CHUYỆN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ CỦA Y BAN DƯỚI GÓC NHÌN THI PHÁP HỌC. TIỂU LUẬN THI PHÁP HỌC LỚP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM. TÁC GIẢ NGUYỄN VĂN TƯỜNG GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BÌNH AN, THỦ THỪA, LONG AN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
- -TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
BÀI THƠ THU CỦA XUÂN DIỆU TỪ GÓC NHÌN
THI PHÁP HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS PHẠM NGỌC HIỀN
Họ và Tên học viên: Nguyễn Văn Tường
Mã học viên: 216A110030
Ngành: Văn học Việt Nam
TP HỒ CHÍ MINH,10/2021.
Trang 2MỞ BÀI
Nói đến “Thu” là nói đến làng quê Việt Nam, một thôn quê đầy thơ mộng, thanh tĩnh, yên bình Mùa thu tự cổ chí kim, nó vẫn là đề tài ưa thích của nhiều thi sĩ Và Xuân Diệu với những vần thơ xuân mơn mởn ấy cũng đã hơn một lần phải lòng với mùa thu, như : Đây mùa thu tới, Ý thu, Chiều đầu thu, Và thơ mùa thu của Xuân Diệu có một vẻ đẹp rất riêng, một vẻ đẹp trong sự sầu muộn, vẻ đẹp ẩn chứa sâu kín nhưng rất nên thơ Và mùa thu của
“sự biệt ly êm ái”, mùa thu của những “ xa rời lãng mạn” Sau đây, chúng ta cùng nhau tìm hiệu nội dung bài thơ Thu của Xuân Diệu dưới góc nhìn của Thi pháp học:
Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu;
Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì
Hư vô bóng khói trên đầu hạnh;
Cành biếc run run chân ý nhi
Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa, Mới tạnh mưa trưa, chiều đã tà
Buồn ở sông xanh nghe đã lại,
Mơ hồ trong một tiếng chim qua
Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm, Hây hây thục nữ mắt như thuyền
Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu, Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên
THÂN BÀI
1 Kết cấu thể loại
Thể thơ 7 chữ, ( mỗi câu có 7 chữ), bài thơ gồm có 12 câu và được chia làm 3 khổ
Trang 3Về luật Bằng – Trắc: Bài thơ tuân thủ theo luật Bằng – Trắc ( B-T) cụ thể như sau:
Khổ 1:
Nhận xét: Khổ thơ này thực hiện gieo vần ở tiếng cuối câu 2 và 4 ( vần chân gián cách)
Khổ 2:
Nhận xét: Khổ thơ này thực hiện gieo vần ở tiếng cuối câu 1,2 và 4 ( vần chân gián cách)
Khổ 3:
Nhận xét: Khổ thơ này thực hiện gieo vần ở tiếng cuối câu 2 và 4 ( vần chân gián cách)
Ở vị trí 2,4,6 của mỗi câu đảm bảo thực hiện đúng Luật Bằng – Trắc
Đây là thể thơ xuất hiện từ đầu thế kỉ XX, đỉnh cao là phong trào Thơ Mới (1932-1945) Trên cơ sở tiếp thu truyền thống của thể thơ thất ngôn đã
có những cách tân đầy sáng tạo như: - Về ngôn ngữ, gồm: vần điệu, thanh điệu, nhịp điệu – Về thanh điệu, vẫn dựa vào hai khuôn thanh cơ bản của thể thơ thất ngôn truyền thống Song, nó khác với thể thơ truyền thống ở chỗ được chia khổ – Ngoài ra, thơ bảy chữ hiện đại ngoài cách ngắt nhịp theo thể
Trang 4truyền thống là 3/4 thì còn có nhiều cách ngắt nhịp khác nhau, tùy theo cách hiểu của độc giả, chẳng hạn như: 2/5, 2/2/3, 1/2/2/2, ( cách ngắt nhịp phong phú, đa dạng)
2 Thủ pháp lạ hóa
Thứ nhất, hình ảnh “Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu;” Nõn nà
sương ngọc là như thế nào? Đây chính là thủ pháp lạ hóa hết sức độc đáo, vừa đảo trật tự cú pháp vừa chuyển loại từ “ Sương ngọc nõn nà lại đậu trên thềm
Thứ hai, “Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì.” - bâng khuâng chiều
lỡ thì Nó được so sánh như cái tuổi thanh xuân bị lỡ thì Nhà thơ Xuân Diệu
so sánh cái nắng buổi chiều như đầy tâm trạng của một cô gái và cái quan
trọng hơn hết còn là sự lỡ thì Phải chăng đây là sự ngầm đầy ẩn ý của nhà thơ “ nắng bâng khuâng lỡ thì hay cô gái bâng khuâng lỡ thì?
Thứ ba, “ Hư vô bóng khói trên đầu hạnh” hình ảnh được đảo trật tự
cú pháp tạo nên không khí hư vô bóng khói thật độc đáo
Thứ tư, “ Cành biếc run run chân ý nhi.” Hình ảnh cành biếc run run, hình như tác giả đang nhân hóa cành biếc mà lại run run chân ý nhi Bút pháp lạ hóa mở rộng phổ kết hợp nhằm gợi lên cảnh động gợi hình đầy sinh động cho bức tranh Thu
Thứ năm, “ Hây hây thục nữ mắt như thuyền” Biện pháp đảo trật tự trong cấu trúc thông thường nhằm nhấn mạnh đôi mắt như thuyển của cô
gái đang ngồi bên cửa ngừng kim thêu bức gấm và đang ngắm nhìn bầu trời thu mơn mơn thơ mộng Đó chính là thủ pháp lạ hóa trong Thơ mới, chính cái
lạ này nhằm tôn lên vẻ đẹp cho ngôn từ thi ca
3 Kí hiệu ngôn từ
“Nắng nhỏ bâng khuâng” là thế nào? Trong lời ăn tiếng nói hằng
ngày, ta chỉ nghe nói đến nắng chói chang, thì nay đến với Xuân Diệu, chúng
Trang 5ta lại thưởng thức được cái nắng nhỏ mà lại bâng khuâng như là đang mang tâm trạng của khách thể trữ tình vậy!
“chân ý nhi” theo từ điển Hán Nôm thì “ ý nhi” có nghĩa là tên một
loài chim, có thuyết bảo là chim yến, nhưng theo tôi “ý nhi” trong bài thơ này
có nghĩa là “nhỏ bé, đáng yêu” Từ đó ta có thể hiểu “ chân ý nhi” là bước chân của cô gái nhỏ, đáng yêu xuất hiện giữa khung cảnh trời Thu thật đáng yêu? Hay đó là hình ảnh thiên nhiên vào thu của đất trời tạo nên một hình ảnh thiên nhiên đáng yêu?
“Gió thầm, mây lặng” hình ảnh thơ mang tính nhân hóa “ gió thì
thầm”, mây lặng lẽ giữa khung trời vào thu? Hữu Thỉnh từng đã có lần miêu
tả cảnh vào Thu như thế: “ Bỗng nhận ra hương ổi,
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về,” và rồi sau đó là
“Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu” Hình ảnh thơ vô cùng thi vị và độc đáo
“Bức gấm” có thể nhà thơ Xuân Diệu lấy hình ảnh thơ từ truyện cổ
Tây Tạng, để chỉ người con gái hiếu thảo
“Mắt như thuyền” theo văn hóa sông nước Việt Nam “ con mắt
thuyền” từng ngự trên mặt trống đồng Đông Sơn hay thạp đồng Đào Thịnh
Có rất nhiều truyền thuyết và truyện kể về hình ảnh con mắt thuyền với những chi tiết hư cấu, tạo dệt của người đời sau nhưng hình ảnh “ mắt thư thuyền” của Xuân Diệu quả là có một ẩn ý sâu xa được ví như trong đó ẩn chứa bao hoài bão và khát vọng của con người Và đây là hoài bão khát vọng được thể hiện qua nhân vật trữ tình chăng?
“Cúc vàng” là biểu tượng cho sự trường thọ, lòng cao thượng, lòng
hiếu thảo và thường được ví như người quân tử
Trang 6“Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên” có thể hiểu áo vàng mà cô
gái đang thêu, có thể hiểu là màu áo trạng nguyên vàng hay đỏ, có thể hiểu là sắc vàng của mùa thu phủ lên sắc hoa trạng nguyên màu đỏ…
4 Mối quan hệ giữa không gian và thời gian nghệ thuật
Sự sắp xếp, phối trí giữa không gian và thời gian nghệ thuật tạo nên sự tương quan:
Xét từ góc nhìn không gian: -Từ xa đến gần: “ Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa”; “ Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu” ( cúc vàng = gần)
-Từ rộng đến hẹp: “ Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu” -> “ Bên cửa ngừng kim thêu bức gấm”; và cả bài thơ là bắt đầu từ “cảnh” và dần khép lại là hình ảnh “nhà” Không gian trong thơ được tác giả đi từ xa đến gần, từ góc nhìn rộng và khép lại dần như đang cô đọng cái khoảng không ấy
Xét từ góc nhìn thời gian: từ trưa đến chiều “ Mới tạnh, mưa trưa, chiều đã tà”
5 Điểm nhìn nhân vật
Điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả Người ta không thể miêu tả nếu không có người miêu tả và không bắt đầu từ một điểm nhìn nào đó
-Điểm nhìn bên trong, bên ngoài: Cô đơn, tinh tế, đắm say cuộc đời: thu buồn nhưng lụy, thu yên nhưng động, thu man mác nhưng bừng cháy đẹp, yêu đời
“ Gió thu hoa cúc vàng lưng giậu, Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên.”
-Điểm nhìn hiện đại trên nền cổ điển ( thơ bảy chữ dựa trên cơ sở thơ bảy chữ
cổ điển)
-Điểm nhìn không gian, thời gian: Diễn tả sinh động, cụ thể; lấy cảm nhận tinh tế của con người mà đo thiên nhiên, không gian, thời gian
Trang 7-Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trữ tình và của nhân vật: Mở đầu bài thơ bắt nguồn từ nhân vật trữ tình, chuyển sang nhân vật thiếu nữ ở cuối bài thơ
KẾT LUẬN
Thu là một bài thơ hay của Xuân Diệu Bao nhiêu nét thu, ý thu, chiều
thu, không gian thu và kể cả tình thu hình như được tác giả gom vào trong thơ Dáng thu, mưa thu, thu buồn man mác, tình thu đẹp mà buồn tạo nên cái hồn thu mênh mang, xao xuyến Đáng yêu nhất là cái hình ảnh thiếu nữ, một dáng thu yêu kiều mộng tưởng và cùng cả khát vọng và hoài bão cũng đã được hòa quyện vào thu thạo nên một nét thu độc đáo thi vị Một trái tim đa tình, một ngòi bút tài hoa Cách cảm và các tả Thu một cách rất mới, rất thơ, rất hiện đại Đằng sau những sắc thu của đất trời, cây lá, hoa cỏ, thiên nhiên, nàng Thu, còn là tiếng thu xôn xao, rạo rực, rung động trong tâm hồn thi sĩ Xuân Diệu và cùng nàng Thu – khách thể trữ tình trong thơ
Bài thơ cho ta nhiều ngẩn ngơ say cái hương sắc mùa thu xưa, mùa thu Hà Nội và còn ngẩn ngơ với bao cách cảm, cách nghĩ mới lạ./
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Thi Pháp Học – Phạm Ngọc Hiền NXB Tổng Hợp TP HCM
2 Dẫn luận Thi Pháp Học – Trần Đình Sử, 2003
3 Thi Nhân Việt Nam – Hoài Thanh Hoài Chân NXB Hội Nhà Văn,2000
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
Trang 8- -TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
KẾT CẤU “ CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN BÀ”
TÁC GIẢ Y BAN THI PHÁP HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS PHẠM NGỌC HIỀN
Họ và Tên học viên: Nguyễn Văn Tường
Mã học viên: 216A110030
Ngành: Văn học Việt Nam
TP HỒ CHÍ MINH,10/2021.
Trang 9MỞ BÀI
Tôi tin rằng ai gặp Y Ban lần đầu và nghe chị nói chuyện tếu cũng sẽ đều kinh hồn Y Ban có lẽ là người đàn bà “ghê gớm” nhất Hà Nội, ghê gớm nhất làng văn vì “khẩu khí” và những câu chuyện của chị Những câu chuyện của Y Ban khiến người ta vui buồn ngay được trong khoảnh khắc Tôi tin rằng không người đàn bà nào dám kể những chuyện như của Y Ban, không
nữ sĩ nào dám đọc thơ như Y Ban, những câu chuyện của chị ban đầu nghe rất
“mặn tai” nhưng hậu vị của nó thì chua chát và cay đắng!Truyện của Y Ban như nước sông Hồng dào dạt cuộc sống đời thường, nhất là những truyện hồi trẻ, cái nào cũng rừng rực chất đàn bà Y Ban viết khoẻ và nhiều cùng với chất lượng Chị có thể được liệt vào hàng những cây bút nữ tiêu biểu nhất của văn học Việt hiện nay Danh sách tác phẩm của chị có hàng chục cuốn, trong
số có những truyện từng gây sóng gió một thời như “I am đàn bà” hoặc mang danh tiếng cho chị như “Bức thư gửi mẹ Âu Cơ”.Y Ban thuộc loại đàn bà yêu thì yêu hết mình, ghét thì xúc đất đổ đi luôn, giống như kiểu văn của chị Trong tác phẩm của mình, chị có những nỗi đau và nỗi buồn riêng, tôi đọc thấy điều ấy trong mắt và trong những truyện chị viết Một người đàn bà thành danh với nghề nhưng lúc nào cũng ngổn ngang, đau đáu với gia đình và thậm chí với cả đời sống thế sự Nhà văn cũng đồng thời là một người mẹ,
một công dân Do đó, những tác phẩm chuyên viết về đề tài “ người đàn bà”
thì có lẽ tôi vẫn tâm đắc nhất đó là “ Chuyện của một người đàn bà”của nhà văn ( Tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1989 - 1990) cùng với truyện ngắn "Bức thư gửi mẹ Âu Cơ")
THÂN BÀI
1 Kết cấu cốt truyện
Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác
Trang 10phẩm.Trong quá trình xây dựng tác phẩm, nhà văn bao giờ cũng thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp những xung đột xã hội của thời đại vào tác phẩm của mình
Vì vậy, cốt truyện mang tính lịch sử cụ thể, được qui định bởi những điều kiện lịch sử, xã hội mà nhà văn đang sống Chính những điều kiện lịch sử, xã hội khác nhau đã tạo nên sự khác nhau giữa các cốt truyện trong thần thoại và
cổ tích, giữa những truyện thơ Nôm và văn học hiện đại…Dostoiepxki nhấn mạnh vai trò của cuộc sống trong việc xây dựng cốt truyện : “Anh hãy nhớ lấy lời tôi: đừng bao giờ bịa ra các cốt truyện Anh hãy lấy những cái do bản thân cuộc sống cung cấp Không một trí tưởng tượng nào nghĩ ra được những điều mà đôi khi cuộc sống bình thường quên thuộc nhất đưa lại Hãy tôn trọng cuộc sống.” Và Y Ban cũng thế, nhà văn đã lựa chọn nhân vật chính cho “ Chuyện một người đàn bà” từ một nguyên mẫu là ở khu tập thể của gia đình
nhà văn đang sống khi đó, có cô Tú, một người đàn bà ở vậy, không lấy
chồng Nhà văn nhìn cô ấy lủi thủi đan len, vo gạo và thấy hằn rõ dấu ấn cuộc sống của một người đàn bà cô đơn Những điều đó ấn tượng nhà văn rồi đi vào trang viết… Chính vì thế, ta nhận thấy kết cấu cốt truyện khá đơn giản:
Mở và kết thúc truyện cùng một hình ảnh, cùng một khung cảnh, con người
và sự việc “ Một mình với cuộc sống đã ở phía dốc bên kia, người đàn bà có nhiều thời gian than thở” và hình ảnh kết thúc truyện “ Người đàn bà cố vùng dậy nhưng không sao đứng lên được, choáng váng đến nỗi không thể nào đưa tay rút chiếc khan mặt nổi Nội dung chính của truyện chính là sự trăn trở, suy nghĩ của nhân vật về quá khứ “Quá khứ của một thời trẻ, sống động dàn trải như một cuốn phim màu với những lời ca êm dịu, ngọt ngào Phải, đã bao lần người đàn bà ấy dập tắt được những con song long trăn trở, khoắc khoải.” Như vậy, cốt truyện khá đơn giản, nó chỉ là những trang nhật kí cuộc đời của
cô gái bắt đầu từ năm mười bảy tuổi cho đến mối tình với vài người khác giới
và sau cùng là với người đàn ông mà cô ta đặt hết thảy mọi hy vọng để dừng lại Nó là những mối tình đã qua của cô gái (người đàn bà)
Trang 112 Kết cấu trần thuật
Tác phẩm nghệ thuật là một thế giới- thế giới nghệ thuật, thế giới này có nhân vật vận động trong không gian và thời gian Thời gian trong tác phẩm được tái tạo lại Đó có thể là cả một đời người (Chí Phèo – Nam Cao), cũng
có thể chỉ vài ngày (Một bữa no– Nam Cao), một ngày (Bến quê– Nguyễn Minh Châu), nhưng cũng có khi chỉ là một khoảnh khắc như Chuyện của một người đàn bà của Y Ban Thời gian này cũng có thể giãn nén, có thể cảm thấy tháng năm trôi qua trong chốc lát, lại có thể cảm thấy ngày dài như vô tận Thời gian trôi qua nhanh hay chậm, dài hay ngắn, theo trật tự tự nhiên hay đảo ngược đều bắt nguồn từ dụng ý nghệ thuật của tác giả Nhưng trong cái thời gian chốc lát ấy là nhớ lại cả một thời gian dài của tuổi trẻ trong quá khứ
Và thời gian này là thời gian nghệ thuật Vậy thời gian nghệ thuật là thời gian
mà ta có thể cảm nhận được trong tác phẩm nghệ thuật với trường độ ngắn dài, nhịp điệu nhanh chậm và các chiều Thời gian nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của tác giả nhằm tạo ra cảm xúc thẩm
mĩ cho người tiếp nhận Thời gian nghệ thuật là phạm trù đặc trưng của văn học bởi văn học là nghệ thuật của thời gian Theo D.X Likhasop (Nhà thi pháp văn học Nga cổ): “ Thời gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu
tả, là sự ý thức và cảm giác về sự vận động và thay đổi của thế giới trong các hình thức của thời gian xuyên xuốt toàn bộ văn học” Bản thân thời gian chính
là một đối tượng của sự cảm nhận, một chủ đề, đề tài của tác phẩm văn học Người ta có thể miêu tả một đời, một thế hệ hoặc một ngày, một phút giây trong cuộc đời hoặc cũng có thể tái hiện những năm tháng không thể nào quên Thời gian trong văn học không chỉ đơn giản là cái dung chứa các quá trình đời sống mà còn là một nhân tố độc lập tham gia vào hành động nghệ thuật, là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để tổ chức nội dung của nghệ thuật Là hình thức của hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học, bởi vì nó thế
Trang 12hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể nhanh hay chậm, kể xuôi hay ngược, có thể chọn điểm nhìn từ quá khứ, hiện tại hay tương lai, có thể chọn độ dài khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Thời gian trần thuật là thời gian vận động theo dòng vận động tuyến tính, một chiều của văn bản ngôn từ Tác phẩm văn chương diễn đạt các sự vật, hiện tượng theo trật tự thời gian của lời nói liên tục từ câu đầu đến câu cuối, không thể đảo ngược Thời gian trần thuật là thời gian của người kể, của sự kể( thời gian tác giả phát ngôn) Do thế, đây là thời gian hiện tại, hữu hạn, có tốc độ
và nhịp điệu riêng, không thể đảo ngược Thời gian trần thuật là một thời gian hữu hạn vì nó có mở đầu và có kết thúc Thời gian trần thuật có nhịp điệu và tốc độ riêng do người kể có thể kể nhanh hay chậm, kể lướt qua hay dừng lại miêu tả chi tiết Trong thời gian sự kiện, người ta chia 2 lớp thời gian: thời gian tiền sử và thời gian cốt truyện Thời gian tiền sử thường được
kể bổ sung, thuyết minh thêm cho nhân vật Thời gian cốt truyện thì được trần thuật liên tục, tạo cảm giác vận động cho tác phẩm Thời gian trong Chuyện của một người đàn bà vừa có thời gian tiền sử và vừa có thời gian cốt truyện Thời gian tiền sử thì dài như chính cái tuổi thanh xuân của nhân vật trong tác phẩm, còn thời gian cố truyện thì vô cùng ngắn ngủi, chỉ là một khoảnh khắc của sự suy tư về cuộc đời với những gì đã trải qua trong quá khứ
3 Kết cấu hình tượng
Hình tượng người đàn bà là đề tài muôn thưở của nhà văn Y Ban Thế mạnh của nhà văn là viết về nỗi đau, thân phận người đàn bà, về nông thôn và ký
ức Cách hành văn, các chi tiết nhiều khi rất bạo liệt, nhưng cái đọng lại là sự nhân ái Nhà văn viết về cái xấu, cái ác là để người ta căm ghét nó và muốn sống đẹp hơn, thiện hơn, viết về sự đổ vỡ là để gợi lại niềm tin yêu cuộc sống Có lần nhà văn bộc bạch: "Truyện của tôi, lúc đọc người ta có thể tức