Từ khi tham gia công ước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nội luật hóa CEDAW, xây dựng pháp luật về bình đẳng giới, tích cực tổ chức thực hiện và hoàn thành các báo cáo định kỳ về
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT
ĐỀ TÀI: Sự tương thích về bình đẳng giới trong
pháp luật Việt Nam và Công ước CEDAW
Sinh viên thực hiện :
Lớp : Luật học
MSSV :
Hà Nội, Tháng 11/2021
1
Trang 2LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I Một số điều về Công ước CEDAW
1 Tìm hiểu về Công ước CEDAW
2. Quá trình thực thi công ước CEDAW của Việt Nam
CHƯƠNG II Sự tương thích pháp luật Việt Nam với Công ước CEDAW CHƯƠNG III Thực tiễn về sự thực hiện công ước tại Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3
Lý do chọn đề tài
Bất bình đẳng giới là sự đối xử khác biệt đối với nam và nữ về cơ hội, sự tham gia, tiếp cận, kiểm soát và thụ hưởng các nguồn lực Sự phân biệt đối xử giữa nam giới và phụ nữ, tư tưởng trọng nam khinh nữ có thể xem như yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ Những quan niệm xã hội về thân phận người phụ nữ là tài sản của người đàn ông hay mọi quyền lực thuộc về đàn ông đã khiến cho nam giới xem như cách ứng xử của họ với phụ nữ thế nào là quyền của nam giới trong gia đình Với tính gia trưởng, nam giới tự cho mình có quyền “dạy vợ”, nam giới có quyền đòi hỏi vợ con phục vụ, thực hiện những yêu cầu của mình Người phụ
nữ với vị thế lệ thuộc, phải phục tùng, làm theo Nếu trái ý hoặc chậm trễ họ dễ bị người chồng đối xử thô bạo, xúc phạm nhân phẩm Do đó, Việt Nam đã tham gia vào công ước CEDAW Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết tham gia công ước vào ngày 29/07/1980 và được phê chuẩn vào 27/11/1981 Từ khi tham gia công ước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nội luật hóa CEDAW, xây dựng pháp luật về bình đẳng giới, tích cực tổ chức thực hiện và hoàn thành các báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện Công ước để trình lên Tổng thư ký Liên hợp quốc Sau 39 năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước CEDAW, Việt Nam đã và đang huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các tổ chức liên quan cùng tham gia vào sự nghiệp vì sự tiến bộ của phụ nữ, luôn
cố gắng cao nhất để thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam
3
Trang 4CHƯƠNG I Một số điều về Công ước CEDAW
1 Tìm hiểu về Công ước CEDAW
CEDAW là tên viết tắt của “Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”(Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 18/12/1979 Ngày 3/9/1981, sau khi nước thứ 20 thông qua, công ước này bắt đầu có hiệu lực với tư cách một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ CEDAW là một trong những điều ước quốc tế về quyền con người được phê chuẩn rộng rãi nhất với tiêu chí xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là tạo điều kiện quan trọng để phụ nữ có cơ hội bình đẳng và phát triển đầy đủ, tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động Đến nay, theo Uỷ ban CEDAW,
đã có 186 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc Các nước phê chuẩn Công ước này được yêu cầu phải đưa bình đẳng giới vào pháp luật quốc gia, bãi bỏ mọi điều quy định phân biệt đối xử trong các luật của mình,và ban hành các quy định mới để bảo vệ chống phân biệt đối
xử với phụ nữ Thêm vào đó, các quốc gia phải cam kết không những bảo đảm bằng pháp luật hiện hành mà còn phải có những hành động cần thiết để phụ nữ được hưởng
sự bình đẳng
Sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 năm đấu tranh của Uỷ ban
về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW) Uỷ ban được thành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ Hoạt động của Uỷ ban đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở những nơi mà phụ nữ chưa được bình quyền như nam giới Kết quả của những nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự ra đời một số tuyên bố và điều ước quốc tế, trong đó CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ Công ước là công cụ quốc tế duy nhất có thể giải quyết một
Trang 5cách toàn diện quyền của phụ nữ trong khuôn khổ đời sống chính trị, dân sự, văn hóa, kinh tế và xã hội
2 Quá trình thực thi công ước CEDAW của Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết tham gia công ước vào ngày 29/07/1980 và được phê chuẩn vào 27/11/1981 Từ khi tham gia công ước, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nội luật hóa CEDAW, xây dựng pháp luật về bình đẳng giới, tích cực tổ chức thực hiện và hoàn thành các báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện Công ước để trình lên Tổng thư ký Liên hợp quốc Ủy ban CEDAW khen ngợi những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước CEDAW, kể từ khi Ủy ban xem xét báo cáo ghép định kỳ lần thứ 05 và 06 vào năm 2006 của Việt Nam Với sự thay đổi tiến bộ của pháp luật, vai trò và địa vị của người phụ nữ trong xã hôi Việt Nam ngày càng được nâng cao Từ một nhóm yếu thế, nay những người phụ nữ đã có cơ hội tự do phát triển và khẳng định vị trí của mình trong xã hội
Nhận thấy Công ước này hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng nam nữ, việc ký kết và phê chuẩn Công ước là cam kết có tính pháp lý của Việt Nam trước Liên hợp quốc và các quốc gia thành viên bảo đảm cho phụ nữ các quyền bình đẳng theo các chuẩn mực quốc tế Đồng thời qua
đó thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trong các hoạt động của đời sống xã hội – đúng như tên gọi của Công ước
Để tổ chức thực hiện có hiệu quả Công ước, vấn đề mấu chốt là tinh thần và nội dung của CEDAW phải được phản ánh đúng đắn, đầy đủ, phù hợp trong pháp luật quốc gia Chính vì vậy, việc “nội luật hoá” CEDAW đã được Đảng, Nhà nước và các
Bộ ngành liên quan hết sức quan tâm trong thời gian vừa qua Và kết quả là, Việt Nam được ca ngợi, được coi là điểm sáng, là một trong những nước có hệ thống luật pháp tốt nhất về quyền bình đẳng cho phụ nữ
5
Trang 6Xuất phát từ quan điểm nhất quán, đúng đắn của Đảng về xây dựng phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng Vì thế, Đảng đã ban hành rất nhiều các văn bản liên quan đến đội ngũ cán bộ nữ, trong
đó có thể kể tới một NQ rất qua trọng đó là Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới” Các chỉ tiêu cụ thể của Nghị quyết 11-NQ/TW gồm: "Cần bảo đảm tỷ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước từ 30% trở lên", "Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ
nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới"; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW; Công văn số 3294-CV/BTCTW ngày 26/7/2017 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng hướng dẫn một số nội dung về công tác quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025 và các chức danh lãnh đạo quản lý cơ quan nhà nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 và các nhiệm kỳ tiếp theo, trong đó có quy định cán bộ nữ được kéo dài tuổi công tác theo quy định thì thời điểm tính độ tuổi quy hoạch như nam giới, các Bộ, ngành, địa phương đang triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, góp phần tích cực vào việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị cho giai đoạn tiếp theo
Trang 8CHƯƠNG II Sự tương thích pháp luật Việt Nam với Công ước CEDAW
Trên cơ sở đó, nhà nước đã thể chế hoá thành các quy định để đưa vào thực tiễn thực hiện Chính sách, pháp luật Việt Nam hiện nay đã cụ thể hóa Công ước quốc tế CEDAW và thể hiện đầy đủ 8 lĩnh vực của BĐG: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa – thông tin – thể dục – thể thao, y tế, gia đình Theo Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, trong 25 năm trở lại đây Quốc hội
đã thông qua 188 bộ luật và luật Có rất nhiều nội dung liên quan tới quyền lợi phụ nữ được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về dân sự, hình sự, lao động, giáo dục, sức khoẻ, hôn nhân gia đình, quốc tịch, bầu cử v.v…Trong đó, có các văn bản đáng lưu ý như sau:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013),
Điều 26.
1 Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
và cơ hội bình đẳng giới.
2 Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.
3 Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
Đây là lần đầu tiên nội dung phân biệt đối xử về giới được nêu rõ trong văn bản quy phạm pháp luật cao nhất của Việt Nam
Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“Bảo đảm bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo
vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên” Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động
nữ và vấn đề bình đăng giới nhằm bảo vệ sức khỏe sinh sản của họ trong khi làm việc (Chương X.Những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng) Tại bộ
Trang 9luật này có quy định chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc, chế độ thai sản cho nữ, quyền chấm đơn phương chấm dứt hợp đồng, tạm hoãn hợp đồng cho lao động nữ mang thai,…
Luật Bảo hiểm xã hội (2014),có hiệu lực từ năm 2016 có những tiến bộ quan trọng về bình đẳng giới trong chế độ thai sản Lần đầu tiên từ khi có chính sách BHXH, nam giới được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi vợ sinh con với nhiều mức hưởng khác nhau, từ 7 tới 14 ngày làm việc tùy thuộc vào số con được sinh và phương thức sinh Đặc biệt trong trường hợp người mẹ không đủ thời gian đóng BHXH hoặc không tham gia BHXH thì người cha được nghỉ đến khi con đủ 6 tháng tuổi Chính sách tiến bộ này tạo điều kiện thúc đẩy nam giới tham gia công việc gia đình và chăm sóc, cải thiện từng bước bình đẳng giới trong lĩnh vực này
Luật đất đai (2013) Luật quy định quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Trường hợp chỉ ghi tên của một người thì phải có văn bản xác nhận sự đồng ý của người kia
Luật hôn nhân và gia đình (2014) Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong sở hữu và thừa kế trong các trường hợp ly hôn và qua đời Tuy nhiên, trong Luật này vẫn còn một số quy định phân biệt đối xử về giới, cụ thể quy định tuổi hôn nhân tối thiểu khác nhau cho phụ nữ và nam giới Mặc dù Luật đã loại bỏ việc cấm hôn nhân đồng tính, tuy nhiên vẫn tiếp tục quy định hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ Luật quy định không cấp giấy chứng nhận kết hôn đồng tính, có nghĩa là những cuộc hôn nhân đồng tính sẽ không thể có đăng ký kết hôn và không được ghi nhận trong đăng ký hộ khẩu của hộ gia đình
Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình (2007) Luật này quy định những biện pháp ngăn ngừa và chống bạo lực trong gia đình, đồng thời xác định chi tiết những hành vi về bạo lực trong gia đình
9
Trang 10Trong lĩnh vực y tế, theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm (2009), tại Điều 3 quy định “bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh” Về giáo dục, tại khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2019 quy định: “Học tập
là quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính, đặc điểm cá nhân, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập” Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế
độ hôn nhân và gia đình được quy định rõ tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “vợ chồng bình đẳng”
Bộ luật Dân sự (2015) Điều 36 và 37 của luật này cho phép hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính và cho phép các cá nhân đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính được thay đổi lời khai về giới tính trong các giấy tờ chính thức của họ
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân (2015) Luật này đưa ra chỉ tiêu về ứng cử viên nữ Cụ thể, Điều 8 khoản 3 của Luật quy định “ Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên
cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ
Luật Cán bộ, Công chức (2008) Điều 5 Luật này quy định về các nguyên tắc quản
lý cán bộ, công chức, trong đó có nguyên tắc “Thực hiện bình đẳng giới” Điều 18 quy định hững việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công
vụ, trong đó không được “Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức” Điều 53, khoản 6 quy định “Không thực hiện biệt phái công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi” Điều 59 Khoản 4 quy định “Không giải quyết thôi việc đối với công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng” Luật Viên chức (2010) Điều 5 quy định các nguyên tắc trong quản lý viên chức, trong đó “thực hiện bình đẳng giới” Điều 19 quy định những việc viên chức không
Trang 11được làm, trong đó không được “phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, ” Điều 29, khoản 1 của Luật này quy định những trường hợp người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức, trong
đó có trường hợp “viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động Điều 29 khoản 3 quy định những trường hợp viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, trong đó có trường hợp “Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh” Điều 36 quy định biệt phái viên chức, khoản 7 quy định trường hợp “Không thực hiện biệt phái viên chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi”
Luật ngân sách Nhà nước (2015) Điều 8 Khoản 5 của Luật nêu rõ một trong những nguyên tắc của quản lý Ngân sách nhà nước là “đảm bảo ưu tiên bố trí ngân sách thực hiện mục tiêu bình đẳng giới” Điều 41 của Luật này cũng quy định một trong những căn cứ để lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm là nhiệm vụ bình đẳng giới
Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017) Điều 3 Khoản 1 quy định Doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ là doanh nghiệp nhỏ và vừa có một hoặc nhiều phụ nữ sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên, trong đó có ít nhất một người quản lý điều hành doanh nghiệp đó Trường hợp nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ thì ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ hơn
Trong lĩnh vực lao động, khoản 7 Điều 4 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
“Bảo đảm Bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo
vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên” Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có một chương dành riêng cho lao động
11