Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây: Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự phá
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM HẢI YẾN
NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
Ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Cao Quang Xứng
Hà Nội - 2014
Trang 2XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA
Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2014
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
h
TS Đồng Văn Phường
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 6
1.1 Nguồn nhân lực, đặc điểm và vai trò nguồn nhân lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp 61.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong quá trình tái
cơ cấu kinh tế nông nghiệp 291.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực trong ngành nông nghiệp của một số địa phương 39
Chương 2: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 46
2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 462.2 Thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc 502.3 Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn 68
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 75
3.1 Phương hướng phát triển nguồn nhân lực phục vụ tái cơ cấu kinh
tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 753.2 Những giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 84
KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 4CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CMKHCN : Cách mạng khoa học công nghệ ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
HĐND : Hội đồng nhân dân
TCCKT : Tái cơ cấu kinh tế
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-1: Lao động nông thôn và thành thị so sánh năm 2010 với năm 2006 29
Bảng 1-2 Mức gia tăng dân số trong độ tuổi lao động ở Việt Nam đến năm 2020 30
Bảng 1-3: Đầu tư cho giáo dục từ GDP và ngân sách nhà nước 33
Bảng 2-1: Quy mô dân số và lực lượng lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Vĩnh Phúc 50
Bảng 2-2: Số lượng lao động thực tế trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ở Vĩnh Phúc 51
Bảng 2-3: Lao động trong độ tuổi có khả năng lao động ở nông thôn Vĩnh Phúc 53
Bảng 2-4: Cơ cấu lao động nông thôn phân theo nhóm tuổi năm 2006 và năm 2011 54
Bảng 2-5: Trình độ học vấn lao động nông thôn ở Vĩnh Phúc năm 2006 và năm 2011 58
Bảng 2-6: Hiện trạng lao động phân theo trình độ học vấn năm 2011 59
Bảng 2-7: Hiện trạng lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2005 đến năm 2012 của tỉnh Vĩnh Phúc 60
Bảng 2-8: Cơ cấu lao động nông, lâm, thủy sản trong độ tuổi lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và địa phương năm 2011 61
Bảng 2-9: Hệ số sử dụng thời gian lao động của khu vực nông thôn (12 tháng) 62
Bảng 2-10: Dân số và lực lượng lao động ngành nông, lâm, thủy sản tỉnh Vĩnh Phúc 63
Bảng 2-11: Cơ cấu sử dụng lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản 64
Bảng 2-12: Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn theo nhóm tuổi trong năm 2010 66
Bảng 3-1: Dự tính nhu cầu nhân lực chia theobậc đào tạo của khối ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản đến năm 2020 81
Bảng 3-2: Dự tính đội ngũ giáo viên, giảng viên hệ Giáo dục và Đào tạo 82
Bảng 3-3: Dự tính đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề đến năm 2020 83
Bảng 3-4: Dự tính đội ngũ cán bộ ngành y tế đến năm 2020 84
Bảng 3-5: Dự báo nhu cầu vốn cho các cấp đào tạo và vốn đầu tư xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo và dạy nghề 90
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2-1: Cơ cấu lao động ngành nông, lâm, thủy sản năm 2006 và
năm 2011 52Biểu đồ 2-2: Lực lượng lao động nông, lâm, thủy sản so với dân số nông
thôn và dân số của toàn tỉnh năm 2005 đến năm 2012 64Biểu đồ 3-1: Cơ cấu lao động qua đào tạo khối nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản đến năm 2020 82
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, đại đa số dân cư sống ở nông thôn, phần lớn lao động làm nông nghiệp, bởi vậy Hồ Chí Minh luôn coi nông nghiệp là ngành sản xuất chính, là cơ sở để phát triển kinh tế đất nước Trong thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, Người viết: “Việt Nam là nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [31, tr.215] Ngày nay, kinh tế nông nghiệp vẫn luôn được
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, phát triển kinh tế nông nghiệp không chỉ đơn giản là phát triển theo chiều rộng như trước đây nữa mà ngày nay “Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền vững của nền nông nghiệp” Và mới đây nhất ngày 10 tháng 6 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ
đã ký quyết định phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế nông nghiệp lúc này là phải có nguồn nhân lực thực sự chất lượng, hiệu quả mới có thể phục vụ được những mục tiêu
mà đề án tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã của Bộ Nông nghiệp đã đề ra Bởi lẽ,
“Vấn đề con người là hết sức quan trọng, cần hơn cả là con người, là sự phấn khởi của quần chúng Làm được tất cả là do con người” [42, tr.272]
Con người với khả năng nắm giữ kiến thức, kinh nghiệm đã trở thành mũi nhọn cho các ngành, các vùng lãnh thổ và các quốc gia Việc làm rõ vấn
đề con người có tác động như thế nào, đóng góp những gì cho quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, làm sao để những đóng góp của họ hiệu quả hơn, tức đặc biệt xem xét tới nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Trang 8Với những chính sách, những quy hoạch và đổi mới về tái cơ cấu kinh
tế nông nghiệp như hiện nay đòi hỏi các địa phương phải xây dựng cho mình đội ngũ lao động có tay nghề, có chất lượng cao là vấn đề được đặt ra hàng đầu Và tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang không ngừng xây dựng cho mình nguồn nhân lực chất lượng, hiệu quả tạo năng suất lao động cao cũng như đáp ứng được những yêu cầu của tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Để làm rõ hơn về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao trong
tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nguồn nhân
lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề
tài luận văn cao học chuyên ngành kinh tế chính trị của mình Với mong muốn có được những đánh giá xác thực về thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc và đề ra được một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp Vĩnh Phúc để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế tỉnh nhà
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bàn về vấn đề nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao đã có nhiều công trình khoa học, hội thảo và các bài viết đăng tải trên nhiều tạp chí khác nhau như:
1/ Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, GS, VS Phạm Minh Hạc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
2/ Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HDH ở Việt Nam, Đoàn văn khái, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005
3/ Thực trạng và giải pháp về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba “Việt Nam, hội nhập và phát triển”, Đề tài KX.04.16/06- 100, Đức Vượng, Hà Nội, 2008
4/ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HDH đất nước PTS Mai Quốc Khánh chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1999
Trang 95/ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu, Trần Kim Cương, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2011
6/ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Trần Khánh Đức, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2009
7/ Dự thảo chiến lược nguồn nhân lực 2001 - 2010, Ban khoa giáo Trung ương, Hà Nội, 2000
8/ Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa GS,
VS Phạm Minh Hạc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996
Các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận đến nguồn nhân lực nói chung trên các lĩnh vực, các ngành, các vùng của nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nước
Nhưng các công trình nghiên cứu đã công bố về vấn đề này chỉ tiếp cận dưới góc độ quản lý và đi sâu nghiên cứu về chất lượng quản lý nguồn nhân lực, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc, đặc biệt là trong năm 2013 đề án về tái
cơ cấu kinh tế nông nghiệp được Chính Phủ phê duyệt, chú trọng và quan tâm hơn nữa thì vấn đề về nguồn nhân lực trong nông nghiệp đỏi hỏi phải có một lượng lớn nhân lực có chất lượng cao Và cho đến nay chưa có công trình nào đánh giá thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong quá trình tái
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “
Nguồn nhân lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học kinh tế của mình và dưới góc độ nghiên cứu được trình bày ở phần mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây, thì đây là đề tài mang ý nghĩa thiết thực
Trang 103 Mục đích và nhiêm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ nội hàm nguồn nhân lực chất lượng cao và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp nó chung và ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, hệ thống hóa những khái niệm, phạm trù nguồn nhân lực,
nguồn nhân lực chất lượng cao, mô hình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tìm
hiểu vai trò, tác dụng và những nhân tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Hai là, phân tích thực trạng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất
lượng cao trong thời gian qua ở tỉnh Vĩnh Phúc, thông qua các chỉ số phát triển trên các mặt: Số lượng, chất lượng gắn với cơ sở vật chất, mức độ đào tạo, năng lực đáp ứng …trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Ba là, đưa ra những phương hướng và một số giải pháp để phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao phục vụ tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về nguồn nhân lực đáp ứng phát triển kinh tế nông nghiệp Vĩnh Phúc từ năm 2005 đến 2012 và phương hướng giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc đến năm 2020
Trang 115 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Đồng thời sử dụng một số phương pháp đặc trưng khác :
- Phương pháp logic lịch sử
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, thống kê
- Phương pháp mô hình hóa…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và
nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
Hai là, thông qua các số liệu, luận văn phân tích và làm rõ thực trạng
phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc qua đó rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc
Ba là, đưa ra những phương hướng và một số giải pháp cơ bản thực
hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc đến năm 2020
Bốn là, kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo cho lãnh
đạo các cấp, ngành nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc trong việc xây dựng chủ trương, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong kinh tế nông nghiệp góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TÁI CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Nguồn nhân lực, đặc điểm và vai trò nguồn nhân lực trong tái
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Nguồn nhân lực và tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
* Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế
- xã hội của quốc gia Bởi lẽ “Vấn đề con người là hết sức quan trọng,… cần hơn
cả là con người, là sự phấn khởi của quần chúng Làm được tất cả là do con người” [42, tr.272] Con người với khả năng nắm giữ kiến thức, kinh nghiệm đã trở thành mũi nhọn cho các ngành, các vùng lãnh thổ và các quốc gia do vậy tất
cả các nước trên thế giới đều quan tâm đến nguồn nhân lực
Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resourses) xuất hiện vào thập niên
80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên (personnel management) với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resourses management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ
“nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng
nguồn lực con người
Trang 13Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” chẳng hạn như: “Nguồn nhân lực là nhân lực con người của những tổ chức (với quy
mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [46, tr.256] Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo
nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức;
Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người Quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng Quan niệm về nguồn nhân lực như vậy cũng đã cho thấy phần nào sự tán đồng của Liên hợp quốc đối với
phương thức quản lý mới;
Ngân hàng thế giới (WB) cũng tiếp cận tương tự và cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu Như vậy, ở đây nguồn nhân lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…Do đó, đầu tư cho con người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở vững chắc cho sự
phát triển kinh tế - xã hội “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong
và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung
khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức” [47, tr.9]
Theo Giáo sư - Viện sỹ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07 thì cho rằng: Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân
và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ,
Trang 14năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng có sẵn để tham gia phát triển kinh tế -
xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó…
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp, đó là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại
Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực
và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực; tuy nhiên, sau khi đưa ra các quan niệm, phân tích và đánh giá Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lại, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực con người Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây:
Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu
tố quyết định sự phát triển của xã hội;
Hai là, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó mặt
chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó;
Ba là, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất
thiết phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phản ánh một cách tổng quát khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện: trí lực, thể lực, nhân cách cùng với cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến gắn liền nền khoa học hiện đại
Như vậy, theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam nguồn nhân lực
là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát
Trang 15triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới
Thuật ngữ “nguồn nhân lực” được sử dụng và có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Mặc dù có những sự khác biệt do cách tiếp về nguồn nhân lực nhưng mọi góc độ tiếp cận đều nhấn mạnh đến những yếu tố cốt lõi để đánh giá chất lượng, đó là thể lực, trí lực và tâm lực
Dưới góc độ là chủ thể trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, khái niệm
nguồn nhân lực được sử dụng với nghĩa là nguồn cung cấp sức lao động cho
xã hội thông qua những khả năng về thể lực và trí lực cuả người lao động Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định
sự phát triển KT - XH của mọi quốc gia
Xét về hình thức, cách hiểu trên là một cách hiểu về NNL theo nghĩa hẹp Tuy nhiên, xét về bản chất, đó là cách hiểu nhấn mạnh tới khả năng của
lực lượng lao động - yếu tố quyết định nhất đến chất lượng tăng trưởng Dựa
vào đó, ta có thể đánh giá được chất lượng nhân lực, đồng thời thấy rõ được ý nghĩa của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp, trong điều kiện tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nguồn nhân lực được thể hiện trên hai yếu tố, đó là số lượng lao động
và chất lượng lao động
Về số lượng, NNL là những con người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, nó biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng NNL Các chỉ tiêu này có quan hệ với quy mô dân số và tỷ lệ tăng dân số
Chất lượng nhân lực là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan
hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của NNL Chất lượng nhân lực không chỉ là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mọi mặt đời sống xã hội Bởi lẽ, chất lượng nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là
Trang 16nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định
Chất lượng NNL thể hiện thông qua một hệ thống chỉ tiêu, trong đó các chỉ tiêu chủ yếu: thể lực, trí lực, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lao động, phẩm chất đạo đức, năng lực tiếp cận khoa học và công nghệ,…
Năng lực về thể chất (thể lực) của NNL
Nói đến thể lực là nói đến tình trạng sức khỏe của nhân lực, sức khỏe là
sự phát triển hài hòa của con người về cả thể chất lẫn tinh thần Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất phát triển KT - XH Tình trạng sức khỏe được phản ánh bằng hệ thống các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe như: Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bề bỉ, dẻo dai của sức mạnh cơ bắp trong công việc Thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực Trình độ KT - XH càng phát triển càng đòi hỏi cao ở thể lực, bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt khó có thể chịu được sức căng thẳng của công việc, nhịp độ cuộc sống trong thế giới hiện đại, không thể tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới và vật hóa các tri thức đó thành sản phẩm có ích Do
đó, cần cải thiện, phát triển nòi giống, nâng cao thể lực tầm vóc và thể trạng nhằm phát triển cân đối, hài hóa giữa thể lực và trí lực con người Việt Nam
Đồng thời, với việc nâng cao tầm vóc là không những cải thiện thể trạng đồng thời đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa chiều cao và trọng lượng
cơ thể, tăng cường trạng thái sức khỏe chung, đặc biệt là sự phát triển hài hòa
về tố chất thể lực cần thiết (sức bền, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo…) cho người lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt động khác của mỗi người
Trang 17Năng lực tinh thần (trí lực) của NNL
Trí lực của NNL biểu hiện ở năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và
kỹ năng lao động nghề nghiệp của người lao động thông qua các chỉ số về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, năng lực sáng tạo và kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, phẩm chất đạo đức, thái độ và phong cách làm việc của người lao động
Trình độ học vấn: là chỉ tiêu đầu tiên biểu hiện trí lực của NNL, nó
thể hiện sự hiểu biết của người lao động về những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội, là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống
Trình độ học vấn được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân Trình
độ học vấn của NNL được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Thứ nhất, tỷ lệ người biết chữ trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt
động kinh tế là số % những người từ 15 trở lên hoạt động kinh tế có thể đọc, viết và hiểu những câu đơn giản của tiếng mẹ đẻ hoặc tiếng nước ngoài so với tổng số dân số 15 tuổi trở lên hoạt đông kinh tế
Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá trình độ văn hóa ở mức tối thiểu của nguồn nhân lực Các thống kê lao động và việc làm trong nước sử dụng chỉ tiêu này
Thứ hai, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình độ văn
hóa tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình độ văn hóa (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) là số % dân số từ 15 trở lên hoạt động kinh tế có trình độ văn hóa tốt nghiệp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) so với dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế
Chỉ tiêu này đánh giá một cách đầy đủ trình độ văn hóa của nguồn nhân lực
Trang 18Thứ ba, số năm đi học trung bình của dân số thừ 15 tuổi trở lên hoạt động
kinh tế
Số năm đi học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế là
số năm trung bình một người từ 15 trở lên hoạt động kinh tế dành cho học tập
Đây là một trong những chỉ tiêu được Liên hợp quốc sử dụng để đánh giá chất lượng NNL của các quốc gia
Thứ tư, tỷ lệ dân số đi học chung các cấp: (tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông) là số % trẻ em đi học cấp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) hay không trong tổng dân số ở độ tuổi cấp tiểu học từ 6-10 tuổi, cấp trung học cơ sở từ 11-14 tuổi; cấp trung học phổ thông từ 15-17 tuổi
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá trình độ phát triển giáo dục ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực của các quốc gia
Thứ năm, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả của hệ thống giáo dục, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
Trình độ dân trí của cư dân phản ánh trình độ học vấn của LLLĐ, là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng NL, bởi lẽ trình độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng tiếp thu và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH
Trình độ chuyên môn kỹ thuật: Lao động có chuyên môn kỹ thuật
được thể hiện thông qua các chỉ tiêu so sánh như sau:
Trang 19Thứ nhất, tỷ lệ lao động qua đào tạo so với lực lượng lao động đang
làm việc là % số lao động đã qua đào tạo (từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học) so với lực lượng lao động đang làm việc Chỉ tiêu này dung để đánh giá khái quát trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực
Thứ hai, trình độ chuyên môn kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ
lao động được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của
cả nước, từng vùng, từng ngành Chỉ tiêu này đánh giá một cách cụ thể nhất
về trình độ CMKT của người lao động
Cơ cấu các loại lao động đã qua đào tạo theo trình độ CMKT và cấp bậc đào tạo, thể hiện ở cơ cấu số lao động có trình độ đại học, cao đẳng/số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp/số công nhân kỹ thuật
Trình độ CMKT của người lao động còn được thể hiện ở khía cạnh khai thác và sử dụng lực lượng này qua tỷ lệ lao động được đào tạo có việc làm và bị thất nghiệp so với tổng số lao động được đào tạo Các thông số đó cho thấy hiệu quả của việc khai thác và sử dụng lao động đã qua đào tạo
Ngoài ra, trí lực của NL còn biểu hiện ở kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người lao động, cũng phụ thuộc trước hết vào khả năng của mỗi người, sự say mê nghề nghiệp, ý thức rèn luyện kỹ năng Mặt này thể hiện thông qua số năng lực lao động chuyên môn của người lao động
Năng lực sáng tạo
Trong thời đại ngày nay, việc trang bị những kiến thức học vấn phổ thông và kỹ năng nghề nghiệp là chưa đủ, cần phải tạo lập cho mỗi con người Việt Nam có tư duy năng động, sáng tạo, dám mạo hiểm, sẵn sàng thích ứng
và thích ứng cao trong một thế giới đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khu vực
Cho nên, trí lực còn được biểu hiện ở óc sáng tạo, tính linh hoạt, nhanh nhẹn, sắc bén trong phát hiện thông tin mới và khả năng thích ứng nhanh để
Trang 20học tập, áp dụng, làm chủ các phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại cũng như năng lực hoạch định các giải pháp kinh tế và thực hiện phát triển kinh tế Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực trí tuệ trong quá trình CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức hiện nay
Kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, phẩm chất đạo đức, thái độ và phong cách làm việc của người lao động
Tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều nhà nghiên cứu lý luận nước ta cho rằng, khi nói tới chất lượng lao động thì ngoài thể lực và trí lực của con người cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn và nắm bắt nhu cầu thị trường của
họ Bởi vì, ngoài thể lực và trí lực, cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người
Đồng thời, khi xem xét chất lượng nhân lực, không thể không nói đến đạo đức, nhân cách, thái độ và phong cách làm việc của con người Đây là những phẩm chất đạo đức, tinh thần có vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của con người, nó thúc đẩy tính tích cực và làm gia tăng hiệu quả hoạt động của con người
Do vậy, phát triển nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, đòi hỏi người lao động phải có hàng loạt phẩm chất cần thiết như: có ý thức tổ chức kỷ luật; tự giác trong lao động, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, tác phong làm việc nhanh nhẹn, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp…tất cả những phẩm chất đó nằm trong phạm trù đạo đức của con người, tức là đào tạo con người “vừa hồng, vừa chuyên” Trong thực tế ở nước ta lực lượng lao động còn hạn chế về ý thức, tác phong công nghiệp, thể lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực hành nghề chưa đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực của người sử dụng lao động, nên còn một tỷ lệ đáng kể lao động không tìm kiếm được việc làm thích hợp hoặc làm khppng đúng với trình độ và nghề
Trang 21được đào tạo So với các nước trong khu vực, thứ bậc xếp hạng về chất lượng nhân lực của nước ta còn thấp (Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 so với Trung Quốc
là 5,73/10 và Thái Lan là 4,04/10)
NNL còn được xem xét cả về cơ cấu, đó là: cơ cấu về giới tính (nam, nữ), cơ cấu về độ tuổi, cơ cấu trình độ đào tạo, cơ cấu lao động nông thôn và thành thị, cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế: nông - lâm thủy sản, công nghiệp, dịch vụ tức là NNL đòi hỏi phải có một cơ cấu hợp lý
* Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và mục tiêu của tái cơ cấu nền nông nghiệp
Tái cơ cấu nền kinh tế
Thuật ngữ "Tái cơ cấu" hiện đang được sử dụng khá phổ biến và cũng
có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, một cách chung nhất có thể hiểu: Tái cơ cấu là sự thay đổi chiến lược, mục tiêu, tầm nhìn của một hệ thống hoặc là sự cơ cấu lại hệ thống bao gồm các hoạt động như sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức hoạt động, xác định lại mục tiêu, chiến lược, tầm nhìn, các giá trị cốt lõi và chuẩn mực của tổ chức hay doanh nghiệp
Tái cơ cấu có thể ở các cấp độ khác nhau, cấp độ cao là sự thay đổi tầm nhìn, chiến lược, cơ cấu lại toàn bộ tổ chức có tính hệ thống; cấp thấp là sự chuyển đổi, sắp xếp lại, đổi mới quy trình hoạt động và cũng có thể bao gồm
cả hai cấp, vừa thay đổi tầm nhìn chiến lược, vừa thực hiện tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp
Trong lĩnh vực kinh tế, những mối quan hệ bền vững giữa các chủ thể kinh tế bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài, hay giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế: ngành kinh tế công nghiệp, ngành kinh tế nông nghiệp, ngành kinh tế dịch vụ, có thể là phương thức tạo ra của cải vật chất (mô hình tăng trưởng kinh tế), mối quan
hệ giữa nhà nước và thị trường, tương quan giữa khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh…
Trang 22Tất cả các mối quan hệ trên đều do các thể chế kinh tế hay các cơ chế, chính sách kinh tế quy định Do vậy, tái cơ cấu kinh tế có thể hiểu là những thay đổi có tính bước ngoặt về cơ chế, chính sách kinh tế để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra Với quan niệm này, khái niệm tái cơ cấu nền kinh tế có nghĩa gần với khái niệm cải cách kinh tế hay đổi mới kinh tế Khái niệm tái cơ cấu kinh tế được sử dụng để chỉ những thay đổi lớn về cơ chế và chính sách, không chỉ là những điều chỉnh chính sách kinh tế ở quy mô nhỏ
mà chúng ta thường gặp
Tuy nhiên, có quan niệm rằng: tái cơ cấu kinh tế chính là quá trình thực hiện việc chuyển dịch, quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế cũ bằng một cơ cấu kinh tế mới, phù hợp hơn Trên cơ sở lý luận rằng, phát triển kinh tế là quá trình vận động liên tục, không ngừng của các bộ phận kinh tế và điều đó cũng làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi hay là sự chuyển dịch của cơ cấu kinh
tế Theo khái niệm này, tái cấu trúc (tái cơ cấu kinh tế) sẽ trùng hợp với quan niệm là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, đặc biệt là cơ cấu ngành, cơ cấu khu vực kinh tế sở hữu hợp lý
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với phân công lao động xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các điều kiện về kinh tế – xã hội trong những giai đoạn phát triển kinh tế nhất định Thực chất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình làm thay đổi cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện, bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới phù hợp hơn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện theo ba hướng chủ yếu: Chuyển dịch theo ngành hoặc theo khu vực kinh tế, chuyển dịch theo vùng kinh tế và chuyển dịch theo thành phần kinh tế Mỗi xu hướng chuyển dịch
Trang 23đều có phạm vi, ý nghĩa riêng, trong đó chuyển dịch kinh tế theo ngành và theo thành phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng
Có thể nói, tái cơ cấu nền kinh tế, là quá trình Chính phủ chủ động thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Chính phủ ban hành các chính sách về tài chính, tiền tệ, các chính sách về hành chính, kinh tế và sử dụng các công cụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình để tác động tới việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực cần thiết nhằm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo một xu hướng nhất định, đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng giai đoạn phát triển Những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế là: lao động, vốn và hiện nay ngoài hai yếu tố đó ra cần có thêm nguồn lực về trình độ khoa học và công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất xã hội
Trong thực tiễn, để thực hiện tái cơ cấu kinh tế thì Nhà nước thường sử dụng các công cụ chính sách hay các biện pháp quản lý tác động trực tiếp vào các yếu tố đầu vào của sản xuất xã hôi (vốn, lao động và công nghệ) để có được một cơ cấu kinh tế mới phù hợp hơn, vững chắc hơn Ngoài các yếu tố tác động trực tiếp đó ra, các chính phủ cũng còn sử dụng các công cụ để gián tiếp tác động thông qua các chính sách quản lý, chính sách khuyến khích hay hạn chế việc sử dụng các nguồn lực cho phát triển, trong đó có chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phù hợp với định hướng phát triển ngành chung của cả nước; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững; nói đến kinh tế nông nghiệp là nói tới cây trồng, vật nuôi chính vì vậy
mà tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần chỉ ra những mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực về: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và về lâm nghiệp
Trang 24Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận; đồng thời, chú trọng đáp ứng các yêu cầu về xã hội Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học, công nghệ, phát triển thị trường,
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ Tăng cường sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, xã hội vào trong quá trình tái cơ cấu ngành Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn Tái cơ cấu nông nghiệp là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
để điều chỉnh phù hợp với thực tế trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên liên quan
Theo báo cáo giải trình trước Quốc hội ngày 21/11/2013 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã xác định nội dung ưu tiên của TCCKT gắn với đổi mới MHTT là tập trung, đẩy mạnh ba đột phá chiến lược về tái cơ cấu đầu tư công, doanh nghiệp Nhà nước cùng nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng bền vững cả về tự nhiên và xã hội, đảm bảo môi trường sản xuất nông nghiệp và nông thôn trong sạch, góp phần xóa đói giảm nghèo, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất nông nghiệp; phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hướng tới trở thành một cường quốc xuất khẩu nông sản
Trang 25Phương hướng của tái cơ cấu kinh tế là phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Từ một nền nông nghiệp phát triển theo chiều rộng thông qua tăng vụ, tăng diện tích, thâm dụng tài nguyên có tác động xấu đến môi trường, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kém hơn nhiều so với các nước trong
khu vực, đi theo hướng phát triển theo chiều sâu với mục đích là phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, có chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, là nội dung chủ yếu trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp mà cụ thể đó là:
Sản phẩm nông nghiệp phải có hàm lượng khoa học công nghệ cao ngay từ trong khâu chọn, tạo giống mới tới quá trình sản xuất áp dụng máy móc hiện đại trong sản xuất nông nghiệp khắc phục những hạn chế làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng đủ năng lực cạnh tranh
Sản xuất phải được cơ giới hóa đồng bộ đầy đủ trong các khâu, từ khâu làm đất đến khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như sẽ nâng cao năng xuất nông sản; đối với chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cần cơ giới hóa theo hướng khép kín, đồng bộ tạo chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất cao, thân thiện với môi trường…
Bên cạnh đó, cần hình thành các tổ chức chuyển giao công nghệ tại các đơn vị nghiên cứu, song song với phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ kỹ thuật KHCN, môi giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá và định giá công nghệ Cần tạo sàn giao dịch công nghệ, liên kết với các đơn vị chuyển giao công nghệ với các tổ chức ứng dụng, kết nối cung - cầu sản phẩm KHCN mới để áp dụng vào sản xuất và xây dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển thị trường KHCN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng các sản phẩm
Trang 26Áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, đẩy mạnh cơ giới hóa trong các khâu sản xuất, nông nghiệp sẽ tạo ra giá trị cao đủ khả năng cạnh tranh về
cả mặt số lượng lẫn chất lượng và đủ khả năng cạnh tranh về mặt giá cả
Ngoài ra, cần có những chính sách quảng bá sản phẩm, tổ chức được kênh phân phối tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Cần phải ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và cả quản lý nông nghiệp Đã có rất nhiều chuyên gia kinh tế trong nước và quốc tế cho rằng nông nghiệp nước ta đặc biệt là ngành trồng trọt, chăn nuôi có rất nhiều tiềm lực kinh
tế nhưng cho đến nay vẫn chưa có chính sách cụ thể nào để phát triển ngành này dẫn đến hiệu quả kinh tế mà ngành đem lại chưa cao Để phát huy những tiềm lực sẵn có, chúng ta cần phải có chính sách và tập trung các giải pháp phát triển những ngành hàng có sức cạnh tranh cao hoặc có tiềm năng phát triển trong tương lai Cụ thể, trong ngành trồng trọt, tập trung phát triển các cây trồng có lợi thế so sánh rõ rệt và có nhu cầu lớn trong tương lai phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu như: cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, rau quả nhiệt đới, lúa gạo Giảm thiểu những cây trồng kém lợi thế, chấp nhận nhập khẩu với quy mô hợp lý phục vụ chế biến và nhu cầu tiêu dùng trong nước (bông, thuốc
lá, rau hoa quả ôn đới, đỗ tương…) Trong ngành chăn nuôi, tập trung phát triển các ngành hàng có lợi thế và tiềm năng thị trường cao như gia cầm, trứng, sữa Duy trì tăng trưởng ngành hàng lợn và gia súc lớn nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước Trong ngành thủy sản, tập trung phát triển nuôi trồng, nhất là nuôi thủy sản nước lợ và sau đó là nước ngọt, mở rộng nuôi trồng trên biển theo hướng đầu tư thâm canh tăng năng suất, tăng hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn
và duy trì cân bằng sinh thái môi trường Chuyển sang đánh bắt biển xa theo hướng khai thác bền vững, kết hợp kinh tế - quốc phòng
Tăng cường thể chế cho phát triển NN theo định hướng thị trường Phát triển thị trường đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính cung
Trang 27cấp đa dạng loại hình cho vay, bảo hiểm và các dịch vụ khác trong NN, phát triển nông thôn, tăng cường vai trò và năng lực của hiệp hội nông dân, hiệp hội ngành hàng; hỗ trợ phát triển hợp đồng nông sản giữa nông dân với doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản lý rủi ro; thúc đẩy phát triển các loại hình giao dịch thị trường hiện đại
Phát triển hệ thống đổi mới NN Đổi mới hệ thống quản lý hành chính
và tài chính trong quá trình xác định các vấn đề ưu tiên, giám sát và đánh giá các nghiên cứu trong ngành NN Tăng lợi ích gắn liền với trách nhiệm của cán bộ nghiên cứu, đảm bảo chất lượng và khả năng ứng dụng của các kết quả nghiên cứu
Thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ các hoạt động hợp tác nghiên cứu giữa tư nhân, Nhà nước với các
tổ chức nghiên cứu và giáo dục quốc tế Thúc đẩy đầu tư cho công nghiệp phục vụ NN và hiện đại hóa chuỗi cung ứng NN
Nhà nước tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho phát triển các cụm nông - công nghiệp, có chính sách khuyến khích đầu tư vào các vùng kém phát triển Đầu tư tư nhân đóng vai trò chính để hiện đại hóa chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước
Tăng cường năng lực và tạo động lực cho việc quản lý chất lượng và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm Thị trường là động lực chính để cải tiến chất lượng, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ, đặc biệt là về đảm bảo chất lượng giống cây trồng vật nuôi, phân bón, thức ăn chăn nuôi và vật tư nông nghiệp,
hỗ trợ các sáng kiến về nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng chỉ dẫn địa lý
Tăng cường quản lý tài nguyên hướng tới tăng trưởng bền vững: Áp dụng các biện pháp kỹ thuật và thể chế để tăng hiệu quả sử dụng nước trong thủy lợi, tăng cường quản lý giám sát các nguồn lợi ven biển, áp dụng biện pháp đồng
Trang 28quản lý đối với đánh bắt thủy sản ven bờ, nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác rừng Tăng cường tính hiệu lực của các quy định và thực hành nhằm giảm thiểu tác động bất lợi về môi trường của việc khai thác các nguồn lực nông, lâm, thủy sản Xây dựng khung pháp lý và chính sách hỗ trợ quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn lưu vực sông và quản lý khí thải carbon
Nâng cao năng lực quản lý rủi ro: Nâng cao năng lực của nông dân và các thành phần kinh tế nông thôn khác trong việc quản lý và ứng phó rủi ro liên quan đến thời tiết và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cũng như các rủi ro về thị trường
Cải thiện hệ thống dự báo thời tiết, hệ thống cảnh báo sớm và gắn kết
hệ thống này với dịch vụ tư vấn NN Xem xét thay đổi phương pháp canh tác
và lựa chọn giống phù hợp, tăng cường hợp tác nghiên cứu và phát triển về các giống cây trồng, vật nuôi mới…
Để làm được những việc đó đòi hỏi nền nông nghiệp phải có một lượng lớn nguồn lao động giỏi, có trình độ chuyên môn kỹ thuật đủ khả năng tiếp thu, áp dụng và phát triển khoa học công nghệ; đủ số lượng lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và quá trình tìm kiếm thị trường, tổ chức kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp; đủ khả năng lãnh đạo, nắm bắt xu thế của thị trường xây dựng một nền nông nghiệp từ manh mún, nhỏ lẻ thành một nền nông nghiệp hiện đại
Như vậy, với mục đích của tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp là:“nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” càng khẳng định hơn nữa sự cần thiết
của nguồn lao động, đặc biệt là nguồn lao động có chất lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mới có đủ khả năng để áp dụng và sáng tạo nên tri thức mới, khoa học công nghệ trong nông nghiệp; đủ thể lực và trí lực để lãnh đạo, đưa ra các chiến lược phát triển nông nghiệp trong điều kiện mới - Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trang 291.1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Sau Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, ngành nông nghiệp đã xây dựng Đề án: “Tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững”; một trong rất nhiều vấn đề đặt ra trước chính sách mới cho lĩnh vực nông nghiệp đó là Nguồn nhân lực
Để đáp ứng được những mục tiêu mà đề án đề ra có phải chỉ là nguồn nhân lực đơn thuần? Và nguồn nhân lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp này phải có những đặc điểm gì để có thể đáp ứng được những mục tiêu của đề án?
Phải khẳng định nguồn nhân lực trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ đơn thuần là nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn không cao, chỉ có số lượng mà không có chất lượng, nguồn nhân lực không
ổn định mà phải là nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao có thể tiếp thu, áp dụng và phát triển khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp; phải là nguồn nhân lực có đủ thể lực và trí lực, phẩm chất đạo đức chính trị lãnh đạo, có khả năng định hướng, đưa ra các đường lối chính sách phát triển nông nghệp Tóm lại, nguồn nhân lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp có đặc điểm cụ thể đó là:
Thứ nhất, là nguồn nhân lực ưu tú về thể lực
Một yếu tố không thể thiếu đối với nguồn nhân lực trong quá trình tái
cơ cấu kinh tế nông nghiệp đó là sức khỏe Sức khỏe trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ được hiểu là tình trạng không có bệnh tật,
mà còn là sự hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần Mọi người lao động, dù lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì
và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Hơn nữa, cần phải có sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, niềm tin và ý chí, khả năng vận động của trí lực trong những điều kiện khác nhau hết sức khó khăn và khắc nghiệt
Trang 30Nhất là trong quá trình đổi mới mô hình kinh tế, tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, yêu cầu thể lực của NNL này còn phải chú ý đến thể lực để giải quyết kịp thời, có hiệu quả, chịu được những sức ép, những thử thách cả về sức khỏe và tinh thần để lao động có năng suất cao trong những điều kiện cạnh tranh quyết liệt và có thể ứng phó với cả những vấn đề toàn cầu như: thiên tai, chiến tranh, tệ nạn
xã hội nhằm phát huy cao độ nội lực và tranh thủ được tối đa ngoại lực cho phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung
Thứ hai, là nguồn lao động tài năng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Đó là nguồn lao động đã được đào tạo ở các trường cao đẳng đại học trở lên đạt loại khá giỏi, thành thạo chuyên môn và nghiệp vụ
Trí lực của nguồn nhân lực trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp là năng lực trí tuệ của con người Mà năng lực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sáng chế
ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được những kỹ thuật - công nghệ hiện đại; khả năng biến tri thức thành
kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp và còn là người lao động có khả năng sáng tạo ra tri thức khoa học
Theo bà Trương Thị Mai, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội nói về nguồn nhân lực trong
Đề án tái cơ cấu nền kinh tế là: Một nền kinh tế tái cơ cấu để phát triển theo chiều sâu và tăng trưởng bền vững, phải có yếu tố nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng Và tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng như vậy
không thể thiếu đội ngũ nhân lực chất lượng Nguồn nhân lực chất lượng trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, ngoài những đặc điểm chung, sẽ có những đặc điểm riêng biệt phù hợp và thích ứng được với điều kiện và hoàn cảnh mới Vì
Trang 31vậy, có thể khẳng định nguồn nhân lực trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải là lực lượng lao động ưu tú của nguồn nhân lực về thể lực và trí lực
Thứ ba là, nguồn lao động có những phẩm chất đạo đức tiêu biểu, tinh
thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm, tinh thần tập thể cao
Thứ tư là, nguồn lao động có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay
đổi, thích ứng nhanh, hội nhập cao
Năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội, có năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho ngành nông nghiệp
1.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Một là, Nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò là điều kiện quyết
định sự thành công của quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò là điều kiện quyết định sự thành công của quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp vì: Trước hết, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chịu sự tác động của con người Nếu con người biết sử dụng, khai thác chúng thì những nguồn lực này mới phát huy được tác dụng, phục vụ nhu cầu lợi ích của con người, tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, con người là điều kiện đầu tiên, là yếu tố quan trọng nhất
Hơn nữa, các nguồn lực khác là có hạn, có thể cạn kiệt khi khai thác Trong khi đó NNL mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực vô tận Tính vô tận của trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ nó có khả năng không chỉ tái sinh, tự sản sinh về mặt sinh học mà còn đổi mới, không ngừng phát triển về chất nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ sở làm cho năng lực và nhận thức hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận Như vậy, con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, khám phá ra những tài
Trang 32nguyên mới và sáng tạo ra những tài nguyên vốn không có sẵn trong tự nhiên, tạo ra những hệ thống công cụ sản xuất mới Chính sự phát triển không ngừng của công cụ sản xuất từ thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự động hóa mà xã hội loài người đã chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao có tác dụng
vô cùng to lớn cho một nền nông nghiệp vốn là lạc hậu Điều đó nói lên trình
độ vô tận của con người, của sức mạnh NNL
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI xác định “đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu” phát triển nông nghiệp theo hướng “nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững” càng đòi hỏi phải có lực lượng lao động kỹ thuật có tay nghề, có
kỷ luật và trình độ văn hóa cao, có thể tiếp thu và sử dụng hiệu quả những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại của thế giới mà đó chính là lực lượng lao động có chất lượng
Tóm lại, nguồn nhân lực là điều kiện quyết định về chất của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là yếu tố đóng vai trò quan trọng, là điều kiện quyết định sự thành công của quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Hai là, Nguồn nhân lực đóng vai trò trong nắm bắt và định hướng quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Xu thế phát triển của kinh tế thế giới hiện nay là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ Mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế, hay mỗi ngành kinh
tế muốn theo kịp và bắt nhịp được với sự phát triển mạnh mẽ này thì trước tiên phải hiểu và nắm bắt được một cách chính xác ở trình độ, bản chất xu thế đó Đối với nền nông nghiệp nước ta, xuất phát từ một nền nông nghiệp lạc hậu, nơi mà trình độ nhận thức và tư duy của đại bộ phận nguồn nhân lực còn
bị hạn chế, muốn xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp phát triển, năng suất lao động cao, bền vững, gắn với khoa học công nghệ cao thì việc có một lực lượng đủ khả năng đóng vai trò tiên phong trong nắm bắt và định hướng quá
Trang 33trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp là điều kiện quan trọng hàng đầu để xây dựng nền móng cho quá trình đó Nếu không có đủ lực lượng đảm nhiệm vai trò này, việc phát triển kinh tế nông nghiệp “bền vững” gắn với khoa học công nghệ cao là không bao giờ thực hiện được
Vậy, tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta muốn thực hiện thành công thì lực lượng nào sẽ đảm nhiệm vai trò tiên phong này? Đó chắc chắn phải là đông đảo lực lượng lao động, mà trước hết phải là lực lượng lao động
có trình độ được đào tạo chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tiêu biểu, có khả năng thích ứng và sáng tạo tri thức hiện đại
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng chính là lực lượng tiên phong trong việc nắm bắt xu thế mới, xác định phương hướng, con đường, xác định
nhiệm vụ phát triển kinh tế nông nghiệp là: Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững gắn với khoa học công nghệ
Ba là, Nguồn nhân lực là động lực chủ yếu tiếp cận, áp dụng, triển khai
và sáng tạo tri thức hiện đại để đẩy nhanh hiệu quả quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt và định hướng mà còn ở việc thúc đẩy trên thực tế các yếu tố để hiện thực hóa quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần áp dụng kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất; con đường ngắn nhất và duy nhất dẫn đến sự thành công của quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp không thể không ngắn với khoa học công nghệ hiện đại Khoa học công nghệ hiện đại, trước hết là: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ sau thu hoạch…Vai trò tiên phong trong ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ vào quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nguồn nhân lực bắt nguồn từ những yêu cầu của thực tiễn dưới tác động của CMKHCN,
những tri thức hiện đại luôn luôn thay đổi với quy mô và tốc độ cực nhanh
Trang 34Với những thay đổi đó, chỉ có nguồn nhân lực chất lượng mới có khả năng theo kịp để tiếp thu, ứng dụng và triển khai tri thức mới Thông qua vai trò tiên phong của họ, đại bộ phận nguồn nhân lực mới có cơ hội tiếp xúc và triển khai trên quy mô rộng những tri thức hiện đại đó
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng là một bộ phận giữ vai trò rất quan trọng trong việc tiếp thu tri thức khoa học cũng như triển khai tri thức đó trên quy mô rộng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng
Sáng tạo tri thức hiện đại, đặc biệt là những tri thức theo kịp với xu hướng phát triển của thời đại, có giá trị kinh tế lớn không phải là khả năng vốn có của nguồn nhân lực nói chung Chỉ có những nhân lực lao động có trình độ lao động chuyên môn cao, được làm việc trong những môi trường chuyên nghiệp mới tạo lập được khả năng sáng tạo tri thức khoa học phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp Vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức khoa học để phục vụ quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nguồn nhân lực thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, sáng tạo con đường và cách thức phù hợp với nền nông
nghiệp lâu đời
Thứ hai, sáng tạo những công trình khoa học, như công nghệ sinh học
để tạo năng suất cây trồng…
Thứ ba, sáng tạo những mô hình, cách thức tổ chức, quản lý phù hợp
với quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp…
Tóm lại, nguồn nhân lực chính là lực lượng đi đầu không chỉ là lực lượng tiếp nhận tri thức, công nghệ mới mà còn là lực lượng có khả năng sáng tạo tri thức mới đẩy mạnh sản xuất, tạo năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, đáp ứng được những đòi hỏi của quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Như vậy, nguồn nhân lực thông qua trình độ, phẩm chất và khả năng tiêu biểu của mình sẽ là lực lượng đóng vai trò tiên phong trong mọi công cuộc phát triển kinh tế
Trang 351.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong quá trình tái
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Dân số
Nhóm này bao gồm quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số Các nhân tố này được xem xét trong mối quan hệ qua lại giữa sự biến động dân số, với lực lượng lao động và giải quyết việc làm
Tăng trưởng dân số có tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng NNL Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, cứ tăng dân số 1% thì yêu cầu tăng GDP phải ít nhất là 3% thì mới đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội bình thường, tức là theo đó có đủ sản phẩm và dịch vụ ở mức cần thiết để đảm bảo duy trì sản xuất, tạo công ăn việc làm và mức sống như hiện tại
Theo số liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội, trong giai đoạn
2006-2010 chúng ta đã tạo việc làm cho khoảng 7,54 triệu người tăng 23,6% so với giai đoạn 2000-2005 bình quân hàng năm trên 1,5 triệu người; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm 1,2% tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn tăng 6%
tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm 4,5% so với cuối năm 2000
Bảng 1-1: Lao động nông thôn và thành thị so sánh năm 2010 với năm 2006
11.052 24,9
8.730 22,6
+2.772 +2,3
3 - Lao động nông thôn
- Tỷ trọng
Nghìn người (%)
33.333 (75,1)
29.910 77,4
+3423 (-2,3)
4 Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị (%) 5,32 6,42 -1,2
5
Tỷ lệ thời gian lao động
được sử dụng của lực lượng
lao động nông thôn
Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh Xã hội (2006 và 2010)
Trang 36Cũng theo Bộ LĐTBXH, đến năm 2010 dân số nước ta đã đạt mức 88 triệu người trong đó dân số trong độ tuổi lao động đạt 59,3 triệu người (chiếm 67,4%) so với mức tăng bình quân 1,5 triệu người/năm (thành thị tăng 460 nghìn người/năm và nông thôn tăng hơn 1 triệu người/năm) Mức độ gia tăng tương đối cao của lực lượng lao động trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ lao động nhàn rỗi ở nông thôn tương đối cao nhưu hiện nay đang đặt ra những vấn đề lớn cần giải quyết trong khi đó chất lượng lao động thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thời gian lao động nhàn rỗi ở nông thôn tương đối cao như hiện nay đang đặt ra những vấn đề lớn cần giải quyết trong khi đó chất lượng lao động thấp thể hiện ở tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong tổng lực lượng lao động thấp và cơ cấu lực lượng lao động bất hợp lý
Bảng 1-2 Mức gia tăng dân số trong độ tuổi lao động ở Việt Nam đến năm 2020
Nguồn: Quỹ dân số Liên hợp quốc - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010)
Trong khi đó, thị trường lao động chưa phát triển, chất lượng giáo dục, đào tạo và dạy nghề còn thấp dẫn đến một loạt vấn đề mâu thuẫn liên quan đến giải quyết việc làm, đến việc phát triển chất lượng của Việt Nam đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nước
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thì vai trò của đội ngũ trí thức, lao động chất xám ngày càng tăng và
Trang 37càng có ý nghĩa quyết định Điều này đã được Karl Marx dự báo khoa học về vai trò của lao động trí tuệ: đến một trình độ nào đó, tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự tiên đoán của Karl Marx đã trở thành hiện thực trong điều kiện ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Trí tuệ - lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu đội ngũ nguồn nhân lực trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ngày nay Trí tuệ của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua tri thức Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Hơn nữa dù máy móc công nghệ hiện đại đến đâu mà không có phẩm chất và năng lực cao, có tri thức khoa học thì không thể vận hành để làm “sống lại” nó chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của nó thông qua hoạt động của con người
Trong các quan hệ cộng đồng thì quan hệ gia đình là tế bào của xã hội, Đối với con người Việt Nam hiện đại, cuộc sống gia đình hòa thuận theo quan niệm truyền thống là nhân tố quan trọng chi phối tâm thức của họ Đối với một số quy phạm đạo đức truyền thống như đạo hieeurm lối sống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sãn sàng tương trợ người khác trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn là những nhân tố cần phát huy và có ý nghĩa nhất định đối với chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng NNL, được phân tích làm sáng tỏ trên các mặt cơ cấu nguồn nhân lực hiện có, trình độ học vấn, số năm đi học bình quân Tình trạng thể lực nguồn nhân lực về tình trạng sức khỏe, trọng lượng, chiều cao, tình trạng bệnh tật Chất lượng NNL gắn với nghề nghiệp chuyên môn nhất định Như vậy, “có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa…Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động tri thức”
Về chất lượng chất lượng nhân, đặc trưng NNL Việt Nam có trình độ học vấn khá, thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo có khả năng năng nắm
Trang 38bắt nhanh những thành tựu mới của khoa học công nghệ trên nhiều ngành lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường
1.2.2 Giáo dục, đào tạo và khoa học - công nghệ
Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng NNL
Trong quá trình đổi mới, từ đại hội VI đến đại hội XI, Đảng ta nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò của giáo dục - đào tạo và của khoa học công nghệ; coi đầu tư cho hai lĩnh vực này là đầu tư cho phát triển, liên quan mật thiết với yêu cầu nâng cao chất lượng NNL
Nhận thức đó là sự vận động đúng đắn tư tưởng khoa học của Karl Mark Như chúng ta đã biết, Karl Mark đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự phát triển sức sản xuất Ông khẳng định rằng: Sức lao động bao gồm toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó Như vậy, sức lao động không chỉ mang đặc trưng vật chất (yếu tố thể chất) mà còn mang cả đặc trưng xã hội (trí tuệ
và ý thức xã hội) Trong đó hệ thống nhân tố trí tuệ và ý thức xã hội có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của sức lao động K.Max viết: “Một lao động được coi là cao hơn, phức tạp hơn so với lao động xã hội trung bình thì
nó là biểu hiện của một sức lao động đòi hỏi những chi phí cao hơn Người ta phải tốn nhiều thời gian lao động hơn để tạo ra nó và như vậy, nó có một giá trị cao hơn so với sức lao động giản đơn”
Ngày nay, khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, thì vai trò của NNL chất lượng cao ngày càng trở nên quan trọng
Trong tác phẩm “Đầu tư vào tương lai” (Invensting the future), Jacques Hallak (chuyên gia cấp cao về giáo dục tại viện Kế hoạch hóa quốc tế) đã nêu lên 5 nguồn phát năng cho sự phát triển nguồn lực con người, đó
Trang 39là: giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng môi trường, việc làm, tự do chính trị và kinh tế Theo ông những nguồn này gắn bó với nhau nhưng giáo dục là nhân
tố quan trọng nhất Ấn Độ không chọn tài nguyên hay lao động giản đơn mà
sử dụng tri thức chất xám “chất xúc tác” Ấn Độ đã áp dụng một chính sách giáo dục thích hợp với nhu cầu thời đại Hàng năm, Ấn Độ đào tạo được hàng ngàn người có trình độ chuyên môn cao về kỹ thuật, kinh doanh Hiện nay, một số công ty tin học của Ấn Độ dẫn đầu thế giới về phần mềm cũng như về dịch vụ khai thác
Nếu tính tỷ lệ trong GDP thì nước đầu tư vào giáo dục cao nhất là Cuba (8,7% GDP), còn nước đầu tư thấp nhất vào giáo dục là XriLanca (3,3% GDP) Các nước có nền kinh tế phát triển, đầu tư nhiều vào giáo dục là Canada, một trong các nước G8 đã đầu tư vào giáo dục 5,5% GDP Đối với các nước ASEAN và Hàn Quốc
Bảng 1-3: Đầu tư cho giáo dục từ GDP và ngân sách nhà nước
GDP/người/năm Đầu tư cho giáo dục Thứ
hạng Quốc gia Thực tế
(USD)
Theo sức mua (PPPS)
Từ ngân sách nhà nước (%)
Nguồn: UNDP- Báo cáo phát triển Con người 2010
Trang 40Nếu so sánh với một số quốc gia trong khu vực về mức đầu tư cho giáo dục - đào tạo trong GDP, Việt Nam đã vượt qua một số quốc gia như Indonexia,
Ấn Độ, Pakixtan, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp hơn Thái Lan, Malaixia
Trong giai đoạn hiện nay, khi tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì chất lượng NNL trở thành nguồn tài nguyên quan trọng hơn mọi tài nguyên khác, muốn phát triển và sử dụng nó một cách hiệu quả không có con đường nào khác là học tập Theo Lênin: “Việc điện khí hóa không thể do những người mù chữ thực hiện, mà chỉ biết chữ không thôi cũng không đủ…Họ phải hiểu rằng điều đó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở một nền học vấn hiện đại và họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”
Đối với nước ta, để thực hiện mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn tiếp cận kinh tế tri thức đưa đất nước đuổi kịp các nước trong khu vực
và thế giới đòi hỏi phải cải cách giáo dục và đào tạo một cách mạnh mẽ đang
là một yêu cầu cấp bách như văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII của Đảng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH,
là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Nói cách khác, giáo dục và đào
tạo là phương tiện để khai trí, thiếu nó thì trí tuệ của một dân tộc sẽ kém cỏi
và do vậy không có sức mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định:
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
Kinh tế - xã hội giai đoạn 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội XI đã
khẳng định một trong các đột phá là “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”