Và trong quá trình phát triển của nó, khoa học tự nhiên lại phát hiện ra được những dạng ngày càng mới hơn của vật chất, bác bỏ các quan niệm có tính chất tiên nghiệm của các nhà duy tâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Đình Cấp
HÀ NỘI - 2013
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Vật chất” với tư cách là một phạm trù trung tâm của triết học có lịch
sử ra đời và phát triển khoảng trên 2500 năm Xoay quanh phạm trù “vật
chất” có không ít những quan điểm, tư tưởng khác nhau thậm chí trái ngược
nhau của các triết gia, trường phái triết học Tuy nhiên, với mỗi bước phát triển của khoa học tự nhiên, quan niệm về phạm trù vật chất ngày càng trở nên đúng đắn, khoa học và đầy đủ
Ngay từ thời kỳ cổ đại, triết học và khoa học tự nhiên đã có mối quan
hệ biện chứng vô cùng khăng khít Các phát minh khoa học tự nhiên có ảnh
hưởng, tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển các quan niệm “vật
chất” Triết học không ngừng khái quát những thành tựu mới nhất của khoa
học tự nhiên và “vật chất” với tư cách là phạm trù trung tâm xuyên suốt lịch
sử hình thành, phát triển triết học đã có những bước thăng trầm dường như trùng khít với sự phát triển của khoa học tự nhiên Mỗi bước tiến trong quan
niệm về “vật chất” đã đánh dấu một giai đoạn mới với những thành tựu mới
của khoa học tự nhiên như vật lý học, toán học, hóa học, sinh học… hay nói theo cách khác, chính các thành tựu khoa học tự nhiên là một trong những cơ
sở, tiền đề khoa học quan trọng để các nhà triết học khái quát, đưa ra những
tư tưởng triết học của mình, trong đó không thể thiếu quan điểm về “vật
chất” Như Ph.Ăngghen từng khẳng định: nguyên lý của chủ nghĩa duy vật
biện chứng về tính vật chất của thế giới được chứng minh bởi sự phát triển lâu
dài và gay go của triết học và của khoa học tự nhiên Định nghĩa “vật chất”
của V.I.Lênin là một kết quả lôgic, một kết luận rút ra từ lịch sử phát triển nhận thức của toàn nhân loại Mỗi bước phát triển của khoa học tự nhiên lại xác nhận thêm định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất với tính cách là phạm trù triết học Và trong quá trình phát triển của nó, khoa học tự nhiên lại phát hiện
ra được những dạng ngày càng mới hơn của vật chất, bác bỏ các quan niệm có tính chất tiên nghiệm của các nhà duy tâm về bản chất thế giới bên ngoài
Trang 3Như vậy, chính học thuyết của V.I.Lênin về vật chất trong thời đại của những phát minh vĩ đại nhất, đồng thời cũng là thời đại khủng hoảng của vật lý học,
có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên
Việc nhận thức và vận dụng một cách đúng đắn mối quan hệ giữa triết
học với khoa học tự nhiên nói chung, giữa quan niệm về “vật chất” với khoa
học tự nhiên nói riêng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Bởi lẽ, nó giúp cho những nhà triết học, đặc biệt là những nhà triết học duy vật có cơ sở, tài liệu quan trọng để khái quát nên những phạm trù, nguyên lý, quy luật chung nhất và trừu tượng nhất
của triết học trong đó có phạm trù “vật chất” Mặt khác, những phát minh
khoa học tự nhiên cũng là một minh chứng xác thực nhất cho tính đúng đắn của những quan điểm duy vật về vật chất, ngược lại, nghiên cứu vai trò của
các quan niệm “vật chất” đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên sẽ giúp
cho các nhà khoa học tự nhiên có được một thế giới quan đúng đắn và một phương pháp luận biện chứng duy vật trong nhận thức và khám phá giới tự nhiên Không nắm vững được mối liên hệ giữa triết học và khoa học tự
nhiên cũng như mối liên hệ giữa phạm trù “vật chất” và khoa học tự nhiên sẽ
không thấy được mảnh đất nuôi dưỡng các quy luật, nguyên lý, phạm trù triết học và như vậy sẽ dẫn đến sự khái quát sai lầm, võ đoán, xa rời hiện thực Điều đó khiến cho các nhà khoa học tự nhiên mất đi chỗ dựa vững chắc, đúng đắn trong việc nhìn nhận, đánh giá các đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và thiếu phương pháp luận khoa học để nghiên cứu một cách hiệu quả thế giới hiện thực, khó có thể tiến xa hơn và gặt hái được những thành tựu đáng kể trong các lĩnh vực khoa học cụ thể
Ở nước ta hiện nay, trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, việc quan tâm đến mối liên hệ giữa triết học với khoa học tự nhiên còn hạn chế Việc nghiên cứu triết học ít gắn bó với khoa học tự nhiên và ngược lại, việc nghiên cứu khoa học tự nhiên tách rời khỏi triết học vẫn diễn ra một cách phổ biến Chưa kể đến, việc nghiên cứu mối liên hệ giữa sự hình thành và phát triển quan
Trang 4niệm về vật chất trong triết học với các bước tiến trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hầu như chưa có tác giả nào đề cập tới Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến quan niệm sai lầm về triết học trong khoa học tự nhiên,
tách rời triết học ra khỏi đời sống hiện thực, biến triết học trở thành “triết học
kinh viện” hay quan niệm triết học là một môn khoa học xã hội - nhân văn
thuần túy đã và đang tồn tại từ trước đến nay Hậu quả của lối tư duy và làm việc đó làm hạn chế sự phát triển của cả triết học lẫn khoa học tự nhiên
Xuất phát từ những lý do trên, người viết chọn đề tài “Khoa học tự nhiên
với sự phát triển quan niệm về vật chất trong triết học” làm đề tài nghiên cứu
của mình với hy vọng góp phần nhỏ bé vào nghiên cứu mối quan hệ biện
chứng giữa khoa học tự nhiên và quan niệm về “vật chất” trong triết học
2 Tình hình nghiên cứu
Mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên là một vấn đề được khá nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu, phân tích
Chúng ta có thể tìm hiểu về mối quan hệ này qua một số tác phẩm như: Vật lý
và triết học – Cuộc cách mạng trong khoa học hiện đại, NXB Tri thức, do
Werner Heisenberg viết, Phạm Văn Thiều và Trần Quốc Túy dịch; Lênin bàn
về sự liên hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, NXB Sự thật, Hà Nội, do B
Kê – đơ – rốp viết (1960); Vai trò của phương pháp luận triết học Mác –
Lênin đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, do Nguyễn Trọng Chuẩn – Tô Duy Hợp – Lê Hữu Tầng – Nguyễn Duy
Thông chủ biên (1977); Triết học trong khoa học tự nhiên, NXB Giáo dục
Việt Nam, do TS Nguyễn Như Hải viết… Đó là những cơ sở khoa học quý báu để tác giả bước đầu tiếp cận đề tài nghiên cứu của mình
Song không dừng lại ở việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa triết học với khoa học tự nhiên mà đề tài đi sâu làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa khoa học tự nhiên với sự phát triển các quan niệm về “vật chất” trong triết học, vì vậy, ngoài những tài liệu trên, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:
Trang 5Một là, Lênin và vật lý học hiện đại, NXB Sự thật, Hà Nội, E Côn – man
(1960) Cuốn sách giới thiệu ý nghĩa triết học của những thành tựu khoa học
tự nhiên hiện đại một cách rõ ràng, khúc chiết Bằng những tài liệu thực tế,
phong phú, tác giả nêu lên ý nghĩa của những tư tưởng trong tác phẩm “Chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” của V.I.Lênin đối với sự
phát triển những quan niệm khoa học về cấu tạo vật chất, về không gian và thời gian, đối với sự nghiên cứu những tính chất của các hạt cơ bản (êlêctơrông, pơrôtông, nơtơrông, phản pơrôtông, phản nơtơrông …) Đồng thời, tác giả phê phán những quan điểm duy tâm và máy móc về cấu tạo vật chất, về không gian và thời gian, vạch rõ tính chất không có căn cứ của chủ nghĩa duy tâm “vật lý” hiện đại
Hai là, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và khoa học tự nhiên, NXB Sự thật,
Hà Nội, K.M Pha – ta – li – ép (1961) Cùng với những tài liệu khác, cuốn sách này sẽ giúp chúng ta nắm được tương đối sâu những vấn đề như: mối liên hệ giữa sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và sự phát triển của khoa học tự nhiên, vật chất và vận động, không gian và thời gian dưới ánh sáng của những thành tựu khoa học tự nhiên hiện đại…
Ba là, Vật chất là gì?, NXB Giáo dục, Hà Nội, L.A.Đruyanốp viết, Phan Tất Giá dịch (1963) và cuốn Vật chất với tính cách là một phạm trù triết học,
NXB Sự thật, Hà Nội, F.T.A – Khip – Xép viết, Nguyễn Gia Lộc dịch (1963) Trong hai cuốn sách này, cả hai tác giả đã cố gắng phân kỳ các giai đoạn phát triển của khoa học tự nhiên từ cổ đại đến cận đại cùng với sự phát triển quan niệm về vật chất qua các giai đoạn lịch sử này, bước đầu gắn kết những bước tiến trong khoa học tự nhiên với tư cách là cơ sở khoa học cho các quan niệm mới về vật chất
Có thể nói, các cuốn sách kể trên đã trình bày những nội dung căn bản với cách tiếp cận nhiều chiều trên những khía cạnh khác nhau về mối quan hệ biện chứng giữa khoa học tự nhiên và triết học Một số cuốn sách đã bước đầu
đề cập tới mối quan hệ biện chứng giữa khoa học tự nhiên và sự phát triển các
Trang 6quan niệm về vật chất trong triết học Chúng là nguồn tài liệu tham khảo
chính cho đề tài luận văn “Khoa học tự nhiên với sự phát triển quan niệm về
vật chất trong triết học” Tuy nhiên, cần khẳng định rằng những nghiên cứu
kể trên mang tính chất định hướng nội dung cho đề tài, còn nội dung, cách tiếp cận được trình bày trong đề tài là mới, độc lập, không trùng khít với những công trình đã công bố trước đó
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Luận văn làm rõ ảnh hưởng của khoa học tự nhiên với sự phát triển các
quan niệm về “vật chất” trong lịch sử triết học và ý nghĩa hiện thời của nó
3.2 Nhiệm vụ
Từ mục đích nghiên cứu, luận văn đi giải quyết một số nội dung sau:
- Mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên
- Ảnh hưởng của những phát minh khoa học tự nhiên đối với sự phát
triển quan niệm về “vật chất” qua các thời kỳ lịch sử: cổ đại, trung cổ, phục hưng, cận đại và định nghĩa “vật chất” của V.I.Lênin
- Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu đối với sự phát triển khoa học tự nhiên hiện đại
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 7học tự nhiên còn hạn chế nên tác giả đề cập đến những vấn đề về khoa học tự nhiên một cách đơn giản và cần nghiên cứu sâu sắc hơn trong thời gian tới
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin và các kết quả nghiên cứu của các nhà triết học, khoa học về vấn đề trên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả kết hợp sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, khái quát hóa
6 Cái mới của luận văn
Từ việc khái quát các quan niệm về “vật chất” dọc theo quá trình hình
thành và phát triển triết học, đề tài làm rõ vai trò của khoa học tự nhiên đối
với sự phát triển các quan niệm về “vật chất” và ý nghĩa của nó với sự phát
triển khoa học tự nhiên, đặc biệt là khoa học tự nhiên hiện đại
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
trù “vật chất”, mối quan hệ biện chứng giữa triết học và khoa học tự nhiên
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
2 chương 6 tiết
Trang 8Chương 1 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRIẾT HỌC VÀ
KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ngay từ thời cổ đại, khi tri thức triết học bao gồm mọi sự hiểu biết của con người, trong tiến trình phát triển nhận thức của con người đã có sự tác động qua lại giữa các tư tưởng triết học và việc nhận thức các đối tượng cụ thể như là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Ph.Ăngghen dẫn lời của
Arixtốt nói rằng những triết gia đầu tiên đã khẳng định như sau: “Cái mà từ
đó mọi vật được tạo thành, mà từ đó mọi vật xuất hiện ra như từ một cái đầu tiên, và lại trở về với tư cách là cái cuối cùng… thì luôn luôn vẫn y nguyên như thế với tính cách là bản thể và chỉ thay đổi trong những quy định của nó, cái đó là nguyên tố và là căn nguyên của mọi vật … Chính vì thế mà họ cho rằng không có cái nào sinh ra và mất đi, vì rằng giới tự nhiên ấy được bảo toàn mãi” [2, tr.278] Nhưng do trình độ hiểu biết về tự nhiên thời kỳ đó còn
ít ỏi, rời rạc, mang tính trực quan nên triết học chưa đem lại kết quả cụ thể
cho khoa học như Ph.Ăngghen từng nhận xét: “Khoa học tự nhiên hiện đại, -
mà cũng chỉ có khoa học tự nhiên hiện đại mới đạt đến một trình độ phát triển khoa học, có hệ thống và toàn diện, ngược lại với những trực giác thiên tài của những người thời cổ trong triết học về tự nhiên và với những phát hiện của người Ảrập, cực kỳ quan trọng, nhưng có tính rời rạc và phần nhiều đã biến mất, không mang lại kết quả gì” [2, tr.11]
Những điều này cho thấy, mối quan hệ đầu tiên giữa triết học và các khoa học tự nhiên: cả triết học và khoa học đều phải nhận thức cái phổ biến, cái bản chất nhưng sự khác nhau là, một bên nhiệm vụ nhận thức là cái chung
ở mức trừu tượng và khái quát cao nhất, đưa đến những quan điểm, có ý nghĩa tiền đề, còn một bên là nhận thức cái riêng – cái riêng này cũng trừu tượng và khái quát nhưng ở mức thấp hơn, và có biểu hiện ở những đối tượng vật chất
ở mức trừu tượng nhiều hay ít, tùy theo trình độ phát triển của khoa học trong
Trang 9từng thời kỳ lịch sử Cái riêng này, về sau – từ thời cận đại – khi khoa học đã phát triển đến trình độ cao và tách khỏi triết học, được gọi là bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới
Vậy, triết học là gì? Khoa học tự nhiên là gì? Mối quan hệ giữa triết học
và khoa học tự nhiên như thế nào?
1.1 Triết học và khoa học tự nhiên
1.1.1 Triết học và quan niệm về triết học trước Mác
1.1.1.1 Triết học
Vào thời kỳ cổ đại, từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, triết học đã xuất hiện ở ba trung tâm văn minh lớn của nhân loại là
Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp
Theo người Ấn Độ, triết học được đọc là darshana, có nghĩa là chiêm
ngưỡng nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lí trí, là con đường suy ngẫm
để dẫn dắt con người đến với lẽ phải
Theo tiếng Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết
Với chữ tượng hình này, người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự
miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí, là sự
hiểu biết sâu sắc của con người
Còn ở Hy Lạp, nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết
học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái (Philos – yêu mến, Sophia
– sự thông thái) Với người Hy Lạp, Philsophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người
Tuy nhiên, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu triết học
đã tồn tại với tư cách là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, là một hệ thống những quan điểm chung nhất của con người
về thế giới, là một hình thái ý thức xã hội Nhưng không phải, ngay từ đầu triết học đã hiện ra như một thế giới quan hoàn chỉnh Triết học được hình thành khi hội tụ đầy đủ các điều kiện sau đây:
Trang 10Về nguồn gốc xã hội: Trong xã hội đã xuất hiện sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, đã có sự phân hóa giai cấp một cách rõ rệt Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người thì đây chính là thời
kỳ chuyển biến từ chế độ cộng sản nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ - chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên của nhân loại
Về nguồn gốc nhận thức: Trình độ nhận thức nói chung, năng lực tư duy của con người nói riêng phải đạt đến một trình độ nhất định – trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận Chính những điều kiện thực tiễn xã hội và nhận thức đó là những nhân tố đảm bảo cho sự ra đời triết học với tính cách là một hình thái ý thức xã hội đầu tiên mang tính tổng hợp, trừu tượng và khái quát trong lịch sử
Kể từ khi xuất hiện cho đến nay, triết học tập trung giải quyết vấn đề cơ bản lớn của nó Đó là vấn đề mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Như
Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là
triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” Vấn đề cơ bản
của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn Mặt thứ nhất, giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trả lời cho hai câu hỏi này liên quan mật thiết đến việc hình thành các trường phái triết học và các học thuyết về nhận thức của họ Giải quyết mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân định các trường phái: nhất nguyên duy vật, nhất nguyên duy tâm và nhị nguyên luận Giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học hình thành nên các học thuyết về nhận thức: thuyết khả tri, thuyết bất khả tri và thuyết hoài nghi luận
1.1.1.2 Quan niệm về triết học trước Mác
Trong quá trình phát triển, đối tượng của triết học thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử Khi mới ra đời, tri thức triết học thời cổ đại là tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng Đây là nguyên nhân sâu xa làm nảy
sinh quan niệm cho rằng, triết học là “khoa học của mọi khoa học” Khi đó
Trang 11chưa có sự phân định giữa các tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và triết học, triết học bao hàm trong nó mọi tri thức của con người về thế giới, như các tri thức về Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Đạo đức học, Mỹ học… Đặc trưng nổi bật của triết học trong giai đoạn này là lý giải có tính biện chứng tự phát, ngây thơ và mộc mạc về tự nhiên
Thời kỳ trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của Giáo hội bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội, triết học trở thành nô lệ của thần học Triết học chỉ còn nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của các nội dung trong Kinh thánh Những nội dung chủ yếu của triết học ở giai đoạn trước đã có sự thay đổi căn bản Các nhà triết học tìm mọi cách làm cho một số nguyên tắc trong triết học của Arixtốt về vũ trụ thích ứng với các quan niệm duy tâm, tôn giáo về giới tự nhiên Họ cố gắng tìm cách lý giải về giới tự nhiên theo khuôn khổ lý thuyết của Prômêtê (lý thuyết coi Trái Đất là trung tâm của vũ trụ) mà tôn giáo coi là chủ thuyết Vì vậy, những quan niệm về tự nhiên dù còn dưới dạng sơ khai, khái quát nhưng đã bị nhấn chìm vào trong các tư tưởng của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thần học
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV, XVI đã tạo cơ sở tri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập Sự phát triển của xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bởi những phát hiện lớn về địa lý, thiên văn cùng những thành tựu khác của cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội - nhân văn
đã mở ra một thời kỳ mới cho triết học Triết học duy vật đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan với những đại biểu tiêu biểu như Ph.Bêcơn, T.Hốpxơ (Anh), Điđrô, Henvêtuýt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)… Cùng với đó, những tư tưởng đúng đắn trong Triết học trước đây được phục hồi và bắt đầu được phổ biến rộng rãi
Đến thế kỷ thứ XVII, một loạt các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trước hết
là toán học và sau đó là cơ học, vật lý học, hóa học rồi đến sinh học… đã lần
Trang 12lượt tách ra khỏi triết học để trở thành những ngành khoa học độc lập Tuy nhiên trong sự vận động và phát triển của tri thức nhân loại, các ngành khoa học đó và triết học vẫn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy nhau cùng phát triển
Bước sang thế kỷ XVIII, triết học của phái Khai ấn và của chủ nghĩa duy vật ở Pháp và ở Châu Âu đã nêu lên mối quan hệ phổ biến giữa triết học với các ngành khoa học này và đã có khuynh hướng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng hơn so với trước Khi nhận xét về những đặc điểm chung của triết học về tự
nhiên, trong tác phẩm “Lútvich Phơ Bách và sự cáo chung của Triết học cổ
điển Đức”, Ph.Ăngghen đã viết rằng: “…Triết học về tự nhiên đã có được nhiều tư tưởng thiên tài, đã dự đoán trước được nhiều phát hiện sau này, nhưng đồng thời nó cũng đưa ra những điều vô lý, nhưng không thể nào khác thế được… dù muốn hay không ngay cả đầu óc của các nhà khoa học tự nhiên được đào tạo ở một trường học siêu hình hiện nay thì Triết học về tự nhiên đã vĩnh viễn bị gạt bỏ Mọi mưu toan khôi phục lại Triết học về tự nhiên không những là một việc thừa mà còn là một bước thụt lùi” [24, tr.404)
Mặc dù đã đưa ra những nhận định có tính chất cảnh báo như vậy, song đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số nhà triết học duy tâm như Ôtxtơ Vanđơ, Avênariut, Đrisơ, … đã bước một bước lùi như vậy Bởi vì họ đã mưu toan phục hồi triết học về tự nhiên để khắc phục cuộc khủng hoảng của khoa học tự nhiên hiện đại
Rõ ràng, ngay từ khi mới xuất hiện với tính cách là một hình thái ý thức
xã hội, triết học đã dung hợp tất cả những tri thức của con người về thế giới Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử tư tưởng, nhận thức của nhân loại, nội dung và cơ cấu của triết học đã bị phân hóa, biến đổi Từ chỗ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên, nhằm đem đến cho con người những sự hiểu biết đúng đắn về thế giới, đến chỗ bị biến dạng thành một trào lưu, một khuynh hướng duy tâm, phản khoa học không chỉ ở trong triết học mà còn ở cả trong các khoa học tự nhiên Vì thế, triết học về tự nhiên
Trang 13tuy có một số giá trị nhất định nhưng đã bộc lộ sự ngưng trệ, “ốm yếu, già nua” lạc hậu, lỗi thời và cần phải được thay thế bằng một loại hình triết học mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn, đáp ứng kịp thời sự đòi hỏi không chỉ cho sự phát triển của triết học, của khoa học tự nhiên mà còn cho sự phát triển của đời sống thực tiễn xã hội Đó chính là hệ thống triết học Mác - Lênin – hệ thống triết học duy vật biện chứng, đỉnh cao của sự phát triển nền triết học nhân loại cho tới ngày nay
1.1.2 Khoa học và khoa học tự nhiên
Khi trả lời cho câu hỏi “Khoa học là gì?”, nhà triết học Arixtốt đã cho rằng: “Khoa học… là sự xác định đối tượng” [42, tr 98] Quan niệm như vậy
chưa vạch ra bản chất của khoa học mà chỉ nêu được một phần mục đích và nhiệm vụ của khoa học Khác với quan niệm đó, Ph.Hêghen lại khẳng định
rằng: “Khoa học thể hiện như một vòng tròn, căn cứ đơn giản bằng cách
trung gian hóa, vả lại vòng tròn này đồng thời cũng là một vòng tròn của các vòng tròn… những vòng khâu của dây chuyền này thể hiện những môn khoa học riêng biệt” [33, tr.252] Trong quan niệm này, Hêghen đã vạch ra được
mối liên hệ của các khoa học, mặc dù dưới một hình thức mô phỏng bằng “sự
ghép nối” các vòng tròn Tuy nhiên, điều hạn chế trong quan niệm trên của
Hêghen là tính mô phỏng hình thức và quan niệm “đóng kín” về khoa học
Quan niệm đó cũng chưa chỉ ra được các dấu hiệu đặc trưng, bản chất, khác biệt của khoa học Nhìn chung, những quan niệm của các nhà triết học trước Mác vẫn chưa chỉ ra được đầy đủ bản chất của khoa học
Trang 14Trong cuốn “Từ điển Triết học”, các tác giả đã cho rằng: “khoa học là
lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội, tư duy và bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của
sự sản xuất này: những nhà khoa học, những cơ quan khoa học, những trang
bị thực nghiệm, những phương pháp của công tác nghiên cứu khoa học, hệ thống khái niệm và phạm trù, hệ thống thông tin khoa học cũng như toàn bộ tổng số những tri thức hiện có” [43, tr.278] Quan niệm này tuy chỉ ra được
mục đích, cấu trúc và phạm vi tác dụng rộng rãi của khoa học, nhưng mặt bản chất của khoa học chưa được chú ý Hơn nữa, trong định nghĩa khái niệm
“khoa học” mà lại coi “những nhà khoa học”, “những cơ quan khoa học,
những trang bị thực nghiệm” cũng thuộc về ngoại diên của khái niệm khoa
học là điều cần cân nhắc lại
Thời gian gần đây, ở nước ta đã xuất hiện những định nghĩa về “khoa
học” chính xác và chặt chẽ hơn Như tác giả Lê Hữu Nghĩa đã đưa ra định
nghĩa: “Khoa học là một hệ thống những tri thức chân thực được thực tiễn
kiểm nghiệm, khoa học đem lại những sự hiểu biết về bản chất của mọi hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội dưới dạng những logic trừu tượng”
[37, tr.309] Điều cần ghi nhận trong định nghĩa này là tác giả khẳng định:
“Khoa học là một hệ thống những tri thức chân thực về thế giới”, tức là tác giả đã lựa chọn đúng khái niệm giống gần gũi của khái niệm “khoa học” để
định nghĩa nó Mặt khác, tác giả cũng đã xác định chính xác phạm vi hệ thống tri thức chân thực đó
Để đưa ra định nghĩa đúng đắn về một khái niệm, điều căn bản là phải xem khái niệm đó phản ánh đối tượng nào, trong đối tượng đó có những dấu
hiệu bản chất và khác biệt nào Khi đề cập đến khái niệm “khoa học”, các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết vấn đề theo cách này Như
Ph.Ăngghen đã viết: “Nếu một hình thái vận động này là do từ một hình thái
vận động khác phát triển lên thì những sự phản ánh đó tức là những ngành khoa học khác nhau cũng phải từ một ngành này phát triển ra một ngành
Trang 15khác một cách tất yếu”[2, tr.402] Ph.Ăngghen đã coi “những ngành khoa học khác nhau” là sự phản ánh các hình thái vận động khác nhau hay khoa học là
sự phản ánh thế giới chứ không phải là bản thân thế giới Quan niệm này đã
được Lênin phát triển và nhiều lần khẳng định rằng: “Khoa học… phản ánh
bản chất, thực thể của thế giới tự nhiên” [33, tr.200] hay “Khoa học ….bao quát một cách có điều kiện, gần đúng tính quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển” [33, tr.192]
Từ sự phân tích những định nghĩa về “khoa học” ở trên, chúng ta thấy
khoa học có những đặc trưng bản chất sau đây: Thứ nhất, đối tượng của khoa học là các quy luật vận động của cả tự nhiên, xã hội và tư duy Đó là sự phản ánh thế giới chứ không phải bản thân thế giới đó; Thứ hai, hệ thống tri thức được coi là khoa học bao gồm toàn bộ những hiểu biết cụ thể và đa dạng của con người về thế giới Đó là các khái niệm, phạm trù, các quy luật được tập hợp theo một phương pháp chung, thống nhất thành một chỉnh thể; Thứ ba, hệ thống tri thức khoa học phải là những tri thức chân thực, phản ánh đúng đắn những hình thái vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy Những tri thức ấy khái quát thực tiễn và luôn được thực tiễn kiểm nghiệm Từ đó, TS Nguyễn
Như Hải đi đến khẳng định rằng: “Khoa học là một hệ thống tri thức chân
thực phản ánh dưới dạng trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy” [17, tr.26]
Quan niệm về khoa học này đã nêu lên được những dấu hiệu bản chất và khác biệt của khái niệm khoa học, giúp cho chúng ta có cơ sở để phân biệt được khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác Đồng thời, nó tránh được
những hạn chế hay phạm phải khi định nghĩa khái niệm “khoa học”
1.1.2.2 Khoa học tự nhiên
Kể từ khi tách khỏi Triết học để trở thành khoa học độc lập, các khoa học tự nhiên có lịch sử vận động và phát triển riêng biệt của nó Việc làm sáng tỏ bản chất và lịch sử vận động, phát triển ấy có quan hệ trực tiếp với việc xác định các thời kỳ, cách phân loại khoa học tự nhiên cũng như đối với
Trang 16việc khảo sát sự thể hiện các tư tưởng, nguyên lý, quy luật triết học trong khoa học tự nhiên
Khi đề cập đến bản chất của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng khoa học tự nhiên là một hệ thống những nhận thức của con người về các quy luật vận động và phát triển của giới tự nhiên Hệ thống các tri thức đó được thể hiện trong các bộ môn khoa học cụ thể như Toán học, Cơ học, Vật lý học, Hóa học, Sinh học,… Kể từ khi ra đời, các bộ môn khoa học tự nhiên luôn vận động, phát triển song hành cùng với sự phát triển của các khoa học khác cũng như sự phát triển nhận thức khoa học của con người Tuy nhiên, so với các lĩnh vực khoa học khác thì khoa học tự
nhiên có tốc độ phát triển mạnh mẽ như vũ bão: “sau năm năm thì số lượng
các tri thức khoa học và các ngành khoa học lại tăng lên gấp đôi” [17, tr.39]
Đứng trước sự tăng trưởng và phát triển đó, buộc con người phải tìm cách hệ thống hóa, phân loại các ngành khoa học, cũng như xác định các mối quan hệ
có tính quy luật giữa khoa học này với các khoa học khác, để từ đó đưa ra những phương thức cụ thể cho việc vận dụng các thành tựu khoa học vào thực tiễn Trong các mối quan hệ ấy, mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và triết học có một vị trí đặc biệt Bởi, khi nắm vững được mối quan hệ này chẳng những tạo ra sự định hướng và phương pháp luận đúng đắn cho việc hệ thống hóa các ngành khoa học, cho sự vận dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học
tự nhiên vào sản xuất, mà còn xác định được một trong những động lực cơ bản của sự vận động, phát triển của khoa học tự nhiên và triết học
Bản thân các nhà khoa học tự nhiên đã thừa nhận mối liên hệ khăng khít giữa triết học và khoa học tự nhiên, cũng như vai trò của mối liên hệ ấy đối
với tiến trình phát triển của khoa học: “Cao trào khoa học mà chúng ta đang
trải qua thể hiện ở chỗ: do tính chất khoa học của mình mà một trong những
bộ môn khoa học đã gắn bó rất chặt chẽ với triết học, và làm sao việc nghiên cứu trong lĩnh vực đó lại có thể hoàn toàn tách khỏi những tìm tòi triết học được Bộ môn khoa học đó là phần giải tích gắn liền với lôgich toán, với tiên
Trang 17đề hóa… Những bộ môn toán học này cần phải được xếp vào các khoa học triết học” [45, tr.129 – 130] và “Đôi khi, do tính chất của chúng, rất khó phân biệt và tách biệt các khẳng định vật lý học với các khẳng định triết học, và nhà vật lý buộc phải là một nhà triết học” [44, tr.9]
Khẳng định mối liên hệ khăng khít giữa sự ra đời và phát triển của triết học với sự ra đời và phát triển của khoa học tự nhiên, Ph.Ăngghen từng nói:
“Cái thúc đẩy các nhà triết học, hoàn toàn không phải chỉ riêng sức mạnh
của tư duy thuần túy như họ tưởng tượng Trái lại, trong thực tế, cái thật ra
đã thúc đẩy họ tiến lên, chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghiệp”
[23, tr.603] Thật vậy, luận điểm đó của Ph.Ăngghen đã vạch rõ, về mặt lý luận, quy luật phát triển tiến lên của triết học luôn sát cánh với khoa học tự nhiên Chính khoa học tự nhiên đã cung cấp cho triết học những tài liệu nhận
thức về tự nhiên và “mỗi lần có một phát minh vạch thời đại, ngay cả trong
lĩnh vực khoa học tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi phải thay đổi hình thức của nó” [23, tr.606] Về phần mình, khoa học tự nhiên cũng ra
đời và phát triển trên cơ sở sự phát triển của đời sống vật chất – kinh tế của xã hội, liên hệ chặt chẽ với triết học và ngay từ đầu đã được xây dựng trên cơ sở nhận thức luận duy vật
1.2 Vai trò của triết học với khoa học tự nhiên
1.2.1 Triết học khoa học là cơ sở thế giới quan cho sự phát triển của khoa học tự nhiên
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó
Về cơ bản có ba loại hình thế giới quan: thế giới quan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học Khác với huyền thoại và giáo lý tôn giáo, triết học diễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới Với ý nghĩa như vậy, triết học được coi như trình độ tự giác
Trang 18trong quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan Triết học đã tạo nên
hệ thống lý luận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới Là hạt nhân lý luận của thế giới quan, triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch
sử Vấn đề đặt ra là thứ triết học nào có thể cung cấp một cơ sở thế giới quan đúng đắn cho con người nói chung và các nhà khoa học tự nhiên nói riêng Cũng như chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm ra đời và tồn tại đã trên
2500 năm nay Cuộc đấu tranh của nó chống chủ nghĩa duy vật không phải không tác động đến các lĩnh vực tri thức khác Đánh giá một cách toàn diện vai trò của chủ nghĩa duy tâm đối với sự phát triển của nhận thức loài người là
công việc rất phức tạp vì như V.I.Lênin nhận xét: “Theo quan điểm của chủ
nghĩa duy vật thô lỗ, đơn giản, siêu hình, chủ nghĩa duy tâm triết học chỉ là
sự ngu xuẩn Trái lại, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một sự phát triển phiến diện, thái quá… (một
sự thổi phồng, bơm to) của một trong những đặc trưng, của một trong những giới hạn của nhận thức, thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi giới tự nhiên, thần thánh hóa… đó là một đóa hoa không kết quả nhưng là một đóa hoa không kết quả mọc trên một cái cây sống của nhận thức sinh động, phong phú, chân thực, khỏe mạnh, toàn năng, khách quan, tuyệt đối của con người” [36, tr 386] Do vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã
yêu cầu phải đấu tranh không khoan nhượng, phải phê phán cụ thể, toàn diện
và nhất quán đối với chủ nghĩa duy tâm, yêu cầu phải phân tích những trào lưu cụ thể và tìm ra những nét chung, những nét đặc thù của các trào lưu ấy Mặt khác, không nên đánh đồng tất cả các trào lưu duy tâm khác nhau vì có những trường phái, những nhà triết học duy tâm có nhiều tư tưởng tích cực, góp phần nhất định vào sự phát triển văn hóa nhân loại Tiêu biểu là triết học duy tâm khách quan của Hêghen không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử triết học
mà còn có vai trò trong sự phát triển tri thức khoa học, cùng với triết học cổ điển Đức hợp thành một trong ba nguồn gốc cấu thành chủ nghĩa Mác
Trang 19Song ngay cả những tư tưởng và những học thuyết xuất sắc ấy cũng phải được cải tạo theo cách C.Mác, Ph Ăngghen và V.I.Lênin đã cải tạo Hêghen, nghĩa là phải lột bỏ cái vỏ thần bí, duy tâm của chúng Mặt khác, không phải chủ nghĩa duy tâm nói chung mà chỉ có những nhà triết học duy tâm riêng biệt trong một hoặc một số vấn đề riêng biệt mới mang lại những kết quả tích cực ấy Vì vậy, trong khi đánh giá quan hệ và ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm đối với khoa học tự nhiên, chúng ta tập trung chủ yếu vào cách giải quyết của chủ nghĩa duy tâm về vấn đề cơ bản của triết học vì nó chi phối hầu hết các quan điểm khác, nó quan trọng về mặt thế giới quan và phương pháp luận, đồng thời cũng chỉ rõ sự đối lập về bản chất không thể điều hòa giữa chủ nghĩa duy tâm và khoa học tự nhiên
Bằng một số dẫn chứng cụ thể từ trong lịch sử hình thành và phát triển của cả triết học và khoa học tự nhiên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch rõ tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa duy tâm đối với sự tiến
bộ của khoa học Từ xưa đến nay, tiến bộ của tri thức về giới tự nhiên bao giờ cũng gắn liền với truyền thống duy vật triết học Hai lĩnh vực này hỗ trợ và nương tựa nhau cùng phát triển Ngược lại, thần học và tôn giáo luôn cản đường tiến lên của khoa học tự nhiên, còn chủ nghĩa duy tâm và khoa học tự nhiên đối lập với nhau từ trong bản chất
Chủ nghĩa duy tâm với các đại biểu nổi tiếng của nó từ Platôn, Beccơli, Hium, Cantơ, Hêghen đến các trường phái duy tâm hiện đại, mặc dù không có
sự đồng nhất nhưng luôn có những điểm chung, có sự liên hệ và kế thừa nhất
định Tất cả các nhà triết học duy tâm đều “quả quyết rằng tinh thần có trước
tự nhiên, và do đó, xét đến cùng bằng cách này hay cách khác thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới” [4, tr.25], tức là tất cả họ đều thừa nhận rằng vật chất là
tính thứ hai so với tinh thần là tính thứ nhất; tinh thần sáng tạo ra vật chất Các nhà duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại độc lập của khách thể đối với chủ thể, phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan Chẳng hạn, thế giới sự vật, theo Béccơli cũng như nhiều nhà duy tâm chủ quan khác, là tổ hợp các
Trang 20cảm giác đơn nhất, “sự vật được thu nhận trực tiếp là những biểu tượng, mà
những biểu tượng thì không thể tồn tại ở ngoài trí tuệ” [5, tr 84] Nếu như
I.Cantơ còn thừa nhận “vật tự nó” thì Makhơ phủ nhận luôn cả sự tồn tại của
“vật tự nó”, phủ nhận cả thực tại khách quan Theo Makhơ, nguyên tử, phân
tử, khối lượng… không phải là những thực tại khách quan mà chỉ là những tượng trưng để mô tả một cách tiết kiệm các cảm giác
Phê phán những người duy tâm chủ quan, Hêghen thừa nhận rằng giới tự nhiên tồn tại độc lập với con người Song, vốn là người duy tâm, Hêghen không thể nào khắc phục được sai lầm căn bản của chủ nghĩa duy tâm nói
chung Đối với Hêghen, giới tự nhiên cũng chỉ là sản phẩm của tinh thần, là “sự
tha hóa”, là sự thể hiện của “ý niệm tuyệt đối” Thừa nhận thế giới tồn tại độc
lập với con người nhưng chủ nghĩa duy tâm khách quan không coi nó độc lập với thượng đế và khi đã thừa nhận thế giới là do thượng đế tạo ra thì tất yếu thế giới đó không thể vận động và phát triển theo các quy luật của bản thân nó Bên cạnh đó, do sự phát triển và vai trò ngày càng tăng của khoa học tự nhiên đối với sự phát triển của xã hội mà thái độ của các nhà duy tâm đối với khoa học có thay đổi ít nhiều Thậm chí, những nhà triết học theo chủ nghĩa Tômát mới còn công khai tuyên truyền rằng các luận điểm triết học của họ là kết quả trực tiếp của những thành tựu khoa học tự nhiên Song chủ nghĩa duy tâm đối lập về bản chất với các sự kiện của khoa học Nó không những lợi dụng những khó khăn mà còn lợi dụng và xuyên tạc cả những kết quả và những sự kiện ấy nhằm luận chứng cho cái tựa hồ là cơ sở khoa học của nó chứ không nhằm rút ra những kết luận nhận thức phù hợp với chúng Vào đầu thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng trong vật lý học đang diễn ra và chủ nghĩa duy vật tự phát của khoa học tự nhiên không thể giải quyết đúng đắn vấn đề quan hệ giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối thì các nhà duy tâm đã nắm ngay lấy nhược điểm đó Ý đồ này của các nhà triết học duy tâm đã bị
V.I.Lênin vạch trần: “Muốn loại trừ quy luật khỏi khoa học, chính là thực tế
muốn lén lút đưa ra các quy luật của tôn giáo và khoa học” [32, tr.230] Bên
Trang 21cạnh đó, chủ nghĩa duy tâm cũng đã lợi dụng việc một số nhà khoa học tự nhiên lớn mắc những sai lầm nhỏ nhất và các chỗ diễn đạt hàm hồ nhỏ nhất để chứng minh cho quan điểm của mình, để kéo nhà khoa học tự nhiên về cùng phía
Như vậy, trong các vấn đề cơ bản nhất, thế giới quan duy tâm hoàn toàn đối lập với khoa học tự nhiên vì khoa học tự nhiên nhất trí với chủ nghĩa duy vật, thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, thừa nhận thế giới vật chất có thật
Mặt khác, mục đích của khoa học tự nhiên là “chứng minh những sự chuyển
biến và liên hệ cá biệt của các mắt xích nhỏ nhất trong sợi dây chuyền của tồn tại” [3, tr.93], là vạch ra bản chất các hiện tượng của giới tự nhiên (tức là
của vật chất đang vận động), là nhận thức các quy luật của chúng và trên cơ
sở các quy luật ấy tiên đoán những hiện tượng mới, vạch ra khả năng sử dụng các quy luật đã được nhận thức ấy vào thực tiễn Nói cách khác, mục đích trực tiếp của khoa học tự nhiên là nhận thức chân lý (các quy luật của tự nhiên), còn mục đích cuối cùng là áp dụng các quy luật đã được nhận thức ấy nhằm phục vụ lợi ích con người Như vậy, khoa học tự nhiên là công cụ nhận thức và cải tạo vĩ đại của con người
Ngoài ra, nếu tin theo các nguyên lý thế giới quan cơ bản của chủ nghĩa duy tâm, nếu coi đối tượng và nhiệm vụ của khoa học là chứng minh sự tồn tại của Thượng đế thì khoa học tự nhiên không còn đối tượng nghiên cứu mà từ
lâu đã phải bỏ đối tượng của nó là “vật chất đang vận động, là các vật thể…,
các hình thức khác nhau của vận động” [27, tr 283] Bởi vì đối với chủ nghĩa
duy tâm, vận động chỉ là hành động liên tục của Thượng đế và “sự thừa nhận
vật chất không mang lại một lợi ích nào trong khoa học tự nhiên” [6, tr.68]
Chủ nghĩa duy tâm đã gây tác hại nhiều mặt mà nhiều nhà khoa học trong lịch sử đã công khai thừa nhận điều đó Xuất phát từ quan điểm thực chứng, O.Côngtơ cho rằng khoa học không bao giờ có thể biết được thành phần hóa học của các thiên thể Tuy nhiên, chỉ hai năm sau khi O.Côngtơ mất,
R Bunzen và Kirơkhơgốp đã phát hiện ra phương pháp phân tích quang phổ
Trang 22và nhờ đó tiến hành phân tích được thành phần hóa học của khí quyển mặt trời và các thiên thể xa hơn Chủ nghĩa thực chứng Makhơ đã ảnh hưởng tai hại đối với nhiều nhà khoa học khác Bản thân Anhxtanh khi còn trẻ cũng đã chịu ảnh hưởng bởi các tác phẩm của Makhơ Chính Anhxtanh đã thừa nhận rằng ông chậm công bố các công trình về thuyết tương đối rộng, vì lúc đầu ông thấy chúng mâu thuẫn với nguyên lý nhân quả theo cách giải thích của Hium Chỉ sau khi cố gắng luận chứng, ông mới hiểu rằng cách giải thích của Hium là sai lầm và ông tiếp tục hoàn chỉnh thuyết tương đối rộng để công bố kết quả do ông tìm ra
Như vậy, bên cạnh việc cản trở không cho các nhà khoa học có một hướng đi đúng đắn, không giúp cho họ có một phương pháp nghiên cứu có hiệu quả, chủ nghĩa duy tâm làm cho các nhà khoa học trong những khoảng thời gian nhất định phải lao động hoặc mất khả năng phân biệt đúng, sai ngay trong các kết luận chính mình đã đạt được Nếu theo các nguyên lý thế giới quan của chủ nghĩa duy tâm thì chắc chắn nền khoa học tự nhiên không thể phát triển đến trình độ hiện nay và con người sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào các
thế lực huyền bí, chưa thoát khỏi thời kỳ mông muội và chắc chắn “khoa học
còn bị chôn chân trong thần học” Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng chủ nghĩa
duy tâm và khoa học tự nhiên đối lập với nhau từ trong bản chất, mục đích Chủ nghĩa duy tâm không thể cho các nhà khoa học một cơ sở thế giới quan đúng đắn, cản trở các nhà khoa học chọn được phương pháp nghiên cứu khoa học hiệu quả
1.2.2 Triết học khoa học cung cấp phương pháp luận chung nhất cho khoa học tự nhiên phát triển
Để có thể nhận thức được sự vật, đi sâu vào nghiên cứu, khám phá thế giới, đối với người nghiên cứu là phải có trong tay những phương pháp, tức là các hình thức nắm vững hiện thực về mặt lý luận và thực tiễn, xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể được nghiên cứu Phương pháp không phải là những quy trình tùy tiện mà nó được xây dựng trên cơ sở các quy luật
Trang 23khách quan của sự vật do con người đã nhận thức được Các quy luật khách quan ấy tạo nên cái lõi của phương pháp Phương pháp có nhiều loại tùy vào tính chất của các quy luật mà dựa vào đó phương pháp được xây dựng: các phương pháp riêng tác động trong một lĩnh vực khoa học riêng biệt; phương pháp đặc thù được sử dụng cho một số ngành khoa học nhất định; phương pháp chung nhất, phổ biến nhất, áp dụng cho tất cả mọi bộ môn khoa học Một phương pháp chung nhất, phổ biến nhất như vậy chỉ có thể là phương pháp luận triết học – môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Trong tình hình phát triển như
vũ bão của khoa học hiện nay, thứ triết học nào là triết học thực sự khoa học,
có thể đóng vai trò là phương pháp luận phổ biến, đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của khoa học?
Lịch sử phát triển triết học cho thấy tư duy biện chứng xuất hiện rất sớm trong nền triết học cổ đại Hy lạp Tư duy ấy đã cho phép các nhà tư tưởng tạo
ra một bức tranh tổng quát đầu tiên về thế giới Bức tranh này căn bản là đúng
vì nó phản ánh được những nét chung nhất của thế giới khách quan Nhưng cách nhìn tổng thể của người Hy lạp không giải thích được các chi tiết kết thành toàn bộ bức tranh, do đó chưa thể có một quan niệm thật rõ rệt về nó; mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa có sự kiện khoa học
cụ thể chứng minh Tìm ra những sự kiện đó là nhiệm vụ nghiên cứu của khoa học tự nhiên, song vừa mới manh nha, khoa học đã rơi ngay vào vòng phong tỏa của giáo hội
Trải qua hàng chục thế kỷ, cho đến nửa sau thế kỷ XV trở đi, một “cuộc
cách mạng vĩ đại nhất mà trước đó trái đất chưa từng thấy” [2, tr.303] diễn ra
đã đẩy tri thức của nhân loại lên một bước mới Sự phân tích, mổ xẻ giới tự nhiên thành những bộ phận, những mặt riêng biệt mà người Hy lạp chưa làm
được thì từ thời kỳ Phục hưng đến thế kỷ XVIII đã “là những điều kiện cơ
bản cho những tiến bộ khổng lồ… trong việc nhận thức giới tự nhiên” [3,
tr.34 – 35] Khoa học tự nhiên thời ấy đã lấp được những chỗ trống trong bức
Trang 24tranh tổng quát về thế giới và có những đóng góp vô cùng quý giá, tạo ra “bức
tranh cơ học về thế giới” Nhưng cách xem xét các hiện tượng tự nhiên tách
biệt nhau, không thấy sự thống nhất, không vận động, không phát triển, bỏ qua những mối liên hệ đa dạng dần dần đã làm nảy sinh phương pháp tư duy
siêu hình “mà điểm trung tâm là quan niệm về tính chất bất di bất dịch tuyệt
đối của thiên nhiên” [2, tr.44] Phương pháp này buộc người ta xét sự vật
trong tĩnh tại, xét các mức độ tổ chức của vật chất trong ranh giới nghiêm ngặt, vĩnh viễn không vượt qua được
Ra đời là một tất yếu lịch sử, là một giai đoạn không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của nhận thức khoa học, phương pháp siêu hình đem lại những kết quả tích cực vào những giai đoạn nhất định, phù hợp với trình độ phát triển của các khoa học chủ yếu đang làm nhiệm vụ sưu tập, mô tả, phân
loại nhưng nó đã làm mất “tính chất triệt để cách mạng” của khoa học tự
nhiên Và nguy hiểm hơn, phương pháp tư duy siêu hình không tránh khỏi việc mở cửa cho những sai lầm duy tâm Các nhà khoa học tự nhiên có tư duy siêu hình, kể cả Niutơn vĩ đại, đã đi tìm và tìm thấy nguyên nhân của sự vận
động và sự phát triển ở “cái hích đầu tiên”, ở “sự thúc đẩy ban đầu của
Chúa”, ở “hành vi sáng tạo” của Thượng đế như Ph.Ăngghen từng khẳng
định: đó là “con đường chắc chắn nhất từ khoa học tự nhiên tới chủ nghĩa
thần bí” [2, tr.100] Nói cách khác, chính phương pháp tư duy ấy mâu thuẫn
với bản chất duy vật và tính chất biện chứng trong sự phát triển của các đối tượng mà khoa học tự nhiên nghiên cứu
Cho đến giữa thế kỷ XX, tức là sau bốn thế kỷ kể từ thời Phục hưng, bằng các phát minh vĩ đại của mình, khoa học tự nhiên đã chứng minh một cách thuyết phục rằng trong tự nhiên, mọi sự vật đều phát triển, mọi quá trình đều diễn ra một cách biện chứng Hiện nay, do đối tượng nghiên cứu bị chia nhỏ, nhiều nhà khoa học mới hình thành, mỗi người nghiên cứu đi sâu vào một lĩnh vực, một khía cạnh nhỏ nên phương pháp tư duy siêu hình dễ có điều kiện phát huy tác dụng tiêu cực của nó, dễ đẩy người ta đến chỗ tuyệt đối hóa
Trang 25một phương pháp nào đó Song khoa học hiện đại không chỉ có một mình xu hướng phân hóa mà còn có một xu hướng khác mạnh hơn nữa: xu hướng tổng hợp các khoa học và tri thức khoa học Xu hướng tổng hợp này không phải chỉ thế kỷ XX mới có Nó đã có từ thế kỷ trước, tổng hợp trên cơ sở sự phân ngành mạnh mẽ đạt đến một trình độ cao và song song diễn ra với sự phân ngành ấy Trong điều kiện đó, việc nắm vững phép biện chứng duy vật là hết sức cần thiết
Phép biện chứng duy vật là công cụ nhận thức chung nhất, duy nhất đúng đắn của khoa học tự nhiên hiện đại
Trước hết, các nguyên lý, các quy luật, các phạm trù,… của phép biện chứng duy vật giúp cho các nhà khoa học định hướng trong công tác nghiên cứu Phép biện chứng duy vật có thể thực hiện được chức năng này vì nó là khoa học về các quy luật vận động và phát triển chung nhất của cả tự nhiên,
xã hội và tư duy Do đó, phép biện chứng duy vật giúp cho các nhà khoa học khi bắt tay vào nghiên cứu các sự vật có thể xác định được về đại thể con đường nghiên cứu, có phương hướng đặt vấn đề cũng như cách giải quyết vấn
đề, tránh được những lầm lạc hay mò mẫm trong cả một khối tài liệu thực nghiệm to lớn mà không có tư tưởng dẫn đường
Việc áp dụng phép biện chứng trong nghiên cứu khoa học có thể diễn ra một cách tự giác, cũng có thể diễn ra một cách tự phát Lịch sử phát triển của khoa học đã chứng kiến nhiều trường hợp như thế Chẳng hạn như trường hợp Rơzerơfo lý giải về hiện tượng phóng xạ Ngay từ năm 1891 (5 năm trước khi phát hiện ra hiện tượng phóng xạ), E Rơzerơfo đã nêu lên tư tưởng về sự
“tiến hóa của vật chất” Lúc đó, ông chưa có một tài liệu thực nghiệm nào và
tư tưởng này mang tính chất một ước đoán Tuy vậy, nó đã hướng các nhà khoa học, và trước hết là hướng Rơzerơfo cùng người cộng tác với ông sau đó
là F Sôdi đi tìm sự chứng minh cho tư tưởng trên Sự chứng minh đó là tính phóng xạ Song suốt 6 năm, hiện tượng phóng xạ chưa được khái quát về mặt
lý luận Mãi đến năm 1902, dựa trên tư tưởng triết học về tính biến đổi có tính
Trang 26chất tiến hóa của nguyên tử, ông đã đưa ra được lý thuyết đầu tiên về sự phóng xạ xem như sự phân rã nội tại của nguyên tử Chính Sôdi về sau đã nói
rõ rằng ông cùng Rơzerơfo đi đến lý thuyết trên là do xuất phát từ luận điểm
của Hêraclit: “Mọi cái đều trôi đi” vì điều đó có nghĩa là tất cả các nguyên tố
cũng biến đổi
Trường hợp, Menđêlêep phát minh ra định luật tuần hoàn của các nguyên tố hóa học cũng là một trường hợp khá điển hình về tác dụng của các
tư tưởng duy vật biện chứng tới nghiên cứu khoa học tự nhiên Ph.Ăngghen
nhận xét rằng: “nhờ áp dụng – một cách không có ý thức – quy luật của
Hêghen về sự chuyển hóa lượng thành chất, Menđêlêep đã hoàn thành một kỳ công khoa học có thể tự hào đứng ngang hàng với kỳ công của Lơveriê khi ông tính ra quỹ đạo của hành tinh sao Hải vương tinh mà người ta chưa biết”
[2, tr.113] Như vậy là ở đây, tư tưởng duy vật biện chứng đã được áp dụng một cách tự phát Và sở dĩ có sự vận dụng một cách tự phát như thế là do lôgic phát triển khách quan của bản thân sự vật đã buộc người nghiên cứu không thể nhìn vấn đề theo một cách khác Dĩ nhiên, sự vận dụng một cách tự phát như thế không thể mang lại nhiều hiệu quả như sự vận dụng tự giác Các nhà khoa học tự nhiên là những người trực tiếp tiếp xúc với sự vật trong công việc nghiên cứu hàng ngày Mục đích nghiên cứu của họ là tìm ra các quy luật của sự vật, phát hiện ra bản chất của chúng thông qua các biểu hiện bên ngoài Nhưng các sự vật không bao giờ ở trong trạng thái tĩnh tại, đứng im tuyệt đối Ngược lại, chúng luôn luôn ở trạng thái vận động, phát triển và nằm trong mối quan hệ qua lại chằng chịt hết sức phức tạp Do đó, muốn thấy bản chất của sự vật và phản ánh chúng một cách đúng đắn thì phải
xem xét sự vật theo quan điểm toàn diện - “chú ý đến tất cả các mặt của
những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó, chứ không phải lấy một mẩu ở chỗ này, một mẩu ở chỗ kia”, quan điểm phát triển
và quan điểm lịch sử cụ thể Đó chính là những yêu cầu cơ bản của phép biện chứng duy vật
Trang 27Như vậy, phép biện chứng duy vật giúp nhà khoa học nhìn nhận được sự vật đúng như chúng vốn có, nhờ đó, giúp nhà khoa học sớm phát hiện ra sự thật và xây dựng được các lý thuyết phản ánh sự vật một cách chính xác hơn, tránh được các sai lầm phiến diện, giản đơn hay máy móc, giáo điều trong công tác nghiên cứu của mình Đó là điều rất quan trọng khi mà khoa học tự nhiên đang ngày càng đi vào một lĩnh vực chuyên môn quá hẹp và dễ nhìn sự vật một cách phiến diện; đó cũng là điều quan trọng đối với tình hình tổng hợp tri thức khoa học ngày nay
Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận đúng đắn để xây dựng lý thuyết
và lý giải các thành tựu của khoa học tự nhiên
Mỗi ngành khoa học tự nhiên chỉ phản ánh một bộ phận nhỏ, một
“mảnh” nhỏ của thế giới hiện thực vào trong lý luận của mình Mỗi bộ phận, mỗi “mảnh” nhỏ ấy nằm trong mối liên hệ qua lại chằng chịt hết sức phức tạp với các bộ phận khác Vì vậy, để xác định được hướng đi và cách đi thích hợp, trước hết khoa học tự nhiên cần dựa vào các nguyên lý thế giới quan, phép biện chứng duy vật, bởi vì chúng là những quan điểm khái quát đúng đắn của con người về thế giới nói chung và về vị trí của con người trong thế giới ấy Do đó, triết học duy vật biện chứng bao giờ cũng là cơ sở, tiền đề cho mọi bộ môn khoa học cụ thể nói chung, cho khoa học tự nhiên nói riêng trong khi xây dựng lý thuyết của mình
Thực tế cho thấy rằng bất cứ một công trình khoa học nào bao giờ cũng được xây dựng trên một cơ sở triết học nhất định và như X.I.Vavilốp - nhà vật
lý học lỗi lạc, cựu Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên – Xô, nhận xét: “Các
nhà khoa học tự nhiên mang tâm trạng chống đối triết học nghĩ rằng sự nghiên cứu khoa học một cách có ý thức có thể không cần đến một tiền đề triết học nào cả Tuy nhiên, thậm chí sự phân tích nông cạn đối với một công trình khoa học cụ thể cũng có thể vạch ra được những cái nền triết học (có ý thức hoặc tồn tại không rõ nét đối với tác giả) trên đó công trình được thực hiện và các kết luận được rút ra” [44, tr.22]
Trang 28Như vậy, trong quá trình xây dựng các lý thuyết khoa học tự nhiên, bao giờ nhà khoa học cũng phải xuất phát từ những tiền đề triết học, phải vận dụng những luận điểm triết học nhất định Nói cách khác, các quan điểm triết học luôn thâm nhập vào quá trình nhà khoa học xây dựng lý thuyết Tuy nhiên, muốn xây dựng được một lý thuyết đúng đắn, phản ánh đúng bản chất của đối tượng nghiên cứu thì nhà khoa học phải xuất phát từ lập trường duy vật và phương pháp biện chứng để tránh khỏi sự tư duy tùy tiện, chủ quan và phiến diện Ngoài ra, công việc sáng tạo khoa học còn đòi hỏi nhà khoa học phải có tri thức sâu sắc, kinh nghiệm phong phú và những phẩm chất khác của nhà nghiên cứu Một lý thuyết khoa học đúng đắn là kết quả của sự kết hợp giữa tiền đề đúng và phương pháp đúng Đó là hai yếu tố quan trọng nhất để dẫn tới phát minh khoa học
Quá trình xây dựng một lý thuyết khoa học tự nhiên còn đòi hỏi phải giải thích về mặt lý luận xem bản chất những thành tựu đã thu được là cái gì Trên thực tế nhiều nhà khoa học lỗi lạc có sáng tạo rất to lớn trong việc xây dựng
lý luận về một đối tượng nào đó, nhưng khi giải thích những kết luận do mình thu lượm được lại sa vào những lập trường triết học sai lầm Nhiều khi nhà khoa học đó không sai lầm, nhưng những thành tựu mà ông ta thu được lại bị những người khác, trước hết là những nhà triết học duy tâm và những người làm công tác khoa học có lập trường tương tự giải thích xuyên tạc đi nhằm đạt đến những mục đích nhất định của họ Chẳng hạn, thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh đã bị Eđinhtơn giải thích như sự chứng thực cho quan điểm duy tâm nói rằng các thuộc tính của không gian và thời gian phụ thuộc vào chủ thể Hoặc công thức tương quan giữa khối lượng và năng lượng E = mc2 đã bị các nhà triết học và vật lý duy tâm giải thích như sự chứng minh về mặt khoa học tự nhiên cho luận điểm duy tâm nói rằng khối lượng biến thành năng lượng và năng lượng (chứ không phải vật chất) là cơ sở của toàn bộ vũ trụ Rõ ràng ở đây các thành tựu khoa học tự nhiên đã bị giải thích một cách sai lạc Thực vậy, thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh chỉ chứng tỏ rằng không gian
Trang 29và thời gian gắn bó chặt chẽ với nhau và gắn liền với vận động chứ không hề chứng tỏ rằng các thuộc tính của không gian và thời gian phụ thuộc vào chủ thể Công thức E = mc2 chỉ nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa khối lượng và năng lượng chứ không hề thể hiện sự chuyển hóa giữa khối lượng và năng lượng để có thể rút ra kết luận năng lượng là cơ sở của toàn bộ vũ trụ Như vậy, ở giai đoạn cuối cùng này của quá trình xây dựng lý thuyết khoa học tự nhiên, giai đoạn phải giải thích bản chất những thành tựu của lý thuyết đó, vai trò của triết học lại nổi lên hàng đầu Vì vậy, nếu muốn có một công trình lý thuyết khoa học tự nhiên hoàn chỉnh cả về mặt nghiên cứu lẫn mặt giải thích thì nhà khoa học phải biết vận dụng những quan điểm triết học trong lĩnh vực chuyên môn của mình Đương nhiên, những quan điểm triết học này phải là những quan điểm triết học khoa học – triết học mácxít
Phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận duy nhất đúng đắn để giải quyết những vấn đề triết học nảy sinh trong quá trình nghiên cứu khoa học tự nhiên
Lịch sử vận động, phát triển của khoa học tự nhiên cho thấy càng đi sâu vào nghiên cứu các hiện tượng khác nhau của tự nhiên, khoa học tự nhiên càng vấp phải nhiều vấn đề mà tự nó không giải quyết được và lại là những
vấn đề triết học, như Anhxtanh từng nhận xét: “Những khó khăn mà nhà vật
lý hiện nay đang vấp phải trong lĩnh vực của mình đã buộc ông ta phải đề cập đến những vấn đề triết học nhiều hơn nhiều so với nhà vật lý của các thế hệ trước” [22, tr.9] Để giải quyết những vấn đề ấy, các nhà khoa học tự nhiên
phải tìm đến triết học, và việc giải quyết chúng một cách đúng đắn chỉ có thể
tìm thấy trong phép biện chứng duy vật: “Các nhà khoa học tự nhiên hiện đại
có thể tìm thấy (nếu họ biết tìm và nếu chúng ta biết cách giúp đỡ họ) trong phép biện chứng của Hêghen được giải thích theo quan điểm duy vật biện chứng câu giải đáp cho những vấn đề triết học do cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên đề ra và đang làm cho những phần tử trí thức sung bái cái mốt
tư sản “sa chân lạc bước” vào con đường phản động”[34, tr.347] Ta có thể
Trang 30thấy rõ điều đó qua nhiều ví dụ cụ thể, chẳng hạn, qua việc giải quyết vấn đề mâu thuẫn sóng – hạt trong vật lý học hiện đại
Trước đây, trong vật lý học cổ điển, các khái niệm “hạt” và “sóng” tách
rời nhau và bị đem đối lập với nhau Người ta cho rằng các khách thể vật chất chỉ có thể hoặc là hạt hoặc là sóng Nhưng đến những năm 20 của thế kỷ XX, các tài liệu thực nghiệm đã hoàn toàn xác nhận rằng khách thể vi mô vừa có
thuộc tính hạt, vừa có thuộc tính sóng Trong khi đó, “hạt” và “sóng” lại là
những khái niệm đối lập và loại trừ lẫn nhau Vì không nắm được phép biện chứng, không am hiểu quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập cho nên có những nhà khoa học chỉ cần nhấn mạnh đến thuộc tính hạt của các hạt vi mô, cố gắng quy thuộc tính sóng vào thuộc tính hạt (quan điểm của
Tômxơn), hoặc ngược lại, giải thích thuộc tính hạt như các “bó sóng” (quan
điểm của Sơrôđingơ) Những cách giải thích đó không phù hợp với thực nghiệm và không cho câu trả lời đúng đắn về sự kết hợp những mặt đối lập trong cùng một khách thể Đi xa hơn, N.Bo căn cứ vào các tài liệu thực nghiệm, ông nhận thấy hạt và sóng đều là những khía cạnh cơ bản như nhau của vật chất Do đó, theo Bo, trong quá trình nhận thức, để dựng lại bức tranh thống nhất, toàn vẹn về khách thể, cần sử dụng các cặp khái niệm loại trừ lẫn
nhau, “bổ sung” cho nhau và quan điểm này của N Bo được gọi là “quan
điểm bổ sung” Ví dụ, để mô tả được vi thể cần sử dụng khái niệm “hạt” (biểu
hiện tính gián đoạn) lẫn khái niệm “sóng” (biểu hiện tính liên tục) Những khái niệm này “bổ sung” lẫn nhau (theo nghĩa chỉ có tập hợp hai khái niệm
này lại mới có thể cho một quan niệm đầy đủ hơn về đối tượng) Chúng cùng biểu hiện những khía cạnh quan trọng như nhau của khách thể vi mô, nhưng không bao giờ trực tiếp mâu thuẫn với nhau vì khi khách thể vi mô đã là hạt thì không thể là sóng và khi nó là sóng thì không thể là hạt Như vậy, một cách tự phát, do áp lực của các tài liệu khoa học tự nhiên, N.Bo đã nhận thấy
sự tồn tại của các mặt đối lập trong khách thể vi mô, đã thấy cần áp dụng các khái niệm đối lập nhau để nghiên cứu và mô tả cùng một sự vật Nhưng về cơ
Trang 31bản, ông chỉ thấy sự loại trừ lẫn nhau giữa chúng mà chưa thấy được sự tồn tại của các mặt đối lập trong cùng một sự vật và sự thống nhất biện chứng giữa chúng, chưa thấy được sự gắn bó chặt chẽ, sự tác động qua lại và sự thâm nhập lẫn nhau giữa chúng Do vậy, Bo cũng như nhiều nhà vật lý học phương Tây – những người ủng hộ quan điểm của ông và xem nguyên lý bổ sung là cơ sở phương pháp luận phổ biến để nghiên cứu vật lý vi mô – đã gặp phải khó khăn rất lớn khi nghiên cứu sự thống nhất đầy mâu thuẫn giữa tính chất hạt và tính chất sóng trong chúng
Vấn đề này chỉ có thể được giải quyết một cách thỏa đáng nếu đứng trên quan điểm duy vật biện chứng Theo quan điểm duy vật biện chứng thì vật chất, tức là vật thể và trường (với tư cách là các dạng tồn tại của vật chất), nói chung không phải hạt, cũng không phải sóng theo nghĩa cổ điển và cũng không phải là sự kết hợp hai cái này vào trong một mô hình vĩ mô (cổ điển) nào đó Nói cách khác, nó đồng thời có các thuộc tính hạt và sóng Sự vận động của khách thể vi mô chỉ có thể xem một cách gần đúng như sự chuyển dịch của các hạt và sự lan truyền của các sóng theo nghĩa cổ điển Còn thực ra
“hạt” và “sóng” lượng tử khác với “hạt” và “sóng” cổ điển Sự khác biệt thể hiện ở chỗ các khái niệm “hạt” và “sóng” lượng tử trong phạm vi lý thuyết
của mình có tính tương đối, trong khi đó các khái niệm cổ điển trong phạm vi
lý thuyết của mình có tính tuyệt đối Như vậy, đứng trên quan điểm duy vật
biện chứng thì các vi thể vừa là “hạt” vừa là “sóng”, nghĩa là chúng không còn là các khái niệm “hạt” và “sóng” cổ điển nữa, mà đã là các khái niệm
“hạt” và “sóng” lượng tử Đối với các thành tựu của sinh học, hóa học, điều
khiển học… cũng xảy ra tình hình tương tự
Thí dụ trên đây chứng tỏ rằng chỉ có đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các nhà khoa học nói chung, các nhà khoa học tự nhiên nói riêng mới có thể tìm được lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề triết học hiện nay đang được đặt ra trong lĩnh vực chuyên môn của mình
Trang 321.2.3 Khả năng đi trước của triết học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Khả năng tiên đoán của triết học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên là một trong những khía cạnh quan trọng của vấn đề quan hệ qua lại giữa triết học và khoa học tự nhiên Vấn đề đó liên quan trực tiếp tới vai trò phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên Xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới, nền triết học duy vật có vai trò to lớn trong việc đi trước những tri thức còn hạn chế của khoa học tự nhiên thời đại trước Mác Từ khi tách khỏi triết học tự nhiên cổ đại để trở thành một lĩnh vực độc lập, khoa học tự nhiên đã mang trong mình một tinh thần cách mạng sâu sắc, đối lập với tôn giáo và tuyên chiến trực diện với thần học Bởi khi khoa học
tự nhiên đã lấy đối tượng nhận thức là vật chất đang vận động, là các vật thể cùng với những hình thức vận động khác nhau của chúng thì tất nhiên, khoa học tự nhiên phải xuất phát từ bản thân giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên mà không cần viện tới bất kỳ một lực lượng siêu nhiên nào Tuy nhiên,
do hạn chế của tri thức khoa học tự nhiên nên mặc dù khoa học tự nhiên ban đầu cách mạng như thế nhưng khoa học tự nhiên suốt mười thế kỷ về sau (V – XV) vẫn bị giam chân trong thần học Mặt khác, do đặc điểm của thời kỳ phân tích trong nhận thức khoa học mà nổi bật nhất là sự thống trị của phương pháp tư duy siêu hình khiến cho các nhà khoa học tự nhiên giai đoạn trước Mác ngày càng lún sâu vào chủ nghĩa cơ giới và cuối cùng lại phải cầu viện tới thượng đế Và chính trong điều kiện khoa học tự nhiên bị buộc chặt vào
“cái hích đầu tiên” của Niutơn thì lập trường kiên định của các nhà triết học
duy vật xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới, sức mạnh khái
quát của triết học đã đem lại vinh dự lớn cho nền triết học duy vật: “Thật là
một vinh dự lớn cho triết học thời bấy giờ vì nó không bị tình trạng có hạn của những kiến thức thời bấy giờ về tự nhiên đưa vào con đường lầm lẫn mà trái lại vẫn kiên trì – kể từ Spinôza đến các nhà đại triết học duy vật – Pháp – xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới và dành cho khoa học tự nhiên sau này cái nhiệm vụ là chứng minh về chi tiết” [2, tr.46]
Trang 33Ngày nay, những thành tựu của tất cả các lĩnh vực của khoa học tự nhiên đều theo cách riêng của mình, chứng minh rất cụ thể rằng phải giải thích thế giới từ bản thân thế giới Như vậy là từ đỉnh cao của tri thức khoa học tự nhiên hiện đại nhìn lại quá khứ của nhận thức càng thấy rõ rằng tư tưởng của triết học duy vật xuất phát từ bản thân thế giới để giải thích thế giới quả thật
là một phỏng đoán rất thiên tài của các nhà triết học cổ đại, một tiên đoán có sức mạnh gợi mở rất to lớn của nền triết học duy vật cổ điển trước Mác đối với nhận thức khoa học và càng thấy rõ ràng lời nhận xét của Ph.Ăngghen là đúng đắn
Khoa học tự nhiên từ khi tách khỏi triết học đã phải vay mượn nhiều tư tưởng và nguyên lý triết học:
Theo Ph.Ăngghen, khoa học tự nhiên từ khi tách khỏi nền triết học cổ đại để trở thành một lĩnh vực độc lập đã phải vay mượn nhiều tư tưởng và nguyên lý của nền triết học đó Do vậy, người đã đi đến khẳng định rằng:
“khoa học lý luận về tự nhiên cũng không thể trở lại với người Hy - lạp nếu
nó muốn truy cứu lịch sử phát sinh và phát triển của những nguyên lý phổ biến của nó ngày nay” [2, tr.80] Và theo Ph.Ăngghen, sở dĩ có tình hình như
vậy là vì mấy lý do sau đây: Một là, vì nền triết học Hy lạp cổ đại đó đã cho chúng ta một bức tranh chung về thế giới, trong đó giới tự nhiên được coi là một chỉnh thể thống nhất của cái đa dạng và về cơ bản là phù hợp với quan niệm hiện đại của khoa học tự nhiên; Hai là, vì từ những hình thức muôn hình nghìn vẻ của triết học Hy lạp đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này Ba là, vì những triết gia Hy lạp cổ đại đầu tiên đồng thời cũng là những nhà bác học
Khi đặt vấn đề dưới góc độ như thế, Ph.Ăngghen đã cho rằng kể từ khi vật lý học và hóa học lại bắt đầu vận dụng một cách hầu như tuyệt đối các khái niệm phân tử và nguyên tử thì lẽ dĩ nhiên là triết học nguyên tử của thời
cổ Hy lạp đã được người ta khôi phục và đưa lên hàng đầu Vậy mà ngay cả những nhà khoa học tự nhiên xuất sắc nhất thời bấy giờ cũng đã nghiên cứu
Trang 34triết học đó một cách hời hợt cho nên không tránh khỏi lầm lẫn và kết quả là đánh giá không đúng mức giá trị gợi mở của những tư tưởng triết học cổ đại Chẳng hạn, Kêculê nói rằng người đầu tiên đưa ra giả thuyết nguyên tử là Đêmôcrit, trong khi đó lẽ ra phải nói là Lơxip Ông còn khẳng định rằng Đantơ là người đầu tiên nói về trọng lượng nguyên tử, trong khi đó lẽ ra phải nói Êpiquya là người đầu tiên biết thế nào là trọng lượng và thể tích nguyên
tử Những sự thật lịch sử này đã được làm sáng tỏ dần và khoa học tự nhiên ngày nay đã thừa nhận rằng tư tưởng về cấu tạo nguyên tử của các kết cấu vật chất là một phỏng đoán thiên tài của các nhà triết học duy vật Hy lạp cổ đại
và nó đã đi trước các lý thuyết khoa học tự nhiên về cấu tạo nguyên tử của các chất hàng nghìn năm
Tương tự như với nguyên tử luận, đối với nguyên lý bảo toàn vật chất và vận động, tư tưởng vận động là bất diệt không phải tư tưởng do bản thân khoa học tự nhiên phát hiện ra Tư tưởng vĩ đại đó là một trong những tư tưởng cơ bản của nền triết học duy vật cổ đại và người đầu tiên diễn đạt rõ ràng tư tưởng
đó chính là Hêraclít: mọi vật đều tồn tại nhưng đồng thời lại không tồn tại vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều đang không ngừng biến hóa, sinh thành và tiêu
vong Ở đây, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “có những luận đề triết học đã xác
định từ mấy thế kỷ nay và thường thường đã bị vứt bỏ từ lâu về mặt triết học, nhưng ngày nay có những nhà khoa học tự nhiên nghiên cứu lý luận lại đưa nó
ra, coi như đó là một chân lý hoàn toàn mới” [2, tr.76] Đó là trường hợp của
nguyên tử luận và cũng là trường hợp của nguyên lý bảo toàn vận động Cố nhiên, không phải khoa học tự nhiên thời đại C.Mác và Ph.Ănghen không đưa lại một điều gì mới mẻ cả Như Ph.Ăngghen đã nhận xét, thành tích lớn của vật
lý học thời bấy giờ là đưa ra nhiều bằng chứng khoa học để xác minh cho nguyên lý bảo toàn vận động hay nói theo cách nói của các nhà khoa học tự nhiên, nguyên lý bảo toàn năng lượng được đưa lên hàng đầu, quả là một điều hết sức mới mẻ đối với nhận thức khoa học khi vật lý học lúc này đã phát minh
ra sự chuyển hóa qua lại giữa các dạng năng lượng khác nhau: cơ năng, nhiệt
Trang 35năng, năng lượng điện từ, năng lượng ánh sáng,… Nhưng điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là tư tưởng triết học về bảo toàn vật chất và vận động đã đi trước rất lâu khi nó được khoa học tự nhiên công nhận Hơn thế nữa như
ph.Ăngghen từng nhấn mạnh: “Ngay cả đến hình thức kết luận của triết học
vẫn luôn luôn cao hơn lối kết luận của khoa học tự nhiên ngày nay về vấn đề ấy” [2, tr.118] Cũng như mọi tư tưởng và nguyên lý triết học khác, nguyên lý
bảo toàn vận động khẳng định tính chất bất diệt của vận động nói chung, khẳng định sự bảo toàn vận động, trong khi đó nguyên lý bảo toàn năng lượng của khoa học tự nhiên chỉ khẳng định sự bảo toàn là một trong những đặc trưng cơ bản của vật chất vận động, tức là năng lượng Điều quan trọng hơn là trong kết luận của triết học cho rằng không thể sáng tạo hoặc tiêu diệt được vận động của vật chất đã chứa đựng mầm mống của tư tưởng về sự chuyển hóa qua lại giữa các hình thức vận động, giữa các dạng năng lượng khác nhau của vật chất vận động Đáng tiếc là các nhà khoa học tự nhiên thời đại C.Mác và Ph.Ăngghen đã không nhận ra điều đó
Nền triết học tự nhiên cũ tuy có những hạn chế nhưng đã đưa ra nhiều tư tưởng thiên tài, đã dự đoán được nhiều sự phát triển về sau:
Khi đặt vấn đề này, Ph.Ăngghen chú ý tới trường hợp của Hêghen Là một nhà triết học duy tâm nhưng Hêghen còn là một nhà triết học biện chứng Theo Ph.Ăngghen, chính với tư cách là nhà triết học biện chứng, Hêghen đã nắm bắt được phần nào phép biện chứng của bản thân giới tự nhiên được phản ánh trong phép biện chứng của nhận thức khoa học về giới tự nhiên Do vậy mà Hêghen cũng đã tiên đoán được nhiều phát hiện về sau của khoa học tự nhiên
như Ph.Ăngghen từng viết: “Lý thuyết khoa học tự nhiên hiện đại về tương tác
của các lực của tự nhiên… chỉ là một cách diễn đạt khác hay nói đúng hơn, chỉ
là một sự chứng minh tích cực cho tính đúng đắn của những tư tưởng đã được Hêghen phát triển về nguyên nhân, tác dụng, tương tác, lực,…” [26, tr.174]
Như vậy, khoa học tự nhiên thời đại C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác nhận tư tưởng thiên tài của nhà triết học biện chứng Hêghen Khoa học tự nhiên phi cổ
Trang 36điển đang trên con đường chứng thực và làm phong phú thêm cho những quan niệm của triết học biện chứng về mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng và quá trình vật chất nói chung và về mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng nói riêng – một quan niệm đã được Hêghen nêu ra từ lâu và sau đó được C.Mác và Ph.Ăngghen và V.I.Lênin cải tạo lại và phát triển trên lập trường duy vật
Hiện nay, vật lý học các hạt cơ bản, vũ trụ học tương đối đang trên con đường tiếp tục cụ thể hóa và làm phong phú thêm tư tưởng của triết học biện chứng về sự thống nhất giữa cái liên tục và cái gián đoạn, giữa cái vô hạn và cái hữu hạn không những trong sự thống nhất giữa tính sóng và tính hạt của các kết cấu vật chất mà còn trong sự thống nhất giữa tính liên tục và tính gián đoạn, giữa tính vô hạn và tính hữu hạn của không gian, thời gian với tư cách
là những hình thức tồn tại cơ bản của vật chất vận động
Triết học đã đi trước khoa học tự nhiên trong việc vượt qua phương pháp tư duy siêu hình khi phương pháp tư duy đó cản trở sự phát triển tiến bộ của nhận thức khoa học:
Ph.Ăngghen đã nhận xét rằng vào giữa thế kỷ XVIII khi mà phương pháp tư duy siêu hình với những quan niệm và phạm trù cứng nhắc của nó về tính bất di bất dịch tuyệt đối của giới tự nhiên và của sự nhận thức về tự nhiên
đã cản trở thực sự sự phát triển tiến bộ của nhận thức khoa học về giới tự
nhiên thì “phát súng đầu tiên chọc thủng cái quan niệm cứng nhắc về tự nhiên
ấy, không phải của một nhà khoa học tự nhiên mà của một nhà triết học” Đó
chính là phát kiến của Cantơ: thuyết về nguồn gốc và sự hình thành của thái dương hệ và thuyết thủy triều làm giảm tốc độ quay của trái đất, mà theo Ph.Ăngghen, nếu không có hai giả thuyết này thì lý luận của khoa học tự nhiên thời bấy giờ không thể tiến lên được Phát kiến vĩ đại đó là của Cantơ trên thực tế đã là khởi điểm của tất cả mọi sự tiến bộ về sau trong lĩnh vực khoa học tự nhiên: thuyết tiến hóa địa chất của Layen, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Maye, thuyết tiến hóa của Đácuyn…
Trang 37Tuy nhiên, hầu hết các nhà khoa học tự nhiên thời bấy giờ đã bị ảnh hưởng quá nặng nề tư tưởng của NiuTơn đã được diễn đạt bằng lời cảnh báo:
“Vật lý học, hãy đề phòng siêu hình học!”, cho nên đã không rút ra từ phát
hiện thiên tài đó của Cantơ giúp cho họ tránh khỏi phải đi đường vòng liên miên, khỏi phải mất vô số thì giờ và công sức trong những hướng sai lầm Đáng tiếc hơn nữa là về sau khi mà các nhà khoa học tự nhiên bắt đầu thừa nhận nguyên lý phát triển của triết học biện chứng thì họ lại chỉ thấy có Cantơ
mà không biết từ Cantơ nâng lên tới (ít nhất là) Hêghen bởi vì, theo Ph.Ăngghen, khi phép biện chứng của Hêghen, đỉnh cao nhất của triết học trước Mác ra đời thì việc học tập phép biện chứng ở Cantơ quả là một công việc tốn sức và không đem lại lợi ích gì cả Nhưng ngày nay, chúng ta cần phải từ Hêghen mà nâng lên tới phép biện chứng mácxít - phép biện chứng duy vật, bởi vì chỉ có duy nhất nó phù hợp với bản chất và tinh thần cách mạng triệt để của khoa học tự nhiên hiện đại
Tóm lại, toàn bộ lịch sử nhận thức khoa học đã chứng tỏ rằng triết học
có khả năng đi trước khoa học tự nhiên và thực sự đã đi trước khoa học tự nhiên trong những giai đoạn nhất định của nhận thức, trong những vấn đề nhất định của khoa học, chủ yếu là trong việc phát biểu những nguyên lý phản ánh tính quy luật phổ biến của bản thân giới tự nhiên cũng như sự nhận thức khoa học về giới tự nhiên
1.3 Vai trò của khoa học tự nhiên với triết học
1.3.1 Khoa học tự nhiên thúc đẩy triết học tiến lên
Trong tác phẩm “Lutvich Phơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển
Đức”, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Trong suốt thời kỳ lâu dài từ Đềcáctơ đến Hêghen và từ Hốpxơ đến Phơbách, cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên hoàn toàn không phải chỉ là sức mạnh của tư duy thuần túy như họ tưởng tượng Trái lại, cái thật ra đã thúc đẩy họ tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng nhanh chóng và ngày càng mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghiệp…Mỗi lẫn có một phát minh vạch thời đại ngay cả
Trang 38trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, thì chủ nghĩa duy vật không tránh khỏi phải thay đổi hình thức của nó” [23, tr.603] Không phải cái gì khác, chính khoa
học tự nhiên đã cung cấp cho triết học những tài liệu nhận thức về tự nhiên,
và mỗi lần khoa học tự nhiên có một phát minh mang tính bước ngoặt trong nhận thức thì triết học duy vật lại có những bước tiến mới Về mặt lý luận, quy luật phát triển tiến lên của triết học luôn sát cánh với khoa học tự nhiên Trong lịch sử, mỗi hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật đều tương ứng với một trình độ phát triển nhất định của khoa học tự nhiên Lôgic của sự phát triển bên trong của triết học duy vật là trùng hợp với lôgic của sự phát triển bên trong của khoa học tự nhiên Thích ứng với trình độ khoa học tự nhiên hiện đại là triết học duy vật hiện đại – triết học của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Và mối liên minh giữa các nhà triết học duy vật biện chứng với các nhà khoa học tự nhiên hiện đại ngày càng chặt chẽ là một tất yếu lịch sử
Trước đó, vào thời kỳ Hy – La cổ đại, tương ứng với trình độ ban đầu của khoa học tự nhiên và triết học duy vật mộc mạc và phép biện chứng tự phát Những kiến thức về khoa học tự nhiên, dưới hình thức những dự kiến, những phát kiến rời rạc, chưa có hệ thống, đang hòa lẫn trong kho tàng các kiến thức triết học Những kiến thức khoa học về tự nhiên về cơ bản được quy vào hình học của Ơclit, lý thuyết về hệ thống mặt trời của Ptôlêmê, cách tính thập phân của người Ảrập, những kiến thức sơ đẳng về đại số… Lúc này, triết học và khoa học tự nhiên chưa có sự phân biệt rõ rệt Các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên
Nền triết học cổ đại Hy – La đã vẽ lên một bức tranh về thế giới chỉnh thể, toàn bộ nhưng chưa đi vào được cái riêng biệt, đơn nhất Bởi nhận thức khoa học cũng như triết học chưa đạt đến trình độ có thể mổ xẻ, phân tích giới
tự nhiên để tìm hiểu sâu vào cái cụ thể, chi tiết Phương pháp nhận thức chủ yếu còn dựa vào sự quan sát, trực giác, trực tiếp, làm cho bức tranh thiếu tính chất khoa học chặt chẽ, thiếu khả năng giải thích sâu vào những bộ phận,
Trang 39những chi tiết kết thành bức tranh Những mầm mống của một trình độ mới của khoa học tự nhiên đã xuất hiện vào cuối thời kỳ cổ đại Hy lạp Nhưng vào thời Trung cổ, khoa học tự nhiên mới manh nha đã bị rơi ngay vào ảnh hưởng
của giáo hội Và triết học giai đoạn này cũng vậy: “Thời Trung cổ đã sát nhập
vào thần học tất cả các hình thức khác của hệ tư tưởng: triết học, chính trị, luật học, và đã biến các hình thức ấy thành những tiền bộ môn của thần học”
[23, tr.649] Những tín điều giáo hội trở thành những yếu tố xuất phát và bắt buộc của mọi tư duy Toàn bộ nội dung triết học, khoa học tự nhiên đều phải
gò theo cho phù hợp với lý thuyết giáo hội Tình trạng này kéo dài hàng chục thế kỷ, cho mãi tới thời Phục hưng, từ giữa thế kỷ XV, khoa học tự nhiên mới thoát khỏi thần học và phát triển mạnh mẽ lên
Thời kỳ Phục hưng, giữa thế kỷ XV – như Ph.Ăngghen nói, đó là “thời
đại cần có những người khổng lồ và đã sinh ra những người khổng lồ: khổng
lồ về tư tưởng, về nhiệt tình, về tính cách, khổng lồ về mặt tài năng đủ mặt và
về mặt học thức uyên bác” [2, tr.39 – 40], thời đại của “cuộc cách mạng vĩ đại nhất” mà trước đó trái đất chưa từng thấy Chính trong bầu không khí cách
mạng sục sôi ấy, khoa học tự nhiên thông qua đấu tranh chống tôn giáo, thần
học, chống triết học kinh viện mà phục hồi lại và phát triển lên với “một tinh
thần triệt để cách mạng” chưa từng thấy Nó đã phát triển lên song song với
nền triết học mới đang bừng dậy với những người Ý vĩ đại Bằng một hành động cách mạng, khoa học tự nhiên đã công bố bản Tuyên ngôn độc lập với
việc phát hành tác phẩm vĩ đại của Côpécních “Về sự xoay chuyển các thiên
thể” – nó đã thách thức quyền uy của Giáo hoàng, đã tấn công vào sự mê tín
đối với Giáo hội Kể từ đó, khoa học tự nhiên đã căn bản tự giải phóng ra khỏi thần học và bắt đầu phát triển với những bước tiến khổng lồ
Phát triển lên, khoa học tự nhiên không còn xem xét giới tự nhiên bằng
sự quan sát, bằng trực giác nữa Nó đã vận dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm – phương pháp phân tích, phân chia giới tự nhiên toàn bộ thành những bộ phận riêng lẻ, cá biệt và đi sâu nghiên cứu cái cụ thể, chi tiết Việc
Trang 40khoa học tự nhiên đi sâu vào phần cụ thể, chi tiết đã bổ sung vào bức tranh về thế giới còn nhiều chỗ trống của các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời
Hy – La cổ đại Nhưng phương pháp ấy đã bộc lộ nhược điểm của nó Được vận dụng lâu ngày trong khoa học tự nhiên, nó đã tạo ra ở con người thói quen xem xét sự vật một cách tĩnh quan, phiến diện và dần dần đã biến thành phương pháp tư duy đặc trưng cho cả thời đại: phương pháp siêu hình Và các nhà triết học, không thể tránh khỏi sự tác động trực tiếp của khoa học tự nhiên (đặc biệt là cơ học) đã biến chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XIII về cơ bản là chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình – tương ứng với trình độ khoa học tự nhiên lúc này Khi ấy, chính trình độ của khoa học tự nhiên đã gây nên tính hạn chế của triết học
Xuất phát từ quan điểm bất di bất dịch tuyệt đối của thiên nhiên, từ phương pháp tư duy xem xét sự vật và hiện tượng trong trạng thái bất động,
cô lập của chúng, người ta không thể từ bản thân tự nhiên để giải thích trạng thái vận động, biến đổi trong tự nhiên được Người ta buộc phải đi tìm nguyên nhân gây nên sự vận động biến đổi ấy từ bên ngoài tự nhiên Người
ta đã đi tìm và tìm thấy đó là “cái hích đầu tiên” của Niutơn, là “hành vi
sáng tạo” của đấng tối cao đã sinh ra muôn loài: “Côpécních đã mở đầu thời
kỳ đó bằng một bức thư đoạn tuyệt với thần học; Niutơn thì kết thúc thời kỳ
đó bằng cái định đề về sức thúc đẩy ban đầu của Chúa”, “Tư tưởng tổng quát cao nhất mà khoa học tự nhiên đạt được là tư tưởng cho rằng những sự sắp xếp trong tự nhiên có mục đích cả, đó là mục đích luận tầm thường của Vônphơ, theo đó thì mèo sinh ra là để ăn chuột, chuột sinh ra là để bị mèo
ăn, và toàn bộ tự nhiên được tạo ra là để chứng minh trí tuệ của đấng tạo hóa” [2, tr.45 – 46] Đến giữa thế kỷ XVIII, “khoa học còn bị chôn chân trong thần học” như thế Khoa học tự nhiên vấp phải mâu thuẫn giữa một
bên là tính chất cách mạng triệt để, xét theo xu hướng đi lên của nó, và một bên là tính chất bảo thủ, máy móc, siêu hình, xét theo thế giới quan, phương pháp luận của nó Muốn giải quyết mâu thuẫn này để mở đường tiến lên, con