1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động đạo tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố hà nội hiện nay

105 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình đó đặt ra yêu cầu là phải tăng cường công tác quản lý về tôn giáo nói chung và đối với hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng để vừ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LƯƠNG THỊ THANH HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH CỦA

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LƯƠNG THỊ THANH HƯƠNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH CỦA

NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

TS Vũ Thị Thu Quyên

Trang 4

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Xuân Học Các số liệu được nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và đáng tin cậy

Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2020

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lương Thị Thanh Hương

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 13

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài 13

1.2 Nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài 22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 31

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội 31

2.2 Kết quả đạt được và hạn chế trong quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay 40

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 60

3.1 Quan điểm chỉ đạo quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới 60

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới 67

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 95

TÓM TẮT LUẬN VĂN 103

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thành phố Hà Nội là đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế, là nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của Nhà nước

Cũng như các địa phương khác trên cả nước, các tôn giáo từng bước du nhập, hình thành và phát triển ở Hà Nội, trong đó có đạo Tin lành Hà Nội là nơi có đạo Tin lành sớm hơn so với các địa phương khác trên địa bàn cả nước Khi mới du nhập, đạo Tin lành phát triển chậm, số lượng tín đồ, giáo sỹ không đông bằng các tôn giáo khác Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đạo Tin lành ở Hà Nội phát triển với tốc độ nhanh Cộng đồng Tin lành ở Hà Nội có số lượng đông đảo tín đồ, nhiều tổ chức, hệ phái, chi hội, điểm nhóm, đặc biệt là người nước ngoài theo đạo Tin lành [65, tr.63] Tín đồ Tin lành là người nước ngoài phân bổ hầu hết các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hiện nay, Hà Nội có nhiều người nước ngoài cư trú hợp pháp, trong đó chỉ riêng người nước ngoài theo đạo Tin lành có đến hơn 2.500 người trên tổng số 5.300 người trên cả nước Trên địa bàn Hà Nội, đạo Tin lành hiện có khoảng 60 chức sắc, gồm: 19 mục sư được công nhận, 9 mục sư nhiệm chức được công nhận, 14 truyền đạo được công nhận và 18 chức sắc tự phong thuộc các hệ phái Tin lành chưa được công nhận tư cách pháp nhân Chức

việc có khoảng 100 vị và có khoảng 8.400 tín đồ (trong đó là người Hàn Quốc khoảng 1.400 tín đồ và là người của các nước khác khoảng 1.000 tín đồ thuộc

40 quốc tịch khác nhau đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội) [16] Tuy

Trang 7

nhiên, hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố

Hà Nội thời gian qua cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhiều hoạt động tôn giáo không tuân thủ pháp luật, vượt khỏi sự quản lý của chính quyền Số lượng các tín đồ theo đạo Tin lành là người nước ngoài trên địa bàn thành phố

Hà Nội tiếp tục gia tăng về số lượng, khó kiểm soát về nội dung và hình thức hoạt động Điều này đã khó khăn, cản trở cho công tác lãnh đạo của tổ chức đảng và công tác quản lý của chính quyền địa phương; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đến công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, quản lý điều hành của chính quyền cơ sở, công tác quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần giữ vững ổn định, an ninh, chính trị trên địa bàn Song, bên cạnh đó, công tác quản lý này vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ từ cấp thành phố đến cấp cơ sở Nhận thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói chung, đạo Tin lành nói riêng của một số cấp ủy, chính quyền còn chưa đầy đủ, chưa toàn diện Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các địa phương với nhau trong thực thi chính sách quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn có lúc, có nơi còn chậm, lúng túng, chưa có tính thuyết phục đối với các tín đồ, các chức sắc tôn giáo, thậm chí còn tạo ra những sơ hở để các phần

tử xấu lợi dụng, xuyên tạc Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo vừa yếu, vừa thiếu, chưa tương xứng với yêu cầu công tác tôn giáo trong tình hình mới Tình hình đó đặt ra yêu cầu là phải tăng cường công tác quản lý về tôn giáo nói chung và đối với hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng để vừa đảm bảo quyền tự do tín

Trang 8

ngưỡng, tôn giáo của người dân, vừa kịp thời đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch

Do đó, tác giả chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xã hội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xung quanh vấn đề đạo Tin lành và công tác quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài có các công trình tiêu biểu sau:

2.1 Đề tài khoa học và sách

- Nguyễn Quốc Triệu (Chủ nhiệm) (2003), Hoạt động của đạo Tin lành

tại Thủ đô Hà Nội: Thực trạng - giải pháp, Đề tài khoa học cấp thành phố Đề

tài đã làm rõ thực trạng của đạo Tin lành tại Hà Nội qua đặc điểm, giáo lý, nghi lễ (so sánh với đạo Công giáo), quá trình phát triển và hoạt động của đạo Tin lành Hà Nội Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành tại Hà Nội thời gian qua, chủ yếu từ năm 1980 đến thời điểm nghiên cứu, qua đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành tại Hà Nội trong thời gian tới

- Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở

Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trên cơ sở làm rõ chính

sách tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả đã phân tích, chỉ ra năm nguyên tắc trong chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam gồm: Nguyên tắc tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh; nguyên tắc tự do tôn giáo dựa trên cơ sở một nhà nước theo thể chế thế tục; nguyên tắc đặt vấn đề tôn giáo trong phạm trù dân tộc; nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo phải đặt trong vấn đề văn hóa; nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo phải chống lợi dụng tôn giáo vào mục đích chống lại Tổ quốc

- Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam -

Trang 9

Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã

tổng kết một cách sâu sắc những quan điểm, đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta từ năm 1930 đến năm 2005; phân tích, làm sâu sắc hơn việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với việc khẳng định đường hướng tôn giáo đồng hành với chủ nghĩa xã hội ở

nước ta, chính sách tự do tôn giáo và chính sách đối với từng tôn giáo cụ thể

cũng được phân tích một cách sâu sắc Trên cơ sở đó, tác giả cũng chỉ rõ cần làm sâu sắc hơn những vấn đề như: Vấn đề pháp nhân tôn giáo; vấn đề đất đai, tài sản liên quan đến tôn giáo và vấn đề đối ngoại tôn giáo Trong đó, trước mắt cần giải các vấn đề như: Thể chế hóa hơn nữa quyền tự do tôn giáo; xác định rõ mô hình nhà nước thế tục; cần có luật về pháp nhân tôn giáo để giải quyết vấn đề đa dạng hóa tôn giáo ở Việt Nam hiện nay; chính sách để các tôn giáo tham gia xã hội hóa giáo dục, y tế, hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và sớm hoàn thiện, ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

- Hoàng Minh Đô (Chủ nhiệm) (2006), Thực trạng, xu hướng phát triển

của đạo Tin lành và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý, Đề

tài khoa học cấp nhà nước, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài

đã khái quát một cách đầy đủ về đạo Tin lành ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng: Tây Nguyên, Tây Bắc; thực trạng của đạo Tin lành, nguyên nhân, ảnh hưởng và xu hướng phát triển, những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành ở nước ta hiện nay; từ đó đề xuất giải pháp cho công tác lãnh đạo, quản lý

- Max Weber (2008), Nền đạo đức Tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư

bản, Nxb Tri thức, Hà Nội Dưới góc độ một nhà xã hội học nhìn nhận về

vấn đề tôn giáo, Max Weber cho rằng nền đạo đức đạo Tin lành có nhiều ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Theo ông, nền đạo đức đạo Tin lành phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa tư bản, vì vậy đã tạo ra

Trang 10

những động lực cần thiết và thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

Đỗ Quang Hưng (2010), Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long

-Hà Nội, Nxb -Hà Nội, -Hà Nội Cuốn sách là công trình đầu tiên đề cập khá đầy

đủ và hệ thống về tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Hà Nội trong lịch sử và hiện

tại Cuốn sách đã nêu lên được đặc điểm “không gian thiêng” của Thăng Long

- Hà Nội với “kết cấu ba vòng” được kết hợp hài hòa với một “không gian quyền lực” xã hội của Kinh thành và làm rõ đặc điểm của 7 tôn giáo ở Hà Nội

gồm: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài và Islam

giáo từ khi du nhập đến năm 2007, làm sâu sắc “đời sống tôn giáo, tín ngưỡng” của Thăng Long - Hà Nội qua ba giai đoạn: không gian tôn giáo của

xã hội cổ truyền, thời cận đại và thời kỳ hiện nay (thời điểm nghiên cứu 2010)

- Phạm Gia Thoan (2012), Đạo Tin lành - Tri thức cơ bản, Nxb Từ

điển bách khoa, Hà Nội Cuốn sách trình bày quá trình hình thành và phát

triển của đạo Tin lành, quá trình du nhập của đạo Tin lành vào Việt Nam; các

cơ sở thờ tự và sự phát triển của đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay

- Ngô Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo từ quan điểm Mác - Lênin

đến thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Cuốn sách đã

phân tích những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tính cách là cơ sở lý luận của chính sách và công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước và công tác tôn giáo của hệ thống chính trị do Đảng ta lãnh đạo Tác giả cũng phân tích làm rõ khái niệm và nội dung của công tác tôn giáo, đồng thời chỉ ra tính đặc thù của công tác tôn giáo so với các công tác khác Từ đó, làm rõ nội dung, nhiệm vụ và giải pháp đối với công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, trong đó việc quản lý nhà nước về tôn giáo có vai trò quan trọng

- ThS Phạm Công Thoan (Chủ nhiệm) (2016), Nâng cao hiệu quả

quản lý nhà nước về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở Việt Nam, đề

tài khoa học cấp bộ, Viện Khoa học tổ chức nhà nước Đề tài được kết cấu

Trang 11

gồm 3 chương Trong Chương 1, đề tài làm rõ được khái niệm “sinh hoạt tôn giáo”, phân loại các hình thức sinh hoạt tôn giáo, vai trò của các hình thức sinh hoạt tôn giáo, nguồn gốc hình thành cộng đồng người nước ngoài tại Việt Nam và nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của họ Chương 2, đề tài làm rõ thực trạng sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở Việt Nam qua 2 giai đoạn: 1990-

2004 và từ 2004 đến nay, trong đó nhóm nghiên cứu có đề cập đến tình hình sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở một số địa phương như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu… Đây là những địa phương có đông người nước ngoài tới làm ăn sinh sống Ở mỗi địa phương qua điều tra, nghiên cứu, đề tài đã chỉ ra những biểu hiện đặc thù về thực trạng sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại địa phương đó Cùng với đó, đề tài đã khái quát được các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam và các giải pháp đối với công tác quản lý sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam Ở Chương 3, trên cơ sở dự báo tình hình, đề tài

đã đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản

lý nhà nước về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở Việt Nam

- Lê Văn Lợi (Chủ nhiệm) (2017), Điều tra, khảo sát sự biến đổi về văn

hóa - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số sau khi gia nhập đạo Tin lành ở Tây Bắc, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá sự biến đổi văn hóa - xã hội

vùng đồng bào dân tộc thiểu số sau khi gia nhập đạo Tin lành ở Tây Bắc;

đánh giá thực trạng, từ đó đưa ra quan điểm, giải pháp, kiến nghị nhằm nâng

cao đời sống văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành

ở Tây Bắc

- Nguyễn Khắc Đức (2017), Đạo Tin lành trong vùng dân tộc Mông và

Dao ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội

Trang 12

Cuốn sách góp phần tìm hiểu về đạo Tin lành trong vùng dân tộc Mông và

Dao ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1987 đến nay Đồng thời, khái quát

đặc điểm, xu hướng biến động của đạo Tin lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian qua

- Nguyễn Thanh Xuân, Lê Tâm Đắc (2019), Đời sống tôn giáo ở Việt

Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Nội dung cuốn sách tìm

hiểu về chính sách tôn giáo và những yếu tố tác động đến đời sống tôn giáo Trên cơ sở đó, các tác giả nghiên cứu đời sống tôn giáo Việt Nam và tác động

xã hội của đời sống tôn giáo Việt Nam thời kỳ đổi mới

2.2 Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ

- Tống Thị Lan (2013), Quản lý hoạt động của đạo Tin lành ở huyện

Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa hiện nay, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý

xã hội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành vùng dân tộc Hmông ở huyện Mường Lát, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

- Bùi Hữu Dược (2014), Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ

năm 1975 đến nay, luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học, Học viện Khoa

học xã hội, Hà Nội Luận án đã góp phần làm rõ tính tất yếu và yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước về tôn giáo trong quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm

1975 đến năm 2013, từ đó đưa ra dự báo tình hình tôn giáo Việt Nam và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt

Nam trong thời gian tới

Trang 13

- Dương Ngọc Kiên (2014), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn

giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa

học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã tập trung nghiên cứu trên phương diện quản lý nhà nước của chính quyền và hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội đối với hoạt động của các tôn giáo, gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Baha’i, Hồi giáo, Minh sư đạo trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014 Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới

- Lương Thị Bằng (2015), Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo

Tin lành ở tỉnh Cao Bằng hiện nay, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng

Đảng và chính quyền nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn góp phần làm rõ quá trình du nhập, phát triển và những ảnh hưởng của đạo Tin lành ở Cao Bằng; đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở tỉnh Cao Bằng trong thời gian tới

- Đàm Tuấn Anh (2018), Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện

nay, luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học, Học viện Khoa học xã hội

Luận án nghiên cứu về tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội từ khi

có chính sách đổi mới về công tác tôn giáo, với sự ra đời của Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới cho đến nay, khi mà Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 Trên cơ sở lý luận, phân tích, làm rõ thực trạng tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội, luận án dự báo tình hình tôn giáo, một số xu hướng tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội trong thời gian tới và đề xuất một số khuyến nghị giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo trên địa bàn Hà Nội hiện nay

Trang 14

- Lò Văn Phong (2018), Thực thi chính sách quản lý nhà nước đối với

đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên, luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Chính sách công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách quản

lý nhà nước đối với đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên, luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao kết quả thực thi chính sách quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên trong thời gian tới

2.3 Các bài báo khoa học

- Nguyễn Thị Ngà (2015), đạo Tin lành ở Tây Nguyên và một số yêu

cầu đối với công tác quản lý nhà nước trong tình hình hiện nay, Tạp chí Triết

học, số 6(289), tr.61-67

- Trần Xuân Dung (2017), Một số vấn đề qua 10 năm thực hiện Chỉ thị

của Thủ tướng Chính phủ về công tác đối với đạo Tin lành ở tỉnh Lai Châu,

Tạp chí Cộng sản Chuyên đề cơ sở, số 121 (1/2017), tr.53-56

- Mai Minh Nhật (2018), Đạo Tin lành trong cộng đồng người Cơho

Chil ở Lâm Đồng, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 4, tr.78-95

- Hoàng Thị Lan (2018), Đời sống văn hóa - xã hội của người Mông

theo đạo Tin lành ở Tây Bắc hiện nay, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số

7, tr.54-60

- Lê Hùng Yên (2018), Sự phát triển của các hệ phái đạo Tin lành góp

phần đa dạng tôn giáo vùng Tây Nam Bộ, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 8

(176), tr.84-98

- Trần Thị Hồng Yến (2019), Một số đặc điểm của đạo Tin lành ở vùng

miền núi phía Bắc trong so sánh với Tây Nguyên và những vấn đề đặt ra về công tác tôn giáo hiện nay, Tạp chí Dân tộc học, số 6, tr.80-90

- Nguyễn Xuân Hùng (2019), Cộng đồng Tin lành tại Việt nam với việc

thực thi chính sách pháp luật về bình đẳng tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu tôn

Trang 15

giáo, số 12 (192), tr.35-63

Các công trình nghiên cứu nêu trên có giá trị về lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý hoạt động tôn giáo nói chung, đạo Tin lành nói riêng Song

có thể thấy đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống

về đề tài “Quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn

thành phố Hà Nội hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, luận văn đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đạo Tin lành

của người nước ngoài

Hai là, khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đạo Tin

lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội; trong đó tác giả nêu lên những kết quả đạt được, những hạn chế cần khắc phục cũng như phân tích các nguyên nhân của những kết quả, hạn chế trong quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua

Ba là, phân tích các quan điểm chỉ đạo và đề xuất các giải pháp tăng

cường quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý hoạt động đạo Tin lành

Trang 16

của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 2012 đến nay

- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, về công tác tôn giáo, quản lý nhà nước về tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử

và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgic - lịch sử, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

- Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn phân tích để rút ra một số kinh nghiệm trong quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp khả thi góp phần tăng cường quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Đề tài làm rõ về nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động Tin lành của người nước ngoài

- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quản lý hoạt động

Trang 17

đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số tỉnh, thành có tình hình tương tự; làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy quản lý nhà nước về tôn giáo và những vấn đề liên quan đến đạo Tin lành, quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương, 06 tiết

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH

CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Khái niệm đạo Tin lành

Tên gọi của mỗi tôn giáo đều mang một ý nghĩa riêng, có khi nó liên quan đến một địa danh, một nhân vật sáng lập, một điển tích lịch sử hay mỗi xu hướng giáo lý, thần học Cũng có khi tên gọi của một tôn giáo xác định mối quan hệ mang tính lịch sử Tên gọi của đạo Tin lành, có một ý nghĩa riêng và chỉ rõ mối quan hệ giữa đạo Tin lành với các tôn giáo trong Kitô giáo

Vào đầu Công nguyên, ở vùng Trung Cận Đông thuộc vùng đất của đế quốc La Mã xuất hiện một tôn giáo mới thờ Đấng Cứu thế - ngôi hai Thiên Chúa, tiếng Hy Lạp là Jésus Christ Danh xưng Jésus Christ dịch qua tiếng Việt là Giê-su Ki-ri-xi-tô, gọi tắt là Giêsu Kitô; chữ Jesus dịch qua âm Hán là Gia tô; chữ Christ là Cơ đốc Như vậy, đạo thờ Đấng Cứu thế có những tên gọi theo cách dịch khác nhau: đạo Kitô, đạo Giatô, đạo Cơ đốc Từ tôn giáo địa phương thế kỷ IV đạo Kitô trở thành tôn giáo của đế quốc La Mã rộng lớn

và thường được gọi là Catholic Thực ra tên gọi Catholic có từ rất sớm để chỉ những cộng đồng Kitô giáo ban đầu và nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Katholikos có nghĩa là chung (General), là thông thường (Common) hay toàn

bộ (Universal) Sau này, khi Kitô giáo phân rẽ thành Công giáo Rôma, Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo thì trong nhiều trường hợp Catholic (Công giáo) vẫn chỉ toàn bộ truyền thống Kitô giáo Ở Việt Nam, Catholic gọi là Công giáo, có một thời kỳ người Việt Nam gọi Công giáo là Thiên Chúa giáo

Trang 19

Gọi như vậy không đúng vì cả Chính thống giáo, Tin lành, Anh giáo đều thờ Thiên Chúa Thấy thế, có người bổ sung thêm từ Rôma và gọi là đạo Thiên Chúa hệ Rôma Cách gọi này có vẻ rõ hơn nhưng xem ra cũng không chuẩn xác, nên đã trở lại tên gọi chính thức của nó là: đạo Công giáo

Đến thế kỷ XI, cụ thể là năm 1054 Ki-tô giáo diễn ra cuộc đại phân liệt lần thứ nhất, một bên theo văn hoá Hy Lạp, một bên theo văn hoá La tinh, gọi

là phân liệt Đông - Tây, hình thành tôn giáo mới ở phương Đông: Chính thống giáo (Orthodoxism) Tên gọi này biểu lộ quan điểm (Dox) thẳng thắn

và đúng đắn (Ortho) của một "giáo thuyết về niềm tin chân thật" Đôi khi người ta gọi Chính thống giáo là Kitô giáo phương Đông Thậm chí trong một

số văn cảnh, người ta dùng các từ Đông phương, Hy Lạp, Constantinople để chỉ Chính thống giáo, các từ: Tây phương, La tinh, Rôma để chỉ Công giáo

Thế kỷ XVI, cuộc đại phân liệt lần thứ hai diễn ra trong Công giáo, hình thành một tôn giáo mới - đạo Tin lành Giáo hội Công giáo và phong kiến châu Âu gọi là đạo chống đối - Protestantism, khi sang Trung Quốc, Protestantism dịch qua Hán gọi là "đạo Thệ phản" Cuộc đại phân liệt lần thứ hai thực chất là cuộc cải cách tôn giáo, cho nên trong nhiều trường hợp người

ta còn gọi đạo Tin lành là "đạo Cải cách" (Reformism) Đạo Tin lành truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XX, ở miền Bắc được gọi theo cách của người Trung Quốc là “đạo Thệ phản”, ở miền Trung gọi là “đạo Giatô”, ở miền Nam gọi là “đạo Huê Kỳ” Đầu những năm 20, 30 của thế kỷ XX giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội Truyền giáo Cơ đốc - CMA, cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh thánh ra tiếng Việt Nam, hai ông không dịch Phúc âm (Evangelical) là “Tin mừng” như đạo Công giáo, mà dịch là “Tin lành” Cách gọi Phúc âm là Tin lành của những người theo đạo Cải cách (Thệ phản) dần dần thành thói quen và nhất là nó phân biệt được với đạo Công giáo nên người ta gọi luôn đạo Cải cách là đạo Tin lành cho đến ngày nay

Trang 20

cách theo cách riêng ở nước Anh hình thành Anh giáo - Angelicalsm

Như vậy, Kitô giáo hay Cơ đốc giáo bao gồm: Công giáo (Catholic), Chính thống giáo (Orthodoxsm), Tin lành (Protestantism), Anh giáo (Angelicalism), hay nói cách khác, đạo Tin lành là “anh em” cùng một gốc với đạo Công giáo, đạo Chính thống và Anh giáo

1.1.1.2 Khái niệm hoạt động Tin lành của người nước ngoài

* Khái niệm người nước ngoài

Hiện nay ở Việt Nam, định nghĩa về người nước ngoài được quy định ở nhiều văn bản

Theo Khoản 1 Điều 3, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014, “người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”

Như vậy có thể hiểu, người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch người nước ngoài và người không quốc tịch

Theo Điều 3 khoản 1 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam Cũng theo khoản 2 Điều này thì người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài

* Khái niệm hoạt động Tin lành của người nước ngoài

Hoạt động đạo Tin lành là hoạt động truyền bá, sinh hoạt và quản lý tổ chức đạo Tin lành

Truyền bá đạo Tin lành (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của đạo Tin lành Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin của các tín đồ được củng cố, luật lệ của đạo Tin lành được tín đồ thực hiện Đối với những người chưa phải là tín đồ, hoạt động

Trang 21

truyền đạo giúp họ hiểu, tin và theo đạo Tin lành

Tổ chức đạo Tin lành là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của đạo Tin lành được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo Hoạt động quản lý tổ chức của đạo Tin lành nhằm thực hiện quy định của giáo luật, hiến chương, điều lệ của đạo Tin lành, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức Tin lành

Pháp luật quy định về quyền sinh hoạt tôn giáo (trong đó có đạo Tin lành) tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, đó là được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở tôn giáo như tín đồ tôn giáo Việt Nam Nếu họ có nhu cầu tập trung để sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở tôn giáo hợp pháp ở Việt Nam thì có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do Nghĩa vụ của người nước ngoài phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật có liên quan Trong thực tế khi thực hiện quyền này, nhiều cơ sở tôn giáo của Việt Nam không đủ rộng; chức sắc, nhà tu hành không biết nhiều ngôn ngữ để giúp cho người nước ngoài thực hiện các lễ nghi tôn giáo; nhiều tôn giáo người nước ngoài theo nhưng hiện ở Việt Nam chưa có hoặc chưa được công nhận; có sự khác biệt về nghi lễ, giáo

lý, đức tin giữa tôn giáo họ theo với tôn giáo ở Việt Nam nên mong muốn Nhà nước Việt Nam cho phép mượn hoặc thuê địa điểm không phải là cơ sở tôn giáo để sinh hoạt tôn giáo riêng.… điều này đã hạn chế quyền sinh hoạt tôn giáo tập trung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài Pháp luật quy định: Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo tập trung tại cơ sở tôn giáo hoặc tại địa điểm hợp pháp khác gửi

hồ sơ đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm dự kiến sinh hoạt tôn giáo tập trung Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày

Trang 22

nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do

Như vậy, hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài là hoạt động truyền bá, sinh hoạt và quản lý tổ chức đạo Tin lành của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, họ được tạo điều kiện sinh hoạt đạo Tin lành tại cơ

sở Tin lành như tín đồ Tin lành Việt Nam

1.1.1.3 Khái niệm quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu khác nhau, song đều thống

nhất ở hai nội dung: Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý; Thứ hai, mục tiêu của

quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động (vận hành) phù hợp với

ý chí của chủ thể quản lý đặt ra từ trước Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái quát về khái niệm quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt

ra từ trước

Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội được đặt ra từ khi lao động của con người bắt đầu được xã hội hóa Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành

vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành Khi Nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm

Hiện nay, khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa

rộng: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng quyền

lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến

hành để thực hiện chức năng của Nhà nước đối với xã hội Nghĩa hẹp: Quản

Trang 23

lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp)

Từ khái niệm quản lý nhà nước đã trình bày ở trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý hoạt động của người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo theo hai nghĩa

sau: Nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền Lập pháp,

Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình và hành vi hoạt động Tin lành của tổ chức, cá nhân nước ngoài diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ

thể của chủ thể quản lý Nghĩa hẹp: Là một dạng quản lý xã hội mang tính

quyền lực nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các quá trình và mọi hành vi hoạt động Tin lành của tổ chức, cá nhân nước ngoài diễn ra theo đúng yêu cầu của pháp luật

Cũng giống như công tác quản lý hoạt động tôn giáo nói chung, quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài là hoạt động của các cơ quan chức năng sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài theo đúng yêu cầu của pháp luật, phù hợp với mục đích chung và trong khuôn khổ của luật pháp

Như vậy, quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài là quá

trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của của người nước ngoài phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu quản lý đặt ra

1.1.2 Đặc điểm quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

1.1.2.1 Đặc điểm về chủ thể quản lý

Theo nghĩa rộng, chủ thể quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp (Quốc hội

Trang 24

và hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp), các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp (viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân)

Theo nghĩa hẹp, chủ thể quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp (Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp), các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý ngành, lĩnh vực như: Bộ Công an, Ban Tôn giáo Chính phủ…

Bên cạnh đó, quan điểm của Đảng ta đối với công tác tôn giáo đã xác định rõ: Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn Như vậy, có thể thấy rằng, quản lý đối với hoạt động tôn giáo nói chung, quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài nói riêng được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, trong đó trực tiếp và chịu trách nhiệm chính

là Ban Tôn giáo Chính phủ

1.1.2.2 Đặc điểm về khách thể và đối tượng quản lý

* Đặc điểm về khách thể quản lý:

Khách thể quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài là những hoạt động, các mối quan hệ xã hội nảy sinh giữa người nước ngoài theo đạo Tin lành với Nhà nước Việt Nam khi họ thực hiện các hoạt động tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam

Quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài nhằm đảm bảo trật tự quản lý trong hoạt động Tin lành của người nước ngoài

* Đặc điểm về đối tượng quản lý:

Đối tượng quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài gồm

Trang 25

chức sắc, nhà tu hành, các tín đồ, chức sắc, nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ

sở vật chất và xã hội của đạo Tin lành và địa điểm sinh hoạt đạo Tin lành

Chức sắc là những người được tổ chức đạo Tin lành lựa chọn, đào tạo

cơ bản, do đó năng lực, trình độ của họ khá cao và được tổ chức đạo Tin lành phong chức, phong phẩm, bầu cử và suy cử Họ đại diện ở những mức độ khác nhau cho các tổ chức đạo Tin lành, họ vừa chăn dắt tín đồ vừa quản lý hành chính đạo theo thẩm quyền Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất gần gũi với tín đồ, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của tín đồ, do đó

họ có vị trí, vai trò ảnh hưởng rất sâu sắc trong tín đồ

Tín đồ là những người tin theo đạo Tin lành và được tổ chức đạo Tin lành thừa nhận Là người có tín ngưỡng tôn giáo họ có niềm tin ở Chúa, tình cảm đời sống tâm linh ở nhiều mức độ khác nhau và họ có quyền lợi do giáo hội qui định, họ phải hành đạo theo giáo luật Đây chính là đặc điểm quan trọng mà chủ thể quản lý hoạt động của người nước ngoài sinh hoạt đạo Tin lành cần nắm vững

1.1.3 Vai trò quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Thứ nhất, bảo đảm quyền quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người

nước ngoài, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người đã được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc nghi nhận Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó

là một trong những quyền cơ bản của con người Đảng ta khẳng định: “Tín

ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật” Cùng với bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người

Trang 26

nước ngoài, phải bảo đảm cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo được thực hiện các hoạt động tôn giáo và hành đạo một cách thuận lợi, nhằm đảm bảo quyền này Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Thứ hai, phát huy những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế,

tiêu cực trong hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Tính hai mặt của tôn giáo ở nước ta hiện nay là rất rõ, do đó quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài phải phát huy và khơi dậy được những yếu tố tích cực của tôn giáo, như tính hướng thiện, từ bi, bác ái của tôn giáo trong các mối quan hệ của xã hội Tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia cùng Nhà nước giải quyết những vấn đề của xã hội như: hoạt động từ thiện, cứu trợ nhân đạo, xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế Bên cạnh đó, chúng ta phải tăng cường cảnh giác đề phòng những âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Thứ ba, gắn kết giữa đồng bào trong nước với người nước ngoài sinh

hoạt đạo Tin lành, tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo luôn là truyền thống quý báu và bài học quan trọng, là tiền đề của mọi thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước kia và công cuộc xây dựng đất nước hiện

nay, đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại

đoàn kết - thành công, thành công, đại thành công” Trong công tác tôn giáo nói chung và quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài nói riêng, mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề quan trọng khi tôn giáo luôn là công cụ, phương tiện để các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng nhằm thực hiện âm mưu thâm độc chia rẽ dân tộc

Thứ tư, tăng cường vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt

Trang 27

động tôn giáo, trong đó có hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Trong thực tế, tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được nhà nước thừa nhận, do vậy phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước Mọi hành vi nhằm biến các tổ chức tôn giáo thành lực lượng đối trọng với nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước đều là bất hợp pháp Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật của nhà nước đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Thực hiện tốt được những điều trên, một mặt vai trò quản lý của nhà nước về tôn giáo được tăng cường, mặt khác đưa các hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật, định hướng cho tín đồ, chức sắc tôn giáo đồng hành cùng nhân dân cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.2 Nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

1.2.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Một là, đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài

Điều 6, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của con người, đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người Tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội Tuy nhiên, mức độ của niềm tin, sự tôn thờ ấy ở mỗi con người, mỗi cộng đồng người, mỗi giai đoạn lịch sử là khác nhau Niềm tin tôn giáo khó áp đặt cũng không

dễ tước đoạt, nó tồn tại như nhu cầu khách quan của đời sống hiện thực Vì

Trang 28

vậy, tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng có nghĩa là con người được tự nguyện hướng tới một lực lượng siêu nhiên, đồng thời cũng có quyền khước từ hoặc loại bỏ niềm tin đã có Tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng có nghĩa là không chấp nhận sự độc tôn hoặc tham vọng thôn tính của tôn giáo này đối với tôn giáo khác, càng không thể áp đặt hoặc gạt bỏ thông qua quyền lực chính trị Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là vô giới hạn, vì quyền của người này, cộng đồng này khi vượt qua giới hạn nào đó có thể vi phạm vào quyền chính đáng của những người khác Tự do theo nghĩa chân chính là tự do của người này, cộng đồng này không vi phạm đến tự do của người khác và cộng đồng khác Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, Nhà nước có trách nhiệm quản lý và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và tổ chức tôn giáo sao cho những hoạt động ấy diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, không ảnh hưởng đến xã hội và nhu cầu tâm linh của nhân dân

Hai là, đảm bảo mọi người bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật

Đây là nguyên tắc của thể chế dân chủ, có tính phổ quát ở nhiều quốc gia Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, đến nay Hiến pháp Việt Nam đã được

bổ sung nhiều lần với những quy định rõ ràng về các quyền con người được Hiến pháp bảo vệ trên tất cả các mặt dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; các quyền riêng trong xã hội, đặc biệt là quyền trẻ em, phụ nữ, các dân tộc thiểu số, quyền bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Vì vậy, không phân biệt nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, mọi người theo tôn giáo và không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Đây là nguyên tắc đồng thời cũng là nội dung quan trọng của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Trang 29

Ba là, thống nhất giữa hoạt động đạo Tin lành và bảo tồn giá trị văn hóa

Hoạt động của đạo Tin lành bao giờ cũng thể hiện qua sinh hoạt vật chất của con người Tín ngưỡng, lòng tin được vật chất hóa trong đời sống xã hội thể hiện qua kinh sách, luật lệ, lễ nghi Các cơ sở thờ tự của đạo Tin lành thường là nơi thờ phụng của tín đồ, đồng thời cũng là nơi giữ gìn văn hóa vật thể và phi vật thể Những công trình kiến trúc, những tác phẩm hội họa, điêu khắc, những bản nhạc, bài ca, y phục đến trang trí, bày biện thực hiện các nghi thức của đạo Tin lành đều thể hiện nét văn hóa đặc trưng của đạo Tin lành Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa đích thực vẫn còn những hiện tượng phản văn hóa, những hủ tục cũ trỗi dậy, mê tín dị đoan gia tăng, thương mại hóa trong đạo Tin lành phát triển Những hiện tượng ấy trà trộn, thẩm thấu vào sinh hoạt Tin lành làm vẩn đục bầu không khí sinh hoạt đạo Tin lành lành mạnh Nhà nước quản lý hoạt động của người nước ngoài sinh hoạt đạo Tin lành phải vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời loại bỏ dần những hiện tượng phản văn hóa trong sinh hoạt đạo Tin lành

Bốn là, đảm bảo lợi ích thống nhất, hài hòa lợi ích cá nhân, cộng đồng

và quốc gia, dân tộc

Đối với tín đồ đạo Tin lành, nhu cầu tâm linh của họ được nhà nước coi trọng và tạo mọi điều kiện để họ đáp ứng nhu cầu ấy Nhưng ở vào một thời điểm nào đó đứng trước nhiều nhu cầu thì ở đây đòi hỏi tín đồ phải giải quyết hài hòa, thỏa đáng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích chung của xã hội Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết tốt các xung đột, mâu thuẫn xuất hiện giữa các chủ thể nói trên

Năm là, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền lấy pháp luật làm trung tâm, đề cao pháp luật, lấy pháp luật làm tiêu chuẩn cao nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống pháp luật về hoạt động tôn giáo nói chung, Tin lành nói riêng của người nước ngoài đã

Trang 30

được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Hệ thống văn bản này tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, tạo điều kiện cho người nước ngoài hoạt động đạo Tin lành bình thường ở Việt Nam Hoạt động tôn giáo của người nước ngoài phải theo đúng các quy định của pháp luật Mọi hành vi

vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm phương hại đến nền văn hóa lành mạnh của Việt Nam

và hoạt động mê tín dị đoan đều bị lên án và xử lý vi phạm theo luật định

1.2.2 Nội dung quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Thứ nhất, quản lý tổ chức đạo Tin lành

Tổ chức đạo Tin lành là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của đạo Tin lành được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo Hoạt động quản lý tổ chức đạo Tin lành nhằm thực hiện quy định của giáo luật, hiến chương, điều lệ của

tổ chức đạo Tin lành, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức đạo Tin lành Hiện nay, cùng với xu hướng hội nhập, nhiều tổ chức đạo Tin lành, tổ chức đạo Tin lành trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ thuộc các tổ chức đạo Tin lành ở Việt Nam có các mối quan hệ ở các mức độ khác nhau với các tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài Từ thực tế này đặt ra một yêu cầu cần phải có những quy định của pháp luật phù hợp với đời sống thực tiễn của hoạt động đạo Tin lành có yếu tố nước ngoài

Thứ hai, quản lý về đại hội, hội nghị của tôn giáo đạo Tin lành

Điều 45, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định Đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng

ký hoạt động tôn giáo: Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trước khi tổ chức đại hội có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với việc tổ chức

Trang 31

đại hội của tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một huyện trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do; Cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với việc tổ chức đại hội của

tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở nhiều huyện thuộc một tỉnh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do; Đối với việc tổ chức đại hội không thuộc quy định trên, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương

có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận

đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do

Thứ ba, quản lý về xây dựng, sửa chữa cơ sở thời tự

Điều 58, 59 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo thực hiện như quy định của pháp luật về xây dựng đối với các công trình, nhà ở riêng lẻ xây dựng trong đô thị, trung tâm cụm xã, trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa, cách mạng Việc tu bổ, phục hồi cơ sở tín ngưỡng, cơ

sở tôn giáo là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng; việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình phụ trợ thuộc các cơ sở này thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và pháp luật về xây dựng Việc di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về xây dựng

Thứ tư, quản lý sinh hoạt đạo Tin lành của người nước ngoài

Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt

Trang 32

Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Người nước ngoài

cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền: Sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo…

Thứ năm, quản lý việc tham gia khóa đào tạo về Tin lành

Theo quy định của pháp luật, người nước ngoài được theo học tại trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo ở Việt Nam Tuy nhiên, để được theo học tại các trường này, người nước ngoài phải tuân thủ các quy định về xuất, nhập cảnh và các quy định pháp luật khác có liên quan; được Ban lãnh đạo nhà trường đồng ý và làm thủ tục đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương xem xét, quyết định Điều 8, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng quy định: Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam

Thứ sáu, quản lý hoạt động từ thiện, nhân đạo của người nước ngoài

theo đạo Tin lành

Từ thiện là hoạt động không thể thiếu của mọi tôn giáo Hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo rất đa dạng với nhiều hính thức và cấp độ khác nhau Trên thực tế, các hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo, ở phương diện nào đó

đã góp phần chia sẻ những gánh nặng về giải quyết vấn đề xã hội với Nhà nước Điều 20, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định: Hoạt động tôn giáo của

tổ chức sau khi được cấp đăng ký thì được phép tham gia hoạt động từ thiện,

Trang 33

nhân đạo

1.2.3 Phương pháp quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Một là, phương pháp giáo dục thuyết phục

Xuất phát từ quan điểm: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng” Do vậy, trong quản lý hoạt động tôn giáo nói chung, hoạt động đạo Tin lành nói riêng thì phương pháp giáo dục, thuyết phục có thể coi là phương pháp hàng đầu quyết định đến hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nội dung cơ bản của phương pháp này là tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cho người nước ngoài để mọi người (người có đạo hoặc không có đạo) hiểu và thực hiện đúng…

Hai là, phương pháp tổ chức hành chính

Phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý Phương pháp này có vai trò to lớn trong công tác quản lý nhằm xác lập trật tự, kỷ cương trong tổ chức; giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý một cách nhanh chóng và là khâu nối các phương pháp khác thành một hệ thống Đây là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính buộc các đối tượng quản lý phải phục tùng Trong quản lý hoạt động đạo Tin

lành của người nước ngoài, phương pháp này cũng hết sức cần thiết

Ba là, phương pháp cưỡng chế

Phương pháp cưỡng chế là phương pháp sử dụng quyền lực của nhà nước buộc các đối tượng quản lý được làm hoặc không được làm những công việc nhất định Biện pháp cưỡng chế được thể hiện dưới các hình thức: đưa ra các điều cấm trong các văn bản pháp luật, quy định các chế tài đối với hành vi

vi phạm những điều cấm đó Mức độ xử lý đối với các hành vi vi phạm những điều cấm đoán tùy thuộc vào mức độ vi phạm Trong thực tế, nếu có tổ chức

Trang 34

cá nhân nào lợi dụng các hoạt động đạo Tin lành vi phạm pháp luật, khi đã được các cơ quan có thẩm quyền nhắc nhở, giáo dục, thuyết phục nhiều lần những vẫn cố tình vi phạm, tất yếu chúng ta phải sử dụng phương pháp cưỡng chế của pháp luật để bắt buộc tổ chức, cá nhân đó phải tuân thủ đúng pháp luật

Trang 35

Tiểu kết Chương 1

Quản lý hoạt động của người nước ngoài sinh hoạt đạo Tin lành là quá

trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của của người nước ngoài phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu quản lý đặt ra Quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài nhằm bảo đảm quyền quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật; phát huy những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế, tiêu cực trong hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài; gắn kết giữa đồng bào trong nước với người nước ngoài sinh hoạt đạo Tin lành, tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tăng cường vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, trong đó có hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài

Nội dung quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài gồm:

1) Quản lý tổ chức Tin lành; 2) Quản lý về đại hội, hội nghị của tôn giáo Tin

lành; 3) Quản lý về xây dựng cơ sở Tin lành; 4) Quản lý nội dung sinh hoạt Tin lành của người nước ngoài; 5) Quản lý việc tham gia khóa đào tạo Tin lành của người nước ngoài; 6) Quản lý hoạt động từ thiện, nhân đạo của người nước ngoài sinh hoạt đạo Tin lành Phương pháp quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài gồm: phương pháp giáo dục thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính, phương pháp cưỡng chế

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẠO TIN LÀNH

CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của thành phố

Hà Nội

Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam tiếp giáp với tỉnh Hà Nam, Hòa Bình; phía Đông tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang,

Bắc Ninh, Hưng Yên và phía Tây tiếp giáp với tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ

Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa X và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29/05/2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô bao gồm: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân

số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người

Hiện nay, Hà Nội gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã,

577 xã, phường, thị trấn Các quận gồm: Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai

Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Long Biên, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hà Đông; và 1 thị xã: Sơn Tây Các huyện gồm: Ba Vì, Chương Mỹ, Phúc Thọ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê

Trang 37

Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Thanh Trì

Hà Nội là trung tâm thương mại, trung tâm công nghiệp lớn của cả nước cùng với bề dày lịch sử thì Hà Nội cũng là một địa bàn đầy tiềm năng, hấp dẫn thu hút khách du lịch ở khắp nơi trong nước và nước ngoài, từ lâu đời nét đặc trưng quan trọng của kinh tế Hà Nội chính là những nghề thủ công tinh xảo và nền thương mại tiểu thương, các hoạt động kinh tế này hiện vẫn phổ biến khắp trên địa bàn Thành phố Từ cuối những năm 1990, chính sách đổi mới và sự nghiệp CNH, HĐH đã tạo sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của Hà Nội cũng như của cả nước nói chung Những năm trở lại đây, đánh giá chung thì kinh tế Hà Nội đã đạt được những kết quả quan trọng Năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 7,46% - cao nhất trong

4 năm trở lại đây; xuất khẩu tiếp tục tăng cao (25,8%) Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 264.710 tỷ đồng, đạt 100,6% dự toán và tăng 7,4% (so với năm 2018), trong đó, thu nội địa ước đạt gần 244 nghìn tỷ đồng, tăng 8% Chi ngân sách địa phương ước thực hiện 83.729 tỷ đồng, đạt 82,9% dự toán đầu năm, trong đó: chi đầu tư phát triển đạt 90,6% dự toán sau điều chỉnh; chi thường xuyên đạt 98,6% dự toán đầu năm Chỉ số PCI năm 2018 xếp thứ 9/63, hoàn thành sớm 2 năm mục tiêu nhiệm kỳ Đầu tư nước ngoài đạt 8,05 tỷ USD, tiếp tục dẫn đầu cả nước, cao nhất kể từ 30 năm

mở cửa và hội nhập Doanh nghiệp thành lập mới tăng cả về số lượng (11%)

và vốn đăng ký (30%)

Hà Nội còn là nơi có trụ sở của Trung ương Giáo hội một số tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) Do vậy, những diễn biến và hoạt động tôn giáo luôn là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, khó khăn và có ảnh hưởng đến việc chấp hành chính sách pháp luật và tình hình

an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội Thủ đô

Trang 38

Hiện nay, Hà Nội có 7 tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và 1 ban đại diện được công nhận về tổ chức là: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, đạo Baha’I, Minh sư đạo, Ban đại diện Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô Với tổng số tín độ hơn 55 vạn người, 2.500 chức sắc, hơn 5.000 chức việc, trên 2.400 cơ sở thờ tự; tín ngưỡng truyền thống có hơn 3.211 di tích

2.1.2 Tình hình đạo đạo Tin lành và hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

* Tình hình đạo Tin lành trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hà Nội là nơi có đạo Tin lành sớm hơn so với các địa phương khác trên địa bàn cả nước Con đường bắt rễ vào văn hóa Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng của đạo Tin lành không thuận lợi như Công giáo, vì nhiều lý do khác nhau Số lượng tín đồ gia tăng chậm, vị thế của giáo hội cũng chưa được coi trọng như mong muốn Đến năm 1958, dưới sự hỗ trợ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Giáo hội Tin lành mới chính thức có tư cách pháp nhân và đến nay, Hà Nội là nơi có đông đảo tín đồ, nhiều tổ chức, hệ phái, chi hội, điểm nhóm, đặc biệt là người nước ngoài theo đạo Tin lành [65, tr.63]

Tính đến tháng 4/2019, trên địa bàn Hà Nội có 38 hệ phái, trong đó 9/38 hệ phái được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, cấp đăng ký hoạt động và 01 ban đại diện: Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Giáo hội

Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, Tổng hội Báp tít Việt Nam, Giáo hội Báp tít Việt Nam, Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam, Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Giáo hội Các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô, Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam, Hội thánh Liên hiệp truyền giáo; 189 điểm nhóm với khoảng hơn 10.000 tín đồ Trong đó, 6.000 tín đồ người Việt Nam, 2.400 tín đồ người Hàn Quốc, 1.000 tín đồ người nước ngoài thuộc 40 quốc tịch khác nhau đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội Số chức sắc (mục sư,

Trang 39

mục sư nhiệm chức, truyền đạo) khoảng 60 vị, trong đó được công nhận là 11

vị, còn lại là tự phong (thuộc các hệ phái Tin lành chưa được công nhận tư cách pháp nhân); số lượng chức việc khoảng 100 người [20, tr.1-2]

Đến nay, 86/189 điểm nhóm thuộc 38 tổ chức, hệ phái Tin lành trên địa bàn thành phố Hà Nội đã được cấp đăng ký sinh hoạt (trong đó, 8 điểm nhóm thuộc 5 tổ chức Tin lành đã được công nhận; 78/167 điểm nhóm thuộc 33 tổ chức, hệ phái Tin lành tư gia chưa được công nhận tư cách pháp nhân [20, tr.2]

* Tình hình hoạt động đạo Tin lành của người nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội

Hiện nay, Hà Nội có 8 điểm nhóm tín đồ Tin lành của người nước ngoài đang hoạt động và có thể chia thành 3 nhóm chính

Thứ nhất, nhóm đạo Tin lành người nước ngoài đã được Ủy ban nhân

dân thành phố chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (có 4 nhóm)

Nhóm đạo Tin lành Hàn Quốc tại Hà Nội do ông Tae Won Soo đại diện được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung tại tầng 2, 3 tòa nhà OCT Khu đô thị Cổ Nhuế Hội thánh Tin lành Hàn Quốc Saeong Myeong Na Mu Hà Nội hiện sinh hoạt tại tầng 6 tháp B Khu Hỗn hợp cao tầng văn phòng, dịch vụ, thương mại và nhà ở tại số 219 phố Trung Kinh, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội Hội thánh Sarang Hà Nội do ông Kim Dea Sek đại diện đăng

ký sinh hoạt tôn giáo tập trung tại khách sạn Bảo Sơn, số 50 đường Nguyễn Chí Thanh, đường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội Nhóm Tin lành Hàn Quốc Dòng sông Ân điển (Sông của Ân điển) do mục sư Song Myung Cheol phụ trách, tại tầng 1, 2 tòa nhà CT1, khu đô thị Mỹ Đình, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm

Thứ hai, nhóm đạo Tin lành người nước ngoài được Tổng hội Tin lành

Việt Nam (miền Bắc) bảo trợ hoạt động tôn giáo và đứng đại diện thuê mượn

Trang 40

địa điểm hợp pháp làm địa điểm sinh hoạt tôn giáo tạm thời (trước khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực)

Nhóm Bethel church do mục sư Simon Lee phụ trách giảng Kinh thánh, sinh hoạt tôn giáo tạm thời tại tầng 2, tòa nhà Detech số 8 phố Tôn Thất Thuyết, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm Nhóm Se Gye Ro (Hội thánh Thế giới) do mục sư Kim Kwang II phụ trách giảng Kinh thánh; địa điểm sinh hoạt tạm thời tại số 40 - TT4 Mỹ Đình, Khu đô thị Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm Cộng đồng người nước ngoài theo đạo Tin lành tại Hà Nội (Hanoi International Fellowship - HIF), số lượng đăng ký 630 người đến

từ hơn 50 quốc gia do mục sư Jacob Bloembeg làm đại diện; sinh hoạt tôn giáo tạm thời tại 3 địa điểm: Nhà thời Tin lành Hà Nội số 2 phố Ngõ Trạm, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm; 1 phòng Hội nghị tầng 2 Khách sạn Hanoi Club số 76 Yên Phụ, quận Tây Hồ; tầng 17 Tòa nhà Detech số nhà 8, phố Tôn Thất Thuyết, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm

Thứ ba, nhóm đạo Tin lành người nước ngoài đã hoạt động lâu dài trên

địa bàn thành phố Hà Nội những chưa thực hiện thủ tục đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung

Nhóm Phúc âm trọn vẹn Hà Nội (Hanoi full gospel church), sinh hoạt tôn giáo tại Villa D-30, The Manor, Mỹ Đình do mục sư Ban Gwan Soo đại diện với hơn 50 tín đồ [20, tr.2-3]

2.1.3 Tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo ở thành phố Hà Nội

Hiện nay, bộ máy làm công tác tôn giáo ở thành phố Hà Nội bao gồm: 1) Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố (Ban Chỉ đạo), với 15 thành viên

và Ban Dân vận Thành ủy là cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo, do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Thành ủy làm Trưởng ban, đồng chí Trưởng ban Ban Dân vận làm Phó Trưởng ban Thường trực, 02 đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố làm Phó Trưởng ban và đồng chí Trưởng ban Ban Tôn

Ngày đăng: 12/11/2021, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàm Tuấn Anh (2018), Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay, luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay
Tác giả: Đàm Tuấn Anh
Năm: 2018
2. Ban Bí thƣ Trung ƣơng (2004), Thông báo số 160-TB/TW về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 160-TB/TW về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong thời gian tới
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Năm: 2004
3. Ban Bí thƣ Trung ƣơng (2014), Kết luận số 101-KL/TW về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 101-KL/TW về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng
Năm: 2014
4. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (2013), Quyết định số 2204-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2204-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng
Năm: 2013
5. Ban Cán sự Đảng thành phố Hà Nội (2017), Công văn số 38-CV/BCS về tăng cường vận động, đoàn kết các tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 38-CV/BCS về tăng cường vận động, đoàn kết các tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Ban Cán sự Đảng thành phố Hà Nội
Năm: 2017
6. Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo thành phố Hà Nội (2011), Kế hoạch số 33- KH/BCĐ về việc giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến công tác tôn giáo trên địa bàn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 33-KH/BCĐ về việc giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến công tác tôn giáo trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo thành phố Hà Nội
Năm: 2011
7. Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo thành phố Hà Nội (2011), Báo cáo số 38- BC/BCĐ về một số vụ việc có tính chất phức tạp liên quan đến hoạt động tôn giáo trên địa bàn Thành phố (tính đến 30/6/2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 38-BC/BCĐ về một số vụ việc có tính chất phức tạp liên quan đến hoạt động tôn giáo trên địa bàn Thành phố (tính đến 30/6/2011)
Tác giả: Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo thành phố Hà Nội
Năm: 2011
8. Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội (2012), Báo cáo số 16- BC/BCĐ về kết quả công tác tôn giáo quý I và nhiệm vụ quý II/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 16-BC/BCĐ về kết quả công tác tôn giáo quý I và nhiệm vụ quý II/2012
Tác giả: Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội
Năm: 2012
9. Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội (2017), Kế hoạch số 35- KH/BCĐ về đấu tranh với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 35-KH/BCĐ về đấu tranh với việc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô
Tác giả: Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội
Năm: 2017
10. Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo số 48- BC/BCĐ kết quả công tác tôn giáo năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 48-BC/BCĐ kết quả công tác tôn giáo năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018
Tác giả: Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội
Năm: 2017
11. Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội (2018), Báo cáo số 51- BC/BCĐ về tình hình kết quả công tác tôn giáo quý I, nhiệm vụ công tác trọng tâm quý II năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 51-BC/BCĐ về tình hình kết quả công tác tôn giáo quý I, nhiệm vụ công tác trọng tâm quý II năm 2018
Tác giả: Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo Thành phố Hà Nội
Năm: 2018
12. Ban Thường vụ Thành ủy (2016), Quy định số 1316-QĐ/TU về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và quan hệ công tác của Ban Dân vận Thành ủy, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 1316-QĐ/TU về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và quan hệ công tác của Ban Dân vận Thành ủy
Tác giả: Ban Thường vụ Thành ủy
Năm: 2016
13. Ban Tôn giáo Chính phủ (1999), Thông tư số 03/1999/TT-TGCP về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/1999/TT-TGCP về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 1999
14. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Tập bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2005
15. Ban Tôn giáo Chính phủ (2006), Báo cáo số 434/TGCP-PCTT về thực hiện kế hoạch triển khai đối với một số tổ chức tôn giáo chưa được công nhận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 434/TGCP-PCTT về thực hiện kế hoạch triển khai đối với một số tổ chức tôn giáo chưa được công nhận
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2006
16. Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo điều tra, khảo sát thực trạng các tổ chức Tin lành trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2017 (tính đến thời điểm tháng 12/2017), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra, khảo sát thực trạng các tổ chức Tin lành trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2017 (tính đến thời điểm tháng 12/2017)
Tác giả: Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội
Năm: 2017
17. Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội (2017), Báo cáo số 28/BC-BTG về tình hình tôn giáo và kết quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 28/BC-BTG về tình hình tôn giáo và kết quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2018
Tác giả: Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội
Năm: 2017
18. Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội (2018), chấp thuận sinh hoạt tôn giáo tập trung cho “Hội thánh Tin lành Hàn Quốc tại Hà Nội”, số 46/BTG-NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chấp thuận sinh hoạt tôn giáo tập trung cho “Hội thánh Tin lành Hàn Quốc tại Hà Nội”, số 46/BTG-NV
Tác giả: Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội
Năm: 2018
19. Ban Tôn giáo Thành phố Hà Nội (2018), chấp thuận sinh hoạt tôn giáo tập trung cho “Hội thánh Tin lành Hàn Quốc Saeong Myeong Na Mu Hà Nội”, số 48/BTG-NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chấp thuận sinh hoạt tôn giáo tập trung cho “Hội thánh Tin lành Hàn Quốc Saeong Myeong Na Mu Hà Nội”, số 48/BTG-NV
Tác giả: Ban Tôn giáo Thành phố Hà Nội
Năm: 2018
20. Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội, Báo cáo đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Kết luận số 101-KL/TW ngày 3/9/2014 của Ban Bí thư về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới, Hà Nội ngày 25/6/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Kết luận số 101-KL/TW ngày 3/9/2014 của Ban Bí thư về chủ trương công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w