Khái niệm Quyền con người 4Chương II : Tư Tưởng Và Lịch Sử Phát Triển Về Quyền Con Người 5 2.1.Khái quát chung về tư tưởng và lịch sử phát triển 5 Chương III .Lịch sử hình thành pháp luậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Khoa Luật
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ Môn : Lý luận và pháp luật về Quyền con người
Đề Bài : Phân tích về tư tưởng và lịch sử phát triển về quyền con người và
lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về quyền con người Giảng Viên : TS Ngô Thị Minh Hương
Sinh Viên : MSSV : Lớp
Hà Nội, Tháng 11/2021
Trang 2Chương I Khái niệm Quyền con người 4
Chương II : Tư Tưởng Và Lịch Sử Phát Triển Về Quyền Con Người 5
2.1.Khái quát chung về tư tưởng và lịch sử phát triển 5
Chương III Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về Quyền con người 9
3.Khái quát chung lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về Quyền con người 9
3.1 Các giai đoạn hình thành lịch sử pháp luật quốc tế về Quyền con người 9
3.1.3 Quyền con người trong các văn kiện quốc tế 13
Trang 3Đặt vấn đề
Quyền con người là một khái niệm mang tính lịch sử lâu đời Đây là một phạm trù
đa diện, kết tinh những giá trị cao đẹp trong nền văn hóa của tất cả các dân tộc Đây không chỉ là ngôn ngữ chung mà còn là sản phẩm chung, và mục tiêu chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới Những tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền hiện đang được các quốc gia tự nguyện tuân thủ hiện nay là kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài Cùng với lịch sử loài người, nhận thức và tư tưởng của nhân loại về quyền con người cũng liên tục phát triển Khởi đầu là những ý tưởng sơ khai về nhân phẩm và tự do, dần hình thành nên khái niệm và các chuẩn mực quốc gia, rồi chuẩn mực quốc tế về nhân quyền
Để có cái nhìn bao quát hơn về vấn đề trên sinh viên xin chọn đề tài : Phân tích về
tư tưởng và lịch sử phát triển về quyền con người và lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về quyền con người
Chương I Khái Niệm Và Nguồn Gốc Về Quyền Con Người
1.1.1 Khái niệm Quyền con người
Quyền con người (Human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu
có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự
bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người
Quyền con người cũng là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều
có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người Định nghĩa này mang dấu
ấn của học thuyết về các quyền tự nhiên
Trang 4Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người Cho
dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử
Chương II : Tư tưởng và lịch sử phát triển của quyền con người
2.1.Khái quát chung về tư tưởng và lịch sử phát triển
Mặc dù sự tồn tại của con người đã được chứng minh là cách nay hàng triệu năm, nhưng con người hiện đại (con người tinh khôn - homo sapiens) mới chỉ xuất hiện cách nay mấy trăm ngàn năm Kể cả khi con người hiện đại xuất hiện, cũng phải một thời gian dài sau đó mới nảy sinh tôn giáo Tôn giáo đòi hỏi một trình độ nhận thức tương đối cao của con người, bởi nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong một đời sống xã hội ổn định Nhiều nhà khoa học khẳng định tôn giáo chỉ mới ra đời khoảng 45.000 năm trước đây, bắt đầu bằng những hình thức tín ngưỡng sơ khai như thờ vật tổ Các tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay ra đời muộn hơn và vào những thời điểm khác nhau Phật giáo xuất hiện từ thế kỷ VI trước Công nguyên ở miền bắc Ấn Độ, Ki-tô giáo (Cơ Đốc giáo) được biết đến từ thế kỷ thứ I sau Công nguyên, Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII sau Công nguyên tại bán đảo Ả-rập Cho dù có sự khác nhau trong việc giải thích nguồn gốc của loài người, các tôn
Trang 5giáo đều có nhiều tư tưởng, giáo luật thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, bảo
vệ con người, đặc biệt là những nhóm người yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật…) và đề cao sự bình đẳng Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại có tính hệ thống và nội dung rõ ràng về quyền con người
Theo tiến trình lịch sử, các quốc gia cũng hình thành và ban hành pháp luật làm phương tiện cai trị Các bộ luật cổ xưa nhất hiện còn lưu giữ được đến ngày nay, ví
dụ như Luật Hammurabi, Luật Manu, Luật Kautilya, Luật Asoka bên cạnh các giá trị quan trọng về lịch sử, văn hóa, pháp lý, cũng phản ánh nhận thức và quan niệm về công bằng, giá trị của nhân phẩm, và các quyền lợi chính đáng của con người Cả ở phương Đông và phương Tây, trong thời kỳ cổ đại đã có nhiều nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến văn minh của nhân loại mà học thuyết của họ đều ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp, thể hiện sự coi trọng các quyền và tự do của cá nhân Ví dụ, ở phương Đông có thể kể đến Đức Phật, Khổng Tử, Mạnh Tử còn ở phương Tây, ta không thể bỏ qua các triết gia Socrates, Aristotle
2.2 Quyền con người ghi nhận trong các tôn giáo lớn
2.2.1 Trong Kinh Cựu ước và Kinh Tân ước
Trong Kinh Cựu ước và Kinh Tân ước ghi lại các điều răn của Chúa về các điều luật dành cho môn đệ, cách đối nhân xử thế,…, trong đó nổi bật lên các tư tưởng bảo vệ các nhóm yếu thế, tôn trọng lẽ phải, lẽ công bằng:
“Về sự công bằng và các nhóm yếu thế
Tội sát nhân
Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Đức Chúa Trời đã phú người bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người ẩn thân Còn nhược bằng kẻ nào dấy lên cùng người lân cận mà lập mưu giết người, thì dẫu rằng nó núp nơi ban thờ ta, ngươi cũng bắt mà giết đi Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình sẽ bị xử tử Kẻ nào bắt người
và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình sẽ
bị xử tử.
Sự rủi ro, điều thiệt hại
Nếu ai đánh nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái của mình làm cho mù đi thì hãy tha
nó ra tự do vì cớ mất con mắt Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay gái của mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng.
Trang 6Luật trộm cắp
Ví ai bắt trộm bò hay chiên, rồi giết hoặc bán đi, thì phải bồi thường năm con bò cho một con, và bốn con chiên cho một con Nếu kẻ trộm đương cạy cửa mà bị bắt
và đánh chết đi, thì kẻ đánh chết chẳng phải tội sát nhân Song nếu đánh chết trong khi mặt trời đã mọc rồi, thì bị tội sát nhân Kẻ trộm phải bồi thường, bằng chẳng có chi, thì sẽ bị bán vì tội trộm cắp Nếu vật mà kẻ trộm đã lấy, hoặc bò, lừa hay chiên, hãy còn thấy sống trong tay, thì kẻ trộm phải bồi thường gấp hai.”
2.2.2 Trong Kinh Phật
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ V trước Công nguyên, do Tất-đạt-đa Cồđàm (Siddhattha Gotama) (còn gọi là Phật-đà hay Bụt-đà (Buddha)) sáng lập Người Việt gọi đơn giản là ông Bụt, có nghĩa là ―người tỉnh thức, giác ngộ được Phật pháp (dhamma) Cốt lõi giáo pháp của đạo Phật là Tứ diệu đế (Bốn chân lý), là điều mà Phật đã chứng ngộ lúc đạt đạo Bốn chân lý đó là: Khổ đế (chân lý về sự khổ), Tập đế (chân lý về sự phát sinh của sự khổ), Diệt đế (chân lý về diệt khổ) và Đạo đế (chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ) Khổ được giải thích là xuất phát
từ Ái và Vô minh, một khi dứt được những nguyên nhân đó thì con người có thể thoát khỏi vòng sinh tử Chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ Niết-bàn Con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo (bao gồm: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm và Chính định)
Phật dạy: Ta xuất hiện trên đời, như đám mây lớn, có thể làm thấm nhuần tất cả, nghĩa là vì muốn khiến những chúng tánh khô khát đều xa lìa đau khổ, được vui an
ổn Trong thế gian, kẻ làm cho chúng sanh được vui yên ổn không ai bằng Ta Ta
vì đại chúng, nói pháp cam lồ thanh tịnh; pháp ấy dạy có một mùi là: giải thoát và Niết Bàn Ta thường vì đại chúng làm nhơn duyên mà dùng một thứ tiếng diễn nói nghĩa ấy Ta xem tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, không có tâm bỉ, thử, tắng, ái; cũng không tham trước, không chướng ngại, hằng vì tất cả mà nói đạo pháp bình đẳng Và cũng không phân biệt là một người hay nhiều người mà thường diễn nói Chánh pháp, ngoài ra không việc gì khác Dù trong lúc đi, lại, đứng, ngồi cũng không nhàm bỏ; đối với những kẻ: sang, hèn, trên, dưới, trì giới, phá giới, có lễ độ hay không lễ độ, chánh kiến hay tà kiến, căn cơ lanh lợi hay ngu độn, Ta bình đẳng rưới pháp vũ vẫn không mệt mỏi Tất cả chúng sanh đã được nghe pháp Ta, nên cố gắng tu trì thì đều được tiến thủ ngôi cao
Trang 72.3 Quyền con người trong các tác phẩm của các triết gia cổ đại
– Socrates (469 – 339 TCN) Triết gia của Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng với quan điểm: Con người hãy tự nhận thức về bản thân mình Về nhân quyền, Socrates nhấn mạnh đến phẩm hạnh, tự do và quyền biểu đạt.”Của cải không phải là phẩm hạnh
mà ngược lại, phẩm hạnh là của cải” “Tôi không bao giờ nhượng bộ ai vì sợ chết khi làm bổn phận hay bảo vệ công lý, dù hành động như thế luôn đối mặt với tử thần”
– Đêmôcrit (460 – 370 TCN) – Bộ óc bách khoa đầu tiên của người Hy Lạp Nhấn mạnh nhà nước phải là cơ quan đại biểu cho quyền lợi chung, đề cao quyền bình đẳng trong xã hội dân chủ; “Trong mọi thứ, bình đẳng là tuyệt diệu, cũng như tự
do là hơn nô lệ”
– Các nhà ngụy biện (thầy giáo triết học – từ giữa thế kỷ V TCN) – Là những người đầu tiên soạn thảo học thuyết pháp lý về quyền tự nhiên Họ nhấn mạnh nhà nước, pháp luật là kết quả của thỏa thuận, có nghĩa vụ bảo vệ an ninh chung, thỏa mãn nguyện vọng cá nhân và bảo vệ các quyền của họ
– Platôn (427 – 437 TCN): Lập kế hoạch xây dựng nhà nước lý tưởng có thể kết hợp tự do, bình đẳng với trật tự, quyền uy và đạo lý Thừa nhận sự khác biệt về địa
vị, xã hội, tài sản.4 giai tầng (triết học, chiến binh, thợ thủ công và thương nhân)
có quyền bầu cử cơ quan nhà nước; phụ nữ phải được ngang quyền với nam giới (Republic)
Platon với kế hoạch xây dựng nhà nước lý tưởng có thể kết hợp tự do, bình đẳng với trật tự, quyền uy và đạo lý
– Arixtốt (384 – 322 TCN) – Nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại (C.Mác) Đề cao giá trị của tự do trong xây dựng xã hội dân chủ Phạm vi của tự do chỉ giới hạn trong nhóm người có địa vị công dân, loại trừ phụ nữ và nô lệ Nhấn mạnh vai trò của pháp luật, pháp luật là công lý; hành động công bằng là hành động theo pháp luật; bảo vệ sở hữu cá nhân, thể chế chính trị
– Các luật gia La Mã (thế kỷ I – II TCN) Phân chia luật pháp thành tư pháp và công pháp.Trong tư pháp được phân thành quyền tự nhiên, quyền dân tộc và quyền công dân Quyền dân tộc dựa trên sự thừa nhận chung; Quyền tự nhiên dựa trên sự cần thiết tự nhiên; Quyền công dân – quyền tích cực do mỗi dân tộc quy định nhân danh nhà nước
Trang 82.4 Quyền con người ghi nhận trong các bộ luật
Tư tưởng quyền con người được khởi thuỷ từ khi trái đất xuất hiện những nền văn minh cổ đại, mà một trong đó là nền văn minh rực rỡ ở Trung Đông Chính trong nền văn minh Lưỡng Hà này, nhà vua Hammurabi xứ Babylon đã ban hành một đạo luật có tên là Bộ luật Hammurabi có thể coi là văn bản pháp luật thành văn đầu tiên của nhân loại nói đến quyền con người Ngoài Bộ luật Hammurabi, vấn đề quyền con người còn sớm được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật cổ khác của thế giới, trong đó tiêu biểu như Bộ luật của vua Cyrus Đại đế ban hành vào khoảng các năm 576 - 529 TCN119; Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka's Edicts) ban hành vào khoảng các năm 272 Hiến pháp Medina (the Constitution of Medina) do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622 Đại Hiến chương Magna Carta (1215) và Bộ luật về quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của nước Mỹ Trong vấn đề này, mặc dù ít được nhắc tới trong các công trình nghiên cứu ở tầm quốc tế, song xét về mặt nội dung,Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật 1470 – 1497) thời Hậu lê của Việt Nam cũng xứng đáng được xếp vào danh sách những bộ luật cổ tiêu biểu của thế giới về quyền con người Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển của nhân loại, các tư tưởng về quyền con người không chỉ được thể hiện trong các đạo luật, mà còn được phản trong các tư tưởng, học thuyết tôn giáo, chính trị và pháp lý
Chương III Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về Quyền con người
3.Khái quát chung lịch sử hình thành pháp luật quốc tế về Quyền con người
Luật nhân quyền quốc tế là một trong những ngành luật mới trong hệ thống công pháp quốc tế Mặc dù một số dấu hiệu của ngành luật này đã xuất hiện từ thế kỷ XIX, nhưng xét về mọi mặt, luật nhân quyền quốc tế chỉ chính thức hình thành và phát triển cùng với việc thành lập Liên hợp quốc (1945)
Vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người đã chính thức đặt trên nền tảng của Hiến chương Liên hợp quốc và luật hiện đại, mở đầu cho sự hình thành ngành luật quốc tế về quyền con người Sau 18 năm kể từ khi UDHR được thông qua, hai công ước là Công ước quốc tế về những quyền dân sự, chính trị và
Trang 9Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ năm 1976 Bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, hai công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế về những quyền dân sự, chính trị (ICCPR) và Nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế, xã hội, văn hoá (ICESCR) được cộng đồng quốc tế thừa nhận là Bộ luật quốc tế
về quyền con người - xương sống của luật quốc tế về quyền con người
quyền tự nhiên và quyền pháp lý
3.1 Các “thế hệ” Quyền con người
Lịch sử phát triển của quyền con người, có thể chia các quyền thành ba “thế hệ” (generations of human rights) Người đưa ra ý tưởng này (vào năm 1977) là một nhà luật học người Czech tên là Karel Vasak Mặc dù lý luận của Vasak bắt nguồn
và phản ánh lịch sử phát triển của tư tưởng và pháp luật về quyền con người ở châu
Âu, chúng vẫn có những ý nghĩa trong việc nghiên cứu về lịch sử phát triển của quyền con người nói chung trên thế giới Lý luận của Karel Vasak có thể khái quát như sau:
3.1.1 Thế hệ thứ nhất: Các quyền dân sự, chính trị
Thế hệ này bao gồm các quyền và tự do cá nhân, tiêu biểu như quyền sống, quyền
tự do tư tưởng, tự do tôn giáo tín ngưỡng, tự do biểu đạt, quyền được bầu cử, ứng
cử, quyền được xét xử công bằng Các quyền này gắn liền với tự do cá nhân Mục đích của thế hệ quyền này về cơ bản là để hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền và sự tùy tiện xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức
và cơ quan nhà nước trong các văn bản pháp luật về quyền công dân của các nhà nước tư sản Hệ thống quyền con người nói chung, các quyền dân sự, chính trị được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, đặc biệt với việc Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về
Trang 10quyền con người và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, các quyền dân sự, chính trị là trọng tâm trong cuộc vận động về quyền con người của phe các nước TBCN (tuy nhiên, điều này không
có nghĩa là các nước XHCN luôn phải đối và phủ nhận các quyền dân sự, chính trị)
3.1.2 Thế hệ thứ hai: Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Thế hệ quyền con người thứ hai hướng vào việc tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội Chúng được đề xướng và vận động mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, và bắt đầu được quan tâm bởi một số chính phủ
kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Các quyền tiêu biểu thuộc về thế hệ quyền này bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở , thúc đẩy sự hình thành của thế hệ quyền con người thứ hai được cho là từ cuộc khủng hoảng của xã hội tư bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dẫn tới tình cảnh khốn khổ của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động Từ năm 1919, Hiến pháp của nước này đã quy định quyền được bảo hiểm xã hội trong các trường hợp già yếu, bệnh tật
Sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết vào năm 1917 Ngay từ Hiến pháp 1918, nước Nga Xô viết đã ghi nhận các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cơ bản của con người như quyền có việc làm, quyền học tập, quyền được chăm sóc y tế…Các quyền này tiếp tục được khẳng định, mở rộng
và bổ sung, trở thành một trong những nội dung chính của các Hiến pháp năm
1924, 1936, 1977 của Liên Xô (tương tự là trong hiến pháp của các nước XHCN này)
Việc thành lập hai tổ chức liên chính phủ quốc tế lớn là Hội Quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế Như đã nêu ở phần trên, hai tổ chức này, đặc biệt là Tổ chức