mặt tiến bộ, nhất là trong giai đoạn trị vì của Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh Hơn nữa sự ra đời của nhà Mạc cũng xuất phát từ chính cái nền tảng đổ nát của nhà Lê, đúng như quy luật thịnh suy mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nhắc đến trong nhiều tác phẩm của mình Sau những biến động, hỗn loạn của triều Lê, vào những năm 30 của thế
kỷ XVI, triều Mạc đã tạo ra được một thời kì ổn định và phát triển của xã hội
Trang 21Ngay sử chính thống của triều Lê trên lập trường đối địch với triều Mạc cũng phải ghi nhận những thành quả mà vương triều Mạc tạo ra từ năm 1532:
Từ đấy, người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng kiểm soát một lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết là con vật của mình Trong khoảng vài năm đường xá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên [21, 126] Trong bối cảnh xã hội đương thời, thậm chí ngay cả trong xã hội hiện đại, nhà Mạc có thể nói đã làm được một điều đáng ghi nhận và trân trọng Bởi với mỗi vương triều, cái cốt yếu là tạo ra và đảm bảo cho nhân dân có
cuộc sống ấm no, thanh bình
Trong các chính sách đối nội, nhà Mạc có nhiều thay đổi có ý nghĩa tiến
bộ Năm 1553, nhà Mạc ban hành chính sách mới quy đinh: ruộng quan và ruộng chùa của các làng xã, ngoài phần cấp cho binh sĩ, “còn bao nhiêu ruộng
sẽ theo số người trong xã mà chia đồng đều” [10, 280] Đây là chính sách rất tiến bộ đặc biệt là so với chế độ quân điền của nhà Lê, nó tôn trọng truyền thống cộng đồng làng xã hơn và có lợi cho dân chúng hơn Các hoạt động công thương nghiệp cũng có phần khởi sắc, nhiều chính sách thông thoáng, thương nhân được đi lại buôn bán thuận lợi, tiền đúc nhiều, chợ mở nhiều nhất là các thị trấn ở miền giáp ranh Nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục, nhất
là nghề gốm sứ phát triển, lò gồm được mở nhiều đáp ứng nhu cầu trong nước
và còn phục vụ cho việc giao lưu buôn bán với nước ngoài
Triều Mạc cũng đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực văn hóa Tuy trong hoàn cảnh đất nước khó khăn, chiến tranh liên miên, nhưng triều đình vẫn mở đều các
kì thi hội Trong hơn 60 năm cầm quyền (1527 - 1592), triều Mạc, theo Đại Việt
lục triều đăng khoa lục, đã mở 22 kỳ thi hội, lấy đỗ 483 tiến sĩ (100 năm trị vì
của triều Lê (1428 - 1527) mở được 31 kỳ thi hội, lấy được 647 tiến sĩ) Điều đó
Trang 22chứng tỏ sự quan tâm và chủ trương tiến bộ cho sự phát triển của đất nước Có thể nói sau một thời gian ổn định lại tình hình, nhà Mạc đã có những thành tựu đáng kể góp phần làm cho quốc thái dân an Những chính sách tiến bộ của nhà Mạc đã có tác động sâu sắc đến nhận thức của các Nho sĩ bấy giờ trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm Vì vậy, năm 1535, khi đã 44 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định đi thi, ông đỗ đầu các kì thi và trở thành Trạng nguyên Sau khi đỗ Trạng nguyên, ông hăng hái ra làm quan với nhà Mạc với mong muốn đem hết khả năng trí tuệ của mình để góp phần xây dựng một đất nước đẹp giàu, thỏa ước nguyện xây dựng một xã hội “thái bình thiên tử thái bình dân”
Mặc dù có nhiều cố gắng, có nhiều tiến bộ trong buổi đầu khởi nghiệp, tuy nhiên nhà Mạc cũng không tìm ra một mô hình mới cho chế độ phong kiến Việt Nam Những mâu thuẫn nội tại của chế độ quân chủ theo mô hình Nho giáo tiếp tục phát triển dẫn đến nạn chia cắt đất nước và nội chiến phong kiến kéo dài làm cho quốc gia thống nhất bị phá vỡ và đời sống nhân dân cực khổ Thiết chế truyền thống dựa trên quan hệ cộng đồng nhà - làng - nước bị suy yếu, còn một thiết chế mới xây dựng trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa, gắn liền độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia lại chưa có điều kiện được hình thành
Sau 8 năm làm quan, trở về với cuộc đời thanh bạch chốn ruộng vườn, tuy nhiên đằng sau sự ẩn dật tưởng chừng như lánh đời đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn dõi theo thời cuộc, vẫn đi cùng cuộc đời, thấu được những nhân tình thế thái để rồi chiêm nghiệm, đúc kết và đưa lên trình độ triết học, đặc biệt ông đã khái quát thành những tư tưởng triết học biện chứng rất tiến bộ Những tư tưởng đó được thể hiện qua thơ văn của ông, là sự trải lòng của một trí sĩ nhưng chứa đựng một kho tàng tri thức, gồm những quan niệm vũ trụ, nhân sinh đúng đắn, sự vận động biến đổi của đất trời, thời thế Ôn Đình Hầu
Vũ Khâm Lân trong bài Phả kí có viết:
Trang 23Còn như tiên sinh: sẵn có tư chất thông tuệ, thêm vào đạo học thánh hiền, ví thử đắc thời để mà thi thố sở học chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình, thay đổi phong tục phù bạc thành ra lễ nghĩa văn minh Thế
mà trái lại: một người có đức đủ phò tá nghiệp vương lại sinh ra giữa thời bá giả, thành ra sở học trở nên vô dụng, thực đáng tiếc thay [45, 631]
Nguyễn Bỉnh Khiêm không có cơ hội để cống hiến hết tài năng cho sự nghiệp phò vua giúp nước, nhưng bằng tài năng và trí tuệ uyên thâm ông đã
để lại cho đời những áng văn thơ bất hủ, những cấu sấm kí nổi tiếng và hơn nữa là hệ tư tưởng triết học biện chứng có giá trị sâu sắc Cho đến nay nhiều
tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị và đóng góp một phần to lớn vào dòng chảy lịch sử tư tưởng nước nhà
Điều kiện văn hóa
Từ đời Lê, Nho giáo giành được địa vị thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến Việt Nam Chính quyền nhà Lê lấy Nho giáo làm mẫu mực cho việc dựng nước, trị dân, cho việc xây dựng các thiết chế chính trị và xã hội
Nho giáo đời Lê là lý luận Tống Nho, nó không giữ được tinh thần tương đối cởi mở của học thuyết Khổng Tử, ngược lại, nó là một học thuyết
lý luận duy tâm bảo thủ, ra sức thần thánh hóa uy quyền của nhà vua, củng cố
sự phân biệt đẳng cấp và các trật tự phong kiến
Nhưng cũng cần nhận thấy một thực tế là Nho giáo, (cũng như Phật giáo, Đạo giáo) khi vào Việt Nam đã ít nhiều biến đổi để phù hợp với yêu cầu
và đặc điểm của xã hội Việt Nam, ít nhiều chịu sự chi phối của ý thức dân tộc Một số nhà nho Việt Nam, với trí tuệ lỗi lạc của mình đã phát huy tinh thần dân tộc, xây dựng được những tư tưởng tiến bộ, độc đáo
Trong điều kiện Nho giáo chiếm vai trò quốc giáo, Phật giáo và Đạo giáo bị lấn át Theo lập luận của nhà Lê, hai tôn giáo này làm con người thoát
ly trần tục, thoát ly sự kìm chế của chế độ quân chủ phong kiến
Trang 24Đến thế kỷ XVI, Nho giáo nhìn chung vẫn giữ địa vị thống trị trong xã hội, nhưng không còn hiệu lực và được độc tôn nữa Đồng thời, Phật giáo và Đạo giáo có cơ hội được phục hồi Bên cạnh đó, cùng với sự xâm nhập của các yếu tố tư bản, tôn giáo Thiên chúa bắt đầu truyền bá vào Việt Nam
Như vậy, đời sống tinh thần Việt Nam thế kỷ XVI khá phức tạp với nhiều hệ tư tưởng cùng tồn tại, đan xen nhau và hòa quyện với nền văn hóa dân gian cổ truyền Cũng như mọi nhà tư tưởng Việt Nam yêu nước, đời sống tinh thần xã hội, đặc biệt là ba hệ thống lý luận Nho, Phật, Đạo đều có sự xâm nhập, thẩm thấu vào những suy tư, ngẫm ngợi, đau đáu về xã hội, thời cuộc của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong bài Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc, nhà
nghiên cứu Trần Khuê có đưa ra lời bình sắc sảo về sự có mặt của cả ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo trong thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Điều thú vị là Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang qua sân nhà Lão Tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm
về giáo lý và đạo lý; cuối cùng ông đã trở về với ruộng đồng và lũy tre xanh của làng quê Việt Nam, hay nói khác đi, ông đã trở về với dân tộc Suốt đời ông, ông đã sống như mình cần sống và đã hành động như mình cần hành động [19, 5]
Ngay từ thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận được sự giáo huấn trong một gia đình và môi trường Nho học Tinh thần Khổng giáo thấm nhuần trong ông khi ông được tiếp nhận những bài học từ danh nho Lương Đắc Bằng Và kết quả của bao năm khổ luyện từ “cửa Khổng sân Trình” là nho sĩ đã chiếm bảng vàng trong ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình Giải nguyên, Hội nguyên, Trạng nguyên không chỉ là sự thỏa chí công danh nơi ông
mà còn minh chứng rằng ông đã thành đạt từ một nền giáo dục của Nho giáo
Nho giáo từ lúc thâm nhập vào Việt Nam cho đến nay đã được tiếp biến
và trở thành một phần truyền thống văn hoá Việt Những tư tưởng Nho giáo
Trang 25đi vào tâm hồn, tình cảm người Việt Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng bước vào cửa Nho nên việc tiếp nhận học thuyết Nho giáo là một điều tự nhiên Điều đó thấm đượm trong triết lý định mệnh, tam cương ngũ thường, quan niệm về bản tính thiện của con người
Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm “ông trời” là chúa tể của muôn loài Muôn loài sinh sinh hóa hóa đều do trời Trời điều hòa sự vận hành của vũ trụ
Vũ trụ lạnh lẽo hay ấm áp, hạn hán hay lũ lụt đều do bàn tay của ông trời sắp đặt, san sẻ, bù đắp:
“Công nhờ trời đất ơn còn rộng, Che chở điều hòa kẻo chiếu chăn.”
(Thơ Nôm, Bài 20)
Nhiều sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cập tới thuyết tam cương, ngũ thường Ông đã từng khẳng định: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia
đình….”(Bài tựa tập thơ Am Bạch Vân) cho nên khi viết về những tình cảm
gia đình, ông viết bằng một tình cảm chân thật, giản dị và trong sáng Đạo làm con, đạo vợ chồng, tình anh em, nghĩa bằng hữu chẳng những là đạo đức Nho gia mà còn là truyền thống văn hoá tốt đẹp của con người Việt Nam, là bài học giáo dục cho con người ở mọi thời đại
Bên cạnh đó, học thuyết tính thiện của Mạnh Tử cũng thấm sâu trong
tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo Mạnh Tử, đã là con người thì ai cũng
có tính thiện, tính thiện nằm sẵn trong con người Lòng thương xót đó là tiền
đề của tính thiện Cái tâm là biểu hiện của tính thiện
“Ở có đức lành hơn ở dữ, Yêu nhau chăng đã một luân thường”
Bên cạnh tư tưởng Nho giáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm từ tư tưởng Phật giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận tự hiệu là Bạch vân cư
sĩ Từ cư sĩ là ngôn ngữ nhà Phật Theo đó, cư sĩ là những người có trí tuệ lớn,
Trang 26tuy không xuất gia, nhưng hành đạo Bồ Tát, để cứu nhân độ thế Chính vì tinh thần Phật giáo thấm sâu vào trong tư tưởng nên Nguyễn Bỉnh Khiêm mới tự xưng mình là cư sĩ Và lúc về trí sĩ ông cùng với các cụ già làng “làm chùa, làm
quán, chốn chốn đều được tu sửa”(Bài bia ký quán Trung Tân)
Học thuyết Phật giáo là chân lý về nỗi đau khổ và sự giải thoát con người khỏi nỗi đau khổ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đốn ngộ, giác ngộ ra chân lý Phật pháp Ông cho rằng việc hành xử trong đời người đều phải tùy duyên Lợi lộc có hay không là do cái duyên đến hay không đến: “Lợi lộc mặc duyên, chăng ý chớ Đôi co dầu thế, chớ cho hay” Đó là đầu mối và điều kiện cho nguyên nhân biến thành kết quả “Thời” đến ông hăng hái bước vào chốn quan trường, thăng tiến nhanh trên con đường lập sự nghiệp công danh
“Thời” hết ông lui về ở ẩn chốn nước non bằng lòng với những gì đã mơ ước
Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận định tự nhiên bằng tinh thần phá chấp triệt
để Mọi vật do nhân duyên tạo thành, sau đó tồn tại trong một khoảng thời gian vô cùng, rồi dần dần lụi tàn và cuối cùng mất đi Như vậy, nói theo ngôn ngữ nhà Phật thì mọi vật có sinh tất có diệt, hữu hình tất hữu hoại Hoa xuân
nở tất hoa xuân sẽ tàn Trăng thu tròn vằng vặc rồi trăng cũng lại khuyết Tất
cả vốn vô thường Không có rồi lại có : “Xuân hoa thu nguyệt không mà sắc” Quan niệm “sắc không, không sắc” của Phật giáo được đưa vào trong thơ của nhà thơ một cách nhẹ nhàng mà thấu đáo:
“Trời đất vốn là đầy, lại là vơi, Bỗng vào mà lại bỗng ra
Lại chẳng thấy:
Quỉ thần vốn ghét sự thịnh mãn, Được một cách phũ phàng thì cũng mất một cách phũ phàng
Từ đầu, thì sắc đã là không, Vốn là không có một vật gì cả.”
(Ý xưa cảm khái về thời thế)
Trang 27Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, đời người chịu ảnh hưởng của luật nhân quả Nhân ác thì quả khổ Nhân lành thì quả an Vì vậy, con người hãy ăn ở cho hiền lành, nhân đức Nghèo hèn chớ than thân trách phận vì đó là định mệnh Giàu sang nên giúp đỡ và yêu thương mọi người vì điều đó làm mọi người gần nhau hơn
Tư tưởng Phật giáo tuy không phải là tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng những triết lý Phật pháp cũng ảnh hưởng đến quan niệm xuất xử và nhẹ nhàng đi vào trong thơ văn của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm vận dụng linh hoạt triết lý Phật giáo và biến nó thành quan niệm nhân sinh của riêng ông đồng thời là lời khuyên chân thành cho hậu thế về cách sống đẹp
Có thể nói hầu hết các nhà nho Việt Nam đều chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lão - Trang Sinh không gặp thời như Nguyễn Công Trứ; không tìm được minh quân, tuổi già sức yếu, chán ngán thế sự hay gặp chuyện bất bình trong chốn quan trường như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… thường lui về làm bạn cùng nước biếc, non xanh, nguyệt bạc, rượu nồng, túi thơ, bàn cờ Cho nên, tư tưởng Lão - Trang tự nhiên đi vào trong thơ của các nhà nho là một lẽ đương nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng những chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo mà tinh thần Lão - Trang cũng có mặt xuyên suốt trong thơ của ông
Sống trong cuộc đời đầy rẫy đua chen, con người luôn giữ cái tâm cho thanh tĩnh, gạt bỏ mọi chuyện trần tục, sống an nhiên tự tại Đó là lúc đạt đến thuyết vô vi của Đạo giáo Có thể nói, trên con đường tìm kiếm hướng đi cho riêng mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thực hiện được tôn chỉ của Đạo Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống một quãng đời nhàn dật, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí, xem nó như một giấc chiêm bao, để tìm lấy sự thanh tĩnh vô vi của Lão - Trang
Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn lối sống tự do phóng khoáng, sống không bận lòng đến chuyện thế gian nhưng trái tim nhà thơ sẽ nhói đau nếu
Trang 28“thế gian” rơi vào cảnh loạn ly Tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là nỗi lòng của Lão Tử Lão Tử từng nói: “Ta có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận: một là lòng từ ái, hai là tính kiệm ước, ba là không dám đứng trước thiên hạ Vì từ ái nên tận lực che chở dân mà sinh ra dũng cảm; vì kiệm ước nên hóa ra sung túc, rộng rãi; vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ thiên hạ Nếu không từ ái mà mong được dũng cảm; không kiệm ước
mà mong được sung túc, rộng rãi; không chịu đứng sau người mà tranh đứng
trước người, thì tất phải chết!”(Đạo đức kinh, chương 67)
Rõ ràng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ôm giữ và trân trọng ba vật báu đó Vật báu thứ nhất là lòng nhân từ Trong cuộc đời hay trong văn thơ, ông luôn nghĩ đến dân Khi có chiến tranh, ông đau với nỗi đau chia lìa tan tác của nhân dân Chính vì lòng từ ái mà Nguyễn Bỉnh Khiêm cương quyết dâng sớ chém đầu bọn nịnh thần Thái độ dũng cảm kiên cường đó mấy ai sánh kịp? Vật báu thứ hai là chọn lối sống lao động giản dị chân chất nhưng thanh cao Tư tưởng vô tranh là vật báu thứ ba mà hiền sĩ đã thực hiện trong cuộc đời Sống trong xã hội đầy bon chen, ông muốn giáo dục người đời đức tính khiêm nhường, khuyên người đời không nên tranh đua, bởi vì tước lộc đầy đủ sẽ khó lòng giữ được thân danh, ví như cái bát chứa đầy nước quá sẽ khó giữ cho nước khỏi tràn
Như vậy, có thể thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng sâu sắc các học thuyết Tống Nho, Đạo Phật và Lão – Trang Khi giải quyết những vấn đề
về tự nhiên và xã hội nhiều phức tạp đương thời, ông đã có một cách ứng xử linh hoạt để hòa hợp giữa ba dòng tư tưởng lớn này
1.2 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.2.1 Thân thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm tên húy là Văn Đạt, tên chữ là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ Ông sinh năm Tân Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 22 (1491),
(Theo Đại Việt sử loại tiệp lục của Vũ Khâm Lân) Ông sinh ra ở làng Trung
Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Phòng)
Trang 29Ông nội của Nguyễn Bỉnh Khiêm húy là Văn Tĩnh, được truy tặng Thái Bảo Tư quận công Bà nội được truy phong là Chính Phu nhân Cha là Văn Định, ấm phong tước Thái Bảo Anh quận công, sung chức Thái học sinh (học sinh Quốc tử giám) Ông ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, người làng Yên Tử, huyện Tiên Minh, tỉnh Hải Dương vốn nổi tiếng thông minh, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tới chức Thượng thư Bộ hộ, là một vị quan cương chính và hết lòng yêu dân Vì vậy người đời sau có câu:
Họ Nhữ khai hoa tự Nhữ Lan Tiếng lừng hai nước động Hoa, Nam Danh thơm bút sử nào hay biết Vua ban mỹ tự bút lừng thơm
Con người tài hoa, đỗ đạt này đã sinh ra người con gái mang tên Nhữ Thị Thục, chính là mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có lẽ khi tìm hiểu về tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ là thiếu nếu không nói về người
mẹ tài ba của ông Chính bà là bước đệm cho những tư tưởng, hoài bão của Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này Đó là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi, thông kinh sử, giỏi văn chương lại tinh thông tướng số Bà là người phụ nữ đặc biệt giữa thế kỷ XVI với những ước vọng lớn và tư duy khác biệt Bà quyết chí muốn tạo lấy một người con hơn người, nên ngoài hai mươi tuổi vẫn không tìm được người ưng ý Đến lúc gần 30 tuổi, gặp ông Văn Định, cho
là có tướng sinh quý tử mới chịu lấy
Ngay từ khi sinh ra, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã là cậu bé khôi ngô tuấn tú, nhanh nhẹn hơn người, cùng với sự giáo dục rất nghiêm khắc của cha mẹ, đặc
biệt là mẹ ông Sách Đại Việt sử loại tiệp lục của Ôn Đình Hầu Vũ Khâm
Lân, ghi rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc nhỏ rất thông minh, lại nhờ sự giáo dục của mẹ, nên lúc bốn tuổi đã thuộc và hiểu các chính văn kinh truyện Sự tinh anh của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được bộc lộ từ rất sớm, chưa đầy năm
Trang 30ông đã biết nói Theo Phả kí của Vũ Khâm Lân: “một hôm, vào buổi sáng sớm Văn Định đang bế con trên tay, bỗng thấy cậu nói rằng: “mặt trời mọc ở đằng đông”, ông lấy làm lạ Từ năm lên bốn tuổi phu nhân dạy cậu học kinh truyện, hễ dạy đến đâu cậu học thuộc lòng đến đấy, riêng thơ quốc âm đã nhớ được mấy chục bài Trong cách giáo dục của mình bà luôn hướng Nguyễn Bỉnh Khiêm trở thành “vị thiên tử” dựng nên nghiệp lớn, mặc dù bà ở bên ông không được bao lâu nhưng kho kiến thức mà bà vun đắp cho ông từ khi mới lọt lòng không phải là ít và nó theo ông trong suốt cuộc đời Vì vậy có thể nói
mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự ảnh hưởng không nhỏ trong tư tưởng cũng như sự nghiệp của ông sau này, đặc biệt là trong những vần thơ thấm đượm tình quê hương mộc mạc lại ẩn chứa tư tưởng triết học sâu sắc
Khi lớn lên, vốn thông minh và giàu chí hướng, Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm đến người thầy nổi tiếng Lương Đắc Bằng để xin học Lương Đắc Bằng vốn là người nổi tiếng văn chương lại am hiểu lý số, khi đi sứ sang Trung Quốc, ông được một người tặng cho bộ Thái Ất thần kinh Ông đã giữ gìn và đem sách đó truyền lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bởi tin rằng chỉ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có thể lĩnh hội được những điều trong sách Sau này, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại trở thành thầy của con trai Lương Đắc Bằng là Lương Hữu Khánh, nuôi dạy Lương Hữu Khánh như con và trở thành bậc hiền tài
Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng là học giỏi tài cao, nhưng ông không ra thi làm quan trước thời thế bấy giờ mà ở ẩn dạy học Bởi như đã phân tích, ông sinh ra và lớn lên trong khi triều chính nhà Lê bắt đầu đổ nát, rối loạn kỷ cương, phép tắc đảo lộn Các phe phái tranh giành quyền lực lẫn nhau, vua thần chém giết lẫn nhau, ăn chơi sa đọa Xã hội rối loạn, triều chính chỉ toàn bọn nịnh thần, gian dối, vua không ra vua, tôi chẳng ra tôi Người ngay thẳng trong tình huống đó nếu không muốn xu phụ kẻ quyền thế, thì tất có thể chuốc
vạ vào thân một cách vô ích Vì vậy với những con người am hiểu thời thế
Trang 31như Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn dật là điều tốt nhất Ẩn dật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn dõi theo cuộc đời, vẫn buồn vui với những thăng trầm biến đổi của thời cuộc xã tắc, vẫn canh cánh một nỗi niềm với dân với nước Trong sâu thẳm tâm trí mình ông vẫn mong muốn:
“Giúp vua phò nước dấn gian nguy Gắng gỏi xông pha há quản gì
Quặn xót dân con vòng đói rét,
Ai đương nghĩa lớn diệt gian phi
Bao năm chinh phạt quân vua rạc, Mấy độ trưng thu của nước suy
Nhân giả nào ai người chẳng nỡ, Xót thương khoan giảm bớt phân ly”
sự suy đồi của xã hội và không ngừng mơ ước tới một xã hội tốt đẹp để đất nước được thái bình, nhân dân được no ấm
Sau khi nhà Mạc lên nắm quyền, tình hình đất nước ở đằng ngoài bắt đầu đi vào ổn định, Mạc Đăng Dung có nhiều chính sách tiến bộ về kinh tế cũng như văn hóa, đặc biệt rất chú trọng đến tìm kiếm nhân tài Thế nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ở ẩn dạy học cho đến năm 1534 khi Mạc Đăng Doanh lên ngôi Hoàng đế và Mạc Đăng Dung rút về làm Thái Thượng Hoàng ông mới chủ trương nhập thế Trước đó, vốn là người tài trí hơn người, tinh
Trang 32thông kinh sử và đặc biệt lại giàu lòng yêu nước thương dân, luôn canh cánh một nỗi niềm được giúp dân, giúp nước, ước muốn về một xã tắc tốt đẹp nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa tìm thấy cơ hội trong bối cảnh triều Lê lũng loạn đương thời Ông chỉ có thể ôm ấp một nỗi lòng ái quốc chứ không thể ra giúp đời Chỉ đến lúc này Mạc Đăng Doanh đã lên ngôi - một ông vua hiền tài
vì nước vì dân, có nhiều chính sách tiến bộ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân phù hợp với lòng mong mỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm ông mới quyết định tham gia chính sự Còn Mạc Đăng Dung, dù tài giỏi nhưng vẫn là bề tôi giết vua, điều được coi là cấm kị đối với những bậc Nho học như Nguyễn Bỉnh Khiêm Ngoài ra, nguyên nhân trực tiếp khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định ra làm quan chính là nguy cơ ngoại xâm đe dọa đất nước Lúc này những tàn tích của nhà Lê vẫn cố tìm mọi cách để lật đổ nhà Mạc và giành lại ngôi vị, trong đó có cả thủ đoạn cầu cứu nhà Minh Họa mất nước vào tay ngoại xâm đang đe dọa từng ngày, triều đình, sĩ thứ, nhân dân dồn dập lo bảo
vệ tổ quốc, do đó một người sâu sắc như Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể hưởng mãi cuộc sống an nhàn mà quên đi nghĩa vụ với dân với nước
Năm 1535, Nguyễn Bỉnh Khiêm đi thi và đỗ Trạng nguyên Vua nhà Mạc rất vui mừng, đặc cách cử ông làm Đông các hiệu thư, sau được cử làm Hình bộ Tả thị lang, và ít lâu sau chuyển sang Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông Các Đại học sĩ
Ở triều được ít lâu, Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy mọi việc đều không như ông mong muốn, không cải thiện được cuộc sống cho nhân dân, bọn gian thần vẫn ngang nhiên hoành hành, xu nịnh Bậc “chúa thánh minh” trong mong mỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không còn trị vì nữa Trước tình cảnh triều chính không yên, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ chém đầu 18 tên lộng thần để làm gương và tránh sự nhiễu nhương của triều chính Thế nhưng sớ tâu không được xem xét, lại nhân việc con rể là Phạm Giao cùng với cha là Phạm Quỳnh
Trang 33cũng thuộc vào bọn quyền thần ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên bảo không được, bèn cáo bệnh về trí sĩ Vua Phúc Hải không giữ lại được đành phải chuẩn y và gia phong ông làm Trình Tuyền hầu Vì thế, ông thường được gọi
là Trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm tưởng đối với nhà Mạc, có thể thực hiện được lý tưởng của mình Nhưng đi vào thực tế lại khác, ông đã thấy sự phân tranh quyền lợi của giới quí tộc phong kiến không thể giải quyết một cách dễ dàng được, ông thấy được những mâu thuẫn đang diễn ra trong xã hội, hiểu được thế vận xoay vần khó cứu vãn, ông xin cáo lui để bảo toàn danh tiết và chí khí Tư duy sắc sảo kết hợp với những năm tháng chốn quan trường là những bài học kinh nghiệm quý giá cho kho tàng tri thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm Chính sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí luận và thực tiễn đã tạo nên Nguyễn Bỉnh Khiêm với những tư tưởng biện chứng vượt trội
Sau khi từ quan (giữa năm Quảng Hòa thứ 2- 1542), Nguyễn Bỉnh Khiêm (lúc này mới 52 tuổi) trở về quê xây am Bạch Vân, ở làng Trung Am, dựng hai cây cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để làm nơi nghỉ mát và xây một cái quán ở bên sông Hàn gọi là quán “Trung Tân” (Bến Thiện), ông soạn bài văn khắc vào bia đá nói lên tấm lòng của mình và khuyên răn người đời làm điều thiện
Từ đây Nguyễn Bỉnh Khiêm sống một cuộc đời tự do, tự tại, phóng khoáng với chí hướng của mình Ông sửa sang lại các đình chùa trong làng, trồng cây hai bên vệ đường đê, mở chợ cho người làng và xung quanh đến buôn bán Ông lại hay chơi với các nhà sư, có khi cùng nhau thả thuyền ra bể, hoặc ra chơi cửa Kim Hải, cửa Úc Môn xem đánh cá, hoặc lên chơi núi Đồ Sơn, Ngọa Vân, Kính Chủ, Yên Tử ngắm cảnh ngâm vịnh Thực ra đằng sau
sự ẩn dật tưởng chừng như quên đời đó vẫn là tấm lòng “tha thiết với đời, với người”, vẫn sẵn sàng phò vua giúp nước nếu cần Ông vẫn đi bên cạnh cuộc
Trang 34đời để quan sát, để chiêm nghiệm và thể hiện qua những áng thơ văn, qua đó nói lên nhân tình thế thái Có lẽ phải yêu đời và hiểu đời lắm ông mới chắt lọc tất cả để nâng lên thành quy luật của xã hội Có thể nói đây cũng là giai đoạn
mà tư tưởng của ông đã đạt đến độ “chín” và được thể hiện một cách sâu sắc nhất, đặc biệt là những tư tưởng mang tính biện chứng của ông
Sau khi về trí sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm mở trường dạy học Học trò gần
xa hâm mộ tài đức của ông, kéo về học đến hàng ngàn người Có nhiều người trở thành những nho sĩ nổi tiếng, và chịu ảnh hưởng rất nhiều của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Nguyễn Dữ, Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh
Nguyễn Dữ là tác giả “Truyền kì mạn lục”, bộ sách này được Nguyễn
Bỉnh Khiêm bổ chính và được Vũ Khâm Lân phê là “thiên cổ kỳ bút” Giáp Hải đỗ Trạng nguyên làm quan với nhà Mạc đến Lại bộ Thượng thư, sau được phong sách quốc công Phùng Khắc Khoan đỗ Trạng nguyên thời hậu Lê, cũng như Nguyễn Bỉnh Khiêm không chịu ra làm quan với nhà Mạc, sau nghe lời khuyên của thầy vào Thanh Hóa giúp vua Lê Lương Hữu Khánh thi hội
đỗ Trạng nguyên, nhưng đến thi đình thì bỏ về Triều đình nhà Mạc tìm đủ mọi cách mời ông ra làm quan, lúc đầu Lương Hữu Khánh từ chối chấp nhận nghèo túng, đi chu du khắp nơi, sau nghe theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, về giúp vua Lê Trong số học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm có nhiều người đỗ đạt và làm quan to như Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung đều đỗ tiến sĩ Đó là cống hiến rất to lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho đất nước
Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã về trí sĩ, nhưng vua tôi nhà Mạc vẫn rất coi trọng ông, vẫn coi ông như một quân sư, thường sai sứ đến thăm viếng và đem biếu những vật phẩm quý giá như ngọc ngà, gấm vóc Cũng có khi vua nhà Mạc ngự giá về chơi nhà Mỗi khi trong triều có việc gì quan trọng nhà Mạc đều sai sứ đến hỏi hoặc mời Nguyễn Bỉnh Khiêm về kinh đô bàn bạc Vua nhà Mạc đã nhiều lần mời Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan trở lại nhưng
Trang 35ông đều từ chối, nhất định không màng chốn quan trường Trước những nhiễu nhương của thời cuộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm không nghĩ đến lợi ích riêng – thứ mà triều Mạc sẵn sàng dành cho ông Cái ông mong muốn là thiên hạ thái bình và hạnh phúc của trăm họ, cái đó không đạt được thì ông cũng không thích sự chăm sóc ân cần cho riêng mình Trong bài thơ chữ Hán số 5 của mình, ông viết:
Dịch:
“Chẳng tài ơn đội được thân vinh Săn sóc làm chi luống bận mình Thực học đủ đâu cho kẻ trọng
Hư danh càng tổ khiến người khinh Người vui trăm hốt đua bè bạn
Ta thích tùng, quân dưỡng tính tình
Phải trái mặc đời thôi chẳng nói,
Ai rằng mây trắng kém mây xanh”
Vẫn tha thiết với cuộc đời, nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm không màng danh lợi, không muốn xu nịnh ai mà cũng chẳng muốn ai chăm sóc mình Ông hết lòng với nhà Mạc nhưng vẫn giữ khoảng cách nhất định Có lẽ là do tư tưởng Kinh dịch đã ăn sâu vào ngay cách xử sự của ông, bởi cái gì quá sẽ dễ tan, đó là quy luật vận động biến đổi được ông trình bày rất sâu sắc trong văn thơ của mình
Về gia thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo Bạch Vân cư sĩ Nguyễn công
Văn Đạt phả kí do Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân ghi lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm
có ba vợ: Chính phu nhân là Dương Thị, hiệu là Từ Ý quê Hải Dương, thứ phu nhân họ Nguyễn hiệu là Nhu Tĩnh và á phu nhân họ Nguyễn hiệu Vi Tĩnh Con cái ông có cả thảy 12 người, 7 trai và 5 gái Tất cả các con của ông đều được triều đình trọng dụng
Trang 36Khi nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm không thể không nhắc đến những câu sấm truyền bất hủ của ông Có thể nói sở trường của ông là lý học Trong
Đại Việt sử loại tiệp lục của Vũ Khâm Lân có chép nhiều truyện: Sứ nhà
Thanh là Chu Xán có nói: “Nhân vật ở Lĩnh Nam, về lý học có Trình Tuyền, truyền đến Trung Quốc ” [45, 632] Ông thừa hưởng từ tài năng lý học, tướng số của mẹ và trau dồi sách Thái Ất Thần kinh từ người thầy Lương Đắc Bằng và bằng chính thực tiễn cuộc đời, bằng những hoạt động thực tiễn của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất biện chứng khi nhìn nhận về tự nhiên, xã hội và tư duy Trên cơ sở tư duy biện chứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại nhiều tiên đoán có giá trị cho đến sau này Theo tục truyền rằng, năm 1556 khi vua Trung Tông mất, không có con, Trịnh Kiểm muốn thừa cơ chiếm ngôi vua, song còn ngại lòng dân, nên còn chưa dám bèn đem lễ vật đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông không trả lời thẳng mà bảo gia đồng rằng: “Năm nay không được mùa vì tại lúa giống không tốt, các ngươi nên tìm giống cũ
mà trồng” Sau đó ông lại sai người ra chùa quét dọn, thắp hương, tất đồ lễ cúng và nói “thờ Phật thì ăn oản” [45, 638] Chúa Trịnh hiểu ý bèn từ bỏ ý định làm vua và đưa người cháu năm đời của Lê Trừ (tức anh ruột của vua Lê Thái Tổ) là Duy Bang lập lên làm vua tức vua Lê Anh Tông
Sau này, khi thấy tình thế khó khăn, Nguyễn Hoàng cũng cho người đến hỏi ý kiến về việc lánh nạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm thủng thỉnh đi ra sau vườn
ngắm hòn non bộ và nói: “Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân” [63, 20]
Nguyễn Hoàng hiểu ý và nhờ chị gái xin với Trịnh Tùng vào trấn Quảng Thuận
Năm Ất Dậu, Nguyễn Bỉnh Khiêm ốm nặng, biết không còn sống lâu nữa, bèn thảo sớ cho vua Mạc trong đó có đoạn: Thần suy tính độ số thấy vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đã đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân tích đức lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng thỏa được lòng
Trang 37Vua Mạc Mậu Hợp sai người về thăm bệnh, hỏi việc nước, ông chỉ nói:
“Ngày sau có biến cố gì, đất Cao Bằng dầu nhỏ cũng có thể hưởng phúc được mấy đời” [45, 626] Xoay quanh những nhận định trên còn nhiều vấn đề bàn cãi, song có thể hiểu rằng bằng chính cái nhìn biện chứng nên Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có sự phân tích mọi vấn đề mọi vấn đề một cách tổng quát và phù hợp để đưa ra những nhận định đúng đắn, do đó cũng không có gì khó với những đoán định có phần khó hiểu của ông Những kế sách tham mưu này của ông không chỉ có giá trị triết học mà còn mang ý nghĩa chính trị giúp bình
ổn tạm thời giữa các phe phái Chỉ có điều trong dân gian thường li kì hóa những nhận định của ông làm cho nó thêm phần kì bí và khó hiểu, hoặc bất kì một sự tiên đoán nào đó đều gán cho tên tuổi Trạng Trình
Ngày 28 tháng 11 năm 1585 Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, thọ 95 tuổi Ông
ra đi để lại niềm tiếc thương vô vàn đối với người thân, bạn bè sĩ thứ cũng như tất thảy học trò của ông và nhân dân Vua Mạc sai Khiêm vương Mạc Kính Điển làm khâm sai cùng với các quan ở triều về tế lễ, truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm làm Lại bộ Thượng Thư, thái phó Trình quốc công Hai đời tổ khảo tỉ đều được phong ấm Vua Mạc lại phát cho sở tại ba nghìn quan tiền để lập đền thờ và cấp một trăm mẫu ruộng tự điền Đền được làm ngay trước cửa dinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua thân viết mấy chữ đề là: “Mạc triều Trạng nguyên, Tể tướng từ”
Khái lược tiểu sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy cuộc đời của ông, trừ một thời gian ngắn ra làm quan khoảng 8 năm, còn lại sống ẩn dật ở thôn
dã ruộng vườn không màng danh lợi Song trong cuộc sống ẩn dật đó ông không quên đời, lánh đời mà ông vẫn gần gũi với nhân dân, vẫn dõi theo sự xoay vần, biến đổi của cuộc sống “tuy ở nhà 44 năm mà lòng không lúc nào quên đời, lòng ưu thời mãn cuộc đều lộ trong thơ” [45, 639] Chính vì vậy mà những tư tưởng của ông luôn mang giá trị hiện thực, triết lí nhân sinh sâu sắc
Trang 38trong đó có những tư tưởng có giá trị biện chứng Uy thế tinh thần của ông rất lớn và có ảnh hưởng sâu xa đến sĩ phu, dân chúng Cả vua chúa các phe phái đều coi ông như một bậc cố vấn quân sự Ảnh hưởng đó lan rộng cho đến thời nay, đặc biệt là những tư tưởng triết học biện chứng ẩn chứa trong các tác phẩm văn thơ của ông là những giá trị tiềm ẩn mà suốt chiều dài của lịch sử, với đầy những biến cố thăng trầm không thể vùi lấp được
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận
là một trong những nhà văn hóa lớn Ông là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri… Ông có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú và đa dạng gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, cả văn lẫn thơ và sấm kí
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình
văn học dân tộc Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập khoảng gần
một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài Trong lời tựa tập thơ chữ Hán của mình ông viết:
Tuy cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy Mỗi khi rảnh rỗi lại dậy hứng mà ngâm vịnh hoặc là ca ngợi vẻ đẹp của cảnh sơn thủy, hoặc là tô vẽ cảnh thanh tú của hoa trúc hoặc tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài biên tập thành sách, tự đặt tên là tập thơ Am Bạch Vân [45, 406]
Tập thơ không chỉ là nỗi lòng, là tâm huyết của tác giả mà còn thể hiện trong đó những tư tưởng triết học sâu sắc về vũ trụ, về sự vận động, biến đổi của tự nhiên và xã hội
Trang 39Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình
quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập), hiện tại còn khoảng 180 bài Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm thường làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lẫn lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài mà việc
đó được thực hiện bởi những nhà biên soạn sau này Theo Phả ký (Bạch Vân
am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký) của Vũ Khâm Lân, Nguyễn Bỉnh
Khiêm còn có nhiều bài phú bằng quốc âm nhưng nay đã bị thất lạc Cũng
theo Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bài Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công
Văn Đạt phả kí, soạn năm 1743, có những nhận định về thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm: “Nay ta đọc những văn chương còn lại, khác chi nghe thấy những tiếng ném ngọc gieo vàng, rực rỡ như mây năm sắc, sáng sủa như vừng thái dương” [45,631] và “không cần gọt dũa mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà có nhiều ý vị như gió mát trăng thanh, nghìn năm sau còn
tưởng thấy” [45, 629] Danh sĩ Nguyễn Huy Chú trong bộ sách Lịch triều hiến
chương loại chí ở phần Văn tịch chí cũng có những quan điểm chung với Vũ
Khâm Lân khi nhận xét về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm: “văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên và đều có quan hệ đến việc dạy đời” [45, 639]
Theo PGS.TS Trần Thị Băng Thanh (Viện Văn học) đánh giá, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỷ đầu của nền văn học Việt Nam Nguyễn Bỉnh Khiêm có một phong cách thơ riêng không lẫn ai Một nguyên tắc quan trọng của thơ thời Trung đại là “thơ ngôn chí”, nguyên tắc mà các nhà nghiên cứu hiện đại thường xem là làm hạn chế thẩm mỹ của thơ, ngay các nhà thơ cổ cũng không phải đều nhất nhất tuân theo Song Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tuân theo một cách “triệt để” và với một cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ Thơ văn của ông thể hiện sự ưu thời mẫn thế, đậm chất triết lí, giáo huấn nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận
Trang 40Còn theo nhận định của GS Nguyễn Huệ Chi trong bài tham luận
“Bước đầu suy nghĩ về văn học họ Mạc”, thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh dấu cho sự khởi đầu của một hình thức tư duy mới trong tiến trình hoàn thiện thơ ca trung đại Việt Nam - đó là tư duy thế sự Thơ vẫn mang tính trữ tình nhưng là trữ tình lí trí Nó mang hình thức không phải là tư duy cảm tính
mà là tư duy lí tính, nhìn thẳng vào xã hội nên gọi là tư duy thế sự Bởi vậy thơ có tính phát hiện, hiện thực rất đáng kể Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào các góc cạnh của xã hội để thấy bức tranh phức tạp, có thật, tự nhiên của xã hội Vì là tư duy thế sự nên cũng nhìn sâu vào tâm lí con người Trong khi ở thời trước đó mọi thứ trong xã hội đều được ước lệ hóa, công thức hóa, được
mỹ hóa thành một xã hội chung chung đâu cũng như nhau
Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người tiếp nối cho sự phát triển và hoàn thiện của nền thơ ca dân tộc kể từ sau Nguyễn Trãi, đồng thời
bổ sung vào đó đậm đặc hơn chất triết lí suy tưởng và giáo huấn, chất triết học với những tư tưởng biện chứng để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phục vụ con người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng một cách sâu sắc, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của cá nhân ông Giàu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn khám phá những quy luật của thiên nhiên, xã hội và của con người, nhằm tự vượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời đại và có ảnh hưởng sâu sắc tới tận hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hóa và nhân cách của một nhà thơ và những tư tưởng triết học vượt thời đại PGS,
TS Trần Nguyên Việt (Viện Triết học) cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là người mở đầu cho tư duy biện chứng trong lịch sử tư tưởng việt Nam dưới cái nhìn mang đậm tính triết học thể hiện qua thơ văn của ông
Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ (cả chữ Hán và chữ Nôm) còn lưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều bài văn bia