1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhiên liệu hàng không thuộc tổng công ty hàng không việt nam hiện nay

116 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh một cách tối ưu nhằm đem lại lợi nhuận và các giá trị cao nhất cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nói chung, kinh doanh nhiên l

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan Luận văn “Quản lý hoạt động kinh doanh của Công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc Những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2020

Tác giả

Trần Long Bình

Trang 5

Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Nam hiện nay” tại Học viện Báo

chí và Tuyên truyền tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô giáo để hoàn thành luận văn này

Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám đốc, Ban Quản lý Đào tạo, Khoa Nhà nước và Pháp luật, các thầy giáo,

cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện

Với tất cả sự kính trọng tôi cũng xin được bày tỏ lòng tri ân đặc biệt

đến TS Đoàn Phúc Thanh - Học viện Báo chí và Tuyên truyền người đã

trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về kiến thức, tài liệu và phương pháp để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này

Đặc biệt luận văn này sẽ không thể hoàn thành nếu không có gia đình tôi, những người luôn dành cho tôi tình yêu, sự chăm sóc chu đáo và luôn động viên khuyến khích tôi trong quá trình học tập

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài, song

do năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn có những mặt hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy

cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Hà Nội, ngày 21 tháng 6 năm 2020

Tác giả

Trần Long Bình

Trang 6

1 AFQRJOS Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 6426 và yêu

cầu chất lượng Nhiên liệu Hàng không

dùng cho hệ thống hoạt động chung

5 JPA Jestar Pacific Airlines

6 IATA Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế

10 PLX Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam

11 Tổng Công ty HKVN Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

12 TLP Tổng Công ty Thương mại xuất nhập khẩu

Thanh Lễ

13 VASCO Vietnam Air Services Company – Công ty

bay Dịch vụ Hàng không

Trang 7

Bảng 2.1 Chỉ tiêu sản lượng, doanh thu, lợi nhuận của Công ty giai đoạn

2015 - 2019 53 Bảng 2.2 Thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động của công ty giai

đoạn 2015 - 2019 66

Biểu đồ 2.1 Thị phần xăng dầu tại Việt Nam 80

Hình 1.1 Tiêu chí đánh giá quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu

hàng không 43 Hình 2.1 : Các cấp độ chiến lược của Công ty TNHH MTV Nhiên liệu

hàng không 76

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng

không 48

Trang 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH

DOANH NHIÊN LIỆU HÀNG KHÔNG 12

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không 12

1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không 22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN NHIÊN LIỆU HÀNG KHÔNG THUỘC TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 - 2019 46

2.1 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không 46

2.2 Kết quả đạt được về quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không và nguyên nhân 58

2.3 Hạn chế về quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm một thành viên Nhiên liệu hàng không và nguyên nhân 70

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN NHIÊN LIỆU HÀNG KHÔNG THUỘC TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 75

3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý hoạt động kinh doanh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không 75

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không hiện nay 82

3.3 Một số kiến nghị 97

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN 107

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiên liệu hàng không là nguồn năng lượng vô cùng quan trọng để duy trì và phát triển ngành dịch vụ vận tải bằng đường hàng không nói riêng và kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt với những nước có nền công nghiệp phát triển và đang phát triển như nước ta Nhiên liệu hàng không là mặt hàng thực

sự thiết yếu đối với hoạt động khai thác vận tải bằng đường hàng không và là một trong những nhân tố đảm bảo sự vận hành của ngành dịch vụ hàng không trong mỗi quốc gia mà trong thời gian dài chưa thể thay thế Vì thế hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không đã được ngành hàng không cũng như Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm từ xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đến đào tạo cán bộ, hoàn thiện các văn bản pháp quy, hướng dẫn hội nhập quốc tế, v.v

Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước, lĩnh vực nhiên liệu hàng không đã từng bước chuyển sang hạch toán kinh doanh theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào nhưng không đội giá đầu ra để có lãi Tuy nhiên do mặt hàng xăng dầu hàng không là loại hình kinh doanh có điều kiện, cho nên doanh nghiệp buộc phải kết hợp chặt chẽ các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội trong từng quyết định quản lý của quá trình kinh doanh Điều đó có nghĩa là kinh doanh nhiên liệu hàng không trong nền kinh tế thị trường hiện nay của nước ta vừa phải đảm bảo có lãi để có tích lũy nhằm tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp, cải thiện đời sống của người lao động và làm nghĩa vụ với Nhà nước; mặt khác phải góp phần đắc lực vào việc củng cố vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần

Phải nhìn nhận khách quan rằng từ khi có khung pháp luật về ngành

Trang 10

nghề kinh doanh có điều kiện nói chung và kinh doanh xăng dầu nói riêng đã tạo điều kiện cho các chủ thể triển khai thực hiện rộng khắp các cấp Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh một cách tối ưu nhằm đem lại lợi nhuận và các giá trị cao nhất cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nói chung, kinh doanh nhiên liệu hàng không nói riêng, đồng thời hạn chế tối đa các dấu hiệu tiêu cực về kết quả kinh doanh, gây ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu doanh nghiệp thì việc đánh giá hiệu quả của công tác quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện, kinh doanh đặc thù như kinh doanh nhiên liệu hàng không là vô cùng cần thiết Quản lý hoạt động kinh doanh nói chung, kinh doanh nhiên liệu hàng không nói riêng bao hàm các nội dung về xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động kinh doanh, triển khai thực hiện và đánh giá kết quả quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp Vai trò của công tác quản lý hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp là không thể bỏ qua, nó quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó Thông qua công tác quản

lý hoạt động kinh doanh, các nguồn lực của doanh nghiệp như nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, … được sử dụng hiệu quả, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giúp nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Chính vì thế đối với mỗi doanh nghiệp, việc quản lý hoạt động kinh doanh luôn được chủ thể quản lý doanh nghiệp quan tâm

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, tiền thân là Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 768/QĐ-TCCBLĐ ngày 22 tháng 4 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 1993 kinh doanh trong nhiều lĩnh vực gồm: Cung ứng dịch vụ nhiên liệu hàng không (bán buôn nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản phẩm liên quan cho các hãng hàng không)… Cho đến nay, sau 10 năm hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị

Trang 11

trường, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không

đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận: doanh thu, lợi nhuận nộp ngân sách nhà nước năm sau cao hơn năm trước; thu hút nhiều lao động có tay nghề cao;

uy tín, thương hiệu của công ty ngày càng cao nhờ vào năng suất, chất lượng

và hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, công ty còn tồn tại không ít thiếu sót, hạn chế mà nguyên nhân chủ yếu thuộc về công tác quản lý

Hiện nay, thực tế cho thấycông tác quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không gặp phải nhiều hạn chế trong cả ba khâu: Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, đội ngũ cán bộ thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng; công tác quy hoạch, kế hoạch chưa đạt tầm chiến lược; hoạt động kiểm tra, giám sát còn nhiều bất cập; ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết triệt để; các hoạt động liên doanh, liên kết, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty chưa được quan tâm đúng mức.Đứng trước điều này, việc

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không là rất cần thiết và quan trọng

Xuất phát từ nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không đối với sự phát triển của ngành vận tải bằng đường hàng không nói chung và kinh doanh nhiên liệu hàng không nói riêng và nhìn vào thực tế công tác quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng

không tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty

trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay” làm hướng nghiên cứu của mình

nhằm khắc phục những hạn chế góp phần hoàn thiện công tác quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không trong thời gian tới

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh nhiên liệu nói chung

và kinh doanh xăng dầu nói riêng trong những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu, trong số đó có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:

2.1 Giáo trình, sách

Tác giả Nguyễn Vũ Tiến (2010), Lý thuyết chung về quản lý xã hội,

Nhà xuất bản Giáo dục Cuốn sách gồm 09 chương với những nội dung về: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu môn học, các khái niệm; Chủ thể, khách thể và bộ máy quản lý xã hội; Nguyên tắc và phương pháp quản lý xã hội; quản lý xã hội của nhà nước; Các thiết chế xã hội trong quản lý nhà nước; Quản lý sự biến đổi; Thông tin xã hội và quản lý xã hội; Nhân tố con người trong quản lý xã hội; Văn hóa trong quản lý xã hội

Tác giả Kiều Đình Kiểm (1999), Các sản phẩm dầu mỏ và hóa dầu,

NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Tập đoàn Petrolimex, trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày rất cụ thể các nội dung liên quan đến các sản phẩm dầu mỏ và hóa dầu ở Việt Nam trong 15 chương: Đại cương về dầu thô và quá trình lọc, chế biến dầu mỏ; Khí tự nhiên

và khí dầu mỏ hoá lỏng; Nhiên liệu cho động cơ xăng; Nhiên liệu cho máy bay cánh quạt; Nhiên liệu cho máy bay phản lực; Dầu hoả dân dụng; Nhiên liệu cho động cơ Diezen; Kỹ thuật pha chế xăng dầu thương phẩm; Nhiên liệu đốt lò; Đại cương về dầu nhờn; Dầu nhờn động cơ; Dầu nhờn bôi trơn công nghiệp… góp phần để mọi người, mọi ngành đều có được sự hiểu biết nhiều nhất, đầy đủ nhất về xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu, qua đó có thể sử dụng chúng hiệu quả nhất, đem lợi ích tốt nhất cho chình mình và xã hội ?

Đó là những trăn trở, đồng thời cũng là những yêu cầu đòi hỏi được đặt ra với Tổng công ty xăng dầu Việt Nam Tổng công ty còn có một nhiệm vụ hết sức quan trọng, mang ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã hội, đó là chức năng chủ đạo, bình ổn thị trường xăng dầu, đảm bảo nguồn xăng dầu và các sản phẩm

Trang 13

hoá dầu để cung cấp và phục vụ tốt nhất cho các nhu cầu thiết yếu của xã hội

Trong giáo trình “Nguyên lý quản lý kinh tế” do Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia xuât bản năm 2003 của tập thể tác giả Đoàn Phúc Thanh (Chủ biên) -

Vũ Đắc Độ - Đồng Văn Phường đã trình bày rất chi tiết về các nguyên tắc, phương pháp sử dụng trong quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong đó có các doanh nghiệp kinh doanh nhiên liệu hàng không Cụ thể đó là các nguyên tắc: tập trung dân chủ, thống nhất giữa chính trị với kinh tế, …

Năm 2013, công trình “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả

Nguyễn Duyên Cường đã làm rõ các nội dung quản lý nhà nước về lĩnh vực xăng dầu, khai thác các khía cạnh chính sách và quản lý, phân tích và đề xuất các giải pháp dựa trên nghiên cứu các mô hình quản lý của các nước trên thế giới áp dụng vào Việt Nam từ đó rút ra 6 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Từ đó tác giả đánh giá vai trò của nhà nước trong các hoạt động xuất nhập khẩu và phân phối xăng dầu tại Việt Nam và đề xuất giải pháp

2.2 Đề tài nghiên cứu khoa học

Năm 2009, Bộ Công thương - cơ quan quản lý nhà nước đối với các

doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu) thực hiện đề tài khoa học cấp bộ “Đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước đối với mặt hàng xăng dầu trong tình hình mới” Là một trong các đề tài hiếm hoi nghiên cứu về quản lý Nhà nước về

mặt hàng xăng dầu trong thời điểm này, đề tài đã đưa ra được sự ảnh hưởng to lớn của việc điều chỉnh giá xăng dầu đối với sự ổn định của nền kinh tếcũng như đề cập đến các nguyên nhân tại sao bình ổn giá xăng dầu là quan trọng Tuy nhiên, đề tài mới chỉ tập trung vào việc tại sao phải bình ổn giá xăng và bình ổn như thế nào trong tình hình mới mà chưa đưa ra được cụ thể các chính sách quản lý hữu hiệu cho ngành xăng dầu Việt Nam

Công trình “Chính sách quản lý giá trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tại một nước đang chuyển đổi: trường hợp nghiên cứu Việt Nam”, Đề tài

Trang 14

nghiên cứu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương của tác giả Đỗ Trọng Hưng nghiệm thu năm 2013 đã tập trung phân tích chính sách quản lý giá xăng dầu ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 cho đến năm 2012 Theo tác giả vì xăng dầu là một trong những mặt hàng trọng điểm quốc gia có tác động lan tỏa đối với nền kinh tế và là thị trường có tính cạnh tranh thấp, giá cả chịu sự tác động rất lớn của giá xăng dầu thế giới, lợi ích của các tập đoàn kinh doanh trong nước và một phần nào đó vẫn còn phụ thuộc vào ý chí của nhà nước nên cần hoàn thiện các công cụ, biện pháp được Nhà nước sử dụng để giám sát, quản lý giá trong thị trường xăng dầu

2.3 Bài viết đăng tạp chí

Một vài năm trở lại đây, khi giá dầu thô trên thế giới biến động theo

chiều hướng tăng do những bất ổn của tình hình chính trị thế giới kéo theo việc giá bán lẻ xăng dầu trong nước liên tục bị điều chỉnh tăng thì trên các tạp chí khoa học trong nước xuất hiện một số các nghiên cứu liên quan đến thị trường xăng dầu và vai trò của quản lý nhà nước với thị trường này như: Võ Trí

Thành, Nguyễn Ánh Dương với bài “Tác động của biến động giá dầu và thị trường xăng dầu Việt Nam” trên tạp chí Quản lý kinh tế, tháng 4/2016 Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào việc lý giải tại sao nhà nước phải

bình ổn giá xăng dầu và bình ổn bằng cách nào mà chưa có đề cập một cách tổng thể, toàn diện về vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu Đồng thời, cũng chưa có nghiên cứu nào đi vào nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu của từng vùng miền, tỉnh thành để phù hợp với từng địa phương cụ thể và nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu tại địa phương đó

Công trình “Ổn định thị trường xăng, dầu nội địa” của tác giả Bùi Ngọc

Bảo đăng trên Báo Nhân dân ngày 26/5/2018 đã chỉ rõ trách nhiệm của mình

trong việc bình ổn thị trường xăng, dầu nội địa, góp phần thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo

Trang 15

đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững thông qua triển khai 8 giải pháp

cụ thể gắn liền với hoạt động kinh doanh xăng dầu của Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam

2.4 Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ

Năm 2012, Luận án Tiến sỹ của Bùi Thị Hồng Việt (2012) với đề tài

“Chính sách quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam”

phân tích về mặt lý luận học thuật chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng ảnh hưởng đến cung cầu xăng dầu, khẳng định chính sách quản lý của nhà nước can thiệp rất sâu vào thị trường xăng dầu và làm méo mó thị trường, từ đó đề xuất 5 giải pháp và 2 điều kiện để hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với kinh doanh xăng dầu

Năm 2014, Luận văn Thạc sỹ của Cảnh Chí Hùng với đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” đưa ra được một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của

nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Thông qua hoạt động nghiên cứu đề tài tác giả đã tiếp cận nội dung

và nghiên cứu một cách tỷ mỉ về vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu nói chung

Năm 2015, Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thu Giang với đề tài “Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam”

thể hiện tổng quan về thực trạng 8 chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu và phân tích nội dung cũng như hoàn thiện vấn đề các chính sách về quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh xăng dầu nói chung Tác giả đề cập đến những khó khăn, vướng mắc trong qua công tác quản lý nhà nước về vấn đề này

Năm 2018, tác giả Lương Thành Sơn đã bảo vệ thành công Luận văn

Thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình” Trong công trình này, tác giả đã triển khai đề tài theo kế

Trang 16

hoạch đề ra và đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn Những phân tích, đánh giá thực trạng cũng như quan điểm, giải pháp đổi mới công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu trong giai đoạn 2013 - 2017 và hướng tới 2025 mà luận văn đề xuất mang tính đột phá trong công tác quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình nói riêng và kinh doanh xăng dầu trong nước nói chung Căn cứ vào thực tiễn hoạt động kinh doanh xăng dầu, tác giả Lương Thành Sơn cũng đề xuất một số biện pháp có tính định hướng để trao đổi với mong muốn giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo để sớm thiết lập cơ chế quản lý điều hành kinh doanh xăng dầu mang tính khả thi, tạo

ra sự chuyển động chung của nền kinh tế và thực hiện thành công mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tuy nhiên, công trình này vẫn còn một số hạn chế như: chưa đánh giá được tác động đầy đủ, cụ thể của các cơ chế, chính sách của Nhà nước đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu; chưa nghiên cứu đánh giá được năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tham gia kinh doanh xăng dầu, nhất là các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Bên cạnh các công trình nghiên cứu kể trên liên quan đến đề tài còn một số công trình nghiên cứu khác

Tóm lại tác giả nhận thấy chưa có công trình tập trung nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu của một doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực chuyên biệt Ngoài nhiệm vụ kinh doanh chính còn thực hiện nhiệm vụ chính trị Việc lấy doanh nghiệp làm trọng tâm để định vị với chủ thể hạt nhân của nền kinh tế dưới tác động của Nhà nước làm hướng nghiên cứu chính

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu

Trang 17

hàng không, luận văn khảo sát thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài thực hiện những nhiệm

- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian, đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kinh doanh

nhiên liệu, mà cụ thể là kinh doanh xăng dầu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

- Về thời gian, đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động kinh doanh xăng

dầu tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam giai đoạn 2015 - 2019 và các năm tiếp theo

Trang 18

- Đề tài nghiên cứu dưới góc độ của khoa học Chính trị, chuyên ngành Quản lý xã hội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài đó là các nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Đó còn là hệ thống tri thức của nhân loại nói chung và ở Việt Nam nói riêng về khoa học quản lý, quản trị kinh doanh, mà trực tiếp là kinh doanh nhiên liệu, năng lượng trong lĩnh vực vận tải hàng không Ngoài ra những kinh nghiệm về quản lý kinh doanh nhiên liệu hàng không, xu thế của thời đại trong vấn đề này cũng là cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học mác-xít Bên cạnh đó,

luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương

pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống hóa tài liệu

Các số liệu được sử dụng trong đề tài được thống kê từ nhiều nguồn tài liệu như: Các loại văn bản của Nhà nước, các bài nghiên cứu, trao đổi, các trang web của Tổng công ty, các báo cáo hàng năm về từng lĩnh vực của Công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, trong đó báo cáo hàng năm về lĩnh vực hoạt động kinh doanh xăng dầu của cả ba chi nhánh: chi nhánh miền Bắc, chi nhánh miền Trung, chi nhánh miền Nam và hệ thống các kho đầu nguồn, bể chứa tại các sân bay

6 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý kinh doanh đối với một lĩnh vực đặc thù, đó là kinh doanh nhiên liệu hàng không

Trang 19

Đồng thời đề tài khẳng định vai trò quan trọng của nhiên liệu hàng không và sự cần thiết phải đổi mới nội dung, phương pháp quản lý kinh doanh nhiên liệu hàng không tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không Tổng Công ty Hàng không Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài đã làm rõ một số cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kinh doanh xăng dầu hàng không ở nước ta hiện nay Từ đó, làm cơ sở cho quá trình hoạch định, thực thi và đánh giá cơ chế, chính sách phát triển thị trường kinh doanh xăng dầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện cơ chế, giải pháp quản

lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhiên liệu hàng không thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam hiện nay; là tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các trường đại học, cao đẳng chuyên ngành

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 20

1.1.1 Khái niệm quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

* Khái niệm kinh doanh và hoạt động kinh doanh

“Hoạt động kinh doanh” là một khái niệm quen thuộc, xuất hiện trong đời sống của người dân cũng như trong các hoạt động của các doanh nghiệp,

tổ chức khác nhau Khi nhắc đến các doanh nghiệp, người ta nhắc ngay đến

“hoạt động kinh doanh” như một đặc trưng của các doanh nghiệp Vậy, kinh doanh” được hiểu như thế nào? Theo nhiều tài liệu, báo cáo, công trình nghiên cứu về hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp, các chuyên gia nhìn nhận “hoạt động kinh doanh” có nghĩa tương đồng với khái niệm “hoạt động thương mại” Hiểu về hoạt động thương mại cũng đồng nghĩa với việc hiểu về khái niệm “hoạt động kinh doanh”

Cụ thể: Theo mục 16, Điều 4, Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13,

có hiệu lực kể từ 01/7/2015, khái niệm “kinh doanh” hay “hoạt động kinh

doanh” được hiểu là: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [24, tr.2]

Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực rất cần có sự quản lý với tính đặc thù cố định rõ rệt so với các hoạt động khác Có các cách hiểu và diễn đạt khác nhau về khái niệm

Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh là việc đưa ra một số vốn ban đầu vào hoạt động trên thị trường để thu một lượng tiền lớn hơn sau một thời gian nào đó

Trước đây trong nền kinh tế hiện vật, chúng ta thường chỉ nói đến sản xuất (tạo ra sản phẩm vật thể) Trong nền kinh tế thị trường, khái niệm sản

Trang 21

xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn, khái niệm sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm quá trình tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services) tức là đầu ra bao gồm cả vật thể và phi vật thể Sự chuyển hoá các đầu vào (Inpust) thành các đầu ra (Outputs) được thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận

- Cả kinh doanh hay hoạt động kinh doanh đều bao hàm các khía cạnh

từ đầu tư, sản xuất sản phẩm đến lưu thông, cung ứng dịch vụ, sản phẩm cho thị trường

Nhìn chung, có thể hiểu một cách tổng quát, cũng là cách hiểu được tác giả sử dụng xuyên suốt trong luận văn này, hoạt động kinh doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm các hoạt động về đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác trên thị trường

* Khái niệm quản lý

Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Tùy từng mục tiêu và dưới các góc độ nghiên cứu, người ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý Có quan điểm coi quản lý là quá trình bao gồm các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt được mục tiêu đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định

Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ quản lý được thống nhất ở hai nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của

Trang 22

chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý

Thứ hai, mục tiêu của quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt

động phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước

Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng Mục đích mà chủ thể quản

lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình

Từ hai nội dung nêu trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý: “Quản lý

là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản

lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra từ trước” [34, tr.21]

* Khái niệm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

- Theo Điều 73 Luật Doanh nghiệp 2014: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần” [24]

- Đặc điểm của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

Về thành viên: Công ty chỉ có một thành viên duy nhất làm chủ sở hữu

Chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân

Về vốn điều lệ: Vốn điều lệ của công ty thuộc do chủ sở hữu duy nhất

của công ty đầu tư Trong công ty không có sự liên kết góp vốn của nhiều thành viên như những loại hình công ty khác

Về chế độ chịu trách nhiệm: Chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu

hạn một thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Về chuyển nhượng vốn: Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng

Trang 23

một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác Sau khi chuyển nhượng vốn, công ty có thể chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc doanh nghiệp tư nhân

Về phát hành chứng khoán: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành

viên không được phát hành cổ phần

Về tư cách pháp lý: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư

cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

* Khái niệm nhiên liệu hàng không

Theo điều 3 của thông tư Quy định về việc đảm bảo kỹ thuật nhiên liệu hàng không Số: 04/2018/TT-BGTVT ban hành ngày 23 tháng 01 năm 2018

thì “Nhiên liệu hàng không (Aviation Fuel) được hiểu là nhiên liệu dùng cho tàu bay sử dụng lực đẩy của động cơ và cánh quạt Nhiên liệu hàng không gồm nhiên liệu phản lực dùng cho tàu bay có động cơ tuốc bin phản lực, tuốc bin cánh quạt và xăng tàu bay sử dụng cho tàu bay có động cơ đốt trong”.[6]

Từ các khái niệm về “nhiên liệu hàng không” (NLHK) và “hoạt động kinh doanh”, có thể đưa ra khái niệm “hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng

không” như sau: Hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi từ việc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ xăng dầu máy bay, bao gồm các hoạt động về đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xăng dầu máy bay hoặc cung ứng dịch vụ NLHK và các hoạt động khác trên thị trường nhiên liệu nói chung

* Khái niệm quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Từ các khái niệm về “quản lý” và khái niệm về “hoạt động kinh doanh”, “nhiên liệu hàng không”, có thể rút ra khái niệm về “Quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không” như sau:

“Quản lý hoạt động kinh doanh NLHK là tổng thể các hoạt động dự báo, kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra và hạch toán do chủ thể quản lý thực hiện trong quá trình kinh doanh NLHK nhằm mang lại hiệu quả cao

Từ khái niệm đó, có thể rút ra:

- Cũng như các lĩnh vực khác, quản lý hoạt động kinh doanh NLHK là

Trang 24

các hoạt động dự báo, kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra và hạch toán Trong đó:

+ Hoạt động dự báo kinh doanh NLHK chính là việc lập kế hoạch kinh doanh xem xét các kịch bản và các diễn biến khác nhau của thị trường xăng dầu thế giới để dự đoán các sự kiện trong tương lai trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh NLHK;

+ Hoạt động lập kế hoạch kinh doanh NLHK là công việc tạo ra các văn bản, tài liệu mô tả các hoạt động, quá trình kinh doanh (chiến lược kinh doanh, chiến lược tiếp thị, chiến lược marketing, chiến lược tài chính…) ứng với một khoảng thời gian nhất định trong tương lai của doanh nghiệp kinh doanh NLHK

+ Hoạt động kiểm tra quá trình kinh doanh NLHK là quá trình bị chi phối bởi chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK và người lao động của doanh nghiệp kinh doanh NLHK, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp về sự tin cậy của báo cáo tài chính; về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; về sự tuân thủ các luật lệ và quy định

+ Hoạt động hạch toán quá trình kinh doanh NLHK là quá trình quan sát - đo lường - tính toán - ghi chép các hoạt động kinh tế trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK để giám sát và quản lý các hoạt động đó một cách chặt chẽ

- Là quản lý kinh tế ở tầm vi mô, tức quản lý các tổ chức kinh tế trong ngành kinh doanh xăng dầu, cụ thể là hoạt động kinh doanh dịch vụ xăng dầu

- Chủ thể quản lý trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh NLHK nói riêng đó là Hội đồng thành viên (HĐTV) và Ban Giám đốc điều hành Đối tượng quản lý là các tổ chức và người lao động trong công ty

- Các hoạt động nêu trên diễn ra trong quá trình kinh doanh thuộc lĩnh vực NLHK

- Mục đích của hoạt động quản lý kinh doanh là mang lại hiệu quả cao, bao gồm hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt xã hội

Trang 25

1.1.2 Đặc điểm của quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Qua khái niệm trên, có thể làm rõ đặc điểm của quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không thông qua việc xác định chủ thể, đối tượng của quản lý và tính chất đặc thù của loại hình kinh doanh này:

* Thứ nhất, chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK tại doanh nghiệp kinh doanh NLHK chính là các cá nhân hoặc tổ chức trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK (Hội đồng thành viên, Ban Kiểm soát và Ban Giám đốc điều hành) Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định

* Thứ hai, đối tượng quản lý trong quản lý hoạt động kinh doanh NLHK đó chính là là những người tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý

(chính là các đơn vị, phòng ban và những người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp kinh doanh nhiên liệu hàng không)

* Thứ ba, tính chất của hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Kinh doanh NLHK không là một lĩnh vực có tính đặc thù cao Tính đặc thù được thể hiện ở mấy khía cạnh sau đây:

 Là một lĩnh vực đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu như:

- Phải tuân thủ quy trình, yêu cầu phòng cháy chữa cháy nghiêm ngặt trong suốt quá trình vận chuyển, tiếp nhận, bảo quản, bơm, rót, đo, tính … nhiên liệu hàng không (xăng máy bay)

- Phải tuân thủ quy trình công nghệ chặt chẽ trong bảo quản, vận chuyển… nhằm hạn chế bay hơi, ô nhiễm môi trường, độc hại

 Là một lĩnh vực phải đầu tư lớn, bởi vì:

- Phải có hệ thống kho, bể máy móc thiết bị chuyên dùng có khả năng chịu áp suất lớn, phòng chống cháy nổ tốt, phù hợp tính chất thương phẩm

- Phải có cơ sở kinh doanh độc lập, chuyên biệt và các thiết bị đo tính

có độ chính xác cao an toàn

 Là một lĩnh vực vực có chi phí đầu vào lớn:

Trang 26

Kinh doanh NLHK cụ thể là kinh doanh xăng dầu máy bay là một ngành kinh doanh có chi phí kinh doanh cao do các định mức chi phí lớn như vận chuyển, hao hụt…; quy trình công nghệ phức tạp; đầu tư lớn; có chế độ chăm sóc sức khỏe và bảo hộ lao động đặc biệt

 Là một lĩnh vực kinh doanh có yêu cầu cao đối với người lao động: Kinh doanh NLHK (xăng dầu máy bay) là một ngành kinh doanh đặc biệt đòi hỏi cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, được đào tạo chính quy, cơ bản Lao động trực tiếp trong quá trình kinh doanh, bảo quản, vận chuyển xăng dầu phải qua đào tạo chuyên ngành về thương phẩm hàng hoá, qui trình vận chuyển bảo quản bơm rót xăng dầu, đồng thời phải qua đào tạo và được cấp chứng chỉ về an toàn, phòng cháy chữa cháy

Về thực chất, kinh doanh NLHK là lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, bao gồm dịch vụ mua bán nhiên liệu và việc sử dụng nhiên liệu cho máy bay hoạt động

Theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, kinh doanh NLHK cụ thể là kinh doanh xăng dầu máy bay là mặt hàng đòi hỏi phải đảm bảo các điều kiện kinh doanh do Nhà nước quy định

1.1.3 Vai trò của quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Quản lý hoạt động kinh doanh NLHK tại doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò đó được thể hiện ở một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, NLHK có vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu cũng như đối với lĩnh vực vận tải hàng không của mỗi quốc gia

Có thể thấy rằng đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia trên toàn cầu

ngày càng phát triển ngày càng khẳng định vị thế và những đóng góp không thể

thiếu của ngành vận tải bằng đường hàng không Nhu cầu vận chuyển hàng hóa, du lịch, giao thương kinh tế xuyên quốc gia ngày càng gia tăng thì càng làm cho ngành hàng không khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng Và vì vậy, tất yếu dẫn đến hoạt động kinh doanh NLHK cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn Hoạt động kinh doanh NLHK có một vai trò quan trọng, không thể

bỏ qua, góp phần phát triển hiệu quả ngành vận tải hàng không cũng như phát

Trang 27

triển kinh tế, xã hội hiệu quả ở bất kỳ quốc gia nào

Thứ hai, kinh doanh NLHK là một trong các lĩnh vực kinh doanh mũi nhọn của ngành hàng không quốc gia, nó cung cấp nguồn nhiên liệu quan trọng cho tất cả các hãng hàng không và cung ứng vận tải bằng đường hàng không

Để ngành hàng không có thể kết nối mạng lưới giao thông vận tải trên toàn thế giới thì kinh doanh NLHK đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam Chính vì vậy, đây là vai trò vô cùng quan trọng của hoạt động kinh doanh NLHK vì nhờ có hoạt động kinh doanh NLHK mà việc cung cấp đầy đủ nhiên liệu cho các hãng hàng không và ngành vận tải bằng đường hàng không được đảm bảo duy trì, ổn định góp phần không nhỏ cho việc phát triển hoạt động xúc tiến thương mại và du lịch trên toàn cầu

Thứ ba, quản lý hoạt động kinh doanh NLHK nhằm mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho đất nước, đồng thời tham gia trực tiếp và chi phối vào việc kinh doanh nguồn tài nguyên dầu khí

Hiện nay trong xu thế toàn cầu hóa và quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, vận tải bằng đường hàng không nói chung, kinh doanh NLHK nói riêng được đánh giá là một trong những lĩnh vực kinh doanh có vai trò và tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế chung của cả đất nước Có thể khẳng định, nền kinh tế của một đất nước phát triển nhanh hay chậm cũng được quyết định bởi sự phát triển của ngành vận tải hàng không Bởi dịch vụ vận tải hàng hoá đường hàng không vừa là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển vừa tham gia trực tiếp vào hoạt động xuất nhập khẩu nên làm ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế về vốn,

mở rộng thị trường hay nhân công… Đặc biệt, với một đất nước đang phát triển như Việt Nam thì ngành vận tải hàng không chính là một trong những yếu tố không thể thiếu, giúp khai thác và phát huy tối đa lợi thế đang có và thu hút được lợi ích từ nước ngoài vào

Vận tải hàng không nội địa giúp cho hoạt động vận chuyển hàng hoá thuận tiện và nhanh chóng Vận tải hàng không quốc tế được xem là ngành hoạt động trong lĩnh vực vận tải hàng hoá, giao thoa văn hoá và thúc đẩy dịch

Trang 28

vụ du lịch toàn cầu phát triển… Chính vì vậy, với nhiệm vụ cung cấp toàn bộ nhiên liệu cho dịch vụ vận tải bằng đường hàng không, vận tải hàng không nói chung, kinh doanh NLHK có thể làm tăng dòng ngoại tệ chảy vào trong nước, mang lại lợi nhuận siêu ngạch nhằm cân bằng cán cân thanh toán và làm thay đổi phần nào đó cơ cấu kinh tế đất nước, từ đó, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hơn nữa

Cho đến nay, NLHK vẫn là nguồn nhiên liệu quan trọng bậc nhất, đang đóng góp 60% tổng giá trị lợi nhuận của các nhóm nhiên liệu cung cấp cho các dịch vụ vận tải đang được sử dụng trong nước và quốc tế Trong thế kỷ XXI, vai trò của kinh doanh NLHK đối với nền kinh tế nước ta vẫn hết sức quan trọng, vì trong cân bằng lợi nhuận của các ngành kinh tế mũi nhọn, kinh doanh nhiên liệu hàng không vẫn chiếm tỷ trọng lớn, các nguồn nhiên liệu cung cấp cho các dịch vụ vận tải khác vẫn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn

Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi kinh doanh NLHK được các chuyên gia kinh tế đánh giá là một trong những lĩnh vực kinh doanh đặc thù có vài trò

to lớn và góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế chung của cả nước

Thứ tư, quản lý hoạt động kinh doanh NLHK nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này Cụ thể như sau:

Trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK, mỗi cá nhân có kiến thức, kỹ năng, tính cách khác nhau dẫn đến phong cách làm việc khác nhau Với những nhân viên xuất sắc thì không sao nhưng đối với các nhân viên chưa có kinh nghiệm, có thể cách làm việc riêng của họ sẽ là nguyên nhân dẫn đến gián đoạn hoặc giảm năng suất công việc Do đó, thực hiện quy trình quản lý chung giúp mọi hoạt động của doanh nghiệp thành một dòng chảy lưu loát và trở nên minh bạch Quy trình làm việc giúp người làm việc xác định những công việc cần làm là gì, thứ tự ra sao, cần đạt kết quả như thế nào

Bên cạnh đó, quản lý hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh NLHK nói riêng giúp cấp trên dễ dàng giao việc cho cấp dưới Thực hiện tốt quy trình quản lý giúp doanh nghiệp xác định các vai trò, trách nhiệm của

Trang 29

từng nhân sự một cách rõ ràng Điều này đặc biệt đem lại lợi ích trong việc phối hợp làm việc nhóm, không trùng công việc hoặc bỏ sót công việc giữa các phòng ban, chi nhánh và đơn vị của doanh nghiệp kinh doanh NLHK

Thứ năm, quản lý hoạt động kinh doanh NLHK nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực về lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ trong và ngoài công ty để tăng trưởng và phát triển bền vững Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không

Quản lý hoạt động kinh doanh NLHK hợp lý sẽ giúp cho việc kinh doanh trở nên hiệu quả hơn Từ đó, giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp, thực hiện chúng một cách đồng nhất và giải quyết các trường hợp phát sinh nhanh nhất có thể

Thứ sáu, đổi mới, hoàn thiện công tác quản lý hoạt động kinh doanh NLHK là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay ở nước ta nói chung và đối với Tổng Công ty HKVN cũng như Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không nói riêng

Chúng ta biết rằng trước đây, do ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã làm cho hạn chế về nhiều mặt đặc biệt là về bộ

máy quản lý của các doanh nghiệp nói chung trong đó có Công ty TNHH

MTV Nhiên liệu hàng không Trước đây, do thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mọi chỉ tiêu kế hoạch đều được rót từ trên xuống, các nhà quản lý doanh nghiệp không cần phải quan tâm tới thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, hiệu quả kinh doanh, do vậy đã tạo nên một đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp kém năng động và do vậy khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh, các thành phần kinh

tế hoạt động bình đẳng, cạnh tranh quốc tế thì cơ chế cũ và đội ngũ cán bộ

cũ tỏ ra khó phù hợp nếu họ không tự học tập và hoàn thiện Tóm lại, khi hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày nay, các doanh nghiệp Việt

Nam trong đó có Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không cần đổi mới,

Trang 30

hoàn thiện bộ máy quản lý của mình

Nhìn chung, việc đổi mới, hoàn thiện bộ máy quản lý của Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không là một tất yếu khách quan đối với sự vận động, phát triển của VNA nói chung, Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không nói riêng, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

Nội dung đổi mới, hoàn thiện bộ máy quản lý của Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý, Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không cần phải đổi mới, hoàn thiện bộ máy quản lý của mình theo hướng đơn giản, gọn nhẹ và có hiệu lực để đảm bảo cho hệ thống này làm việc tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho quá trình kinh doanh

của mình

Nội dung đổi mới, hoàn thiện bộ máy quản lý gồm:

- Đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy tức là hoàn thiện việc phân chia các phòng, ban chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi phòng ban sao cho cơ cấu trở nên tối ưu, tinh giảm, gọn nhẹ, tiết kiệm

- Đổi mới, hoàn thiện công tác cán bộ: Bao gồm hoàn thiện việc tuyển dụng cán bộ, sử dụng cán bộ, di chuyển cán bộ, trả công cho cán bộ và phát triển cán bộ

- Đổi mới, hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy: Tức là hoàn thiện các nguyên tắc hoạt động của bộ máy, hoàn thiện sự phối hợp giữa các bộ phận, các phòng ban và các cá nhân nhằm thực hiện các chức năng quản lý

1.2 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Ở Việt Nam để quản lý hoạt động kinh doanh NLHK không đạt hiệu quả cao nhất thì việc áp dụng các nguyên tắc, phương pháp quản lý hoạt động này là vô cùng quan trọng, nhất là trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tăng cường khai thác vận tải bằng đường hàng không

Trang 31

1.2.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh NLHK là các quy tắc lãnh đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý công ty kinh doanh NLHK phải tuân thủ trong quá trình quản lý hoạt động kinh doanh của đơn vị mình

Yêu cầu của các nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh NLHK đòi hỏi phải:

- Tuân thủ các yêu cầu khách quan của quy luật vận động và phát triển của nền kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không của doanh nghiệp nói riêng;

- Các nguyên tắc phải phù hợp với mục tiêu của quản lý của doanh nghiệp kinh doanh NLHK;

- Các nguyên tắc phải phản ánh đúng tính chất và các quan hệ quản lý trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK;

- Các nguyên tắc quản lý phải bảo đảm tính hệ thống, tính nhất quán và phải được bảo đảm bằng pháp luật;

Từ các yêu cầu nói trên, để quản lý hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung và quản lý hoạt động kinh doanh NLHK các chủ thể quản lý phải sử dụng các nguyên tắc sau

1.2.1.1 Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế

Trong mọi hình thái kinh tế - xã hội, mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được biểu hiện tập trung ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị Kinh tế là tiền đề vật chất bảo đảm cho sự phát triển của xã hội, vì thế nó giữ vai trò quyết định đối với những vấn đề chính trị Còn chính trị là

sự phản ánh xã hội của kinh tế Vì vậy, thống nhất sự lãnh đạo chính trị và kinh tế là một nguyên tắc quan trọng chi phối hoạt động kinh tế và quản lý cả nền kinh tế trong một quốc gia trong đó có hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Trong quản lý hoạt động kinh doanh NLHK, nguyên tắc thống nhất sự lãnh đạo chính trị và kinh tế thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, phát triển kinh tế thông qua việc tăng hiệu kinh doanh và lợi

Trang 32

nhuận cho doanh nghiệp kinh doanh NLHK là nhiệm vụ chính trị chủ yếu nhất mà mọi cá nhân, phòng ban, đơn vị trong doanh nghiệp phải hướng tới

Phát triển kinh tế là để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội; tạo cơ sở vật chất để củng cố sự phát triển của doanh nghiệp, chăm lo cho đời sống của người lao động trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK và góp phần vào chiến lược phát triển chung của ngành vận tải bằng đường hàng không nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung

Thứ hai, các hoạt động kinh tế đều phải dựa trên quan điểm kinh tế - chính trị - xã hội toàn diện

Con người vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của quá trình phát triển kinh

tế trong mỗi quốc gia trong đó có các doanh nghiệp Doanh nghiệp kinh

doanh NLHK có phát triển và tăng trưởng bền vững là cơ sở để nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong ngành vận tải bằng đường hàng không, trong nền kinh tế cũng như uy tín của Đảng, Nhà nước và Chủ thể quản lý của doanh nghiệp… Từ đó, các quyết định quản lý của chủ thể quản lý phải nhằm vào việc phát huy nhân tố con người, đồng thời khai thác tối đa tiềm năng của doanh nghiệp cũng như của đất nước để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Nói tóm lại, phải gắn những vấn đề kinh tế với vấn đề chính trị và xã hội trong mỗi chính sách mà chủ thể quản lý doanh nghiệp đưa ra

Ngoài ra, nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế trong

quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không còn đòi hỏi các chiến

lược, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp kinh, các chính sách, quyết định quản lý của doanh nghiệp phải bám sát và cụ thể hóa đường lối phát triển kinh

tế của Đảng, Nhà nước và chiến lược, mục tiêu phát triển của Tổng Công ty

HKVN [26]

1.2.1.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trên mọi lĩnh vực Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất Khía cạnh tập trung trong nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện sự thống nhất quản lý từ một trung tâm

Trang 33

- bộ máy quản lý các cấp của doanh nghiệp kinh doanh NLHK Đây là nơi hội

tụ trí tuệ, ý chí, nguyện vọng và cơ sở vật chất của doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả tổng thể cao nhất; tránh sự phân tán, rối loạn và triệt tiêu sức mạnh chung của toàn doanh nghiệp Khía cạnh dân chủ thể hiện sự tôn trọng quyền chủ động sáng tạo của tập thể và cá nhân người lao động trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK cũng như các hoạt động của đời sống xã hội

Giữa tập trung và dân chủ có mối quan hệ hữu cơ Tập trung là điều kiện để phát huy dân chủ Dân chủ phải đi liền với sự quản lý tập trung thống nhất; dân chủ phải có mục đích, định hướng

Trong quản lý hoạt động kinh doanh NLHK, nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi phải phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh NLHK Nói cách khác, đó là sự phân định chức năng quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý kinh tế vi mô

Trong cơ chế thị trường, Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động mang tính chất tác nghiệp hàng ngày của doanh nghiệp Với chức năng quản

lý vĩ mô của mình, Nhà nước đóng vai trò là người tạo môi trường và hành lang cho các thành phần kinh tế tự do hoạt động Trên cơ sở định hướng về đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước xây dựng chiến lược

và kế hoạch phát triển cho từng thời kỳ, đồng thời hình thành các chính sách, giải pháp nhằm thực hiện chiến lược và kế hoạch đã được xây dựng Nhà nước hướng dẫn các chủ thể kinh tế đầu tư vào những lĩnh vực, sản phẩm và thị trường có hiệu quả cao do lợi thế so sánh mang lại

Với chức năng quản lý kinh tế vi mô, doanh nghiệp kinh doanh NLHK được tiếp cận trực tiếp và thường xuyên với nhu cầu thị trường để xử lý linh hoạt các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra của hoạt động kinh doanh, và tất nhiên, được hưởng thụ thành quả do mình tạo ra Đi liền với quyền hạn và quyền lợi nói trên, doanh nghiệp kinh doanh nhiên liệu hàng không có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách nhà nước, chủ yếu là thuế, đồng thời hoạt động trong môi trường do Nhà nước tạo lập

Trang 34

Ngoài việc phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh, nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hoạt động kinh doanh NLHK còn đòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ giữa phòng, ban, đơn vị chức năng trong bộ máy quản lý hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh NLHK Về thực chất, đó là việc xử lý mối quan hệ về trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích giữa chủ thể quản lý cấp trên (Tổng Công ty HKVN) với doanh nghiệp kinh doanh nhiên liệu hàng không trực thuộc Tổng Công ty; giữa chủ thể quản lý các cấp của doanh nghiệp kinh doanh NLHK với các phòng, ban, đơn vị chức năng trong nội bộ doanh nghiệp mình

Như vậy, để vận hành hoạt động kinh doanh NLHK theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chủ thể quản lý các cấp trong nội bộ doanh nghiệp phải tránh độc đoán chuyên quyền đồng thời doanh nghiệp kinh doanh nhiên liệu hàng không phải khắc phục dân chủ hình thức, dân chủ vượt quá khả năng và điều kiện cho phép theo quy chế, điều lệ hoạt động của doanh nghiệp [26]

1.2.1.3 Nguyên tắc kết hợp hài hoà các loại lợi ích xã hội

Về lý thuyết cũng như thực tiễn, lợi ích vừa là mục tiêu, nhu cầu vừa là động lực khiến con người hành động Vì thế sẽ không có sự nhất trí về mục đích hành động nếu không có sự thống nhất về lợi ích

Trong quản lý hoạt động kinh doanh NLHK, có nhiều loại lợi ích cần được thỏa mãn Tuy nhiên, lợi ích người lao động, lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích xã hội là ba yếu tố cơ bản nhất của hệ thống lợi ích mà chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK cần hướng tới và đảm bảo Lợi ích người lao động là quyền lợi mà mỗi thành viên trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK được hưởng thụ căn cứ vào khả năng cống hiến của họ Lợi ích của cả doanh nghiệp là những khoản lợi nhuận và toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật được tạo

ra bởi sự đóng góp của cả doanh nghiệp Lợi ích xã hội là việc đóng góp thuế vào nguồn thu của ngân sách nhà nước của doanh nghiệp

Quản lý hoạt động kinh doanh NLHK phải quán triệt đầy đủ nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích nói trên Điều đó được thể hiện ở những yêu cầu

Trang 35

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các quyết định quản lý trong doanh nghiệp kinh doanh

NLHK phải quan tâm trước hết đến lợi ích người lao động trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK

Người lao động là nhân tố có khả năng sáng tạo, lực lượng tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp kinh doanh NLHK Vì vậy, hệ thống phương pháp, công cụ, cơ chế, chính sách quản lý của chủ thể quản lý doanh nghiệp kinh doanh NLHK phải nhằm vào việc đem lại lợi ích,

mà quan trọng nhất là lợi ích vật chất cho người lao động Đó là những khoản tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và phúc lợi xã hội mà họ được hưởng thụ Đồng thời người lao động ngày càng có nhu cầu cao về học tập, chữa bệnh, đi lại và trưởng thành trong công việc vì thế, mọi chính sách của doanh nghiệp luôn luôn được gắn liền với chính sách xã hội nhằm thỏa mãn sự đòi hỏi chính đáng của người lao động trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK

Thứ hai, phải tạo ra những “véctơ” lợi ích chung nhằm kết hợp lợi ích

người lao động và lợi ích của doanh nghiệp kinh doanh NLHK

Nếu chủ thể quản lý doanh nghiệp kinh doanh NLHK chỉ quan tâm đến lợi ích người lao động mà sao nhãng lợi ích của cả doanh nghiệp và lợi ích xã hội thì chủ nghĩa cá nhân sẽ phát triển, thậm chí dẫn đến tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi ở một số người có chức, có quyền Hơn nữa, lợi ích cá nhân không thể bền vững và ngày càng được thỏa mãn cao hơn nếu không đồng thời chăm lo đến lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Vì thế, các quyết định quản

lý trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK phải có tác dụng huy động sự đóng góp về trí tuệ, sức lực và cơ sở vật chất để xây dựng doanh nghiệp; cá nhân người lao động có cơ hội để thỏa mãn lợi ích, đồng thời được hưởng thụ các khoản phúc lợi xã hội cũng như của doanh nghiệp Cũng tương tự, doanh nghiệp kinh doanh NLKH có phát triển vững mạnh là kết quả của sự cống hiến sức mạnh của cả doanh nghiệp và sức lao động của người lao động Ngược lại, sự phát triển vững mạnh của doanh nghiệp là cơ sở để phát triển toàn diện các cá nhân con người và thực hiện quá trình phân phối lại thông

Trang 36

qua hệ thống phúc lợi xã hội Nói tóm lại, chủ thể quản lý trong doanh nghiệp kinh doanh NLHK phải tạo ra những “véctơ” lợi ích chung thông qua cơ chế, chính sách, sao cho các thành viên trong toàn doanh nghiệp đều được hưởng thụ lợi ích

Thứ ba, phải coi trọng lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần của tập thể

và người lao động

Các hoạt động sản xuất vật chất đều bị chi phối bởi tinh thần và trạng thái tâm - sinh lý của người lao động Và trong thực tiễn quản lý hoạt động kinh doanh NLHK chủ thể quản lý phải tác động vào ý thức con người nhằm tạo dựng môi trường tâm lý xã hội cần thiết để khích lệ họ hành động vì một mục tiêu nhất định của doanh nghiệp

Trong khi lao động còn là một hoạt động bắt buộc đối với con người thì vấn đề khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động phải đặt lên vị trí

ưu tiên thỏa đáng Song, không phải vì thế mà coi nhẹ, phủ nhận khuyến khích lợi ích tinh thần thông qua các phương pháp động viên, giáo dục chính trị tư tưởng, thưởng phạt, cất nhắc đề bạt vào các chức quản lý

Khuyến khích lợi ích tinh thần về thực chất là sự đánh giá của tập thể doanh nghiệp và xã hội đối với sự cống hiến của mỗi cá nhân, là sự khẳng định thang bậc về giá trị của họ trong doanh nghiệp và trong cộng đồng Cũng thông qua các hình thức khuyến khích đó, người lao động nhận biết được kết quả và ý nghĩa công việc của mình làm Vì thế, nó rất cần thiết đối với bất kỳ

ai và vào thời gian nào [26]

Tóm lại, quản lý hoạt động kinh doanh NLHK trước hết là quản lý con người - người lao động trực tiếp làm việc tại doanh nghiệp Trong đó, doanh nghiệp kinh doanh NLHK chính là tổ chức mang tính tích cực lao động của người lao động Người lao động tại doanh nghiệp sẽ có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý hoạt động kinh doanh NLHK là phải chú ý đến lợi ích của người lao động đang làm việc tại công ty để khuyến khích họ làm có hiệu quả và phát huy được tính tích cực trong lao động của họ

Trang 37

1.2.1.4 Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề cốt yếu trong việc quản lý hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp kinh doanh NLHK

Tiết kiệm không đồng nghĩa với hạn chế tiêu dùng Vấn đề là ở chỗ tiêu dùng hợp lý, trên cơ sở khả năng và điều kiện cho phép Trong nhiều trường hợp, cần phải kích thích tiêu dùng để khắc phục tình trạng thiểu phát, thúc đẩy sản xuất phát triển Tiết kiệm cũng không chỉ là chi ít tiền mà là chi tiêu và sử dụng đồng tiền sao cho có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, giá thành thấp, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Khi cần thiết phải tăng chi phí bằng cách đầu tư nhằm tạo việc làm và tăng khối lượng hàng hóa dịch vụ cho xã hội

Hiệu quả được xác định bằng kết quả so với chi phí Từ đó muốn tăng hiệu quả phải bằng tăng kết quả, giảm chi phí Tăng kết quả bằng cách tăng năng suất lao động Giảm chi phí bằng cách tiết kiệm các yếu tố đầu vào và tiết kiệm thời gian Cũng có thể tăng hiệu quả bằng cách tăng chi phí để tăng kết quả với tốc độ nhanh hơn và quy mô lớn hơn Như vậy, giữa tiết kiệm và hiệu quả có mối quan hệ hữu cơ với nhau Hiệu quả chính là tiết kiệm theo nghĩa rộng và đầy đủ nhất Nói đến tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là nói đến hiệu quả trong các lĩnh vực ấy, chứ không phải là chi nhiều hay chi ít, tiêu nhiều hay tiêu ít

Quản lý hoạt động kinh doanh NLHK chỉ cần thiết và có ý nghĩa khi chủ thể quản lý biết lấy vấn đề tiết kiệm và hiệu quả làm nguyên tắc hoạt động của mình Nguyên tắc này đòi hỏi nhà quản lý phải đưa ra các quyết định quản lý sao cho với một lượng chi phí nhất định có thể tạo ra nhiều giá trị sử dụng và lợi ích nhất để phục vụ con người Nói cách khác, phải quản lý sao cho với một đơn vị giá trị sử dụng hay một đơn vị lợi ích có được, chỉ cần một lượng chi phí bỏ ra ngày càng ít đi Về mặt giá trị, doanh nghiệp phải được tổ chức quản lý sao cho mức lãi thu được trong một đồng chi phí bỏ ra ngày càng tăng lên hoặc để tạo ra một đồng lãi cần một lượng vốn nhất định

Đó là sự đòi hỏi của nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả

Trang 38

Để đạt được các yêu cầu nêu trên cần phải giảm thiểu lao động vật hóa

và lao động sống trong việc sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Giảm thiểu lao động vật hóa được thực hiện thông qua việc lựa chọn và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất; xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật hợp lý; khai thác triệt để công suất máy móc trang thiết bị nhằm khấu hao nhanh, hạn chế hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình Đặc biệt, trong điều kiện của kinh tế thị trường, cần có chính sách và cơ chế thuận lợi khuyến khích các thành phần kinh tế sử dụng lao động, nguyên liệu, tiền vốn tại chỗ để sản xuất tại chỗ nhằm tiết kiệm thời gian, hạ giá thành sản phẩm đồng thời, không ngừng đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý ở trong nội bộ doanh nghiệp theo hướng tinh giảm, thật sự vì nhu cầu công việc và hiệu quả cao [26]

1.2.2 Nội dung quản lý hoạt động kinh doanh nhiên liệu hàng không

Nội dung quản lý hoạt động kinh doanh NLHK bao gồm các cơ chế, chính sách, các giải pháp cụ thể [19, tr.31] Có hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ

chế là yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (chủ thể) tham gia, cách

thức hình thành tổ chức và cách thức tổ chức hệ thống nội tại Yếu tố hoạt động thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành viên trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; nguyên tắc vận hành của

cơ chế và nội dung hoạt động của nó

1.2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý và công tác cán bộ

Cấu trúc bộ máy quản lý nói chung, quản lý hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp kinh doanh NLHK nói riêng bao gồm 2 đối tượng Chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK và đối tượng quản lý (khách thể quản lý) của hoạt động kinh doanh NLHK Hai đối tượng này có mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp tùy thuộc vào bộ phận trung gian, tham mưu cho chủ thể quản lý

- Chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK tại doanh nghiệp kinh

doanh NLHK chính là tác nhân tạo ra các tác động trong việc quản lý hoạt động kinh doanh NLHK Chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK chính

là các cá nhân hoặc tổ chức trong doanh nghiệp Chủ thể quản lý tác động lên

Trang 39

đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định

- Đối tượng quản lý hoạt động kinh doanh NLHK: là những người tiếp

nhận sự tác động của chủ thể quản lý (chính là những người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp kinh doanh NLHK)

Mục tiêu quản lý hoạt động kinh doanh NLHK: là cái đích cần phải đạt

tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh NLHK đề ra Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp thích hợp Điều này là vô cùng hợp lý bởi, quản lý nói chung là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên trong đó có quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế

Bộ máy quản lý doanh nghiệp kinh doanh NLHK bao gồm ba yếu tố cơ bản là: Cơ cấu tổ chức, các bộ quản lý và cơ chế hoạt động của bộ máy trong đó:

Cơ cấu tổ chức xác định các bộ phận, phân hệ, các phòng ban chức năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi phòng ban, bộ phận được chuyên môn hoá, có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định nhằm thực hiện các chức năng quản lý quản lý hoạt động kinh doanh NLHK

- Cán bộ quản lý: là những người ra quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định quản lý của mình

- Cơ chế hoạt động của bộ máy: Xác định nguyên tắc làm việc của bộ máy quản lý và các mối liên hệ cơ bản để đảm bảo sự phối hợp hoạt động của các bộ phận nhằm đạt được mục tiêu chung mà doanh nghiệp kinh doanh NLHK đề ra

1.2.2.2 Triển khai thực hiện chính sách của nhà nước và các quy định của cơ quan quản lý cấp trên

Để vận hành được các hoạt động quản lý kinh doanh NLHK cần phải dựa vào và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước; các quy định pháp lý, Nghị định, Thông tư, các quy định, quyết định của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành Ngoài ra còn có các chủ trương chính sách, quy định, nội quy, quy định của Tổng Công ty HKVN về việc

Trang 40

kinh doanh NLHK tại các doanh nghiệp xây dựng phục vụ cho quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Ở Việt Nam, hệ thống văn bản pháp luật cho quản lý kinh doanh NLHK đã có đầy đủ, đặc biệt có nghị định 83/2014/NĐ-CP ban hành ngày 03/09/2014 có hiệu lực từ 01/11/2014 của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn liên quan thì giá xăng dầu được xác định trên cơ sở giá xăng dầu thế giới, chi phí định mức của doanh nghiệp và lợi nhuận định mức để thực hiện hoạt động kinh doanh NLHK Tuy nhiên, để vận dụng cụ thể cho doanh nghiệp kinh doanh NLHK còn phải phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp và đặc thù của hoạt động kinh doanh NLHK

1.2.2.3 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của doanh nghiệp kinh doanh nhiên liệu hàng không

Nội dung tiếp theo của quản lý hoạt động kinh doanh NLHK là việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của doanh nghiệp kinh doanh NLHK Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, nội dung cụ thể xây dựng chiến lược phát triển của doanh

nghiệp kinh doanh NLHK:

+ Xây dựng chiến lược trọng tâm - chiến lược phát triển thị trường nhằm tiếp tục mở rộng thị trường kinh doanh cả trong và ngoài nước cho hoạt động kinh doanh NLHK của doanh nghiệp

+ Xây dựng chiến lược chức năng gồm: Thâm nhập thị trường; phát triển nguồn nhân lực; phát triển dịch vụ khách hàng với các đối tác chiến lược

mà doanh nghiệp đang cung cấp NLHK

- Thứ hai, nội dung cụ thể của việc quy hoạch, kế hoạch phát triển hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh NLHK bao gồm những nội dung chính như sau:

+ Xác định mục tiêu, quan điểm cũng như định hướng thực hiện việc quản lý hoạt động kinh doanh NLHK

+ Xác định kế hoạch và các hoạt động cụ thể trong hoạt động kinh

Ngày đăng: 12/11/2021, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Ngọc Bảo (2018), Ổn định thị trường xăng, dầu nội địa, Báo Nhân dân, ngày 26/5/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân
Tác giả: Bùi Ngọc Bảo
Năm: 2018
4. Bộ Công thương (2009), Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, về kinh doanh xăng dầu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, về kinh doanh xăng dầu
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2009
5. Bộ Công thương (2014), Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, của Chính phủ Việt Nam, Về việc ban hành quy chế kinh doanh xăng dầu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, của Chính phủ Việt Nam, Về việc ban hành quy chế kinh doanh xăng dầu
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2014
6. Bộ Giao thông Vận tải (2018), Thông tư số 04/2018/TT –BGTVT quy định về việc đảm bảo kỹ thuật nhiên liệu hàng không, ngày 23 tháng 1 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/2018/TT –BGTVT quy định về việc đảm bảo kỹ thuật nhiên liệu hàng không
Tác giả: Bộ Giao thông Vận tải
Năm: 2018
8. Bộ Tài chính (2006), Nghị định số 59/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật thương mại về các loại hàng hóa, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật thương mại về các loại hàng hóa
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
9. Bộ Tài chính (2007), Quyết định số 73/2007/QĐ-BTC, Về giá bán xăng và các loại dầu năm 2005, ngày 22/11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 73/2007/QĐ-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
19. Nguyễn Duyên Cường (2013), Đổi mới quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt nam, NXB. Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt nam
Tác giả: Nguyễn Duyên Cường
Nhà XB: NXB. Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2013
20. Nguyễn Thu Giang (2015), Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thu Giang
Năm: 2015
21. Cảnh Chí Hùng (2014), Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Cảnh Chí Hùng
Năm: 2014
22. Đỗ Trọng Hưng (2013), Chính sách quản lý giá trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tại một nước đang chuyển đổi: trường hợp nghiên cứu Việt Nam, Đề tài nghiên cứu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách quản lý giá trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu tại một nước đang chuyển đổi: trường hợp nghiên cứu Việt Nam
Tác giả: Đỗ Trọng Hưng
Năm: 2013
23. Kiều Đình Kiểm (1999), Các sản phẩm dầu mỏ và hóa dầu, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các sản phẩm dầu mỏ và hóa dầu
Tác giả: Kiều Đình Kiểm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
24. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Doanh nghiệp số: 68/2014/QH13, có hiệu lực kể từ 01/7/2015, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2015
25. Lương Thanh Sơn (2018), Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của Công ty xăng dầu Hà Sơn Bình
Tác giả: Lương Thanh Sơn
Năm: 2018
26. Đoàn Phúc Thanh (Chủ biên) - Vũ Đắc Độ - Đồng Văn Phường (2003), Nguyên lý quản lý kinh tế, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý quản lý kinh tế
Tác giả: Đoàn Phúc Thanh (Chủ biên) - Vũ Đắc Độ - Đồng Văn Phường
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
27. Võ Trí Thành, Nguyễn Ánh Dương (2016), Tác động của biến động giá dầu và thị trường xăng dầu Việt Nam, Tạp chí Quản lý kinh tế, tháng 4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến động giá dầu và thị trường xăng dầu Việt Nam", Tạp chí "Quản lý kinh tế
Tác giả: Võ Trí Thành, Nguyễn Ánh Dương
Năm: 2016
28. Lê Sỹ Thiệp (2009), Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế
Tác giả: Lê Sỹ Thiệp
Năm: 2009
29. Nguyễn Quang Tuấn (2008), Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Tuấn
Năm: 2008
33. Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Khoa học quản lý (2000), Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội
Tác giả: Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Khoa học quản lý
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2000
34. Nguyễn Thị Kim Uyên (2011), Giáo trình đại cương về Quản lý Nhà nước, Trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đại cương về Quản lý Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Uyên
Năm: 2011
35. Bùi Thị Hồng Việt (2011), Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế quốc dân.* Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hồng Việt
Năm: 2011

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w