Nhiệm vụ công tác quản lý nhà nước về tôn giáo là thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam... Công tác quản lý
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN ĐỨC DŨNG
HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
CỦA BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ
Chuyên ngành : Quan hệ công chúng và Quảng cáo
Mã số : 60 32 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THANH XUÂN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Hà Nội, ngày……tháng…….năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS.TS Lưu Văn An
Trang 4Tôi xin cam đoan luận văn “Hoạt động quan hệ công chúng của
Ban Tôn giáo Chính phủ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thanh Xuân Các số liệu, kết quả điều tra nêu trong Luận văn này là trung thực, được ghi rõ nguồn gốc một cách đầy
đủ Đề tài nghiên cứu này chưa công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan: Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ
rõ nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đức Dũng
Trang 6
1 Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow
2 Hình 1.2: Mô hình phân tích SWOT
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CỦA BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Một số vấn đề cơ bản về quan hệ công chúng 81.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo 201.3 Một số vấn đề về hoạt động quan hệ công chúng của Ban Tôn giáo Chính phủ 43
Chương 2: HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CỦA BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 62
2.1 Thực trạng hoạt động quan hệ công chúng của Ban Tôn giáo Chính phủ .622.2 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động quan hệ công chúng tại Ban Tôn giáo Chính phủ 81
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CỦA BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ 87
3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quan hệ công chúng tại Ban Tôn giáo Chính phủ 873.2 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quan hệ công chúng của Ban Tôn giáo Chính phủ 100
KẾT LUẬN 103 Tµi liÖu tham kh¶o .104
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ công chúng được nhắc đến khá thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian gần đây Khái niệm này còn có các tên gọi khác như “quan hệ cộng đồng”, “quan hệ đối ngoại”, “giao tế công cộng”,
“giao tế nhân sự” hay đơn giản là “PR” (là cách gọi ngắn gọn từ nguyên gốc tiếng Anh – Public Relations)
PR là một chương trình hành động được hoạch định đầy đủ, duy trì liên tục và dài hạn với mục tiêu nhằm xây dựng và phát triển bền vững mối quan
hệ giữa một tổ chức và công chúng mục tiêu của tổ chức đó Chương trình hành động PR dựa trên hệ thống truyền thông và hệ thống này không chỉ chú trọng vào tuyên truyền, quảng bá đến công chúng bên ngoài mà cả công chúng nội bộ của tổ chức Tất cả những nỗ lực đó nhằm thiết lập và duy trì mối thiện cảm và sự thông hiểu lẫn nhau giữa tổ chức và công chúng
Việt Nam là một quốc gia đa dạng về tín ngưỡng, về tôn giáo và tổ chức tôn giáo Theo thống kê chưa đầy đủ có khoảng 95% dân số nước ta có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Về tôn giáo, hiện nay có 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo được Nhà nước cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận
về tổ chức, gần 24 triệu tín đồ chiếm khoảng 27 % dân số cả nước Ngoài ra còn hơn 70 tổ chức, hệ phái, nhóm tôn giáo khác chưa được đăng ký hoạt động, công nhận về tổ chức và hơn 60 hiện tượng, tổ chức tín ngưỡng mang màu sắc tôn giáo, trong đó có hàng chục tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng khác đang vận động xin cấp giấy phép hoạt động
Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong tổng thể công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam Nhiệm vụ công tác quản lý nhà nước về tôn giáo là thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam
Trang 9trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam Đồng thời phối hợp với các cơ quan hữu quan trong hệ thống chính trị góp phần tham mưu cho Đảng và Nhà nước
từ Trung ương tới cơ sở về chính sách tôn giáo, công tác tôn giáo và xử lý các
vụ việc phức tạp về tôn giáo phát sinh Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo còn thể hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước trên các mặt hoạt động chính trị, xã hội, kinh tế, an ninh trật tự, đặc biệt là trên lĩnh vực hoạt động tâm linh của những cộng đồng tín ngưỡng khác nhau trên đất nước Việt Nam Bên cạnh đó còn thể hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ luật pháp của nước Việt Nam để cộng đồng quốc tế biết và ủng hộ nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nghị định số 69/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 3 năm 1991, Nghị định số 26/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 1999 về các hoạt động tôn giáo
đã thể chế hóa các chủ trương của Đảng về tôn giáo theo khuôn khổ pháp luật Sau khi có Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Bộ
Chính trị Về công tác tôn giáo, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành “Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” năm 2004 và Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2005 Hướng dẫn thi hành
một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo Các văn bản pháp luật và
pháp quy trên là sự thể chế hóa một cách khá đầy đủ đường lối chính sách của Đảng về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, đều khẳng định nguyên tắc của chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới là: Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của công dân, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng; công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân; các tôn giáo hoạt động tuân thủ Hiến pháp và luật pháp của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 10Hoạt động PR của Ban Tôn giáo Chính phủ (BTGCP) nhằm thể hiện rõ các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam đến các tín đồ, chức sức, nhà tu hành các tôn giáo đã được công nhận, nhằm quản lý tổ chức giáo hội, sinh hoạt tôn giáo và truyền giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và đấu tranh chống lại các thế lực lợi dụng tôn giáo, sử dụng tôn giáo, tín ngưỡng phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quan hệ công chúng nói chung, hiện nay tại Việt Nam cũng chưa có nhiều tài liệu mang tính lý luận về chuyên ngành này Tôi đã chọn lọc một số tài liệu có giá trị nghiên cứu và tham khảo như:
TS Đinh Thị Thúy Hằng (Chủ biên), (2008), PR lý luận & Ứng dụng,
Nhà Xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội
Đây là cuốn sách có giá trị tham khảo tốt vì tác giả TS Đinh Thị Thúy Hằng đã nghiên cứu sâu sắc về những lý luận chung của quan hệ công chúng
và các hoạt động quan hệ công chúng như quan hệ công chúng với báo chí, quan hệ công chúng nội bộ, quan hệ công chúng cộng đồng, quan hệ công chúng trong vận động hành lang Đồng thời tác giả cuốn sách cũng cung cấp một số kỹ năng hoạt động quan hệ công chúng cần thiết để người viết tham khảo trong luận văn của mình Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, người viết cũng đã bổ sung thêm vào luận văn một số kỹ năng mà tài liệu này chưa cung cấp
TS Đinh Thị Thúy Hằng (Chủ biên), (2007), Kiến thức cơ bản và đạo
đức nghề nghiệp, Nhà Xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội
Trong cuốn sách này, TS Đinh Thị Thúy Hằng đã làm rõ mối quan hệ giữa quan hệ công chúng và truyền thông Mối quan hệ này cũng được nhấn mạnh trong cuốn sách “PR công cụ phát triển báo chí” của TS Đinh Thị Thúy Hằng và cũng là một trong những cơ sở lý luận của luận văn
Trang 11Những cuốn sách này tổng hợp những lý luận, quan điểm của các nhà nghiên cứu về quan hệ công chúng và là những tài liệu tham khảo có giá trị
Là những tài liệu tổng hợp lý luận, những cuốn sách tác giả kể ra bên trên vẫn chưa nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về một đối tượng là cơ quan đơn vị nào cả
Đề tài của tác giả về hoạt động quan hệ công chúng của BTGCP sẽ đi sâu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn, góp phần làm sáng rõ hơn cho lý luận của những nhà nghiên cứu đi trước
TS Nguyễn Thanh Xuân (Chủ biên) (2012), Một số tôn giáo ở Việt
Nam, Nhà xuất bản Tôn giáo Trong cuốn sách này TS Nguyễn Thanh Xuân
đã khái quát sự ra đời, hình thành và phát triển của tôn giáo ở Việt Nam cũng như đặc điểm các tôn giáo đó
Đây là một cuốn sách rất có giá trị đối với những người muốn tìm hiểu
về các tôn giáo ở Việt Nam, cung cấp nhiều thông tin tư liệu quý của hoàn cảnh lịch sử để ra đời một tôn giáo, cũng như quá trình thăng trầm phát triển tôn giáo đó ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Bên cạnh đó cuốn sách cũng cung cấp thông tin về một số nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo như: Pháp lệnh Tin ngưỡng, tôn giáo (2004); Nghị định số 92/2012/NĐ - CP ngày 08/11/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Chỉ thị số 1940/CT
- TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số hoạt động lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quan hệ công chúng của BTGCP đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động quan hệ công chúng nói chung và hoạt động quan hệ công chúng chính phủ nói riêng
- Khảo sát thực trạng hoạt động quan hệ công chúng của BTGCP nhằm đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn, và những nguyên nhân tác động đến hoạt động này của BTGCP
- Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị có tính thực tiễn nhằm cải thiện hoạt động quan hệ công chúng của BTGCP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động quan hệ công chúng của BTGCP
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trong luận văn, tác giả nghiên cứu
hoạt động quan hệ công chúng trên một số phương tiện của BTGCP như Tạp chí Công tác Tôn giáo, Trường Nghiệp vụ Công Tác tôn giáo, Vụ Hợp tác quốc tế, cổng thông tin điện tử BTGCP và nhiều tài liệu báo cáo khác
- Phương pháp khảo sát: Người thực hiện nghiên cứu sẽ đọc và phân tích
các tài liệu, bài báo, các ấn phẩm truyền thông của BTGCP theo các tiêu chí
Trang 13được đặt ra trong phần lý luận Đồng thời, việc khảo sát này cho phép đánh giá công tác quan hệ công chúng của BTGCP trong tương quan so sánh với
các đơn vị trực thuộc khác trong Bộ Nội vụ
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, đối chiếu, so sánh: Đây là phương
pháp quan trọng được sử dụng trong nghiên cứu này BTGCP là một cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ Do vậy các hoạt động của họ cũng có nét đặc trưng riêng Thêm vào đó, người thực hiện nghiên cứu có thể lập biểu đồ so sánh hiệu quả quan hệ công chúng thông qua các công cụ đo lường công khai hoặc đánh giá bằng bảng hỏi của những người có liên quan
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Những người được phỏng vấn sâu
là chuyên gia nằm trong nhóm thực hiện hoạt động quan hệ công chúng, nhà quản lý và quan trọng nhất là những người được tác động bởi hoạt động quan
hệ công chúng để thu thập những đánh giá và yêu cầu đổi mới của họ Điều này chính là cơ sở để người nghiên cứu đưa ra những giải pháp và khuyến nghị trong chương 3
6 Cái mới của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan QHCC chính phủ nói riêng đồng thời chỉ ra những đặc trưng của BTGCP trong việc thực hiện hoạt động QHCC
Luận văn cũng đã khảo sát thực trạng hoạt động quan hệ công chúng của BTGCP nhằm đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn, của những người đang trực tiếp nắm giữ vai trò phụ trách hoạt động này tại BTGCP Luận văn đưa ra những đề xuất các giải pháp và khuyến nghị có tính thực tiễn nhằm cải thiện hoạt động QHCC tại BTGCP
7 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt lý luận đối với các nhà nghiên cứu
về hoạt động quan hệ công chúng nói chung cũng như hoạt động QHCC tại cơ
Trang 14quan quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng Với việc khảo sát, nghiên cứu việc sử dụng các hoạt động QHCC trong BTGCP sẽ bổ sung thêm một tài liệu tham khảo có giá trị trong công tác nghiên cứu của các đề tài về hệ thống các
cơ quan hành chính nhà nước Trong khuôn khổ đề tài, tác giả cũng đưa ra những khái niệm mới được tổng hợp từ thực tiễn hoạt động truyền thông liên quan đến quản lý tôn giáo phong phú hơn cho lý luận về QHCC
7.2 Giá trị thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt thực tiễn đối với những người thực hiện hoạt động quan hệ công chúng nói chung cũng như đối với những người hiện đang trực tiếp hoạt động QHCC tại các cơ quan quản lý hành chính công trong đó có BTGCP Với nhiệm vụ chính trị đặc trưng của mình, những người làm truyền thông của BTGCP có cơ sở để tìm ra những hướng đi mới hoặc ra những điểm nhấn cho hoạt động quan hệ công chúng của mình
Nghiên cứu QHCCcủa BTGCP còn là cơ hội để họ thể hiện quan điểm cá nhân và nhu cầu của mình
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 15Chương 1 HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG CỦA BAN TÔN GIÁO CHÍNH PHỦ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số vấn đề cơ bản về quan hệ công chúng
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm Công chúng
Đối tượng của hoạt động QHCC là công chúng Do đó, muốn thực hiện hiệu quả hoạt động QHCC thì trước hết phải nghiên cứu khái niệm công chúng Đồng thời với đó, những người làm trong lĩnh vực quan hệ công chúng cần có những nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về các thói quen hoặc nguyện vọng của công chúng để xây dựng kế hoạch hoạt động cho phù hợp Tuy nhiên trong các công trình nghiên cứu, sách, báo vẫn còn chưa đi sâu tìm hiểu khái niệm này Chính vì vậy, hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu, cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm công chúng
Khái niệm: Công chúng là một nhóm người cụ thể, có chung mối quan
tâm, mong đợi liên quan đến tổ chức và chịu sự tác động từ các phương tiện truyền tải thông tin, hình ảnh
Trong luận văn, tác giả chia công chúng làm hai bộ phận để thuận lợi cho việc nghiên cứu:
- Công chúng bên trong: Là những người chịu tác động từ hoạt động
quan hệ công chúng đối nội
- Công chúng bên ngoài: Là những người chịu tác động từ hoạt động
quan hệ công chúng đối ngoại Họ là những những công dân tiếp nhận thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng
1.1.1.2 Khái niệm Quan hệ công chúng
Dịch ra tiếng Việt của cụm từ “Pulic Relations” trong tiếng Anh được theo nhiều cách khác nhau: Quan hệ cộng đồng, QHCC, quan hệ đối ngoại, giao tế cộng đồng, giao tế nhân sự trong thực tế, cụm từ “quan hệ công chúng” thường được sử dụng nhiều hơn cả
Trang 16Có ba lĩnh vực được xem là có quan hệ trực tiếp đến vị trí của QHCC trong xã hội hiện đại, bao gồm báo chí, quảng cáo và marketing Nhưng QHCC không phụ thuộc vào ba lĩnh vực này QHCC không phải là báo chí, không phải là quảng cáo và cũng không phải là marketing
Về nguồn gốc, có thể nói QHCC là một sản phẩm hình thành từ phương Tây, cụ thể là từ Mỹ QHCC bắt đầu xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ 19, bởi một số nhà báo Mỹ tiến bộ Nhưng suốt một thời gian dài, QHCC gần như chỉ được thừa nhận ở Mỹ Sau này, nó mới được phổ biến ở châu Âu và gần đây nhất là châu Á Có thể nói QHCC bắt nguồn từ báo chí
Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về QHCC Những người làm QHCC đưa ra những cách hiểu khác nhau về nó Điều này cũng dễ hiểu bởi QHCC là một lĩnh vực hoạt động rất phong phú và những người làm QHCC
có thể tiếp cận nó dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng nội dung chính vẫn là cung cấp kiến thức cho công chúng, trong đó bao hàm mục đích thay đổi nhận thức của họ QHCC xuất hiện sớm hơn cả tiếp thị và quảng cáo, và phạm vi hoạt động của nó rộng hơn
Vì lịch sử phát triển lâu đời cùng với tính phức tạp nhưng đa dạng, phong phú của QHCC mà đã có khoảng 500 định nghĩa khác nhau về Quan hệ công chúng trên thế giới Những định nghĩa đó tồn tại song song và bổ sung cho nhau tùy cách tiếp cận với QHCC theo hướng khác nhau Có thể tóm lược lại một số định nghĩa quan trọng và sát thực nhất
Theo viện nghiên cứu QHCC tại Anh: QHCC là một nỗ lực được lên kế hoạch và kéo dài liên tục để thiết lập và duy trì sự tín nhiệm, hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và công chúng Định nghĩa này nhấn mạnh hoạt động Quan hệ công chúng được tổ chức thành một chiến dịch hay chương trình và là một hành động liên tục và nó không thể không có kế hoạch
Nói chung, QHCC là việc quản lý truyền thông để xây dựng, duy trì mối quan hệ tốt đẹp và sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức, một cá nhân,
Trang 17tạo ra hình ảnh và thông tin tích cực với mục đích quảng bá, gây ảnh hưởng
có lợi trong công chúng của họ
1.1.1.3 Khái niệm về hoạt động quan hệ công chúng
Hoạt động Quan hệ công chúng là nhằm mục đích thiết lập, duy trì sự truyền thông hai chiều, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác giữa một tổ chức và
"công chúng" của họ
Hoạt động QHCC bao gồm sự quản lý những vấn đề hay sự kiện mà tổ chức cần phải nắm được dư luận của quần chúng và có trách nhiệm thông tin cho họ Hơn thế nữa còn là một trong những công cụ hỗ trợ bán hàng hữu hiệu đối với tất cả các doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân Những người muốn tạo ra một tầm ảnh hưởng nhất định của mình đối với những đối tượng nhất định Tuỳ vào mục đích của mình và đối tượng mà mình muốn tác động, các tổ chức hoặc cá nhân này sẽ có những cách thức và hình thức tiếp cận khác nhau: có thể tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội như các hoạt động từ thiện, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng do các tổ chức hoạt động nhằm mục đích xã hội tổ chức nhằm tạo ra hình ảnh một tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm với công đồng; hoặc cũng có thể tham gia dưới hình thức một nhà tài trợ mạnh tay luôn thấy xuất hình ảnh trong các chương trình có quy mô lớn như các cuộc thi hoa hậu, các hội chợ triển lãm tầm cỡ
Tất cả những hình thức đó nhằm tạo ra một hình ảnh đẹp, nổi bất và rộng khắp về bản thân tổ chức hoặc cá nhân với mong muốn thông qua những hình ảnh được đánh bóng đó, công chúng sẽ trở nên gần gũi và dành nhiều thiện cảm, quan tâm hơn tới họ
1.1.2 Vai trò và chức năng của hoạt động quan hệ công chúng
1.1.2.1 Vai trò của hoạt động quan hệ công chúng
* Quan hệ công chúng hướng đến xây dựng, duy trì, bảo vệ uy tín của
tổ chức/cá nhân:
Trang 18QHCC có mặt hầu hết trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa… Bằng cách cung cấp thông tin và tạo nên hoạt động thông tin hai chiều, QHCC tạo mối liên kết trong xã hội, và là diễn đàn cung cấp, trao đổi thông tin giữa cơ quan, tổ chức với công chúng, là cầu nối thuyết phục công chúng Trong cuốn “Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi”, hai tác giả
Al Ries và Laura Ries đã khẳng định vị trí ngày càng cao của nghề Quan hệ công chúng trong xã hội
Bên cạnh xây dựng uy tín, QHCC còn được sử dụng để tác động vận động hành lang (lobby) không chỉ phổ biến tại Mỹ mà hầu hết chính phủ các nước đều sử dụng nó khi cần thuyết phục chính quyền các quốc gia khác thay đổi chính sách đối với đất nước mình Công tác này đặc biệt được coi trọng đối với các chính trị gia, nhà lãnh đạo thuộc các cơ quan nhà nước
Trong xã hội, QHCC có vai trò quan trọng là người cung cấp thông tin, đóng góp và tạo dựng mối liên kết trong xã hội, là diễn đàn đối thoại trong xã hội để công chúng nói lên ý kiến của mình và tổ chức tiếp nhận phản hồi, từ
đó có sự điều chỉnh thích hợp Ở Việt Nam các cuộc đối thoại trực tuyến giữa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và người dân Việt Nam đã tạo ra những kênh thông tin cởi mở, giúp những người lãnh đạo hiểu hơn tâm tư nguyện vọng của người dân đồng thời giúp người dân gởi gắm đến các vị lãnh đạo những thông điệp của mình, qua
đó tạo nên sự hiểu biết lẫn nhau, sự cởi mở và không khí dân chủ trong xã
hội Gần đây, chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời” của Đài Truyền hình
Việt Nam cũng đang khiến cho việc giao lưu giữa lãnh đạo và nhân dân được công khai và thuận lợi hơn
* Quan hệ công chúng nỗ lực xây dựng dân chủ, phát triển những mối quan hệ có lợi giữa cá nhân/tổ chức và công chúng:
QHCC thiết lập và phát triển mối quan hệ hợp tác với tốt đẹp với giới báo chí Người làm QHCC có nhiệm vụ liên tục cung cấp thông tin về cơ
Trang 19quan, tổ chức của minh hoặc khách hàng tới báo chí Công việc này bao gồm các hoạt động: soạn thảo và phát thông cáo báo chí, họp báo, tổ chức các buổi gặp mặt,
* Quan hệ công chúng giúp cá nhân/tổ chức có những điều chỉnh thích hợp để thích nghi với sự thay đổi của môi trường xã hội, kinh tế,…:
Dù là cá nhân hay tổ chức thì đều vận động trong cùng một guồng quay của xã hội Và những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới là luôn cần thiết Nó liên quan đến sự tồn vong của tổ chức hay danh tiếng của cá nhân Danh tiếng của tổ chức và người lãnh đạo luôn đi đôi với nhau Chính vì vậy, đây là một mục đích rất quan trọng của QHCC
QHCC đóng vai trò chiến lược trong việc xác định các khuynh hướng phản ứng với các khuynh hướng và thậm chí là tạo ra các khuynh hướng thiết
kế những thông điệp phù hợp và đưa ra những phương pháp tiếp cận rộng rãi nhiều đối tượng thính giả từ dân chúng cả nước đến một nhân vật có vai trò ảnh hưởng chủ chốt
Dù là thuộc loại hình tổ chức nào các tổ chức thành công cần có một chiến lược quyết định định hướng và phạm vi hoạt động lâu dài Việc hoạch định chiến lược rất cần thông tin phân tích và quyết định việc quyết định và lựa chọn chiến lược do một nhóm “liên minh có ảnh hưởng mạnh” tức là một nhóm trong tổ chức có quyền lực “đưa ra và buộc thi hành cách quyết định về đường hướng của tổ chức nhiệm vụ mục tiêu và chức năng của tổ chức
Đóng góp mà QHCC có thể đem lại cho quá trình hoạch định chiến lược: giúp cho chủ thể quản lý thu thập và phân tích thông tin từ môi trường
xã hội để đưa ra các chiến lược xã hội và thực hiện truyền thông các mục tiêu chiến lược
Như vậy có thể thấy rằng, QHCC là một hoạt động phức tạp mà khi thể hiện cao nhất là việc quản lý những mối quan hệ giữ tổ chức với các nhóm công chúng liên quan vốn có tính chất năng động, liên tục được hình thành
Trang 20phát triển và phân tán Việc định hướng và điều hòa những mối quan hệ phức tạp này đòi hỏi có những kĩ năng đặc biệt
* Quan hệ công chúng dự đoán, phòng ngừa và tham gia xử lý những rủi ro, khủng hoảng có thể xảy ra với cá nhân, tổ chức:
Khi môi trường hoạt động của tổ chức gặp khó khăn bất lợi, các chuyên gia QHCC - những người có khả năng phân tích những sự việc đang xảy ra, có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định Những chuyên viên QHCC thường quen việc đối phó với những tình huống phức tạp và phân tích những vấn
đề có liên quan đến nhóm công chúng Như vậy họ có thể đóng góp rất quan trong với quá trình ra chiến lược bằng cách sử dụng những kĩ năng phân tích và
tư vấn Các tổ chức ngày nay nhận thấy họ ngày càng dễ phải đối mặt với các nguy cơ đến từ nhiều phía trong một bối cảnh rộng lớn Chúng ta đang sống trong một thế giới ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau trong thế giới đó, không ai và không tổ chức nào có thể tách khỏi bất kì “Một vấn đề lớn” nào đang nổi lên
Khủng hoảng là một sự kiện phát sinh bất ngờ, thường là ngoài dự kiến
và đòi hỏi một sự ứng phó kịp thời Khủng hoảng có thể do quy luật tự nhiên nhưng cũng có thể do con người tạo ra Nhưng dù là hình thức nào thì nó cũng đe dọa đến sự ổn định trong hoạt động của tổ chức, cá nhân Việc giải quyết tốt những khủng hoảng sẽ giúp nâng cao uy tín của tổ chức, cá nhân đó
1.1.2.2 Chức năng của hoạt động quan hệ công chúng
Theo tác giả Scott M.Cutlip đã viết trong cuốn sách Effective public
relations xuất bản năm 2000, hiện nay ngành QHCC có các chức năng chính
bao gồm:
* Tạo ra tin tức trên các phương tiện truyền thông đại chúng:
Các nguồn tin từ những bộ phận QHCC sẽ cung cấp cho truyền thông đại chúng những thông tin có giá trị tin tức mà truyền thông đại chúng có thể sử dụng để đăng tải được Người cung cấp thông tin không phải trả tiền để được
Trang 21đăng tin, nhưng cũng không kiểm soát được nội dung và hính thức thông tin được thể hiện Ví dụ như khi có bất cứ một thay đổi nào về hệ thống chính sách của Chính phủ hoặc Ban Bí thư Trung ương Đảng đối với BTGCP, bộ phận Văn phòng Ban có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho báo chí, hỗ trợ báo chí truyền tải thông tin cụ thể và chính xác nhất đến với công chúng
Các phương pháp chuyển tải thông tin cho báo chí mà BTGCP thường làm:
- Tổ chức họp báo, soạn thảo thông cáo báo chí
- Tổ chức các buổi gặp gỡ báo chí ngắn (giao ban báo chí), cung cấp thông tin cập nhật cho các nhà báo
- Tạo điều kiện thu xếp các buổi phỏng vấn, phóng sự đặc biệt
Thông tin được đưa lên các phương tiện truyền thông đại chúng nhờ có nguồn chi trả cho thời lượng hoặc số trang đăng tải thông tin đó Bằng cách này, nguồn tin có thể kiểm soát được nội dung, thời điểm và phương thức đăng tải thông tin
* Quảng cáo:
Quảng cáo là một công cụ mạnh mẽ để các tổ chức tiếp cận đến các cá nhân thông qua hình ảnh và những thông điệp mạnh mẽ có khả năng lan truyền nhanh chóng Quảng cáo có từ trước khi QHCC ra đời và ngày càng có thêm nhiều phương tiện để ngành quảng cáo có thể khai thác Chính vì vậy, những người làm QHCC thường sử dụng quảng cáo để phục vụ mục đích lan truyền thông tin của mình
Quảng cáo có nhiều điểm khác với QHCC mà điểm khác biệt rõ rệt nhất là QHCC đáng tin cậy hơn quảng cáo Với mục đích tạo dựng niềm tin, những người làm QHCC phải đề cao yếu tố trung thực Tiếng nói của họ là đại diện cho tổ chức, đơn vị chính vì vậy mỗi phát ngôn sai lầm hoặc lừa dối công chúng của mình sẽ ảnh hưởng nặng nề đến uy tín của tổ chức, đơn vị Ngược lại, quảng cáo thường hay nói quá về sản phẩm, dịch vụ của mình để cạnh tranh trực tiếp với các tổ chức, đơn vị khác
Trang 22Thêm vào đó, QHCC thường khách quan hơn quảng cáo vì quảng cáo là hình thức tổ chức, đơn vị tự nói về mình, còn QHCC là thông qua bên thứ 3 như: báo chí, mạng xã hội,… Vì lý do đó mà những thông tin do nhân viên QHCC cung cấp thường đáng tin cậy và thu hút được sự quan tâm hơn quảng cáo
Nguồn kinh phí dành cho quảng cáo khá tốn kém, các tổ chức, đơn vị thường nghiên cứu kỹ càng trước khi quyết định sử dụng quảng cáo làm hình thức truyền thông của mình Đa phần những tổ chức sử dụng quảng cáo là các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm tiêu dùng
* Công việc báo chí (Quản lý danh tiếng):
Nỗ lực để tên tuổi của tổ chức xuất hiện trên báo chí, thường là nhằm thu hút sự chú ý của công chung hơn là để xây dựng sự hiểu biết Tạo tin tức
là chiến lược chính của công việc báo chí Các chuyên gia QHCC thường tạo
ra những tin bài và sự kiện có giá trị tin tức để lôi cuốn sự chú ý của giới truyền thông và giành được sự quan tâm của công chúng, dựa trên quan điểm của thuyết tạo vấn đề và các nhân vật được đề cập Số tin bài càng nhiều thì càng chứng tỏ vấn đề được đề cập là quan trọng và đáng quan tâm Các tin bài không nhất thiết phải mang tính tích cực
Nhiều người nghĩ chỉ các công ty, các tập đoàn lớn mới cần duy trì, bảo
vệ danh tiếng, đó là sai lầm vô cùng tệ hại Cần hiểu rằng thậm chí mỗi người dân bình thường cũng có thể làm ảnh hưởng tới uy tín, danh tiếng của cả quốc gia Chính vì vậy hoạt động này là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng trong viêc xây dựng, phát triển thương hiệu một phần không thể thiếu của QHCC Đề cao hình ảnh và thông điệp của doanh nghiệp trong phạm vi cộng đồng
* Nhiệm vụ công/Công vụ:
Là một phần đặc biệt của QHCC có chức năng xây dựng và duy trì những mối quan hệ cộng đồng địa phương và Chính phủ nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến chính sách công
Trang 23Tại các cơ quan chính phủ thuật ngữ “công vụ” thường được dùng để môt tả việc xây dựng và duy trì mối quan hệ với các đơn vị bộ phận
Công vụ là hoạt động QHCC chúng xử lý vấn đề chính sách công và các nhóm công chúng gây ảnh hưởng đến những chính sách đó Ứng xử với các cộng đồng đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp, tổ chức, từ người thiểu số cho đến phụ nữ, trẻ em,
- Tài trợ từ thiện (ủng hộ chống bão lụt, học bổng cho học sinh nghèo)
- Tài trợ thương mại (các chương trình TV, ca nhạc thể thao gắn với tên sản phẩm)
Tiếp xúc với những nhóm người tạo ra dư luận xã hội, ví dụ những chính khách địa phương Ví dụ: diễn văn đọc trước công chúng, tổ chức các
cuộc gặp gỡ
* Quản lý vấn đề:
Là quá trình chủ động đón đầu, chuẩn bị các đánh giá và phản ứng đối với các vấn đề thuộc chính sách công có thể gây ảnh hưởng đến tổ chức với công chúng của tổ chức đó
Hai điểm căn bản nhất của quản lý vấn đề là: xác định sớm các vấn đề có khả năng gây ảnh hưởng đến tổ chức và đề ra những phản ứng có tính chiến lược
để hạn chế hậu quả hoặc tận dụng những kết quả mang tính tích cực
Trong lĩnh vực chính sách công, quản lý vấn đề là một phần của hoạt động công vụ vốn là một bộ phận của chức năng QHCC Quản lý vấn đề bao gồm: xác định vấn đề, đề ra các ưu tiên, lựa chọn các chiến lược, chương trình, thực hiện chương trình hành động và truyền thông, và cuối cùng là đánh giá hiệu quả
Tại Mỹ, một số công ty tập đoàn lớn đã thành lập bộ phận quản lý vấn
đề có nhiệm vụ phản ứng với những mối quan tâm của công cúng về việc thu nhỏ và đóng cửa những nhà máy, toàn cầu hóa và vấn đề xuất khẩu việc làm,
Trang 24kỹ thuật sinh họat, vấn đề lỗ thủng tầng ôzon, vấn đề rác thải độc hại, vấn đề dân số già và ảnh hưởng của công ty trong lĩnh vực chính trị
Kiểm soát môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và kỹ thuật Quản lý khủng hoảng là vấn đề dường như khó khăn nhất trong QHCC Khủng hoảng
là một sự kiện phát sinh bất ngờ, thường là ngoài dự kiến và đỏi hỏi một sự ứng phó kịp thời Khủng hoảng có thể do quy luật tự nhiên nhưng cũng có thể
do con người tạo ra Nhưng dù là hình thức nào thì nó cũng đe dọa đến sự ổn định trong hoạt động của tổ chức, cá nhân Việc giải quyết tốt những khủng hoảng sẽ giúp nâng cao uy tín của tổ chức, cá nhân đó Tiến sĩ truyền thông Trần Ngọc Châu, Giám đốc kênh truyền hình FBNC chia sẻ trên tờ Doanh
nhân Sài Gòn:“Trên thực tế, có những sự cố xảy ra và doanh nghiệp hết sức
lúng túng do bộ phận QHCC không chuyên hoặc tính chuyên nghiệp chưa cao Cũng có thể vì lãnh đạo doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc phải xây dựng một bộ phận chuyên lo cho hoạt động QHCC của DN mà trong đó có việc phòng chống, xử lý khủng hoảng truyền thông hoặc khôi phục hình ảnh,
uy tín cho DN sau những khủng hoảng Nếu hoạt động truyền thông tốt thì sau những khủng hoảng, DN cũng sẽ thấy lấp ló những cơ hội mới tạo cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu được tốt hơn, uy tín DN được phục hồi và hình ảnh DN sớm được phục hồi và nâng cao”
* Vận động hành lang:
Là việc tiếp xúc, vận động các nhà soạn thảo luật pháp hoặc các chính
trị gia để phát triển hay hạn chế một đạo luật nào đó Là một phần chuyên biệt
của QHCC giúp xây dựng và duy trì mối quan hệ với Chính phủ chủ yếu nhằm mục đích gây ảnh hưởng đến việc lập pháp và đề ra chính sách
Thành công của những người làm lobby phụ thuộc rất nhiều vào kĩ năng quan hệ công chúng, khả năng thuyết phục các quan chức Nhà nước, khách hàng Ngoài ra ngươi làm lobby phải có kiến thức sâu sắc về chính phủ
và các quy trình lập pháp chính sách công, dư luận Trên thực tế, họ phải dành
Trang 25nhiều thời gian cho việc thu thập các thông tin từ Chính phủ hơn là cho việc thực hiện thông tin, bởi vì những chiến lược lobby hiệu quả vụ thuộc rất nhiều vào cơ sở thông tin
1.1.3 Phân loại hoạt động quan hệ công chúng
1.1.3.1 Quan hệ công chúng đối nội
QHCC đối nội là những hoạt động quan hệ công chúng nhằm tăng cường giao tiếp trong nội bộ, tiến đến một sự hiểu biết chung nhằm mục đích nâng cao tinh thần đoàn kết cũng như thúc đẩy hiệu quả công việc
Các phương pháp giao tiếp trong quan hệ lao động:
- Họp, gặp mặt: Đây là hình thức tạo mối quan hệ thân thiện hơn giữa lãnh đạo và nhân viên trong tổ chức Các buổi họp, gặp mặt có thể đươc tổ chức thường xuyên theo tuần, theo tháng hoặc đột xuất theo sự kiện, tuy nhiên hình thức này mang lại sự cởi mở và hiệu quả cao trong công việc;
- Thư tín tạp chí, bảng thông tin nội bộ: Hình thức này mang tính chất văn bản thông báo chính thống, và thường là cung cấp thông tin một chiều nhưng thông tin được chọn lọc và được biên tập rõ ràng cẩn thận;
- Tài liệu và phản hồi trong đào tạo: Việc tổ chức lớp đào tạo, tập huấn cũng thường xuất hiện trong môi trường các cơ quan, đơn vị nhà nước Đây là thời điểm để bổ sung kiến thức, kỹ năng cho nhân viên để có chung cách nhìn nhận về công việc với lãnh đạo;
- Các bài phát biểu: Các lãnh đạo trong cơ quan, đơn vị thường sử dụng các bài phát biểu để gửi các thông điệp của mình trong các cuộc họp hoặc sự kiện có sự xuất hiện đông đảo nhân viên;
- Các sự kiện nội bộ đặc biệt (thi đấu thể thao, đi nghỉ, lễ hội cuối năm…): Những sự kiện này thu hút sự tham gia của động đảo nhân viên trong
cơ quan, đơn vị, xây dựng nét văn hóa đơn vị cũng như tạo ra bầu không khí vui vẻ, hòa đông trong toàn đơn vị
Trang 26Theo TS Đinh Thị Thúy Hằng trong cuốn “PR kiến thức cơ bản và đạo
đức nghề nghiệp”: “Khái niệm QHCC nội bộ còn rất mới mẻ nhưng các hoạt
động liên quan đến QHCC nội bộ trong các cơ quan, công sở đã có ở Việt Nam, tuy chưa được bài bản và thường xuyên Vấn đề tìm, giữ và duy trì các cán bộ, nhân viên giỏi, nhiệt tình và hết mình đóng góp cho sự phát triển chung và cho tổ chức của họ không phải là việc đơn giản Điều này đòi hỏi các nhà quản lý cần hiểu nhu cầu của công chung và có những kỹ năng, sách lược, chiến lược quản lý
1.1.3.2 Quan hệ công chúng đối ngoại
Khác với hoạt động QHCC đối nội, hoạt động quan hệ công chúng đối ngoại hướng đến đối tượng là các tổ chức, cá nhân không nằm trong nội bộ tổ chức của mình
Việc phân loại các loại hình hoạt động đối ngoại có thể dựa trên các tiêu chí khác nhau, do đó, sẽ có các hệ quy chiếu và cách phân loại khác nhau Nếu lấy tiêu chí là chủ thể, là lực lượng thực hiện công tác đối ngoại thì chúng ta có đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân Căn
cứ chính ở đây là ai thực hiện công việc đối ngoại?
Đối ngoại Đảng do các cơ quan, tổ chức Đảng tiến hành, với danh nghĩa của Đảng Ngoại giao Nhà nước là quan hệ và hoạt động đối ngoại của các cơ quan nhà nước bao gồm từ Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Tòa
án, Viện Kiểm sát, các bộ, các cơ quan trực thuộc chính phủ và chính quyền các cấp Đối ngoại nhân dân hay ngoại giao nhân dân là quan hệ và hoạt động đối ngoại của nhân dân mà lực lượng chủ công là các tổ chức nhân dân, gồm Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức nhân dân khác
Còn nếu phân loại theo nội dung của hoạt động đối ngoại thì chúng ta
có chính trị đối ngoại, kinh tế đối ngoại, văn hoá đối ngoại, v.v… Mỗi chủ thể đối ngoại như Đảng, Nhà nước hay nhân dân đều có thể tiến hành các hoạt
Trang 27động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực trên Ngoài ra, một số nước còn nói đến ngoại giao công chúng, thí dụ như chính quyền Mỹ gần đây coi ngoại giao công chúng là chiến lược, là “hòn đá tảng” trong chính sách ngoại giao của Mỹ Theo cách hiểu này thì ngoại giao công chúng của Mỹ có chủ thể chính là nhà nước, là bộ ngoại giao Mỹ, nhưng đối tượng là công chúng, để tác động vào nhận thức, vào hành động của quần chúng nhân dân các nước nhằm thúc đẩy các mục tiêu và lợi ích của Mỹ trên thế giới Như vậy, ở đây
có 3 tiêu chí khác nhau là: ai là người làm? làm cái gì? tác động nhằm vào ai? Đối ngoại nhân dân làm cả chính trị, kinh tế, văn hoá, có tác động đến cả công chúng, cả các nhà nước và các thiết chế liên quốc gia
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo
1.2.1 Khái quát tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Mỗi tôn giáo có một lịch sử du nhập hay hình thành, phát triển ở Việt Nam khác nhau, sự gắn kết với dân tộc, với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khác nhau tạo nên một bức tranh tôn giáo ở Việt Nam phong phú, đa dạng và cực kỳ phức tạp Hơn nữa Việt Nam lại là một quốc gia ở khu vực Đông Nam Á và Đông Á - Thái Bình Dương, một khu vực có hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đa dạng và khá phồn thịnh Điều đó đã tác động mạnh vào Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, làm cho tình hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam lại càng phức tạp hơn Để
có nghiên cứu tổng thể về công tác tôn giáo ở Việt Nam xin được khái lược một số tôn giáo lớn ở Việt Nam như sau:
1.2.1.1 Phật giáo
Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên, năm 198 được truyền tới Việt Nam Đạo Phật thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các vị Phật thời quá khứ, hiện tại, vị lai, các vị Bồ tát, La Hán; khi du nhập vào Việt Nam dung hợp với tín ngưỡng bản địa còn thờ các vị thánh có công với nước Trong quá trình gần 2000 năm qua, Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó, đồng
Trang 28hành cùng dân tộc Trong buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, các thiền sư cao tăng đồng thời cũng là những nhà văn hóa, chính trị, quân sự, ngoại giao xuất sắc có vai trò quan trọng trong công cuộc hộ quốc, an dân Đến thời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo trở thành quốc đạo Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đông đảo chức sắc cùng tín đồ Phật giáo Việt Nam đã luôn đoàn kết cùng với nhân dân cả nước chống ngoại xâm Hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, toàn thể tăng ni, phật tử Phật giáo Việt Nam hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước
Năm 1981, các tổ chức, hệ phái Phật giáo đã thống nhất vận động và thành lập nên một tổ chức chung duy nhất cho Phật giáo Việt Nam, lấy tên là
“Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, với đường hướng hoạt động theo khẩu hiệu“Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”
Trải qua 31 năm với 6 nhiệm kỳ hoạt động, Giáo hội phật giáo Việt Nam đã luôn kiên định đường hướng hành đạo và cơ bản ổn định về mặt tổ chức Tính đến tháng 12/2011, số người theo đạo Phật có khoảng 11 triệu người, chiếm hơn 12% dân số cả nước, trong đó có 46.495 chức sắc, 10 nghìn chức việc với 14.778 cơ sở thờ tự Về tổ chức, Giáo hội phật giáo Việt Nam
có hệ thống 3 cấp: cấp Trung ương - cấp tỉnh - cấp huyện
Về giáo dục, Giáo hội phật giáo Việt Nam hiện có 4 Học viện Phật giáo, 1 trường Trung - Cao đẳng Phật học, 8 lớp Cao đẳng, 32 trường Trung cấp Phật học, đã và đang đào tạo đội ngũ tăng ni có trình độ, tăng cường đội ngũ trí thức chung cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước
Trong xây dựng đất nước, Giáo hội phật giáo Việt Nam luôn tuyên truyền, vận động tăng ni, phật tử tích cực đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh với các lực lượng lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam Trong công tác đối ngoại, Giáo hội phật giáo Việt Nam là một kênh
Trang 29thông tin ngoại giao quan trọng góp phần khẳng định về chủ trương, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, đấu tranh với các thế lực thù địch vu cáo Nhà nước ta vi phạm về tự do nhân quyền, tôn giáo Trong đời sống, đạo đức, văn hóa, lễ nghi Phật giáo đã làm phong phú thêm truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, góp phần vào giáo dục tính nhân văn, lòng nhân ái của một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam
1.2.1.2 Công giáo
Công giáo là tôn giáo thờ Chúa Jesu và các thánh thần, ra đời vào thế
kỷ thứ nhất sau công nguyên Đến nay đã trở thành một tôn giáo lớn trên thế giới, với khoảng 1,2 tỷ người ở khắp các châu lục và ảnh hưởng đến nhiều
lĩnh vực trong đời sống chính trị, xã hội các nước
Công giáo truyền vào Việt Nam năm 1533, trong quá trình truyền giáo
đã dính líu đến quá trình Pháp xâm lược Việt Nam làm thuộc địa do đó đã tạo nên quan hệ giữa Công giáo và triều đình nhà Nguyễn có nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, phần lớn các giáo sĩ đã tuyên truyền xấu về người Cộng sản làm cho số đông các tín đồ Công giáo ủng hộ sự xâm lược, đô hộ của Pháp và
Mỹ, chống lại công cuộc xây dựng chính quyền Cách mạng và giành độc lập dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo Năm 1954, dưới sự bảo hộ của Mỹ và Pháp nhiều linh mục, giám mục đã cưỡng ép hơn nửa triệu đồng bào theo Công giáo di cư vào Nam Tại miền Nam Việt Nam, Công giáo tiếp tục được
đế quốc Mỹ và chính quyền Ngụy bảo trợ và lợi dụng vào các hoạt động chính trị để chống Cách mạng Sau năm 1975 đất nước độc lập, thống nhất một bộ phận người Công giáo bị tuyên truyền xấu về cách mạng, sợ sống dưới chế độ Cộng sản đã rời bỏ Việt Nam để di tản sang nhiều nước phương Tây có tác động xấu trong cộng đồng Công giáo Việt Nam
Trong hoàn cảnh mới, với sự thắng thế của Cách mạng, với đường lối
về tôn giáo và công tác tôn giáo cởi mở của chính quyền Cách mạng do Đảng
Trang 30Cộng sản lãnh đạo, năm 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập, Đại đội lần thứ nhất ra Thư chung 1980 có nội dung tiến bộ thích nghi thời
đại là “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” xác định đường hướng hoạt động
cho toàn đạo trong bối cảnh mới
Giáo hội Công giáo Việt Nam trực thuộc và chịu sự chỉ đạo của Vatican, hiện nay có tổ chức hành chính đạo ở 2 cấp: giáo phận và giáo xứ với trên 6 triệu tín đồ, chiếm 6,84% dân số cả nước, trong đó có 4.044 chức sắc, 7.500 chức việc Về mặt tổ chức hành chính, Công giáo có 26 giáo phận, khoảng 3.000 giáo xứ, 6.000 giáo họ, 9.000 cơ sở thờ tự và 7 Đại chủng viện đào tạo chức sắc cho giáo hội Công giáo
1.2.1.3 Đạo Tin lành
Đạo Tin lành là một tôn giáo cải cách từ Công giáo ở Châu Âu từ thế kỷ XVI, đạo Tin lành thờ Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng do chịu ảnh hưởng của dân chủ tư sản nên đạo Tin lành có lối sống sinh hoạt đạo đơn giản và đề cao tinh thần tự do, dân chủ trong tổ chức, không phức tạp và gò bó như Công giáo
Đạo Tin lành truyền vào Việt Nam từ năm 1911 do các tổ chức Tin lành ở Mỹ truyền vào Trước năm 1975, đạo Tin lành có ở cả hai miền nhưng phát triển chủ yếu ở miền Nam với khoảng 200 ngàn tín đồ Sau năm 1975, cùng với sự rút lui của Mỹ và nhiều giáo sĩ nước ngoài, đạo Tin lành trong nước chững lại, nhưng đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, đạo Tin lành
đã phục hồi nhanh chóng, “phát triển không bình thường” trong vùng đồng
bào dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên và hình thành nhiều tổ chức, nhóm, phái khác nhau, trở thành tôn giáo lớn
Tính đến tháng 3 năm 2011, theo kết quả tổng hợp sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 04/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một
số công tác đối với đạo Tin lành, cả nước có hơn 1 triệu người theo đạo Tin lành chiếm hơn 1,14% dân số cả nước, trong đó số mục sư là 436, mục sư
Trang 31nhiệm chức là 306, truyền đạo là 458, chi hội 455, điểm nhóm 4.409, 351 nhà thờ, với hơn 90 tổ chức và nhóm Tin lành
Trong số hơn 90 tổ chức, nhóm Tin lành hiện có ở Việt Nam, có 10 tổ chức đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, số còn lại chủ yếu là một số nhóm Tin lành mới du nhập và các nhóm Tin lành tư gia nhỏ
lẻ Đường hướng hoạt động của hầu hết các tổ chức đạo Tin lành được công
nhận là “phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ Quốc”, các tổ chức Tin lành đã được
Nhà nước công nhận đã và đang tạo nên xu hướng hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, đồng hành cùng dân tộc Các tổ chức này có cơ cấu tổ chức gồm 2 cấp (Trung ương, gọi là Ban trị sự/Hội đồng Quản trị/Ban Chấp hành - Cơ sở gọi là Chi hội hoặc Hội thánh cơ sở) Một số tổ chức còn có Ban Đại diện/Đại diện cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhưng không phải là một cấp hành chính đạo
Tuy dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đạo Tin lành đã phát triển đột biến số lượng tín đồ cao gấp 5 - 6 lần trước 1975, nhưng các thế lực thù địch vẫn lợi dụng đạo này để xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam trong khi đó các thế lực phản động người dân tộc thiểu số lợi dụng đạo Tin lành để tập hợp quần chúng biểu tình, bạo loạn chia rẽ khối đoàn kết dân
tộc Việt Nam để thành lập “Vương quốc H ’ mông” ở Tây Bắc và “Nhà nước Đega” ở Tây Nguyên
Trong thời gian tới, với ưu thế là một tôn giáo thế tục, trong điều kiện hội nhập quốc tế và được Mỹ hỗ trợ, đạo Tin lành sẽ tiếp tục phát triển ở nước ta nhất là
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực công nhân ở các khu công nghiệp
1.2.1.4 Đạo Cao đài
Đạo Cao Đài tên gọi đầy đủ là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ là một tôn giáo
ra đời ở Tây Ninh vào năm 1926, do các vị là tư sản, địa chủ, công chức trong
bộ máy chính quyền đương thời sáng lập, hoạt động chủ yếu ở Nam Bộ
Đạo Cao Đài có biểu trưng thiêng liêng là Thiên nhãn (con mắt trái) tượng trưng cho sự cai quản thấu suốt của Thượng đế, đạo này thờ Trời, thờ
Trang 32Đấng Thượng đế đã sanh hóa vũ trụ, toàn thể chúng sanh và thờ các Đấng Thiêng liêng: Lão Tử, Phật Thích Ca, Chúa Jesus, Khổng Tử, Quan Âm Bồ Tát, Lý Thái Bạch, Quan Thánh Đế Quân, Khương Tử Nha một số hệ phái thờ cả Bác Hồ
Khi mới thành lập, đạo Cao Đài là một tổ chức tôn giáo thống nhất có Toà thánh ở Tây Ninh và xây dựng được hệ thống tổ chức Giáo hội hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương Từ năm 1931 đến năm 1934, do điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm văn hoá và mâu thuẫn nội bộ giữa các vị chức sắc lãnh đạo Hội thánh, đạo Cao Đài từ một tổ chức thống nhất đã chia rẽ thành nhiều phái Cao Đài khác nhau
Cơ cấu tổ chức của đạo Cao Đài được xây dựng theo tư tưởng Tam quyền phân lập của nhà nước tư sản gồm Bát Quái đài là cơ quan lập pháp, Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, Hiệp Thiên đài là cơ quan tư pháp Trước đây về tổ chức hành chính đạo chia thành 5 cấp: cấp Trung ương là Hội thánh (cơ quan Cửu Trùng đài và Hiệp Thiên đài); cấp khu vực, vùng miền là Trấn đạo; cấp tỉnh là Châu đạo; cấp huyện là Tộc đạo; cấp xã là Hương đạo Hiện nay, đạo Cao Đài xây dựng hệ thống tổ chức hành chính đạo gồm 2 cấp: cấp Trung ương là Hội thánh và cấp cơ sở là Họ đạo; ở những tỉnh, thành phố
có đông Họ đạo thì lập Ban Đại diện tỉnh, thành phố để giúp Hội thánh trong hoạt động tôn giáo ở cơ sở
Tôn chỉ của đạo Cao Đài là "Tam giáo quy nguyên, Ng̣ũ chi hiệp nhất"
Mục đích là lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần thương yêu đồng đạo
Hiện nay, đạo Cao Đài có khoảng 2,4 triệu tín đồ chiếm 2,76% dân số
cả nước, trong đó có hơn 1 vạn chức sắc, 2 vạn chức việc, có 1.290 cơ sở thờ
tự, hoạt động ở 37 tỉnh, thành phố
Trang 33Các phái Cao Đài hiện nay gồm: Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Ban Chỉnh đạo, Cao Đài Tiên Thiên, Cao Đài Minh Chơn đạo, Truyền Giáo Cao Đài, Cao Đài Chơn Lý, Cao Đài Cầu Kho Tam Quan, Cao Đài Bạch Y, Cao Đài Chiếu Minh Long Châu, Cao Đài Việt Nam (Bình Đức) và Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi
Nhìn chung, các Hội thánh Cao Đài hoạt động tuân thủ pháp luật, xây dựng
đường hành đạo gắn bó với dân tộc theo phương châm “Nước vinh, Đạo sáng”
1.2.1.5 Phật giáo Hoà Hảo
Phật giáo Hoà hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) khai lập năm
1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc trước đây (nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) Phật giáo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà tổ tiên nhưng không bằng tượng cốt, tranh ảnh mà bằng tấm Trần Dà (tấm vải màu nâu) Quá trình phát triển của Phật giáo Hoà Hảo trải qua nhiều biến cố, có lúc bị lợi dụng trở thành một tổ chức phản động chống phá cách mạng nhất là
từ năm 1947 khi Huỳnh Phú Sổ bị chết trong chiến khu
Năm 1999, Phật giáo Hòa Hảo được công nhận là một tôn giáo hợp pháp, Đại hội đại biểu Phật giáo Hoà Hảo nhiệm kỳ I đã bầu ra Ban Đại diện toàn đạo; năm 2004, Đại hội nhiệm kỳ II đã thông qua Hiến chương với
đường hướng hành đạo "Vì đạo pháp, vì dân tộc" và suy cử Ban Trị sự Trung
ương gồm 21 vị, với cơ cấu tổ chức hành đạo 2 cấp, cấp toàn đạo gọi là Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo, cấp cơ sở gọi là Ban Trị sự xã
Đến nay, Phật giáo Hoà Hảo có khoảng 1,5 triệu tín đồ, chiếm 1,70% dân số cả nước, trong đó có 3.200 chức việc, 94 chùa, 50 Hội quán, 399 Toà đọc giảng ở 22 tỉnh, thành phố, tập trung đông nhất là ở An Giang (nơi có Tổ đình phật giáo Hòa Hảo và có trụ sở của Ban Trị sự Trung ương)
Hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo cơ bản tuân thủ pháp luật; tham gia
có hiệu quả trong công tác từ thiện - xã hội, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
Trang 341.2.1.6 Hồi giáo (Islam)
Hồi giáo du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường và vào các thời điểm khác nhau Vào thế kỷ thứ X, người Chăm đã theo đạo Hồi và cầu nguyện Thượng đế - Alla Năm 1471 nhà nước Chiêm Thành suy vong, một
bộ phận cư dân Chăm-pa lưu tán xuống miền Tây Nam bộ và ra cả
Ma-lai-xi-a, In-do-ne-xi-a và bị ảnh hưởng mạnh về Hồi giáo qua những nước này
Tuy nhiên do các quy định hà khắc và cứng nhắc của đạo Hồi nên đạo không phát triển mạnh như các tôn giáo khác ở Việt Nam mà chủ yếu trong cộng đồng người Chăm Sau giải phóng miền Nam năm 1975, các tổ chức
“Hội đồng Giáo cả Islam Việt Nam”, “Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam”
đã tự giải tán Trong số các đối tượng cầm đầu, một số đã vượt biên ra nước ngoài, một số còn lại tìm mọi cách lén lút hoạt động
Hồi giáo ở Việt Nam hiện nay được Nhà nước công nhận và tổ chức theo 2 cấp, đó là cấp tỉnh và cấp cơ sở, ở một số tỉnh thành do nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ thì cho lập Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Ngày 7/01/1992, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số
28/QĐ-UB công nhận “Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo TP Hồ Chí Minh”
Đến nay, ngoài Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo (BĐDCĐHG) thành phố Hồ Chí Minh còn có các BĐDCĐHG An Giang, Tây Ninh, Ninh Thuận, Hội đồng Sư cả Chăm Bàni Ninh Thuận, Ban Đại diện lâm thời cộng đồng Hồi giáo Bàni tỉnh Bình Thuận
Theo thống kê chưa đầy đủ hiện đạo Hồi có khoảng 75 nghìn tín đồ, chiếm 0,08% dân số cả nước, trong đó có 770 chức sắc, chức việc, 79 cơ sở thờ tự (40 thánh đường, 22 tiểu thánh đường, 17 chùa) ở 13 tỉnh, thành phố, tập trung ở TP Hồ chí Minh, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang
Hồi giáo ở Việt Nam bị biến thể bởi tác động của bản sắc văn hóa, tín ngưỡng dân tộc và đạo Bàlamôn (tôn giáo của người Chăm có trước khi Hồi giáo xâm nhập vào) Các Ban Đại diện và tín đồ Hồi giáo đều chấp hành tốt
Trang 35pháp luật Việt Nam, có hoạt động quốc tế rộng rãi, đặc biệt quan hệ với các quốc gia Hồi giáo Đông Nam Á và thế giới; tín ngưỡng Hồi giáo của người Chăm luôn bị các thế lực thù địch nước ngoài nhất là số người Việt Nam (dân tộc Chăm) sống lưu vong ở nước ngoài lợi dụng vào mục đích chia rẽ đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
1.2.1.7 Các tôn giáo khác
Ngoài sáu tôn giáo nói trên, ở Việt Nam có các tôn giáo khác với khoảng gần 1,8 triệu người chiếm khoảng 1,88% dân số cả nước
* Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam
Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam (TĐCSPHVN) do ông Nguyễn Văn Bồng sáng lập, thờ Phật và được chính quyền thuộc Pháp cấp phép hoạt động năm 1934
Với tôn chỉ, mục đích “Phước - Huệ song tu”, ngay từ khi ra đời
TĐCSPHVN đã tập trung vào hoạt động từ thiện, nhân đạo thông qua việc lập các phòng thuốc nam chữa bệnh cứu người và tu hành theo giáo lý Phật giáo
Năm 2007, tôn giáo này được công nhận tổ chức, đến nay có gần 1,5 triệu tín đồ (trong đó có 350.000 hội viên, 4.800 chức sắc, gần 900 lương y, trên 3.000 người chế biến thuốc) tại 206 Hội quán ở 21 tỉnh, thành phố từ Khánh Hòa tới Cà Mau, chiếm 1,7% dân số cả nước (mỗi hội quán đều có
phòng thuốc nam phước thiện)
Về tổ chức, theo hệ thống từ Trung ương xuống cơ sở (có 4 cấp quản lý): Ban trị sự Trung ương, Ban trị sự Tỉnh hội, Chi hội cấp huyện, chi hội cấp xã
Hội quán của TĐCSPHVN không có nhà tu hành mà chỉ có hội viên, tín đồ Hội viên giữ vị trí lãnh đạo trong các cấp gọi là chức sắc
Là một tôn giáo ngay từ khi ra đời đã kết hợp việc hành đạo với chữa bệnh cứu người, các hội quán vừa là nơi hoạt động tôn giáo đồng thời là phòng thuốc nam phước thiện Ngay từ khi mới ra đời, TĐCSPHVN luôn gần gũi, nuôi dưỡng và che dấu nhiều cán bộ cách mạng Trong nghi lễ thờ cúng của tôn giáo
Trang 36này cũng thể hiện được lòng tôn kính với những người có công với đất nước Ngày nay, cũng như nhiều tôn giáo khác đang hoạt động tại Việt Nam, TĐCSPHVN luôn gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, có nhiều hoạt động ích nước, lợi nhà như các hoạt động chữa bệnh, cắt thuốc nam miễn phí cho người nghèo, cứu trợ nhân đạo
Đạo Baha’i thờ Thượng đế và Đức Ba-ha-u-la (Baha’ullah) Đạo Baha’i được truyền vào Việt Nam khoảng năm 1954, tháng 4/1955 Hội đồng tinh thần Baha’i đầu tiên được thành lập tại Sài Gòn Năm 1957, Hội đồng tinh thần đầu tiên ở miền Trung được thành lập tại Trừng Giang, Điện Bàn (nay là tỉnh Quảng Nam)
Năm 2007, được cấp đăng ký hoạt động, năm 2008 được công nhận tổ chức tôn giáo Hiện nay đạo Baha’i có khoảng 7.000 tín đồ, trong đó có 369 chức sắc, chức việc sinh hoạt tại 93 cộng đồng ở 43 tỉnh, thành phố Đạo Baha’i không có cơ sở thờ tự và chức sắc mà chỉ có chức việc Tín đồ đạo Baha’i đa số là trí thức, ngoài ra còn có người dân tộc thiểu số như Chăm, Hoa và dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Về tổ chức: Ở Trung ương có Hội đồng tinh thần tôn giáo Baha’i Việt Nam; ở địa phương có Hội đồng tinh thần địa phương
Tín đồ tôn giáo Baha’i chấp hành tốt luật pháp và tích cực tham gia công tác từ thiện xã hội cũng như các hoạt động cứu trợ thiên tai, lũ lụt, giúp
đỡ trẻ mồ côi, khuyết tật
*Bửu Sơn Kỳ Hương
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên khai lập giữa thế kỷ XIX (khoảng năm 1849), hiện nay có khoảng 15.000 tín đồ, trong đó có 116 chức việc, 18 chùa và 1 đình ở 9 tỉnh, thành phố, tập trung nhiều tại Vũng Tàu
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không hình thành tổ chức hành chính đạo, chỉ
có Ban quản tự chùa và chức việc quản lý, không có chức sắc Việc liên kết
Trang 37tôn giáo của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương chủ yếu thông qua đức tin của tín đồ, việc duy trì mối đạo chủ yếu thông qua đức hạnh của chức việc Vì không có
hệ thống tổ chức giáo hội nên phát triển theo hình thức truyền thừa, truyền giảng giáo lý của Thầy tổ cho các đệ tử thân tín
Chùa là tổ chức độc lập, là nơi thờ tự chung của cộng đồng để sinh hoạt
lễ nghi tôn giáo ở mỗi địa phương Trong chùa không bài trí ảnh hay tượng Phật mà chỉ thờ một tấm vải mầu nâu sậm gọi là Trần Điều, treo trước tường chính điện Vì vậy, việc công nhận tổ chức của đạo hiện nay đang được thực hiện theo từng chùa Từ năm 2007 đến nay đã có 07 chùa được công nhận, 04 chùa được đăng ký hoạt động
* Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô Lợi sáng lập năm 1867 tại Cù Lao
Ba, thờ Phật, Thánh, Tiên Năm 2006 được cấp đăng ký hoạt động và năm
2010 được Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang công nhận tổ chức tôn giáo Hiện
có khoảng 64 nghìn tín đồ, 400 chức việc, 55 chùa, 4 đình, 12 miếu, 04 mộc,
02 điện tại 12 tỉnh, thành phố, tập trung nhiều tại An Giang
Cơ sở thờ tự của đạo là các chùa, đình, miếu, Tam bảo gia Khác với chùa Phật giáo, đó không phải là nơi tu hành của sư mà chỉ là nơi thờ cúng và
thực hiện các nghi lễ tôn giáo theo tôn chỉ “tu nhân - học phật” trong Tứ Ân,
đồng thời là nơi chữa bệnh cho tín đồ
Về tổ chức: Ở Trung ương gọi là Đạo Hội, cấp cơ sở gọi là Gánh Có
24 Gánh, đứng đầu mỗi Gánh có Trưởng Gánh, là người giữ trách nhiệm
trông coi việc đạo, tổ chức cúng lễ trong Gánh
Đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa là tôn giáo bản địa, đặc trưng của văn hóa Nam
bộ và chỉ giới hạn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Cư sỹ tu tại gia, lấy đạo hiếu làm đầu
* Giáo hội Phật đường Nam tông Minh Sư đạo
Trang 38Giáo hội Phật đường Nam tông Minh Sư Đạo, còn gọi là Đạo Minh Sư được thành lập năm 1863, thờ Ngọc Hoàng Thượng đế và các đấng Phật, Tiên, Thánh thần, hoạt động chủ yếu ở khu vực phía Nam, được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2007 và công nhận về tổ chức năm 2008
Mô hình tổ chức Giáo hội gồm có cấp Trung ương với các cơ quan Hội đồng Trưởng lão, Ban Trị sự Trung ương Giáo hội; cấp cơ sở có Ban Trị sự tỉnh, thành phố và Ban Trị sự Phật đường
Hiện có hơn 11 nghìn tín đồ, trong đó có 400 chức sắc, 1.000 chức việc với 53 cơ sở thờ tự ở 20 tỉnh, thành phố
* Minh lý đạo Tam tông miếu
Minh Lý Đạo Tam Tông miếu, còn được gọi là Minh Lý Đạo, được thành lập năm 1924, thờ Tam giáo (Phật giáo, Khổng giáo và Nho giáo), hoạt động chủ yếu ở các tỉnh khu vực phía Nam, được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo năm 2007, công nhận về tổ chức năm 2008
Về tổ chức giáo hội có hai cấp: Cấp Trung ương là Hội đồng Hội thánh; cấp cơ sở là Chi đạo
Tôn chỉ, mục đích của Minh Lý đạo là sự kết hợp tinh hoa của ba tôn giáo lớn ở phương Đông làm một (Qui nguyên tam giáo) để hướng dẫn tín đồ, môn sanh
tu hành, tự độ, vị tha, độ dẫn loài người xây dựng một xã hội hòa bình, an lạc
Hiện có hơn 1 nghìn tín đồ, trong đó có 100 chức sắc, 300 chức việc với 04 cơ sở thờ tự hoạt động ở 03 tỉnh, thành phố là TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu và Long An
* Đạo Bàlamôn
Đạo Bàlamôn là tôn giáo hình thành tại Ấn Độ (còn gọi là Ấn Độ giáo)
du nhập vào cộng đồng dân tộc Chăm từ đầu Công nguyên thông qua các thương gia Ấn Độ Bản thân người Chăm Bàlamôn không gọi mình là Chăm
Bàlamôn mà gọi là Chăm Ahiêr hoặc Chăm “Rặt” (Cham jat – Chăm gốc)
Đạo Bàlamôn thờ các vị thần như Brama, Vitsnu, Siva và các Vua Chăm
Trang 39Hiện nay, người Chăm theo đạo Bàlamôn sống tập trung tại hai tỉnh là Ninh Thuận và Bình Thuận với số lượng hơn 54 nghìn tín đồ, trong đó có 158 chức sắc bao gồm: Cả sư (gọi là Pô Dhia) là người lãnh đạo cao nhất trong làng của người Chăm Bàlamôn; hỗ trợ và kế thừa các vị Cả sư là các Phó Cả
sư (Pô Bach) và các chức sắc (Paseh) Cơ sở thờ tự chủ yếu của đạo Bàlamôn
là hệ thống các đền, tháp với gần 40 cơ sở Năm 2010, Nhà nước đã cấp đăng
ký hoạt động cho Ban Đại diện lâm thời Bàlamôn tỉnh Bình Thuận; năm
2011, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho Hội đồng chức sắc Chăm Bàlamôn tỉnh Ninh Thuận và công nhận về tổ chức của tôn giáo này năm 2012
Như vậy, tôn giáo ở Việt Nam rất đa dạng về hình thức và nội dung hoạt động, phức tạp về các mối quan hệ Đa số các tôn giáo và các tổ chức tôn giáo chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm nhiều việc có lợi cho xã hội song cũng còn nhiều chức sắc, nhà tu hành, tín đồ một số tôn giáo có những hoạt động trái pháp luật tác động xấu vào tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày một nhiều Vấn đề phức tạp nhất của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam là việc đòi lại hay lấn chiếm trái pháp luật đất đai cơ sở thờ tự; truyền đạo trái phép; bị các thế lực xấu, phản động trong và ngoài nước lợi dụng, sử dụng chống Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây rối hoặc bạo loạn phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay Do vậy các vấn đề nảy sinh trong tôn giáo cần được quan tâm giải quyết trong tổng thể công tác tôn giáo và công tác quản lý nhà nước
về tôn giáo
1.2.2 Khái quát về một số đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
Tôn giáo ở Việt Nam được hình thành và phát triển đa dạng, đồng thời
có những nét đặc thù riêng Có những tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào
và có những tôn giáo nội sinh ở từng thời kỳ lịch sử, với những phương thức khác nhau Các tôn giáo du nhập có nguồn gốc từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, có nguồn gốc từ phương Tây như Công giáo, Tin
Trang 40lành; các tôn giáo nội sinh như Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo trong đó, có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, luật lệ, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai thờ đa thần (tín ngưỡng dân gian), có các tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định, có những tôn giáo đang trong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp Về phân bố, có nơi tín đồ sống thành cộng đồng riêng, có nơi sống đan xen trong cộng đồng dân cư
Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc Tuy nhiên, đó cũng là vấn đề đã và đang đặt ra cho Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể
Do các tôn giáo ở Việt Nam được hình thành, tồn tại và phát triển trong những bối cảnh, hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, nên về phương diện chính trị
- xã hội, các tôn giáo Việt Nam chứa đựng 6 đặc điểm rất cơ bản và quan trọng, mà chính những đặc điểm này đã tác động không nhỏ tới việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo, tới phương pháp quản lý nhà nước với tôn giáo, trong đó có cả vấn đề tổ chức, bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo:
Một là, đại bộ phận tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam là nông dân và
xuất thân từ nông dân Nông dân là lực lượng chủ chốt của cách mạng trong khối liên minh công - nông, là lớp người cần cù lao động, giản dị trong sinh hoạt, có tinh thần yêu thương gắn bó và tính cố kết cộng đồng lớn, nhưng trình độ dân trí chưa cao, đức tin thì quá lớn thậm chí thành cuồng tín là đối tượng mà các lực lượng truyền giáo nhắm đến để phát triển tôn giáo, các tu sĩ xấu, các thế lực thù địch nhắm đến để kích động, lôi kéo, mua chuộc chống lại cách mạng
Hai là, tuyệt đại bộ phận đồng bào các tôn giáo có lòng yêu nước, gắn
bó với dân tộc Phẩm chất ấy lại càng được nâng lên khi đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo được thực hiện nhằm tập