Tác giả đã đánh giá công tác quản lý lễ hội của ngành văn hóa - thể thao - du lịch thông qua việc triển khai các văn bản pháp quy cũng như việc áp dụng các văn bản ấy trong thực tiễn cô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH
CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI VĂN HÓA DÂN GIAN
CỦA TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
Ngành : Chính trị học Chuyên ngành: Quản lý xã hội
Mã số : 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Xuân Học
HÀ NỘI – 2013
Trang 2CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 HĐND : Hội đồng nhân dân
2 KT – XH : Kinh tế - xã hội
3 UBND : Ủy ban nhân dân
4 UNESCO : Tổ chức Khoa học, giáo dục
và văn hoá của Liên Hiệp quốc
5 VHDG : Văn hóa dân gian
6 VH – TT – DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch
7 XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Lễ hội VHDG trên vùng đất Phú Thọ chia theo mùa 39
Bảng 2.2: Thống kê các lễ hội VHDG ở Phú Thọ gắn với di tích 40
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI
VĂN HÓA DÂN GIAN
8
1.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý hoạt động lễ hội VHDG 8 1.2 Sự cần thiết phải quản lý hoạt động lễ hội VHDG 19 1.3 Nội dung quản lý hoạt động lễ hội VHDG 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI
VĂN HOÁ DÂN GIAN CỦA TỈNH PHÚ THỌ
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI VĂN HOÁ DÂN GIAN CỦA
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XXI mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức lớn Việt Nam
là một trong những quốc gia đang phát triển vươn lên mạnh mẽ nhờ tiềm năng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội … Là một đất nước giàu truyền thống văn hóa, với lịch sử hơn 4000 năm dựng nước đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Dân tộc Việt Nam trải qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử nhưng bản sắc văn hóa Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát huy Tuy nhiên, một số hoạt động lễ hội VHDG đang dần mai một đi bởi xu thế hội nhập và toàn cầu hóa Giới trẻ Việt Nam – những chủ nhân tương lai của đất nước chưa thực sự dành cho lễ hội VHDG góc nhìn xuyên suốt và có ý thức gìn giữ cho muôn đời sau Có thế nói, văn hóa (đặc biệt là hoạt động lễ hội VHDG) nếu không được bảo tồn
và phát huy sẽ mất đi những giá trị truyền thống Văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI (tháng 1 năm 2011) về phát triển văn hóa đã chỉ rõ: “ Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong công chúng, đặc biệt
là thế hệ trẻ và người nước ngoài” Vì vậy, vấn đề vô cùng cấp thiết đặt ra
cho Đảng và Nhà nước ta hiện nay là phải tăng cường quản lý để gìn giữ VHDG Đây cũng là thách thức rất lớn trong việc quản lý, bảo tồn VHDG của
dân tộc Việt Nam
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía Bắc nước ta, cách đây trên 4000 năm là nơi khai thiên lập địa, là kinh đô Nhà nước đầu tiên của dân tộc ta - Nhà nước Văn Lang với 18 đời vua Hùng Vương Mảnh đất cha ông nguồn cội với bề dày lịch sử cùng với những truyền thống văn hóa lâu đời như Đền
Trang 6Hùng – di tích lịch sử cấp Quốc gia và nhiều lễ hội vô cùng phong phú khác
đã chứng minh tầm quan trọng của VHDG tỉnh Phú Thọ với các dân tộc Việt Hơn thế nữa tỉnh Phú Thọ cách Hà Nội 60km nên đây là nơi giao thoa văn hóa của nhiều vùng miền (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng Bằng Sông Hồng) Phú Thọ là mảnh đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là nơi còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể với những giá trị đặc trưng của nền văn minh lúa nước Hệ thống di chỉ khảo cổ lớn như: Sơn Vi, Gò Mun, Phùng Nguyên, Làng Cả, Xóm Dền khẳng định mảnh đất Phú Thọ là nơi sinh tụ của người Việt cổ Năm 2011 “Hát xoan Phú Thọ” được UNESSCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp và năm 2012
“Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại khẳng định Phú Thọ là vùng đất văn hiến, nơi hội tụ văn hoá tâm linh, cội nguồn của dân tộc Việt có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới
cả nước và bè bạn thế giới Có thể nói, sự phong phú đặc sắc của VHDG và lễ hội văn hóa dân gian trên đất Phú Thọ đã tạo nên nhiều thế mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch ở vùng đất này Tuy nhiên trong thời gian qua, việc quản lý các hoạt động văn hóa dân gian (đặc biệt là hoạt động lễ hội VHDG) còn mang tính hình thức, bề nổi, chưa thực sự quan tâm đến sự phát triển bền vững của các lễ hội văn hóa dân gian, cũng như bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội này Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải tăng cường hơn nữa vai trò của các chủ thể trong xã hội (nhất là Nhà nước) đối với hoạt động lễ hội
VHDG ở tỉnh Phú Thọ
Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động lễ hội văn hóa
dân gian của tỉnh Phú Thọ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ quản lý xã hội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước Cách mạng tháng Tám, các công trình nghiên cứu về lễ hội ít được chú ý Một số học giả thời kì này đã đề cập đến lễ hội trong các công trình
nghiên cứu văn hoá như Phan Kế Bính với “Việt Nam phong tục”; Đào Duy Anh với “Việt Nam văn hoá sử cương”; Nguyễn Văn Huyên với “Góp phần
Trang 7nghiên cưú văn hoá Việt Nam” Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến
năm 1945, do hoàn cảnh chiến tranh nên hầu như lễ hội ít được nghiên cứu, sưu tầm Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nước tạm thời chia cắt, các công trình nghiên cứu về lễ hội ở hai miền Nam - Bắc cũng khác nhau Ở miền
Nam có một số công trình “Lễ tế xuân hay Đám rước thần nông” (Nguyễn Bủư Kế), “Nhớ lại hội hè đình đám” (Nguyễn Toại), “Mùa xuân với đời sống tình cảm Việt Nam”, “Trẩy hội hành hương” (Nguyễn Đăng Thục), “Nếp cũ hội hè đình đám quyển thượng” (Toan Ánh) Ở miền Bắc có các công trình
“Một số tục cổ và trò chơi Việt Nam trong tết Nguyên đán và mùa xuân” (Nguyễn Đổng Chi), “Thời Đại Hùng Vương” (Lê Văn Lan), “Hà Nội nghìn xưa” (Trần Quốc Vượng) Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều học giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc về lễ hội như “Đất lề quê thói” (Nhất Thanh); “Lễ hội truyền thống và hiện đại” (Thu Linh - Đặng Văn Lung); “60 lễ hội truyền thống Việt Nam” (Thạch Phương - Lê Trung Vũ); “Lễ hội Việt Nam” (Lê Trung Vũ - Lê Hồng Lý); “Lễ hội cổ truyền” (Lê Trung Vũ chủ biên); “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại” (Đinh Gia Khánh - Lê Hữu
Tầng chủ biên)
Những năm gần đây cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện nâng cao, nhiều lễ hội VHDG được phục dựng, các tour tuyến du lịch được hình thành Các công trình nghiên cứu lễ hội và quản lý hoạt động lễ hội được nhiều học giả quan tâm, đặc biệt là các lễ hội lớn ở các địa phương trên khắp địa bàn cả nước, trong đó có lễ hội Đền Hùng Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu này là các tác giả và các công trình sau:
Nguyễn Quang Lê với “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ trong xã hội hiện nay”; (Viện nghiên cứu
văn hóa dân gian, Hà Nội, 1999) Tác giả đã nêu khái quát chung về thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống trong lịch sử dân tộc Việt Nam và thực trạng một số lễ hội tiêu biểu ở đồng bằng Bắc Bộ Trong 6 lễ hội được nghiên
Trang 8cứu, tác giả đã dành một chương nghiên cứu về lễ hội Đền Hùng ở Phú Thọ, trong phần kết luận và một số dự báo, tác giả đã đề cập đến xu hướng phát triển du lịch văn hóa trong các lễ hội truyền thống trong tương lai
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Phú Thọ và Hội Văn nghệ dân gian với
“Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam” (xuất bản năm 2007) Các tác
giả thống kê khá đầy đủ chi tiết các lễ hội Tuy nhiên tác giả chưa nghiên cứu chuyên sâu về quản lý lễ hội và các giải pháp để phục dựng các lễ hội ấy
Bùi Hoài Sơn với “Quản lý lễ hội truyền thống của người Việt ở vùng châu thổ Bắc bộ từ năm 1945 đến nay” – (luận án Tiến sỹ Văn hóa học) Tác giả đã
đánh giá công tác quản lý lễ hội của ngành văn hóa - thể thao - du lịch thông qua việc triển khai các văn bản pháp quy cũng như việc áp dụng các văn bản
ấy trong thực tiễn công tác tổ chức lễ hội trong các giai đoạn khác nhau, đặc biệt đến giai đoạn hiện nay, tác giả đã áp dụng xuyên suốt một quan điểm quản lý mới – quan điểm quản lý di sản – qua đó giải thích, đưa ra những luận điểm lý giải cho các vấn đề xảy ra xung quanh việc quản lý và tổ chức lễ hội, hướng đến việc xây dựng nên cơ sở lý luận cho công tác quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ trong thời gian sắp tới
Nguyễn Anh Tuấn với “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền ở tỉnh Vĩnh Phúc” – (Luận văn Thạc sỹ Văn hóa học) Trên cơ sở
nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền ở tỉnh Vĩnh Phúc, tác giả đã xây dựng những định hướng cho công tác chỉ đạo, quản lý lễ hội trên phạm vi của tỉnh Đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội Vĩnh Phúc trong xu thế hội nhập và phát triển KT-XH hiện nay
Tống Minh Toàn với “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản lễ hội truyền thống ở huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ hiện nay” – (Luận văn Thạc sỹ Văn
hóa học) Tác giả đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy những giá trị di sản
lễ hội truyền thống, chỉ ra những giá trị đích thực tạo nên sức sống của lễ hội truyền thống ở huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
Trang 9hệ thống các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện
Nguyễn Đắc Thuỷ với “Bảo tồn và phát huy vai trò của di sản lễ hội để phát triển du lịch ở tỉnh Phú Thọ hiện nay” - (Luận văn Thạc sỹ Văn hoá
học) Tác giả nêu lên vai trò của di sản lễ hội đối với phát triển du lịch, đề cập đến nhiều lễ hội cổ truyền cụ thể ở tỉnh Phú Thọ gắn với phát triển du lịch Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy di sản lễ hội để phát triển
du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
Các công trình trên đã trình bày, đề cập đến lễ hội với nhiều nội dung, nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên việc quản lý hoạt động lễ hội VHDG của tỉnh Phú Thọ thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu và tiếp cận Vì vậy, trong luận văn này tác giả kế thừa, tiếp thu, đúc kết các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước để đánh giá nghiên cứu vấn đề quản
lý hoạt động lễ hội VHDG tỉnh Phú Thọ hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ vấn đề lý luận về quản lý hoạt động lễ hội VHDG và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động lễ hội VHDG trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Từ đó tác giả luận văn đưa ra giải pháp nhằm tăng cường công tác quản
lý hoạt động lễ hội VHDG tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Luận văn nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động lễ hội VHDG
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động lễ hội VHDG ở tỉnh Phú Thọ, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng đó; Nhằm đề xuất các quan điểm và đưa ra một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động lễ hội VHDG của tỉnh Phú Thọ
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ nội dung, phạm vi nghiên cứu cũng như mục đích đặt ra của
đề tài, đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý hoạt động lễ hội VHDG trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
và quản lý văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lê nin: phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng: Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu; quan sát, tổng kết kinh nghiệm, thống kê, so sánh…
6 Đóng góp mới của luận văn
Với việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến quản lý hoạt động
lễ hội VHDG của tỉnh Phú Thọ hiện nay, luận văn sẽ có những đóng góp mới như sau:
Luận văn góp phần làm phong phú hơn kinh nghiệm, nhận thức về lễ hội VHDG ở Phú Thọ;
Bên cạnh đó, là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý để tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động lễ hội VHDG;
Luận văn phục vụ cho những người nghiên cứu, tìm hiểu lĩnh vực này
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
7.1.Ý nghĩa về mặt khoa học
Trang 11Luận văn góp phần làm hiểu biết sâu sắc tầm quan trọng của việc bảo tồn
và giữ gìn hoạt động lễ hội VHDG, từ đó nâng cao hơn nữa vai trò của quản
lý đối với hoạt động lễ hội VHDG tỉnh Phú Thọ
7.2 Ý nghiã về mặt thực tiễn
Bằng cách phân tích những tài liệu của các tác giả đi trước, các văn bản pháp quy liên quan đến quản lý hoạt động lễ hội VHDG, luận văn sẽ đưa ra những lý giải theo cách riêng của tác giả về ảnh hưởng của của các văn bản quản lý đối với công việc tổ chức và quản lý hoạt động lễ hội của tỉnh Phú Thọ Luận văn góp phần đánh giá thực trạng quản lý hoạt động lễ hội VHDG trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội VHDG tỉnh Phú Thọ thời gian tới
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phần Nội dung của đề tài bao gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 121.1.1.1 Văn hóa dân gian
Thuật ngữ quốc tế "folklore (phôn-clo)" - Văn hóa dân gian, được W
J.Thom sử dụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ "phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ của người thời trước" Ở Việt Nam, thuật ngữ "phôn-clo" đã
được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là "Văn học dân gian", "Văn nghệ dân gian" và nay là "Văn hóa dân gian"
Về mặt lý luận, khó có thể thống nhất được một khái niệm bao quát về VHDG Ở góc độ quản lý Nhà nước lại cần có một cách nhìn thực tiễn đối với VHDG Do đó, quản lý về VHDG đòi hỏi phải được giới hạn trong một phạm
vi với những hoạt động cụ thể
Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm,
nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực như: ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, tín ngưỡng phong tục và lễ hội, cụ thể như sau:
Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền
thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ ); Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian
Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc
dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn )
Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời
tiết, khí hậu ); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng
Trang 13sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất)
Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội
Có thể nói văn hóa, trong đó có VHDG là sản phẩm của sự phát triển
xã hội nhất định, nó ra đời bắt nguồn từ nhu cầu tất yếu của xã hội Tuy nhiên, sau khi hình thành và định hình, văn hóa tác động trở lại xã hội với tư cách là
"nền tảng tinh thần của xã hội", là "động lực và mục tiêu của sự phát triển xã hội" Ngày nay, đất nước chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, cả nước đang phấn đấu thực hiện những mục tiêu của Nghị quyết
Trung ương 5 (khóa VIII) về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Trong bối cảnh chung như vậy, một lần
nữa chúng ta thấy nổi bật vai trò của văn hóa dân gian trong văn hóa dân tộc
và trong đời sống xã hội
VHDG là giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, chọn lọc trong quá trình lịch sử lâu dài Nó mang tính xã hội, phản ánh tính chất “tĩnh tương đối” Mục tiêu của nó là vì sự phát triển kinh tế, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người Ngoài ra, nó còn là động lực vì đã tạo ra định hướng phát triển xã hội; hệ giá trị là nền tảng của nhận thức; có tác động ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực hoạt động của con người
VHDG hướng tới chủ nghĩa nhân văn, hướng tới hoàn thiện cá nhân, xử
lý tốt quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Song trên thực tế, có rất nhiều hành
vi, hoạt động lợi dụng VHDG để đi ngược lại lợi ích cộng đồng, giá trị văn hóa truyền thống vì mục đích trục lợi cá nhân Điều này cho thấy phát huy giá trị của VHDG trong đời sống cộng đồng dân cư là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm xây dựng, phát triển một nền văn hóa dân tộc và hiện đại, phù hợp với xu thế chung của nhân loại nhưng vẫn gìn giữ được bản sắc văn hóa Việt Nam
1.1.1.2 Lễ hội văn hóa dân gian
Lễ hội theo học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương thì
gọi là đại hội (vào đám hay vào hội) [3,tr.255] Về sau nhiều học giả đã thay
Trang 14thuật ngữ này bằng các thuật ngữ tương đương Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu qua tên sách, tên bài viết đã có nhiều cách gọi khác nhau:
Toan Ánh trong cuốn “Nếp cũ hội hè đình đám” thì quan niệm rằng hội hè
đình đám là những cuộc tổ chức hội họp tại các thôn xã nhân dịp vào đám và trong dịp vào đám này có nhiều trò mua vui cho dân thôn giải trí [1,tr.9] Các quan niệm trên đã nhấn mạnh ý nghĩa tích cực của các hoạt động vui chơi sinh hoạt tập thể có ý nghĩa giải trí, các yếu tố thuộc về nghi thức mang tính tâm linh tín ngưỡng thì chưa được đề cập sâu
Các nhà nghiên cứu khác như Lê Hồng Lý, Nguyễn Khắc Xương, Đinh
Gia Khánh thì coi đó là hội lễ, coi danh từ hội lễ như một thuật ngữ văn hóa
Ý nghĩa của thuật ngữ này được xác định trên cơ sở ý nghĩa của hai thành tố
hội và lễ Hội là sự tập hợp đông người trong một sinh hoạt văn hóa cộng đồng Lễ là các tín ngưỡng (các niềm tin thiêng liêng) và các nghi thức đặc
thù gắn với các tín ngưỡng ấy trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng [12, tr7]
Tác giả Lê Trung Vũ trong các bài viết trên Tạp chí văn hóa dân gian
(giai đoạn 1983 đến 1986) thường gọi là “Hội làng”, “Hội lễ”, “Hội-Lễ”, còn các trường hợp khác ông thường gọi là “Lễ hội”
Như vậy, lễ hội có thể có nhiều cách gọi khác nhau nhưng cơ bản thống
nhất và tập trung ở từ “lễ hội” Xét về mặt nghĩa của từ nó bao gồm hai thành
tố “lễ” và “hội”
Theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh thì Lễ bao gồm các nghĩa sau:
-Cách bày tỏ kính ý
-Đồ vật để bày tỏ kính ý
Chữ Lễ thường đi với các từ như sau, nhưng không có từ Lễ hội: Lễ bái, tế
thần, lễ bộ, lễ chế, lễ giáo, lễ ý, lễ mạo, lễ nghi, lễ nhạc, lễ phép, lễ phục, lễ sinh, lễ tân, lễ tiết, lễ tục, lễ văn, lễ vật [6,tr.498]
Còn Hội có nghĩa là:
- Họp nhau, cơ quan nhiều người họp để làm việc, gặp, ý tứ và sự lý gặp nhau, bản lĩnh và sự tình gặp nhau
Trang 15Hội thường gắn với: hội ẩm, hội binh, hội diện, hội đồng, hội họp, hội ý,
hội kiến, hội minh, hội nghị, hội quán, hội tâm, hội thí, hội thực, hội trường, hội trưởng, hội viên, hội xã Trong đó không có từ hội lễ [2, tr.388]
Như vậy học giả Đào Duy Anh không dùng và không đề cập đến từ lễ hội hay Hội lễ có thể do quan niệm như trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương
đã trình bày và quan niệm là đại hội (vào đám hay vào hội) nên tác giả không
dùng từ lễ hội hay Hội lễ nữa
Tuy nhiên, trong Đại Nam quốc âm tự vị của Paulus Huỳnh Tịnh Của
xuất bản tại Sài Gòn năm 1895: Lễ là khuôn phép, phép bày ra cho tỏ điều kính trọng, cho là điều lịch sự, là của dâng đưa, dâng cúng Hội là nhóm họp
đông người, gặp gỡ, hiểu biết
Trong “Từ điển tiếng Việt” do Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện
ngôn ngữ học ấn hành năm 1992: Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu một kỷ niệm, một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Hội là cuộc vui tổ chức
chung cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt [54]
Nhà Văn hóa học Đoàn Văn Chúc lại xây dựng khái niệm lễ hội từ cụm từ
Lễ - Tết - Hội theo nghĩa gốc Hán, và từ khái niệm Lễ, khái niệm Tết, khái niệm Hội ông cho rằng đều chỉ một loại hình nghi thức, cũng là một loại hình
phong tục và trong đời sống xã hội, ba hình thức trên thường xâm nhập vào
nhau, đan xen vào nhau Theo ông :“Lễ là sự bày tỏ kính ý đối với một sự
kiện xã hội hay tự nhiên, tư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ
Hội là cuộc vui chơi bằng vô số các hoạt động giải trí công cộng diễn ra tại một
địa phương nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm biểu đạt sự phấn khích, hoan hỷ của công chúng dự lễ”[8, tr.132]
Việc phân tích các quan niệm về lễ hội ở trên dựa vào cấu trúc lễ hội, theo
đó lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội tuy nhiên cách phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối Lễ hội là một hiện tượng văn hóa xã hội tổng thể, do vậy
Trang 16nếu phân chia lễ và hội một cách máy móc thì sẽ dẫn đến không thể hiểu được bản chất của lễ hội thậm chí hiểu sai, lệch lạc về lễ hội
Như vậy, lễ trong lễ hội cần phải được hiểu là nghi thức, cách thức tiến hành những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước nguyện về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắn tốt lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng
Đó là những sinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập thể, là sinh hoạt cả cộng đồng người trong đời sống tín ngưỡng tâm linh, đồng thời cũng là cách ứng xử của các tầng lớp nhân dân dành cho thần trong mối quan hệ “Người - Thần” vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của con người Từ những phân tích trên nhằm hiểu đúng bản chất của lễ, tránh cách hiểu chưa đúng hoặc những quan niệm thông tục coi lễ chỉ là lễ bái, lễ vật, lễ lạt…
Lễ hội VHDG là một khái niệm hẹp nằm trong khái niệm về văn hóa dân
gian đã đề cập ở phần trên Lễ hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có sự tham
gia của đông đảo người dân Lễ hội bao gồm có 2 phần là phần lễ có tính cách
nghiêm trang để tưởng niệm công lao của người mà ngày lễ hội đó đề cập
đến, và phần hội là tổ chức vui chơi cho cộng đồng
* Một số tính chất đặc thù của lễ hội văn hóa dân gian
Thứ nhất, tính “thiêng”: Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng
phải tìm ra được một lý do mang tính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm tưởng nhớ ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đó bao giờ cũng được "thiên hóa", đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân
Trang 17Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ
có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn của đời sống
Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến
Thứ hai, tính cộng đồng: Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển
khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước
Thứ ba, tính đặc trưng của từng địa phương: Mỗi lễ hội được sinh ra
và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân Nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ thể hiện ở nội dung lễ hội mà còn thể hiện ở phong cách của mỗi lễ hội Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế,
ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng
Thứ tư, tính cung đình: Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần
linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thế, những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác, lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát, nguyện vọng của người dân
Thứ năm, tính đương đại: Tuy lễ hội VHDG mang nặng sắc thái cổ
truyền song trong quá trình vận động của lịch sử lễ hội cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những
Trang 18phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới
Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý
1.1.1.3 Quản lý hoạt động lễ hội văn hóa dân gian
* Quản lý
Quản lý là một dạng hoạt động xuất hiện rất sớm trong lịch sử, nó là hoạt động tất yếu khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người Xã hội càng phát triển thì vai trò của người quản lý ngày càng quan trọng, nó hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý:
F.W Taylo (1856 – 1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh
ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kĩ thuật cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
H Fayol ( 1886 – 1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy
trình và là người có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý thời cận – hiện đại cho rằng: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”
M P Follet (1868 – 1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con
người, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng:
“Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác”
Các quan niệm trên đã nhấn mạnh đến vai trò của con người trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức Nhấn mạnh đến một đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý là sự tác động giữa người với người, để thực hiện mục tiêu
Trang 19của tổ chức Tuy nhiên, nó lại coi con người chỉ như một loại công cụ, phương tiện để hoàn thành mục tiêu Ngoài ra, F W Taylor chỉ mới đề cập đến việc cải tiến công cụ lao động và quan hệ lao động giữa người chủ và công nhân mà chưa chú ý đến nội dung khác của hoạt động quản lý
Theo giáo trình Khoa học quản lý: Quản lý là quá trình dẫn dắt có chủ đích, có hướng đích của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu trong quá trình quản lý Đây là khái niệm khái quát nhất, đầy đủ nhất
về bản chất, nội dung của quản lý, nó đã bổ sung, khắc phục được nhược điểm của những quan niệm trên Quản lý là sự tác động do con người thực hiện để
tổ chức và điều chỉnh hành vi của những con người khác nhau nhằm gắn kết từng người, từng nhóm người độc lập đối với nhau thành một hệ thống, đó còn là sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể trong quá trình quản lý để đạt được hiệu quả quản lý[37]
Những cách tiếp cận khác nhau đó đã tạo ra bức tranh phong phú, đa dạng và rất sống động về lĩnh vực hoạt động đặc biệt này Từ đó góp phần cho phép chúng ta nhận thức ngày càng đầy đủ và tiếp cận được bản chất của hoạt động quản lý
* Quản lý hoạt động lễ hội văn hóa dân gian
Lễ hội VHDG là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng thể mang nhiều giá trị truyền thống đặc sắc, có mối quan hệ mật thiết với di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Do đó, công tác quản lý và chỉ đạo tổ chức hoạt động lễ hội VHDG cũng phải có định hướng, chỉ đạo mang tính tổng thể và hài hòa với các lĩnh vực của đời sống xã hội
Khái niệm quản lý hoạt động lễ hội VHDG được hiểu trên 02 bình diện:
Thứ nhất, quản lý Nhà nước đối với các hoạt động lễ hội: Đó là việc
nghiên cứu xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính sách và luật pháp
có liên quan và các can thiệp bằng hệ thống công cụ cơ bản này của cơ quan hữu trách nhằm các mục tiêu phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và
Trang 20Nhà nước cũng như hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo các lợi ích văn hoá của công dân, cộng đồng và quốc gia dân tộc
Thứ hai, quản lý hoạt động lễ hội đáp ứng các yêu cầu phát triển: Được
hiểu như sự huy động, sự tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm tôn vinh
và phát triển các giá trị vốn có trong lễ hội VHDG lên một tầm thức mới, phù hợp với các nhu cầu văn hoá - kinh tế - xã hội của cộng đồng, địa phương, đất nước Nói cách khác, là việc quản lý hoạt động lễ hội nhằm các mục tiêu lợi ích công cộng hay mục tiêu lợi nhuận hoặc cả 2 đặt trong bối cảnh hiện tại cũng như xu hướng phát triển của đất nước
Như vậy, quản lý hoạt động lễ hội VHDG là công việc của Nhà nước
và các chủ thể khác được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về
lễ hội VHDG nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế -
xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung[20, tr 12]
1.1.2 Đặc điểm quản lý hoạt động lễ hội văn hoá dân gian
Thứ nhất, quản lý hoạt động lễ hội VHDG gắn với thời gian mở hội nên
thường diễn ra theo mùa vụ Các lễ hội Việt Nam chủ yếu tổ chức vào mùa xuân, một số ít lễ hội tổ chức vào mùa thu Do vậy yếu tố mùa vụ của lễ hội
sẽ chi phối lớn đến các thiết chế phục vụ hoạt động lễ hội Do vậy việc chuẩn
bị các yếu tố phục vụ các hoạt động lễ hội phải có sự sắp xếp chu đáo và khoa học Nếu không có sự chuẩn bị trước (từ cơ sở vật chất, các dịch vụ, công tác
tổ chức lễ hội…) sẽ dẫn đến không đáp ứng nhu cầu du khách hoặc xảy ra tình trạng quá tải do lượng du khách tăng đột biến so với những ngày thường
Thứ hai, quản lý hoạt động lễ hội thường gắn liền với du lịch lễ hội,
gắn với không gian, thời gian và địa điểm nhất định Chẳng hạn lễ hội Đền Hùng chỉ diễn ra một lần vào dịp 10/3 âm lịch hàng năm tại tỉnh Phú Thọ; Lễ hội Trò Trám chỉ diễn ra 1 lần vào dịp 11-12 tháng giêng hàng năm tại xã Tứ
Xã, huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ; Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn chỉ diễn ra một
Trang 21lần vào dịp 9/8 hàng năm tại thị xã Đồ Sơn, Hải Phòng…Do vậy, việc tổ chức các hoạt động du lịch lễ hội phải nắm chắc thời gian, địa điểm và các hoạt động văn hóa đặc trưng các nội dung chính của lễ hội để khai thác đúng hướng và hiệu quả Chẳng hạn muốn tìm hiểu lịch sử thời Hùng Vương dựng nước, muốn tri ân công đức tổ tiên thì phải đến lễ hội Đền Hùng vào dịp 10/3
Thời gian và không gian lễ hội khác với thời gian và không gian bình thường “đó là những thời điểm mạnh, là không gian linh thiêng Thời gian này được quy định sẵn, mọi người chờ nó đến” [51, tr.13] Do vậy, nếu lễ hội được chuẩn bị chu đáo, quản lý tốt cả phần lễ và phần hội thì sức cảm hóa của thời điểm mạnh và không gian thiêng được nhân lên gấp ngàn lần và giá trị nhân văn của lễ hội trong lòng du khách cũng tăng lên Thời gian, không gian thiêng và tính chất thiêng trong lễ hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút khách du lịch (đó là không gian thờ tự như hệ thống đình, đền, chùa, miếu…) nghi lễ của lễ hội cũng được “thiêng hóa” (từ vật phẩm, lễ vật dâng cúng đến các nghi lễ, lễ tế, lễ rước, các trò tục, trò diễn của lễ hội), các thành viên trong cộng đồng dự lễ hội (khách du lịch) sẽ tri giác được cái linh thiêng, đó là tình cảm cộng đồng linh thiêng và hình thành các quy tắc đạo đức thiêng liêng, những quyền năng thiêng liêng và nó trở thành một ý thức tập thể, nó trở thành nhu cầu phải được duy trì và củng cố, nó có sức mạnh tinh thần to lớn, niềm tin thiêng liêng để lôi cuốn con người về với thế giới thiêng
Thứ ba, quản lý hoạt động lễ hội VHDG là một hình thức quản lý sâu
sắc, vừa có ý nghĩa lịch sử, vừa mang giá trị đương đại độc đáo
Lễ hội là sản phẩm của lịch sử, với chức năng phản ánh thì lễ hội phản ánh lịch sử bằng hình ảnh, sự kiện mang tính nghệ thuật hóa, biểu tượng hóa Điển hình
là lễ hội Đền Hùng và các lễ hội có đề tài lịch sử với các nghi lễ tôn thờ các vị anh hùng dựng nước (riêng vùng đất Phú Thọ, Vĩnh Phúc đã có hơn 700 nơi thờ tự các Vua Hùng và tướng lĩnh Vua Hùng dựng nước) Các lễ hội vùng này thường diễn lại các chiến công của người anh hùng theo truyền thuyết
Trang 22Về mặt hình thức thì các hoạt động lễ hội VHDG đều được xây dựng mang tính tượng trưng, biểu tượng mang tính thiêng liêng và được nghi thức hoá, nghệ thuật hoá, các nghi thức được quy định chặt chẽ và có tính nghệ thuật là yêu cầu của lễ hội, các yếu tố này “đẩy lễ hội lên đỉnh điểm của giá trị, giá trị về thẩm mỹ, về lý tưởng sống, thể hiện trong nội dung của lễ hội, muốn được coi như mẫu hình cho cuộc sống ngày thường, mọi người phải nhớ và noi theo”[51, tr.125]
Lễ hội VHDG luôn chứa đựng yếu tố nhân văn giá trị lịch sử, qua lễ hội các nét đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán của một cộng đồng, một dân tộc được chứa đựng trong đó rất phong phú, đa dạng Đặc điểm về tính đa dạng về đề tài lễ hội và ý nghĩa lịch sử, giá trị nghệ thuật, tính tượng trưng biểu trưng của lễ hội sẽ tạo sự hấp dẫn, là điều kiện thuận lợi cho quản lý hoạt động lễ hội VHDG
Thứ tư, quản lý hoạt động lễ hội VHDG có quan hệ chặt chẽ với quản lý
hệ thống các di tích và các công trình kiến trúc nghệ thuật Di tích và lễ hội chính là nguyên liệu gốc sản sinh ra các điểm du lịch lễ hội, trong đó lễ hội và
hệ thống di tích thường gắn kết chặt chẽ với nhau Các lễ hội VHDG của người Việt thường được diễn ra ở Chùa, Đình, Đền “Ở đồng bằng Bắc bộ gần như thành một quy luật là chỉ có lễ hội gắn với những nhân vật lịch sử, những sự kiện, di tích lịch sử thì lễ hội đó mới bền chắc và phát triển rộng ra ngoài tầm của một làng, một vùng, đạt tới tính chất quốc gia”[32, tr.327] Các hệ thống kiến trúc của Đình, Đền, Chùa, các di tích lịch sử gắn với những sự kiện, những nhân vật thờ tự là phần vật thể Còn lễ hội tại các di tích ấy mới là phần hồn, phần phi vật thể chứa đựng văn hoá lịch sử Chẳng hạn lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích lịch sử tại Đền Hùng, lễ hội Đền Trần và các di tích tại Đền Trần đang là điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo du khách hàng năm
Do vậy để quản lý tốt hoạt động lễ hội VHDG thì bên cạnh việc bảo tồn các giá trị văn hoá lễ hội VHDG cũng cần bảo tồn các di tích nhằm đảm bảo tính nguyên bản của nó để phát triển du lịch
Trang 231.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI VĂN HÓA DÂN GIAN
Lễ hội VHDG là một loại hình sinh hoạt văn hoá tinh thần đặc biệt mang tính tập thể cộng đồng, lễ hội VHDG chứa đựng và phản ánh nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội Nó là sản phẩm tinh thần, là di sản văn hoá phi vật thể có giá trị to lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân Lễ hội không những hấp dẫn nhân dân đến với di tích, góp phần tôn tạo, tu sửa di tích, danh thắng, mà còn nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người trong việc bảo vệ di tích Lễ hội thể hiện ước mơ, nguyện vọng và năng lực sáng tạo văn hoá của nhân dân, góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá, đề cao lòng tự tôn dân tộc, là thành luỹ đề kháng văn hoá độc hại, hướng con người đến với chân
- thiện - mỹ, quản lý hoạt động lễ hội VHDG có vai trò to lớn, cần thiết trong
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Một là, quản lý hoạt động lễ hội VHDG góp phần giáo dục đạo đức,
giáo dục truyền thống lịch sử của làng bản quê hương đất nước đối với mọi thành viên tham gia lễ hội
Công tác quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội có ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của các tầng lớp nhân dân Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thông qua lễ hội thể hiện tình cảm, trí tuệ, lẽ sống, khuynh hướng thẩm mỹ và khát vọng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ của mọi người Hoạt động lễ hội tổ chức nền nếp đã tạo không khí vui tươi, phấn khởi, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của đông đảo quần chúng nhân dân Thông qua lễ hội, người dân hiểu biết thêm về truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc, từ đó nâng cao ý thức trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của đất nước, kết nối cộng đồng; làm bền chặt tình làng, nghĩa xóm và đạo lý uống nước nhớ nguồn
Bên cạnh đó, quản lý hoạt động lễ hội VHDG có giá trị đặc biệt trong
sự cố kết cộng đồng, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại; là hình
Trang 24thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau hiểu được công lao của tổ tiên, bày tỏ lòng tri ân công đức các vị anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối đã có công dựng nước, giữ nước và đấu tranh giải phóng dân tộc Việc bảo tồn và tổ chức lễ hội truyền thống còn góp phần tích cực trong giao lưu, hòa nhập với các nền văn hóa thế giới, tạo nền tảng vững chắc cho văn hoá dân gian nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung đủ sức chống lại sự ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá ngoại lai
Lễ hội VHDG được coi như một bảo tàng sống, tồn tại đồng hành và tạo nên ký ức văn hoá của dân tộc, có sức sống lâu bền và lan toả trong đời sống nhân dân, thể hiện nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư
Quản lý đối với hoạt động lễ hội VHDG là làm cho lễ hội được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nội dung của tế lễ phải phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nội dung của phần hội phải phù hợp và mang lại lợi ích sinh hoạt cho cộng đồng hiện tại
Dưới góc độ quản lý, việc bảo tồn hoạt động lễ hội VHDG là làm thế nào để lễ hội và những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội tồn tại và phát huy tác dụng trong đời sống đương đại Do vậy quản lý hoạt động lễ hội VHDG có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống lịch sử của làng bản quê hương đất nước đối với mọi thành viên tham gia lễ hội
Hai là, quản lý hoạt động lễ hội VHDG góp phần bảo tồn nền văn hóa dân tộc
Trong quản lý hoạt động lễ hội VHDG, các hoạt động của lễ và hội đều thể hiện tính cộng mệnh, cộng cảm, tính quần thể Các lễ hội còn thấm đượm tinh thần đoàn kết, dân chủ và nhân bản sâu sắc Khi tham dự lễ hội đứng trước thần linh hay nhân vật thiêng liêng thì dù là người tổ chức hay người dân tham gia lễ hội hay bất kỳ cương vị nào cũng đều bình đẳng trước thánh thần và bình đẳng với nhau trong tư cách tham gia Bất kể một lễ hội nào cho
dù là lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo suy tôn các vị thần linh
Trang 25hay anh hùng dân tộc thì các lễ hội ấy bao giờ cũng là lễ hội của một cộng đồng; biểu dương các giá trị văn hoá và sức mạnh của cộng đồng trên mọi bình diện “Mọi hoạt động diễn ra trong các lễ hội ấy đều thể hiện tính cố kết cộng đồng, mang tính biểu trưng nhằm kêu gọi, tập hợp quần chúng nhân dân trong một vòng tay lớn” [20, tr.74] Bởi vậy, tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hoá tiêu biểu nhất của quản lý hoạt động lễ hội VHDG
Nền văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp, văn minh lúa nước, cộng đồng làng xã là cái nôi sản sinh ra nền văn hóa phong phú và độc đáo, đồng thời làng xã cũng là cái nôi bảo tồn nền văn hóa ấy không bị đồng hóa, nền văn hóa Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển nhờ văn hóa làng xã, với phương thức sinh hoạt cộng đồng Các phong tục, tập quán, tín ngưỡng gắn với ngôi đình, mái chùa cùng với lễ hội là cái nôi giữ gìn bảo tồn văn hóa Việt Nam Đúng như GS.TSKH Tô Ngọc Thanh nhận xét:
“Không có làng xã Việt Nam thì không có văn hóa Việt Nam” [15, tr.8]
Lễ hội là một hình thức tái hiện cuộc sống quá khứ thông qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn Đó là cuộc sống lao động sáng tạo và khát vọng chống lại thiên tai địch họa Cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân được thể hiện dưới các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần vô cùng sinh động, hấp dẫn như các hoạt động tế lễ, rước, các trang phục truyền thống, các bài văn tế, các trò diễn dân gian, các điệu dân ca, dân vũ, hát xoan, hát ghẹo…Các hoạt động ấy trong lễ hội không những tái hiện cuộc sống mà nó góp phần giữ gìn và bảo tồn nền văn hóa dân tộc, được lưu giữ từ đời này sang đời khác Nói một cách khác hoạt động lễ hội VHDG là kết quả của quá trình lịch sử hóa quá khứ và hiện tại, kết hợp quá trình huyền thoại hóa những nhân vật là sự kiện lịch sử được nhân dân thờ phụng Đồng thời còn là kết quả của quá trình sân khấu hóa đời sống xã hội và quá trình xã hội hóa trong tiến trình lịch sử Quá trình mô phỏng tái hiện cuộc sống quá khứ và những nhân vật sự kiện lịch sử trong lễ hội đã đạt đến tính xã hội hóa cao Hình thức và
Trang 26nội dung của lễ hội phản ánh khá đầy đủ và sinh động đời sống vật chất và tinh thần xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời qua quá trình hình thành và tồn tại, lễ hội đã tác động mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thể cộng đồng trong một khu vực làng xã, một vùng, một dân tộc, một quốc gia, tùy theo tính chất và mức độ của lễ hội ấy Và như vậy quản lý hoạt động lễ hội VHDG góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc ngay trong chính tâm thức của cộng đồng
Đặc trưng của lễ hội là tính truyền miệng, những sự kiện lịch sử, đời sống xã hội được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua dịp lễ hội hàng năm Nói một cách khác hoạt động lễ hội VHDG là “bảo tàng sống” về văn hóa dân tộc được hồi sinh sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Muốn bảo tồn văn hóa trong đời sống cộng đồng, phải đưa nó trở lại trong đời sống nhân dân để quản lý, đồng thời xã hội hóa lễ hội, cụ thể là phải đưa lễ hội, khôi phục lễ hội trong đời sống nhân dân, nó phải được gắn với đời sống tinh thần nhân dân, gắn với phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân Do vậy không thể tách hoạt động lễ hội VHDG ra khỏi đời sống nhân dân, ra khỏi cộng đồng, cái nôi hình thành và đã sản sinh ra nó Đây là đặc trưng mà trong quá trình nghiên cứu lễ hội cần xem xét để bảo tồn lễ hội một cách phù hợp
Nếu đem so sánh các hình thức bảo tồn văn hóa giữa trạng thái “bảo tàng sống” của lễ hội với “bảo tàng tĩnh” trong các viện Bảo tàng thì sẽ thấy
rõ điểm khác biệt Hầu hết các hiện tượng văn hóa vật thể (hiện vật, bảo vật,
cổ vật…) được lưu giữ bảo tồn trong nhà bảo tàng đều là bảo tàng tĩnh có thể lưu trữ lâu và quá trình hao mòn mất đi dễ nhìn thấy và có thể phục chế gần như nguyên bản Tuy nhiên, Bảo tàng tĩnh ít có tác động đến đời sống tinh thần cộng đồng Nhưng khác với văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể nói chung và lễ hội nói riêng được bảo tồn trong trạng thái động là chủ yếu Lễ hội mô phỏng đời sống xã hội, lịch sử…ngay trong hoạt động cộng đồng do
đó cơ hội tác động trực tiếp vào giác quan con người qua tế lễ, lễ rước, trò diễn, đồng thời hình thành thái độ, tình cảm, cảm xúc mới trước các sự kiện
Trang 27của lễ hội, tạo ra hình ảnh mới, vì thế lễ hội được bảo tồn ngay trong đời sống, tâm thức cộng đồng, trong mỗi người dân Sự hao mòn của văn hóa phi vật thể và lễ hội không dễ nhìn thấy, nó lặng lẽ âm thầm mai một, thậm chí mất đi (thất truyền) mà không dễ phục hồi Vì vậy, sự cần thiết phải quản lý hoạt động lễ hội, cần đưa lễ hội trở về đời sống cộng đồng, trở thành nhu cầu tinh thần không thể thiếu của nhân dân, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội góp phần bảo tồn nền văn hóa dân tộc
Ba là, quản lý hoạt động lễ hội VHDG góp phần phát triển kinh tế thông qua việc gắn lễ hội với du lịch nhân văn
Lễ hội là hoạt động văn hóa tinh thần của nhân dân, giá trị to lớn của lễ hội không chỉ ở phương diện văn hóa mà còn có giá trị kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
Lễ hội vừa là sản phẩm độc đáo đặc biệt của ngành kinh tế du lịch, vừa
là tài nguyên du lịch nhân văn phong phú và có giá trị Lễ hội VHDG là một
“bảo tàng sống” về văn hóa, là nơi sản sinh, nuôi dưỡng, bảo tồn, phát huy nền văn hóa dân tộc, là nơi sáng tạo lưu giữ những hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật đặc sắc và độc đáo, tạo nên những nét văn hóa riêng của từng vùng, từng cộng đồng người, ẩn chứa trong tầng sâu các lễ tế, trò diễn, các hoạt động cộng đồng phong phú và hấp dẫn Bên cạnh đó, lễ hội với những giá trị tâm linh giúp giải thoát con người khỏi bế tắc và khó khăn trong cuộc sống, tạo nên niềm lạc quan giúp con người giải quyết nhu cầu cầu mong cho bản thân gia đình và cộng đồng một cuộc sống bình an…tạo nên sức hút du lịch mạnh mẽ
Lễ hội cũng chứa đựng truyền thống văn hóa phong phú kết hợp với hệ thống di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ kì thú của làng quê Việt Nam là những lời mời gọi thiết tha khách du lịch đến với lễ hội Ngành du lịch không thể không khai thác lễ hội VHDG với tư cách là một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, một sản phẩm du lịch văn hóa đặc biệt mang lại nguồn thu lớn cho ngành kinh tế du lịch Thế giới đang hướng đến một sự
Trang 28phát triển bền vững, một nền công nghiệp sạch, trong đó du lịch chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Bản chất của du lịch là khám phá, tìm hiểu văn hóa, nhu cầu du lịch là do nhu cầu văn hóa quyết định, trong đó sự mong muốn hiểu biết văn hóa, giao lưu, tìm hiểu phong tục tập quán, các giá trị văn hóa lại chứa đựng chủ yếu trong hoạt động lễ hội VHDG, vì thế quản lý hoạt động
lễ hội thúc đẩy hoạt động du lịch
Bên cạnh đó, lễ hội cùng với hệ thống di sản văn hóa góp phần tạo lập các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài, thông qua du lịch, việc tìm hiểu các phong tục tập quán, truyền thống văn hóa tạo nên sự hiểu biết tin cậy lẫn nhau, tạo lập mối quan hệ ngoại giao với đối tác nước ngoài gia tăng Đồng thời hệ thống lễ hội VHDG và di sản văn hóa Việt Nam là một tiềm năng du lịch để thu hút đầu tư nước ngoài và Việt Nam Vì vậy, lễ hội VHDG cùng với di sản văn hóa Việt Nam mang trong mình giá trị kinh tế đặc biệt
1.3 NỘI DUNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI VĂN HÓA DÂN GIAN
1.3.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về hoạt động lễ hội văn hoá dân gian
Muốn quản lý tốt hoạt động lễ hội VHDG, trước hết phải xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về quản lý hoạt động lễ hội VHDG nhằm đưa ra những bước đi tổng thể mang tính khách quan và được xác định trong một thời gian dài nhằm bảo tồn, phát huy giá trị hoạt động lễ hội VHDG trong phạm vi khu vực, địa phương, vùng miền và trong cả nước
để quản lý một cách hợp lý, hiệu quả
Kế hoạch quản lý hoạt động lễ hội là một khâu quan trọng và là khâu đầu tiên của quá trình quản lý Kế hoạch không chỉ xác định mục tiêu mà còn xác định phương hướng, giải pháp để quản lý hiệu quả hoạt động lễ hội VHDG
Việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về hoạt động lễ hội VHDG mang tính định hướng chỉ đạo của cơ
Trang 29quan quản lý Nhà nước về lễ hội và phải phù hợp với quy luật phát triển của
xã hội Tổ chức hoạt động lễ hội VHDG không phải đơn thuần là sự hoài cổ,
mà còn phải tính đến sự phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu quản lý là tạo điều kiện cho hoạt động lễ hội VHDG phát triển đi cùng thời đại, nhưng trên nền sự tích lễ hội mang đậm bản sắc dân tộc
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động lễ hội văn hóa dân gian
Để quản lý tốt đối với hoạt động lễ hội VHDG cần phải ban hành các văn bản pháp luật về quản lý lễ hội, đó là công cụ, phương tiện để các chủ thể quản lý hướng dẫn và điều chỉnh các hành vi, hoạt động quản lý, bảo tồn lễ hội VHDG đi đúng quỹ đạo, đòi hỏi các tổ chức, cá nhân trong quá trình quản
lý, bảo tồn lễ hội VHDG, cũng như cơ quan Nhà nước khi thực hiện các hoạt động quản lý phải thực hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động lễ hội VHDG phải tính tới tiềm năng, yêu cầu, mục đích của từng hoạt động cụ thể trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội
ở từng địa bàn nhất định để đảm bảo phát triển bền vững Khi ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động lễ hội nhất thiết phải được gắn với quy hoạch phát triển của các lĩnh vực khác như
du lịch, giao thông, phát triển hạ tầng Bởi chỉ có như vậy, chủ thể quản lý mới có thể thấy hết các mục đích khác nhau của quản lý hoạt động lễ hội, thấy được những ưu tiên cho phát triển, các nguồn lực bên ngoài cũng như bên trong và dự đoán trước những thay đổi không chỉ trong lĩnh vực văn hoá mà còn cả những lĩnh vực xã hội khác
Bên cạnh đó, tăng cường quản lý hoạt động lễ hội VHDG bằng cách hoàn thiện các thể chế luật pháp, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, chủ thể quản lý mới có thể có những chế tài phù hợp, không gây tranh cãi để
Trang 30xử lý các vi phạm xảy ra và tôn vinh những hoạt động bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị văn hoá lễ hội
1.3.3 Tuyên truyền, giáo dục ý thức về hoạt động lễ hội VHDG
Để chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống thì cần phải tuyên truyền, giáo dục ý thức về hoạt động lễ hội VHDG để góp phần nâng cao ý thức của nhân dân về giá trị của di sản, về công đức danh nhân, giáo dục truyền thống
“Uống nước nhớ nguồn” và quảng bá du lịch có hiệu quả
Việc tuyên truyền, giáo dục ý thức về quản lý hoạt động lễ hội VHDG cần phải được ưu tiên hàng đầu, bởi khi đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục ý thức về quản lý hoạt động lễ hội VHDG, nhân dân có điều kiện giữ gìn, tham gia, phục hồi các lễ hội VHDG Chính quyền các cấp và các bộ, ngành liên quan hỗ trợ xây dựng các dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và hiểu biết của đồng bào về lễ hội, từ đó thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội
1.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động lễ hội văn hoá dân gian
Bộ máy quản lý là hình thức tổ chức thể hiện hoạt động của các quan hệ quản lý, bao hàm các tổ chức thực hiện quản lý trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người, phù hợp với những yêu cầu của xã hội[53 tr 12]
Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động lễ hội VHDG nhằm phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cơ quan chuyên môn và các cấp chính quyền địa phương trong bảo tồn và quản lý hoạt động lễ hội, phân công và phân trách nhiệm rõ ràng
Để tổ chức, quản lý và chỉ đạo hoạt động lễ hội VHDG, cần phải thành lập Ban Tổ chức lễ hội Ban Tổ chức lễ hội gồm thành viên của những ban, ngành, đoàn thể có liên quan đến việc tổ chức lễ hội, được chính quyền địa phương quyết định thành lập Ban Tổ chức chịu trách nhiệm về mọi mặt trong thời gian tổ chức lễ hội Mỗi thành viên của Ban Tổ chức lễ hội có trách nhiệm cụ thể Nếu là các lễ hội lớn, Ban Tổ chức lễ hội có thể phân ra từng tiểu ban: an ninh, bán vé, tiếp tân, dịch vụ Với những nhiệm vụ chính như:
Trang 31Điều hành lễ hội (các nghi thức, lễ thức, tổ chức các trò vui, văn hoá văn nghệ); Hướng dẫn tham quan di tích lịch sử văn hoá, các công trình văn hoá; Sắp xếp và tổ chức dịch vụ trong lễ hội; Tổ chức giữ gìn an ninh trật tự, chống vi phạm di tích, mê tín dị đoan và các tệ nạn khác; Thanh quyết toán tài chính trong thời gian mở lễ hội; Tổng kết kinh nghiệm, báo cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép mở hội[16, tr 85]
Có thể nói, việc tổ chức bộ máy lễ hội VHDG nhằm tạo sự tập trung thống nhất giữa các cơ quan quản lý, đảm bảo chính sách của Nhà nước được thực hiện trong thực tế một cách có hiệu quả Để bộ máy hoạt động hiệu quả thì bộ máy đó phải có những con người có năng lực, phẩm chất, có trình độ chuyên môn và có những kĩ năng cần thiết của người quản lý
1.3.5 Kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý lễ hội văn hoá dân gian
Kiểm tra và giám sát các hoạt động quản lý lễ hội VHDG nhằm làm cho lễ hội VHDG đi vào nền nếp, an ninh trật tự
Kiểm tra và giám sát các hoạt động quản lý lễ hội VHDG có vai trò vô cùng quan trọng bởi nhờ đó lễ hội có chuyển biến tích cực, khắc phục được nhiều hạn chế, tồn tại Kiểm tra, giám sát trong quản lý hoạt động lễ hội là một khâu rất quan trọng trong quá trình tổ chức lễ hội Mục đích kiểm tra, giám sát là nhằm điều chỉnh những hành vi sai trái trong quá trình tổ chức thực hiện lễ hội Công tác kiểm tra thông thường đuợc tập trung vào 02 nội dung cơ bản:
Một là, kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước và sự chỉ đạo của chính quyền sở tại đối với lễ hội;
Hai là, kiểm tra việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội trong quá
trình tổ chức lễ hội
Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện song hành với thời gian tổ chức
lễ hội, sẵn sàng điều chỉnh, bổ sung hoặc cắt giảm các hoạt động của lễ hội cho phù hợp với thực tế, góp phần cho sự thành công của lễ hội[16,tr 128]
Trang 32Tiểu kết chương 1
Quản lý đối với hoạt động lễ hội VHDG là hoạt động đa dạng và phức tạp, được tiến hành bởi nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau trong bộ máy Nhà nước – đồng thời có sự huy động sức mạnh của các chủ thể khác trong toàn xã hội tham gia nhằm gìn giữ, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc, vùng miền thông qua sinh hoạt cộng đồng dân cư đặc trưng, liên quan đến sự kiện hoặc nhân vật nào đó được quần chúng suy tôn
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI VĂN HOÁ
DÂN GIAN CỦA TỈNH PHÚ THỌ
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG
LỄ HỘI VĂN HÓA DÂN GIAN CỦA TỈNH PHÚ THỌ
2.1.1 Đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Phú Thọ
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Về vị trí địa lý: Phú Thọ là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây bắc Thủ
đô Hà Nội có tổng diện tích là 3.528 km2 phía bắc giáp Tuyên Quang, phía nam giáp Hòa Bình, phía đông giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La và Yên Bái Với một vị trí địa lý thuận lợi ở vị trí tiếp giáp giữa Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc, Phú Thọ là trung tâm của tiểu vùng phía Tây và phía
Đông Bắc Việt Nam
Với vị trí là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội và hệ thống giao thông thuận lợi đường bộ, đường sắt, đường thủy nối tỉnh Phú Thọ với các tỉnh phía Tây và phía Đông Bắc với Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh thành phố lớn khác trong cả nước Đây là yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế, đồng thời cũng là yếu tố thuận lợi cho việc tiếp thu, giao lưu văn hóa với thủ đô Hà Nội với các tỉnh vùng Tây, Đông Bắc
Các yếu tố về vị trí địa lý tự nhiên cho thấy Phú Thọ có lợi thế để trở thành trung tâm kinh tế - xã hội của vùng Vì vậy, trong quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt xác định: Xây dựng Phú Thọ trở thành trung tâm kinh tế vùng; là một trong những trung tâm khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao du lịch của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ; là đầu mối giao thông nội vùng và là Thành phố lễ hội về cội nguồn của dân tộc Việt Nam” [34]
* Đặc điểm về địa hình:
Do địa hình của tỉnh Phú Thọ nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn nên địa hình chia cắt tương đối mạnh, mỗi khu vực địa hình gắn với dân tộc khác nhau tạo
Trang 34nên những tập quán, nếp sống văn hóa riêng Từ sự chia cắt về địa hình và các đặc điểm về văn hóa có thể chia Phú Thọ làm 3 tiểu vùng như sau:
- Tiểu vùng miền núi cao: Bao gồm 5 huyện với tổng diện tích là 239 km2, chiếm 67,8% tổng diện tích toàn tỉnh gồm các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng, Hạ Hòa Dân cư tiểu vùng này chủ yếu là các dân tộc Mường, Dao, Cao Lan, Mông…với những phong tục tập quán truyền thống
và vẫn lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, phong phú tạo nên bản sắc riêng Bên cạnh đó tiểu vùng này được thiên nhiên ban tặng những khu vực có giá trị, là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, hấp dẫn như Đầm Ao Châu, vườn Quốc gia Xuân Sơn, Ao Giời – Suối Tiên với nguồn tài nguyên nhân văn là lễ hội Đền Mẫu Âu Cơ tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, hấp dẫn
- Tiểu vùng giữa: Gồm 4 huyện với tổng diện tích là 710 km2, chiếm 20,1% tổng diện tích toàn tỉnh gồm các huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê, Thanh Ba Về dân cư vùng này chủ yếu là người kinh với một nền văn hóa khá phát triển, nhiều lễ hội VHDG đặc sắc, cùng với tín ngưỡng phong tục tập quán phong phú, mang đậm nét văn hóa của làng quê Việt Nam Các
lễ hội VHDG đặc sắc như: lễ hội làng xã Chí Tiên, xã Lương Lỗ (huyện Thanh Ba), lễ hội Phết – Hiền Quan, lễ hội hát ghẹo làng Nam Cường, lễ hội giã bánh dày làng Trúc Phê, lễ hội trình nghề xã Hương Nha, lễ hội nấu cơm thi thôn Gia Dụ - xã Vực Trường, lễ hội Đền Nhà Bà – Thị trấn Hưng Hóa, lễ hội múa Mo – xã Thanh Uyên (huyện Tam Nông); lễ hội Rước voi Đào Xá, lễ hội Đền Lăng Sương – xã Trung Nghĩa (huyện Thanh Thủy); lễ hội làng Đồng Lương, hội bơi chải – xã Tuy Lộc, lễ hội đình Thổ Khối xã Phương Xá (huyện Cẩm Khê) Ở tiểu vùng này bên cạnh lễ hội có nhiều di tích lịch sử văn hóa gắn với tín ngưỡng thờ tự các Vua Hùng và các tướng lĩnh thời Hùng Vương dựng nước Các lễ hội gắn với di tích lịch sử văn hóa Đình, Đền cùng các nghi lễ, các trò diễn dân gian, các phong tục tập quán tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng vùng đất trung du Phú Thọ
Trang 35Lễ hội VHDG ở tiểu vùng này rất nhiều tuy nhiên bị mai một, hệ thống di tích lịch sử xuống cấp và công tác quy hoạch bảo tồn bị hạn chế nên chưa phát huy được tiềm năng, khai thác lễ hội gắn với du lịch, dịch vụ
- Tiểu vùng đô thị, đồng bằng và không gian văn hóa vùng đất Tổ Hùng Vương:
Tiểu vùng này gồm 4 huyện, thị, thành với tổng diện tích là 425 km2chiếm 12% tổng diện tích đất tự nhiên tỉnh Phú Thọ, gồm Thành phố Việt Trì, Thị xã Phú Thọ, huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh Nét đặc trưng vùng này
là có Rừng Quốc gia Đền Hùng cùng nhiều di tích lịch sử, văn hóa, di chỉ khảo cổ, các lễ hội truyền thống liên quan đến thời đại Hùng Vương được trải đậm đặc trên các thôn, xóm, làng ở vùng này Hệ thống di tích xếp hạng cấp Tỉnh, cấp Quốc gia chủ yếu tập trung ở vùng này, nhiều xã có từ 2-3 di tích quốc gia như: Đình Hy Cương, Đình Hữu Bổ Thượng, Đình Văn Luông, Đình Thanh Đình, Đình làng Kim Bái, Đình Sơn Vi… các di tích khảo cổ như Gò Mun, Sơn Vi, Phùng Nguyên (huyện Lâm Thao), di tích Xóm Dền xã Gia Thanh (Phù Ninh), Làng Cả (thành phố Việt Trì) đã chứng tỏ nền văn hóa xuất hiện rất sớm, từ thời kỳ đồ đá cha ông ta đã có mặt nơi này để sinh cơ lập nghiệp Cùng với các di tích lịch sử văn hóa là các lễ hội VHDG phong phú đặc sắc như lễ hội hát Xoan – xã Kim Đức, lễ hội hát Xoan thôn An Thái, lễ hội Trò Trám xã Tứ Xã, lễ hội Rước Chúa Gái – Thị trấn Hùng Sơn, lễ hội Phết xã Sơn Vi, lễ hội Chọi trâu – xã Phù Ninh, lễ hội bơi chải – Bạch Hạc, lễ hội thi giã bánh dày làng Mộ Chu Hạ… đây là kho tàng VHDG vùng đất Tổ chứa đựng giá trị to lớn, là điều kiện thuận lợi để xây dựng Thành phố Việt Trì cùng các huyện phụ cận thành “Thành phố lễ hội cội nguồn các dân tộc Việt Nam” theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Phú Thọ là một tỉnh có nền công nghiệp phát triển tương đối sớm, Hiện nay, tốc độ tăng trưởng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã tăng lên 14%
Trang 36năm, Phú Thọ trở thành một tỉnh của vùng Đông Bắc có ngành công nghiệp mạnh nhất, là trung tâm công nghiệp của vùng
-Về giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng:
Phú Thọ là tỉnh miền núi nhưng rất thuận lợi về mặt giao thông do 3 hệ thống đường bộ, đường sông, đường sắt tạo nên mạng lưới giao thông thuận lợi phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế, dịch vụ, du lịch…
Hệ thống hạ tầng phục vụ du lịch lễ hội, dịch vụ: Hệ thống thương mại và dịch vụ tổng hợp đã phát triển rộng khắp trên địa bàn tỉnh kể cả các xã đặc biệt khó khăn cũng đã có các dịch vụ phục vụ đời sống nhân dân
Về hạ tầng phục vụ lễ hội: Toàn tỉnh có 76 cơ sở lưu trú với 1200 phòng trong đó có 13 khách sạn được xếp sao ; 4915 nhà hàng phục vụ du lịch lữ hành Hệ thống hạ tầng phục vụ du lịch lễ hội đã đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu của khách du lịch tại các điểm tuyến du lịch trên địa bàn toàn tinh Với hệ thống dịch vụ “mở”, các nhà hàng dịch vụ chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh doanh cá thể chiếm hơn 90% nên rất năng động Hệ thống dịch vụ trên đang góp phần vào việc phục vụ chương trình lễ hội trên địa bàn tỉnh
2.1.1.2 Về các lĩnh vực văn hóa – xã hội
Về văn hóa: Phú Thọ là tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch
sử kháng chiến có giá trị về mặt kiến trúc lịch sử, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, toàn tỉnh có 1372 di tích lịch sử văn hóa, 260 lễ hội truyền thống Xét
về giá trị văn hóa, hệ thống di tích lịch sử, lễ hội VHDG đang là di sản văn hóa truyền thống quý báu không chi vùng đất Tổ mà của cả dân tộc Việt Nam Phú Thọ là một tỉnh có thiết chế văn hóa rộng từ tỉnh đến cơ sở, hệ thống thư viện, nhà văn hóa, viện bảo tàng được đầu tư xây dựng kiên cố và có giá trị phục vụ cao Đặc biệt là các thiết chế ở thôn xã, khu dân cư được tập trung xây dựng hoàn chỉnh Đến nay toàn tỉnh đã có 2051/2854 khu dân có nhà văn hóa được xây dựng Theo Nghị quyết số 56/2003 của Hội đồng nhân dân tỉnh đến năm 2010 toàn tỉnh đã có 100% khu dân cư có Nhà văn hóa, cao hơn nhiều so với chỉ tiêu chung của cả nước (chỉ tiêu của cả nước là 60%)
Trang 37Hệ thống thư viện, phòng đọc được tập trung đầu tư xây dựng Toàn tỉnh
có 277 thư viện phòng đọc, tủ sách tại khu dân cư, 286 thư viện trong trường học đạt tiêu chuẩn quốc gia, 251 điểm Bưu điện văn hóa xã, 275 tủ sách pháp luật, 13/13 thư viện tuyến huyện, 1 thư viện khoa học tổng hợp của tỉnh, trong đó có hơn 4000 tài liệu thư tịch, địa chí, ấn phẩm về thời đại Hùng Vương đang phục vụ việc bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa thời đại Hùng Vương
Nhìn chung văn hóa thông tin, báo chí xuất bản, phát thanh truyền hình của tỉnh là một lĩnh vực quan trọng của tỉnh Phú Thọ trong đó các giá trị văn hóa cả vật thể và phi vật thể chiếm vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2 Truyền thống văn hóa – lịch sử
Phú Thọ là một tỉnh có bề dày truyền thống văn hóa lịch sử, là cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt, kinh đô đầu tiên của dân tộc Việt Nam, hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể dày đặc trên mảnh đất Phú Thọ cho thấy một vùng đất văn hiến Các di sản văn hóa thể hiện dấu tích của người Việt cổ đã
có mặt trên mảnh đất Phú Thọ từ rất sớm Với địa thế “sơn chầu, thủy tụ” sự hợp lưu của 3 dòng sông đã tạo một vùng đất trù phú với nền văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước từ buổi bình minh của lịch sử
Hệ thống di sản văn hóa vật thể đã dải khắp các làng xã trên địa bàn tỉnh
và tập trung nhiều ở vùng ven sông Hồng, với 1372 di tích lịch sử văn hóa gồm 161 di tích khảo cổ học, 262 chùa còn lại là di tích kiến trúc, trong đó có
181 di tích đã xếp hạng cấp tỉnh và 70 di tích được xếp hạng quốc gia Chỉ tính riêng di tích khảo cổ với một số lượng lớn đậm đặc trong đó các di tích khảo cổ quan trọng như di tích Làng Cả (phường Thọ Sơn – Thành phố Việt Trì), di tích Xóm Dền (xã Gia Thanh – huyện Phù Ninh), di tích Gò Mun xã
Tứ Xã, di tích Sơn Vi – xã Sơn Vi, di tích Phùng Nguyên – xã Kinh Kệ (huyện Lâm Thao) Từ các hiện vật di vật qua các đợt đào thám sát khai quật
ở các di tích quan trọng này là cơ sở khoa học để chứng minh cho thời kỳ lịch
sử có thật của người Việt Cổ và thời kỳ Hùng Vương dựng nước của dân tộc
Trang 38trong tiến trình hình thành các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Nghiên cứu lịch sử thời đại các Vua Hùng qua lịch sử thành văn và cả truyền thuyết dân gian, chúng ta đã có đủ niềm tin để chứng minh lịch sử thời đại các Vua Hùng Các bộ sử dân tộc từ “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu (Thế kỷ 13) tới
“Đại Việt sử ký toàn thư” (Thế kỷ 17) và “Việt sử thông giám cương mục” (Thế kỷ 19), hệ thống “Ngọc Phả Hùng Vương”, “Việt Điện U linh” và hàng trăm truyền thuyết, lễ hội truyền thống còn được bảo tồn và lưu giữ đến ngày hôm nay là một kho tàng văn hóa quý báu của dân tộc Khi chúng ta tìm đến các di tích khảo cổ học đậm đặc được bảo giữ trong lòng đất vùng đất Tổ, các hiện vật được tìm thấy được các cơ quan khoa học nghiên cứu xác minh qua
hệ thống máy móc hiện đại của Đức, Mỹ, Ôxtrâylia đã đi tới kết luận rằng thời đại kim khí sơ kỳ sắt với văn hóa Gò Mun cách ngày hôm nay 2000-3000 năm Các di tích lịch sử do người xưa để lại bảo tồn trong lòng đất được các nhà khảo cổ học chứng minh từ thời kỳ hậu kỳ đá mới, sơ kỳ kim khí tới văn hóa Đông Sơn “Phô bày một nên văn minh Việt cổ của các Vua Hùng, đặt bên cạnh nền văn minh Lưỡng Hà của Ai Cập cổ đại, văn minh sông Hằng của Ấn
Độ cổ đại và văn minh sông Hoàng Hà của Trung Quốc” [38, tr23]
Các hệ thống di tích, di vật ấy được giáo sư Hà Văn Tấn khái quát là
“Văn minh sông Hồng” gồm 4 nền văn hóa kế tiếp diễn ra khoảng 2000 năm trước công nguyên đó là văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa
Gò Mun, văn hóa Đông Sơn Từ các chứng tích lịch sử được phát hiện trong các di tích lịch sử có thể khẳng định “con người phát triển thời đại Hùng Vương ở Phú Thọ mang dấu ấn của Phổ hệ Phùng Nguyên – Đông Sơn lưu vực Sông Hồng và cư dân thời đại Hùng Vương ở Phú Thọ cư trú ổn định, lâu dài ở một số khu vực nhất định có quan hệ rộng mở với xung quanh, nhất là vùng rìa châu thổ Bắc Bộ, là cơ tầng hình thành quốc gia Văn Lang thời các Vua Hùng” [38, tr.41]
Truyền thống văn hóa – lịch sử của Phú Thọ vô cùng phong phú Nếu nghiên cứu gắn kết các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể sẽ thấy hệ thống
Trang 39di sản văn hóa Phú Thọ chứa đựng dấu ấn sâu sắc của nền văn minh Việt Cổ, chứa đựng thời kỳ rực rỡ của văn minh sông Hồng, mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa dân tộc Đặc trưng cơ bản nhất của di sản văn hóa phi vật thể là gắn với tín ngưỡng thờ các Vua Hùng và tướng lĩnh thời kỳ Hùng Vương dựng nước Bên cạnh đó còn có tín ngưỡng, diễn xướng dân gian, truyền thuyết, thơ ca… gắn với quá trình lao động sản xuất của người dân lao động
Các lễ hội VHDG gần như phân bố dày đặc ở các làng xã trên địa bàn tỉnh Toàn tỉnh có 274 xã, thị trấn thì có từ 260 lễ hội văn hóa dân gian và phân bố tập trung chủ yếu ở các xã vùng ven sông Hồng và khu vực xung quanh Đền Hùng, các lễ hội này thường gắn chặt với hệ thống di tích và các tín ngưỡng thờ Vua Hùng Trong đó một số lễ hội tiêu biểu có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa lớn có ảnh hưởng sâu sắc tới cộng đồng dân cư không phải chỉ ở vùng, khu vực mà toàn quốc gia dân tộc như lễ hội Đền Hùng, lễ hội Đền Mẫu
Âu Cơ, các lễ hội tiêu biểu đặc sắc khác như lễ hội Rước Chúa Gái, lễ hội Trò Trám, lễ hội Bơi chải Bạch Hạc, lễ hội hát Xoan Kim Đức – An Thái…
Bên cạnh lễ hội VHDG còn có văn nghệ dân gian rất phong phú và đa dạng Hát xoan Phú Thọ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại, các loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian được lưu truyền trong nhân dân là hoạt động văn hóa tinh thần không thể thiếu trong đời sống nhân dân được nhân dân bảo tồn và phát huy như Hát Ghẹo (Nam Cường – huyện Tam Nông), Ca Trù (Bình Bộ - Phù Ninh), Hát Xường, Hát Rang, Hát Ví của dân tộc Mường (huyện Thanh Sơn), Hát Ru (dân tộc Dao), Hát Sình Ca, Vèo Ca (dân tộc Cao Lan), Múa Sinh Tiền, Múa Xuân Ngưu, Múa Mỡi, Đâm Đuống, Múa Chuông, Múa Rùa (dân tộc Dao)… Các truyền thuyết thời Hùng Vương, thời Hai Bà Trưng trong đời sống tinh thần của người dân Phú Thọ được lưu giữ trong trí nhớ, trong tâm thức nhân dân khá đậm nét Bên cạnh đó trên mảnh đất Phú Thọ còn có một số loại hình văn nghệ dân gian độc đáo như truyện cười Văn Lang, thơ Bút Tre trở
Trang 40thành một hiện tượng VHDG, là một sinh hoạt văn hoá tinh thần của người dân lao động sau những giờ lao động vất vả
Với hệ thống lễ hội VHDG và các loại hình văn nghệ dân gian đậm đặc như trên, người dân Phú Thọ có đời sống văn hoá tinh thần rất phong phú, là một kho tàng văn hoá dân gian truyền thống chứa đựng các giá trị văn hoá, giá trị nghệ thuật và các hệ giá trị khác vô cùng quý báu Từ đó hình thành một nếp sống, một phong tục tập quán đáng quý Đó là tinh thần cộng đồng, tinh thần đoàn kết, truyền thống uống nước nhớ nguồn Các lễ hội VHDG, hệ thống di tích lịch sử văn hoá dày đặc với tín ngưỡng thờ các Vua Hùng và tướng lĩnh đã luôn nhắc nhở người dân Phú Thọ giữ gìn truyền thống cha ông, truyền thống và công lao dựng nước, giữ nước của các Vua Hùng và các thế
hệ tiền nhân
Truyền thống văn hoá lịch sử phong phú và tự hào là nền tảng vững chắc, là động lực thúc đẩy Đảng bộ và nhân dân Phú Thọ phát huy truyền thống văn hoá, truyền thống lịch sử để xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới
2.1.3 Đặc điểm của hoạt động lễ hội văn hóa dân gian tỉnh Phú Thọ
Toàn tỉnh có 247 xã, thị trấn thì có tới 260 lễ hội Trong đó có 228 lễ hội văn hoá dân gian, 05 lễ hội tôn giáo và 32 lễ hội lịch sử cách mạng Trong luận văn này tác giả chủ yếu khảo sát, phân tích, đánh giá đặc điểm của lễ hội VHDG trên 13 huyện, thị, thành của tỉnh Phú Thọ Qua khảo sát cho thấy các
lễ hội VHDG tập trung nhiều ở vùng Việt Trì, Lâm Thao, Phù Ninh Đây là vùng đất cổ, có nhiều di tích lịch sử, di tích khảo cổ nhất trên địa bàn tỉnh như
Gò Mun, xã Tứ Xã,, di tích Sơn Vi – xã Sơn Vi, di chỉ Phùng Nguyên – xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, di tích Làng Cả - Thành phố Việt Trì, di tích xóm Dền xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh Các di tích này thể hiện toàn bộ dấu vết của người Việt cổ đã sinh cơ lập nghiệp nơi này và hầu hết nằm ven sông Hồng Đây là mảnh đất thuận lợi để các bộ lạc sinh sống, canh tác nông nghiệp Từ các di tích khảo cổ, các di tích lịch sử văn hóa và các lễ hội