1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự

128 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Quân Đội Nhân Dân Với Công Tác Tuyên Truyền Đối Ngoại Quân Sự
Tác giả Hoàng Thị Bắc
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Trường Giang
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về đa phương, đối ngoại quân sự tham gia các diễn đàn quốc phòng, an ninh khu vực và quốc tế, thiết lập cơ chế đối thoại giữa quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước khác, phối

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG THỊ BẮC

BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC

TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ

(Khảo sát từ tháng 1/2013 - 6/2014)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG THỊ BẮC

BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC

TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ

(Khảo sát từ tháng 1/2013 - 6/2014)

Ngành: Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ TRƯỜNG GIANG

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Bắc

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHDCND : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

ĐNQS : Đối ngoại quân sự

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Những tờ báo tiền thân của báo Quân đội nhân dân 26 Hình 2.2: Măng-sét báo Quân đội nhân dân 27 Hình 2.3: Măng-sét báo Quân đội nhân dân điện tử 31

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả về việc nên tăng hay giảm số lượng tin, bài về đối ngoại

QS-QP trong mối tương quan với các chuyên mục khác trên báo QĐND STT 39 Bảng 2.2: Mức độ quan tâm đối với các tin/bài về đối ngoại quân sự 40 Bảng 2.3: Kết quả thông tin độc giả quan tâm trên báo QĐND 42 Bảng 2.4: Kết quả thăm dò về nội dung đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam 56

Bảng 2.5: Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của thông tin đối ngoại quân sự-quốc

phòng trên báo QĐND 66 Bảng 2.6: Các tiêu chí đạt được của thông tin đối ngoại quân sự trên báo QĐND 67

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10 1.1 Một số vấn đề lý luận 10 1.2 Một số vấn đề thực tiễn 26

Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ 38

2.1 Khảo sát công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân từ tháng 01/2013 đến tháng 6/2014 38 2.2 Những đánh giá về thành công, hạn chế và nguyên nhân của công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân 64

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP, KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ TRÊN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN 77 3.1 Những vấn đề đặt ra với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân 77 3.2 Các nhóm giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân 80

KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, nước ta

đã thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Kết quả đó là nhờ công đóng góp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, trong đó phải

kể đến đội ngũ làm công tác tuyên truyền đối ngoại Họ đã trực tiếp giới thiệu quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, thành tựu phát triển đất nước, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra bên ngoài, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội Trên cơ sở đó, tạo môi trường, sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với nước ta, đặc biệt góp phần không nhỏ vào việc định hướng thông tin dư luận quốc tế đến với nhân dân trong nước

Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, an ninh của Việt Nam không thể tách rời an ninh khu vực nói riêng và an ninh của thế giới nói chung Hợp tác quốc phòng là một trong những yếu tố quan trọng để duy trì hoà bình,

ổn định trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cũng là một yếu tố quan trọng

để thực hiện các mục tiêu quốc phòng của Việt Nam

Trong khi đó, các văn kiện của Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương đều xác định rõ: đối ngoại quân sự là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, góp phần củng cố và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, nâng cao vị thế của Nhà nước ta trên trường quốc tế, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước Đối ngoại quân sự quân đội nhân dân Việt Nam hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đối ngoại Mặc dù chính sách đối ngoại quân sự luôn được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế, nhưng công tác đối ngoại quân sự được tiến hành trên 2 kênh chính: song phương và đa phương

Trang 8

Về song phương, đối ngoại quân sự góp phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng - an ninh; hợp tác phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học

kỹ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự hiện đại; đào tạo, huấn luyện nhân viên chuyên môn, kỹ thuật… giữa quân đội ta với quân đội các quốc gia khác trong khu vực và thế giới

Về đa phương, đối ngoại quân sự tham gia các diễn đàn quốc phòng, an ninh khu vực và quốc tế, thiết lập cơ chế đối thoại giữa quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước khác, phối hợp giải quyết những vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ, phân định vùng chồng lấn; ngăn chặn, đối phó những thách thức toàn cầu như phòng, chống thiên tai, các thảm họa môi trường, các loại dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, hoạt động chống khủng bố; phối hợp cứu hộ; cứu nạn, bảo vệ môi trường… góp phần tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và hợp tác với quân đội và nhân dân các nước trên thế giới

Thông qua các hoạt động đối ngoại quân sự, ta có điều kiện để tiếp thu các thông tin khoa học-công nghệ quân sự nước ngoài cho sự phát triển công nghiệp quốc phòng, trang bị quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng-quân sự, hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ quốc phòng-quân sự trong khuôn khổ của luật pháp quốc tế, thuê chuyên gia quân sự trong một số lĩnh vực (công nghiệp quốc phòng, khoa học kỹ thuật quân sự, môi trường quân sự…), mua vũ khí, khí tài, phương tiện chiến đấu đáp ứng yêu cầu của nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; hiện đại hóa quân đội

Đồng thời thu thập thông tin, nắm bắt đối tượng, đối tác, phục vụ sự nghiệp tăng cường quốc phòng bảo vệ Tổ quốc từ xa Thực hiện mở rộng quan

hệ đối ngoại quân sự cấp nhà nước Cử các tùy viên quân sự bên cạnh các đại sứ quán của Việt Nam ở nước ngoài; cử các đại diện quân sự, các quan sát viên quân sự tham gia các tổ chức quân sự quốc tế và khu vực; cử quan sát viên quân

sự tham gia các cuộc tập trận chung trong khu vực Tham gia đấu tranh pháp lý,

Trang 9

bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế và khu vực về quân sự, quốc phòng-an ninh Nghiên cứu các hình thức thích hợp để thực hiện cam kết

về quốc phòng-an ninh, thực hiện Hiến chương Liên hợp quốc Đẩy mạnh công tác nghiên cứu dự báo chiến lược, phát huy chức năng tham mưu, xây dựng chính sách phù hợp với từng đối tác, đối tượng qua từng thời kỳ, kịp thời cung cấp thông tin, đề xuất phương án xử lý, không để bị động về chiến lược

Chính vì vậy, công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự là rất cần thiết, đặc biệt là trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, sự giao lưu giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng mở rộng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra yêu cầu cơ bản và cấp bách đối với cán bộ, sỹ quan quân đội ta

Với những lý do trên, đề tài: “Báo Quân đội nhân dân với công tác

tuyên truyền đối ngoại quân sự” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Báo chí học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về tuyên truyền thông tin đối ngoại trên một số phương tiện truyền thông đại chúng là việc không phải hoàn toàn mới Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác tuyên truyền đối ngoại trên báo chí như sau:

- “Báo chí với thông tin quốc tế” của Đỗ Xuân Hà, Nxb Đại học Quốc

gia, Hà Nội, 1999

- “Báo chí và Ngoại giao” của TS Dương Văn Quảng, Nxb Thế giới,

2002 cung cấp những hiểu biết và kiến thức cơ bản về báo chí, đặc biệt về ngôn ngữ và chức năng báo chí Đồng thời cuốn sách cũng đề cập đến mối quan hệ giữa báo chí và ngoại giao và công tác tuyên truyền đối ngoại của nước ta

- “Truyền thông đại chúng trong công tác thông tin đối ngoại của Việt

Nam hiện nay” của Phạm Minh Sơn, Nxb Chính trị-Hành chính, 2009

Trang 10

- “Báo chí và thông tin đối ngoại” của Lê Thanh Bình, Nxb Chính

trị quốc gia, 2012 nói về công tác thông tin đối ngoại và vai trò đóng góp của nó trong việc tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác đối ngoại trong tình hình mới

- “Nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại của Thông tấn xã Việt Nam

trong thời kỳ hiện nay” của tác giả Đinh Thị Thanh Bình (Học viện Báo chí và

tuyên truyền, 2004) đã khảo sát toàn diện, phân tích sâu sắc về thông tin đối ngoại của Thông tấn xã Việt Nam, qua khảo sát bản tin Vietnam News Agency, báo Vietnam News và báo ảnh Vietnam Pictorial

- “Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam với nhiệm vụ thông tin đối

ngoại” của tác giả Phạm Đức Thái (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, 2011)

đã bước đầu nghiên cứu khái quát về tình hình thông tin đối ngoại của báo điện

tử Đảng Cộng sản Việt Nam Luận văn đã có những đánh giá chung nhất những kết quả đạt được và những mặt hạn chế về nhiệm vụ thông tin đối ngoại trên 3 trang tiếng Việt và 3 trang tiếng nước ngoài của báo trong giai đoạn từ năm

2009 đến khoảng đầu 2011

- “Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác thông tin đối

ngoại hiện nay” - Luận văn thạc sỹ Báo chí học của tác giả Nguyễn Thùy Chi

(Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2012) đã tìm hiểu về thực trạng công tác thông tin đối ngoại của Báo điện tử ĐCSVN, những thành tựu, hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTĐN

- “Thông tin đối ngoại trên báo Vietnamplus hiện nay” - Luận văn thạc

sỹ Báo chí học của tác giả Mai Thu Giang (Học viện Báo chí và Tuyên truyền,

2012) nghiên cứu thực trạng hoạt động thông tin đối ngoại trên báo điện tử VietnamPlus, qua đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu của của hoạt động này, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 11

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoạt động truyền thông đại chúng trong

công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện nay”, PGS, TS Phạm Minh

Sơn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm năm 2007 Công trình đã nghiên cứu thực trạng hoạt động của một số báo tiêu biểu, từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan cho việc thực hiện công tác thông tin đối ngoại của hệ thống truyền thông đại chúng ở Việt Nam hiện nay

- Đề tài nghiên cứu khoa học “Công tác tuyên truyền đối ngoại trên báo

điện tử Việt Nam hiện nay” do sinh viên Trần Vĩnh Tiến (Học viện Báo chí và

tuyên truyền làm chủ nhiệm đề tài, 2007) Mức độ nghiên cứu chỉ đánh giá nội dung và hình thức thông tin đối ngoại trên một số tờ báo điện tử

Ngoài ra còn có các bài báo, các bài phát biểu, các ý kiến của một số đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ Quốc phòng, các cán bộ chuyên trách với một số nhà nghiên cứu như:

- “Tăng cường hợp tác quốc phòng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN, đóng góp cho hoà bình, ổn định, phồn vinh trong khu vực”, của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

- “Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin đối ngoại nhằm thực

hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng” của

Phạm Gia Khiêm, tạp chí Thông tin đối ngoại, số 85 (4/2011)

- “Nâng cao chất lượng của một số báo chí về công tác thông tin đối

ngoại” của Xuân Anh, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 96 (3/2012)

- Hội thảo khoa học “Nhà báo trẻ trong việc nâng cao chất lượng, hiệu

quả thông tin đối ngoại trên báo chí” do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh khối cơ quan Trung ương tổ chức vào ngày 12/6/2014 Hội thảo đã tập trung thảo luận về cơ sở lý luận, chiến lược và định hướng trong hoạt động thông tin đối ngoại; những vấn đề thực tiễn trong hoạt động thông tin đối ngoại trên báo chí, các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trên báo chí; vai trò, trách nhiệm của nhà báo trẻ trong công tác thông tin đối ngoại

Trang 12

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đi sâu phân tích từng lĩnh vực riêng

lẻ cũng như tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại trong giai đoạn hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay Đây là những tư liệu có giá trị về nội dung, hình thức, cách thức tổ chức thông tin đối ngoại rất phong phú và đa dạng với những nhận định có cơ sở khoa học, với nhiều góc nhìn

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và

có hệ thống về công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân

dân (QĐND) Luận văn “Báo Quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự” đi sâu vào nghiên cứu nội dung, cách thức tuyên truyền đối

ngoại quân sự của báo Quân đội nhân dân Trên cơ sở đó, đưa ra những giải

pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo

Quân đội nhân dân

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, thông qua khảo sát thực trạng công tác tuyên truyền đối ngoại

quân sự trên báo Quân đội nhân dân, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị

nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự của báo

Quân đội nhân dân

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm

vụ chính sau đây:

- Khái quát hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến công tác tuyên

truyền đối ngoại quân sự nói chung và đối ngoại quân sự trên báo Quân đội

nhân dân nói riêng

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác tuyên truyền đối ngoại

quân sự trên báo Quân đội nhân dân từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2014

Trang 13

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền đối

ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác tuyên truyền đối ngoại quân

sự trên báo Quân đội nhân dân

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là báo Quân đội nhân dân từ tháng 1/2013 đến tháng 6/2014 Báo Quân đội nhân dân có nhiều ấn phẩm khác nhau, số ra

hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, nhưng do hạn chế về thời gian và quy mô nên

tác giả chỉ khảo sát trên báo Quân đội nhân dân hằng ngày

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí; quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước, Quân đội về đối ngoại quân sự và tuyên truyền ĐNQS; lý luận về báo chí cách mạng Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả luận văn phải thực hiện những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ,

sách báo có liên quan đến đề tài luận văn, điều này giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây; có thêm kiến thức sâu, rộng về lĩnh vực đang nghiên cứu và làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình

- Phương pháp khảo sát, phân tích, tổng hợp: các tin, bài, đặc biệt là các vệt bài nổi bật về đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân từ tháng 1/2013

Trang 14

đến tháng 6/2014 để rút ra kết quả hoạt động về tuyên truyền đối ngoại quân sự; những đặc trưng, thủ pháp, phong cách viết bài về tuyên truyền ĐNQS của báo QĐND Khảo sát một bộ phận độc giả, phân tích những đánh giá về việc tuyên

truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân

- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn các chuyên gia, những nhà

báo nổi tiếng để có những ý kiến đánh giá chuyên môn về những khó khăn, thuận lợi khi viết bài về đối ngoại quân sự Trong luận văn này, tác giả sẽ phỏng vấn Trưởng phòng Thời sự quốc tế, báo QĐND và chuyên gia về ĐNQS của Học viện KHQS về những vấn đề liên quan đến ĐNQS; những thành công, hạn chế; cơ chế, chính sách và giải pháp nâng cao chất lượng của công tác truyên truyền đối ngoại quân sự trên báo QĐND

- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: sử dụng bảng hỏi để

điều tra, thăm dò ý kiến Trong luận văn này, tác giả phát ra công chúng 200 phiếu thăm dò ý kiến Đối tượng khảo sát là các cán bộ, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp và học viên quân sự của Học viện Khoa học Quân sự Qua đó để phân tích rút ra kết quả hoạt động tuyên truyền đối ngoại quân sự của báo Quân đội nhân dân

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt thực tiễn, luận văn đem đến cái nhìn sâu sắc về công tác tuyên

truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân

Trang 15

Luận văn còn đề xuất một số kiến nghị và giải pháp, góp phần nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại quân sự, cũng như công tác tuyên truyền đối

ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân

Ngoài ra, luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho sinh viên báo chí, phóng viên, cộng tác viên và những người quan tâm tới lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Báo Quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại

quân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng báo Quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền

đối ngoại quân sự

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất

lượng công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân

Trang 16

Chương 1 BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Một số vấn đề lý luận

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền

Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “tuyên truyền” xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XVII trong hoạt động của Thiên chúa giáo, sau này nó được dùng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định

“Tuyên truyền” theo tiếng Latinh (Propaganda) nghĩa là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Thuật ngữ này có hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng, “tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật nhằm biến những quan điểm, tư tưởng đó thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng.” [19, tr.30]

Theo nghĩa hẹp, “tuyên truyền là truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tiễn phù hợp với thế giới quan ấy” [19, tr.30]

Theo từ điển Tiếng Việt, tuyên truyền là: “Giải thích rộng rãi để thuyết

phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” [32, tr.1068]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tuyên truyền là: “Giải thích rộng rãi để thuyết phục, vận động mọi người làm theo” [48, tr.1753]

Theo Sổ tay báo cáo viên của Ban Tư tưởng-văn hóa Trung ương, tuyên truyền là: “Truyền bá, giáo dục, giải thích nhằm chuyển biến và nâng cao về nhận thức; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng thành niềm tin; thúc đẩy mọi

Trang 17

người hành động một cách tự giác, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra”

Như vậy, khái niệm tuyên truyền trên có ba nội dung chính sau:

Thứ nhất, truyền bá, giáo dục, giải thích nhằm chuyển biến và nâng cao

nhận thức của đối tượng tuyên truyền

Thứ hai, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, từ đó xây dựng thành niềm tin cho

đối tượng tuyên truyền

Thứ ba, những kết quả của hai nội dung trên sẽ thúc đẩy mọi người (đối

tượng tuyên truyền) hành động một cách tự giác, nhằm thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu, nhiệm vụ mà công tác tuyên truyền đặt ra

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rất dễ hiểu về tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại.” [20, tr.162]

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong công tác tuyên truyền cần nhất tính chính xác và có sức lay động tới dân chúng, cán bộ tuyên truyền trước hết “Phải biết cách nói Nói thì phải giản đơn, rõ ràng, thiết thực Phải có đầu, có đuôi, sao cho ai cũng hiểu được Trong tuyên truyền, nói hay viết luôn phải ngắn gọn, giản dị, rõ ràng sinh động và hấp dẫn, phù hợp với quảng đại quần chúng nhân dân để mọi người dễ hiểu, dễ nhớ và làm theo”

Trong luận văn này, khái niệm tuyên truyền được hiểu là giải thích rộng rãi

để thuyết phục, giáo dục nhận thức, vận động mọi người hưởng ứng và làm theo

Theo PGS, TS Lương Khắc Hiếu trong cuốn “Nguyên lý công tác tư tưởng”, công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó [19, tr.31]

Trang 18

Trong công tác tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và những tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại làm cho chúng trở thành nhân tố chi phối, thống trị đời sống tinh thần xã hội; động viên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa [19, tr.31]

Tuyên truyền có nhiều kiểu loại tùy theo cách tiếp cận để phân chia Nếu phân chia theo tính chất hệ tư tưởng mà nó truyền bá thì có tuyên truyền tư sản và tuyên truyền vô sản Nếu phân chia theo nội dung mà nó chuyển tải thì có tuyên truyền kinh tế, tuyên truyền chính trị, tuyên truyền văn hóa, tuyên truyền quốc phòng-an ninh, tuyên truyền biển đảo, tuyên truyền đối ngoại Nếu phân chia theo phạm vi tác động đến đối tượng thì có tuyên truyền cá biệt, tuyên truyền nhóm và tuyên truyền đại chúng Nếu phân chia theo phương thức tác động thì có tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng hay tuyên truyền trực tiếp và tuyên truyền gián tiếp

Trong luận văn này, khái niệm công tác tuyên truyền được hiểu là hoạt động

có mục đích, có kế hoạch nhằm phổ biến, giải thích những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và Quân đội, định hướng công chúng, làm cho mọi người hiểu rõ, cổ vũ, động viên họ tự giác làm theo, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Công tác tuyên truyền như đề cập ở trên là một phạm trù rộng Chủ thể chính của công tác tuyên truyền ở nước ta gồm có: hệ thống tuyến giáo các cấp của Đảng; cơ quan thông tin tuyên truyền các cấp chính quyền; hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, hội, công ty…cũng có bộ phận, cá nhân thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tin, với sự hỗ trợ đắc lực của internet, nhiều tổ chức, nhóm cá nhân, cá nhân cũng thực hiện tuyên truyền thông tin thông qua các trang, diễn đàn, mạng xã hội, blog…

Trang 19

Tất cả các chủ thể của công tác tuyên truyền đều hướng tới đối tượng chung

là công chúng Công chúng có thể là nguời dân trong nước, người Việt ở nước ngoài, chính phủ và nhân dân nước ngoài Trên thực tế, mỗi một chủ thể tuyên truyền đều cố gắng tập trung việc tuyên truyền tới một hay một số nhóm công chúng

Trong khi đó, phương thức và hình thức tuyên truyền cũng khá đa dạng:

từ truyền miệng, đến phát tờ rơi, áp phích, tổ chức sự kiện, đến các phương tiện thông tin đại chúng và cả thông tin trực tuyến với sự hỗ trợ của internet, thông qua các trang mạng, cổng thông tin, mạng xã hội, blog…

1.1.1.2 Đối ngoại quân sự

Theo từ điển Tiếng Việt, đối ngoại là: “Đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của Nhà nước, của một tổ chức” [32, tr.338] Theo Đại từ điển Tiếng Việt, đối ngoại là: “Chủ trương, chính sách về quan hệ mang tính quốc gia đối với nước khác” [48, tr.01]

Theo từ điển Tiếng Việt, quân sự là: “1 Những vấn đề về xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang 2 Thuộc về quân đội” [32, tr.806]

Đối ngoại quân sự là một hoạt động đối ngoại đặc thù, do Bộ Quốc phòng quản lý, điều hành, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp là Quân ủy Trung ương và sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ Đối ngoại quân sự là thực hiện những hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực quân sự, phục vụ các yêu cầu đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [44, tr.110]

Đối với nhiều nước trên thế giới, quân sự, quốc phòng, an ninh quốc gia

là 3 khái niệm tương đối biệt lập Quân sự được hiểu là quân đội và những hoạt động của quân đội; quốc phòng được hiểu là sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc trong đó quân đội là một bộ phận; trong khi đó an ninh quốc gia do nhiều cơ quan đảm trách, thậm chí quân đội chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc bảo đảm an ninh

Trang 20

quốc gia Có những nước, như Mỹ, quân đội chủ yếu là công cụ viễn chinh, xâm lược các nước khác và chỉ trực tiếp tham gia vào nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quốc gia, khi bị đe dọa trực tiếp từ bên ngoài Đối với Việt Nam, ba khái niệm này dường như không có ranh giới cụ thể Thứ nhất, vì Việt Nam là nước XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, do đó, khái niệm quốc gia, Tổ quốc, dân tộc gần như được đồng nhất Quân đội ta nằm dưới sự lãnh đạo trực tiếp và xuyên suốt của Đảng Cộng sản Trên thực tế, lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước nắm giữ vai trò lãnh đạo trong tổ chức Đảng cao nhất của quân đội (Quân ủy Trung ương) Trong khi đó, theo hiến pháp và thể chế hiện hành, quân đội là nòng cốt thực hiện cả 3 nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và an ninh quốc gia Như vậy, đối ngoại quân sự có thể được hiểu như sau:

Đối ngoại quân sự bao gồm những hoạt động của quân đội ta với quân đội các nước khác, các thể chế an ninh-quốc phòng quốc tế, trên cả hai kênh song phương, đa phương, về quân sự, quốc phòng, an ninh; quan hệ, hợp tác của quân đội ta với quân đội các nước; và những hoạt động tác chiến của quân đội ta trước những đe dọa, khích khích, xâm phạm…của các lực lượng nước ngoài nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, biên giới, an ninh quốc gia

1.1.1.3 Công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự

Từ những lý thuyết về tuyên truyền và đối ngoại quân sự đã đề cập ở trên

có thể hiểu, công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự bao gồm nhiều hoạt động tuyên truyền, từ truyền miệng, đến việc tổ chức sự kiện, treo pa-nô, áp phích, quảng bá hình ảnh, tin tức thông qua trang tin, mạng xã hội…và đặc biệt là tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các sự kiện, vấn đề về quan hệ đối ngoại quân sự

Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự chỉ giới hạn ở việc tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng chính thống, cụ thể là các ấn phẩm báo in

Trang 21

Ngay cả khi không giới hạn phạm vi các phương thức và phương tiện tuyên truyền đối ngoại quân sự thì trên thực tế, cũng không có nhiều loại hình phương tiện thông tin đại chúng có khả năng tuyên truyền một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống và sâu sắc các vấn đề, sự kiện đối ngoại quân sự Điều đó là do đối ngoại quân sự là một hoạt động đối ngoại đặc thù, do một cơ quan Nhà nước đặc biệt là quân đội tiến hành nên hầu hết các hoạt động đối ngoại quân sự nói chung thường được coi là lĩnh vực nhạy cảm, bí mật Chính vì vậy, chỉ một số cơ quan truyền thông chính thống mới được tiếp cận thông tin

đối ngoại quân sự Trong số đó, báo Quân đội nhân dân với tư cách là “Tiếng

nói của lực lượng vũ trang và nhân dân” vừa được tiếp cận nhiều thông tin nhất về đối ngoại quân sự, vừa có chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền đối ngoại quân sự Chính vì những lý do đó, công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự thực chất là việc tuyên truyền những hoạt động đối ngoại của Quân đội Nhân dân Việt Nam với quân đội nước ngoài trên cả hai kênh song phương và đa phương; những hành động, tác chiến của quân đội ta trước những thách thức, đe dọa, thủ đoạn xâm phạm từ bên ngoài đối với hòa bình, an ninh quốc gia, biên giới, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tài phán (đối với lãnh hải, hải đảo) của Việt

Nam Nói một cách khác, việc tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội

nhân dân, cụ thể là báo in (ấn phẩm chính của tờ báo), có thể chưa bao quát hết

nội dung nhưng chắc chắn là nội hàm chính của khái niệm về công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự

1.1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về đối ngoại quân sự

Ở nước ta, khi nói đường lối thì thường được hiểu là đường lối của Đảng, còn chính sách là của Nhà nước Đường lối của Đảng là phương châm chỉ đạo

có tính xuyên suốt, còn chính sách của Nhà nước là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối của Đảng trong từng thời kỳ nhằm từng bước thực hiện thắng lợi đường lối đó Đường lối của Đảng trong từng lĩnh vực cụ thể cũng là chính sách của Đảng về các lĩnh vực đó

Trang 22

Đường lối, chính sách đối ngoại của một quốc gia là tổng thể các quan điểm xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và phương châm chỉ đạo các hoạt động đối ngoại mà quốc gia thể hiện trong quan hệ với các quốc gia và chủ thể khác trong quan hệ quốc tế nhằm mục đích thực hiện những lợi ích quốc gia

và của giai cấp cầm quyền trong từng giai đoạn lịch sử

Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là sản phẩm của thực tiễn cách mạng Việt Nam và những biến đổi của tình hình chính trị thế giới Đó là hệ thống các quan điểm, lý luận với tính cách là những định hướng

cơ bản về quan hệ đối ngoại của đất nước trong một giai đoạn nhất định và những chính sách được Nhà nước hoạch định với tư cách là chủ thể đại diện cho chủ quyền quốc gia tham gia vào đời sống chính trị quốc tế

Tại Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định nhiệm vụ, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta:

“Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa

xã hội” Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta phải phục vụ cho cuộc

đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh-chính trị, làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch” [9, tr 433]

Tại Hội nghị Trung ương 3, khóa VII, Đảng ta đã nêu ra 4 phương châm

xử lý các mối quan hệ đối ngoại:

 Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân Trong quan hệ quốc tế, lợi ích dân tộc là tối cao Lợi ích chân chính của dân tộc ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; là thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa-hiện đại hóa, phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Là một bộ phận trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chính sách đối ngoại phải phấn đấu vì lợi ích đó của dân tộc Lợi ích đó cũng

Trang 23

phù hợp với lợi ích chung của các lực lượng cách mạng và tiến bộ, với lợi ích các dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý Thực hiện tốt lợi ích dân tộc cũng

là góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới; đó cũng là thiết thực thực hiện nghĩa vụ quốc tế của dân tộc ta

 Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đẩy mạnh đa phương hóa,

đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại, thêm bạn bớt thù

Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường là truyền thống quý báu của dân tộc ta và là nhân tố cơ bản đảm bảo cho hoạt động đối ngoại đúng đắn, sáng tạo Chỉ có phát huy nội lực dân tộc mới có điều kiện mở rộng quan hệ quốc tế Mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa, sẵn sàng là bạn,

là đối tác của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế mới tranh thủ được những điều kiện thuận lợi để phát triển và nâng cao uy tín của dân tộc trên trường quốc

tế Tuy nhiên, mở rộng quan hệ đa dạng hóa, đa phương hóa, phải luôn luôn đề cao cảnh giác cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác cùng có lợi với các đối tác quan hệ

 Nắm vững hai mặt vừa hợp tác vừa đấu tranh

Hợp tác và đấu tranh là hai mặt của quan hệ đối ngoại, là đặc điểm thế giới và xu thế quan hệ quốc tế hiện nay Điều này phản ánh tính phức tạp, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn của các nhân tố quan hệ quốc tế; các lực lượng có lợi ích khác nhau, song có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình tồn tại và phát triển

Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế, phải chống khuynh hướng chỉ nhấn mạnh một chiều, hợp tác hoặc đấu tranh hoặc tách rời, đối lập; hoặc quan điểm mơ hồ, chỉ thấy hợp tác mà không thấy đấu tranh Tóm lại, trong hợp tác phải có đấu tranh, đấu tranh để mở rộng và tăng cường hợp tác có hiệu quả hơn; đồng thời để bảo đảm lợi ích dân tộc, thiết lập quan hệ bình đẳng, hai bên cùng

có lợi, cùng tồn tại hòa bình

Trang 24

 Ưu tiên quan hệ hợp tác với các nước láng giềng và khu vực; đồng thời chú trọng mở rộng quan hệ với tất cả các nước, đặc biệt là các nước lớn, các nước trong khu vực, các trung tâm kinh tế-chính trị thế giới

Trong hợp tác toàn diện, chúng ta cũng cần xác định những chính sách cụ thể với từng đối tác cho phù hợp Trong đó, đặc biệt chú ý tới các đối tác quan

hệ là nước láng giềng, các nước trong khu vực, các bạn bè truyền thống, các trung tâm kinh tế-chính trị lớn có quan hệ sâu rộng với nước ta Việc xác định chính sách đối ngoại cụ thể này nhằm làm cho quan hệ hợp tác có hiệu quả, đem lại những lợi ích thiết thực nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ công nghiệp hóa-hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Đây là mốc lịch sử đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta thời kỳ đổi mới Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực trở thành một định hướng ưu tiên trong hoạt động đối ngoại của nước ta

Văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định:

“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc

tế và khu vực” [10, tr 112]

Đại hội XI của Đảng đã xác định:

“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình hợp

tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng thế giới, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”

Trang 25

Nhiệm vụ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là: “Giữ vững môi

trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” [11, tr 235-236]

Phục vụ các mục tiêu quốc gia về phát triển, an ninh và nâng cao vị thế đất nước là nhiệm vụ nhất quán trong đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Điểm mới trong phần đối ngoại của văn kiện Đại hội XI là xác định rõ hơn khía cạnh an ninh khi nêu rõ nhiệm vụ “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ là cơ sở tồn tại của một quốc gia Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là một trong những nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia Việc nêu rõ điều này trong nhiệm vụ đối ngoại là nhằm đáp ứng những phát triển mới của tình hình, đồng thời khẳng định vai trò của đối ngoại trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

Hợp tác bình đẳng với tất cả các nước trên thế giới theo nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc là: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, giải quyết các bất đồng và các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng cùng có lợi, cũng như luật pháp quốc tế

Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập, tự chủ và định hướng

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường

Tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất, chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải rất sáng tạo, năng động linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực với đặc điểm từng đối tượng quan hệ

Trang 26

Ngày nay, trong điều kiện lịch sử mới, hoạt động đối ngoại quốc phòng được thực hiện với tất cả các nước ở các mức độ khác nhau và với nội dung phong phú hơn nhiều Nhiều chủ thể quan hệ trước đây vốn là đối tượng của cách mạng nước ta, ngày nay trở thành các đối tác quan trọng Công tác đối ngoại quốc phòng ngày nay không chỉ bó hẹp trong việc tìm kiếm sự ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta chống kẻ thù xâm lược, mà bao gồm nhiều nội dung lớn hơn, đa dạng hơn nhằm mở rộng và tăng cường vị thế của quân đội ta, Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế

Theo Nghị quyết "Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến

năm 2020 và những năm tiếp theo" của Quân ủy Trung ương về đối ngoại quốc

phòng thì “đến nay, đã mở 34 cơ quan Tùy viên Quốc phòng tại các nước, trong

đó có cơ quan thường trú tại 29 nước và 5 nước kiêm nhiệm; đã có 45 nước đặt

cơ quan Tùy viên Quốc phòng tại Việt Nam, trong đó có 24 nước thường trú và

21 nước kiêm nhiệm” Thông qua quan hệ hợp tác quốc phòng, quân sự với các nước, chúng ta đã tạo lập được thế trận đối ngoại quân sự rộng mở, vững chắc, đóng góp vững chắc vào thành tựu đối ngoại chung của đất nước, vào công việc đổi mới đất nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới

Những năm qua, công tác đối ngoại quân sự đã chủ động, nhạy bén trong xác định nội dung, phương thức, đối tác, nhờ vậy đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Quan hệ hữu nghị và hợp tác về quân sự ngày càng mở rộng trên nhiều mặt: hợp tác giữ vững an ninh khu vực và hòa bình thế giới, nghiên cứu phát triển khoa học, huấn luyện cán bộ quân sự-quốc phòng, huấn luyện cán bộ, nhân viên kỹ thuật, trao đổi công nghệ quân sự hiện đại… Việt Nam đã công bố sách trắng “Quốc phòng Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, trình bày quan điểm, đường lối chính sách quốc phòng phù hợp với chính sách quốc phòng rộng mở của Nhà nước Việt Nam chủ trương không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào; không cho nước nào đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam; không tham gia bất kỳ hoạt động quân sự nào, sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực đối với các nước khác, nhưng sẵn sàng tự vệ chống mọi hành động xâm phạm lãnh thổ trên

Trang 27

bộ, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia của Việt Nam; không chạy đua vũ trang, nhưng luôn củng cố sức mạnh quốc phòng đủ khả năng tự vệ, đánh bại mọi

kẻ thù xâm lược dưới mọi hình thức

Mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, nhất là các nước láng giềng và các nước khu vực, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, giữ vững hòa bình, ổn định, góp phần tin cậy và hiểu biết lẫn nhau Đối ngoại quân sự đã tích cực phối hợp giải quyết những vấn đề tồn tại

về biên giới, lãnh thổ, phân định biên giới, vùng chồng lấn, đấu tranh với các hiện tượng xâm phạm chủ quyền biên giới, biển đảo… Quá trình hoạt động đã phối hợp chặt chẽ với các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước, tạo

ra sức mạnh tổng hợp của các lực lượng tham gia đối ngoại

Trên cơ sở đó, mở rộng quan hệ ở tất cả các châu lục, hình thành thế trận đối ngoại quân sự mới, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng, phát triển mối quan hệ hữu nghị, tin cậy và hiểu biết lẫn nhau với quân đội các nước láng giềng và các nước trong khu vực Mặt khác, công tác đối ngoại quân sự còn chủ động thiết lập cơ chế đối ngoại, tích cực giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, học thuật, hợp tác đào tạo, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh của đất nước

1.1.3 Đặc điểm của công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự

Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại quốc phòng, là kênh thông tin tuyên truyền các hoạt động và hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam với nước ngoài, nhằm tạo nên sức mạnh quốc phòng toàn diện, cân đối, góp phần vào hội nhập quốc tế của đất nước, giữ vững hòa bình, đẩy lùi và ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù, tạo điều kiện thuận lợi phục vụ nhiệm vụ phòng thủ đất nước, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi quy mô và hình thức

Trang 28

Tuyên truyền ĐNQS có những đặc điểm cơ bản như thông tin báo chí, đó là tính thời sự; tính công khai; tính định kỳ đều đặn; tính phong phú đa dạng, nhiều chiều; tính dễ hiểu, dễ nhớ; tính tương tác…

ĐNQS có đặc thù riêng nên ngoài những đặc điểm cơ bản như của thông tin báo chí, tuyên truyền ĐNQS có những đặc điểm riêng biệt

Thứ nhất, mọi hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại quân sự Việt Nam

đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam,

mà trực tiếp và thường xuyên là Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng

Đối ngoại quân sự là một mặt hoạt động quan trọng, thường xuyên của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay Cũng như mọi hoạt động khác của quân đội, hoạt động đối ngoại quốc phòng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng giữ quyền độc tôn lãnh đạo hoạt động thông tin đối ngoại quốc phòng; quyền lãnh đạo đó không san sẻ, chia sẻ cho các lực lượng, tổ chức chính trị-xã hội khác Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm, chủ trương, phương châm, mục tiêu, nội dung, phương thức mà Đảng đã xác định Đây chính là tính Đảng, tính chính trị giai cấp của hoạt động thông tin đối ngoại quốc phòng Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động thông tin đối ngoại quốc phòng được cụ thể hóa thông qua vai trò quản lý của Nhà nước, trực tiếp là Bộ Quốc phòng và chỉ huy các cấp trong quân đội

Thứ hai, hoạt động đối ngoại quân sự về quốc phòng, an ninh là hoạt động

mang tính đại diện nhà nước, đại diện dân tộc cao trong quan hệ với các đối tác nước ngoài

Đối ngoại quân sự-quốc phòng Việt Nam, thực chất là một nội dung của đối ngoại nhà nước, là thay mặt nhà nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong giải quyết các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về quốc phòng, quân sự Đối tác của đối ngoại quân sự-quốc phòng Việt Nam là nhà nước, quân đội các quốc gia, dân tộc trên thế giới - nơi Việt Nam đặt quan hệ đối ngoại Đây là hoạt động

Trang 29

bang giao về quốc phòng giữa nhà nước với nhà nước, giữa dân tộc với dân tộc, không phải là quan hệ bình thường giữa những cá nhân và cá nhân Do vậy, hoạt động quốc phòng mang tính nhà nước, đại diện dân tộc cao Mọi chủ thể hoạt động (dù ở cấp nào) đều đại diện cho đất nước, dân tộc để giải quyết các vấn đề quân sự, quốc phòng của quốc gia; đều phải có trách nhiệm chính trị và trách nhiệm cá nhân cao về các quyết định, các biện pháp xử lý, về chất lượng hoạt động của mình trước Đảng, Nhà nước, Quân đội, trước dân tộc và nhân dân Việt Nam

Thứ ba, hoạt động đối ngoại quân sự-quốc phòng Việt Nam có những yêu

cầu cao về tính đặc thù chuyên môn

So với các loại hoạt động khác, hoạt động đối ngoại quốc phòng Việt Nam là hoạt động có tính đặc thù cao về nhiều mặt Về tính chất, đó vừa là hoạt động chiến đấu nhưng không chiến đấu trực tiếp như chiến sỹ trên chiến trường; vừa có đối thoại, hợp tác, thương lượng hòa bình, vừa có đan xen đấu tranh để thực hiện các mục tiêu quân sự, quốc phòng; là hoạt động phi vũ trang nhưng có tính vũ trang cao Hoạt động đối ngoại quốc phòng diễn ra trong môi trường không gian xa Tổ quốc, ở nước ngoài là chủ yếu; tính độc lập tác chiến cao; vừa công khai vừa bí mật, vừa theo nguyên tắc truyền thống ngoại giao nhà nước, vừa phi truyền thống, phi nguyên tắc ngoại giao

Thứ tư, nội dung hoạt động đối ngoại quân sự-quốc phòng mang tính tổng

hợp của nhiều nội dung hoạt động đối ngoại khác

Hoạt động đối ngoại quân sự-quốc phòng tuy chỉ là một mặt trong các hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước nhưng về thực chất, nó là tổng hợp của nội dung các hoạt động đối ngoại khác như đối ngoại chính trị, đối ngoại kinh tế, đối ngoại văn hóa, đối ngoại an ninh, tình báo quốc gia và tình báo quân đội…

Thứ năm, đối tượng, môi trường và không gian hoạt động của đối ngoại

quân sự-quốc phòng phức tạp

Hoạt động đối ngoại quân sự-quốc phòng có một đặc điểm mà các hoạt động đối ngoại khác không có, đó là: đối tượng, môi trường, không gian hoạt động luôn biến đổi rất phức tạp Do tính chất chính trị-giai cấp và dân tộc của

Trang 30

hoạt động đối ngoại quốc phòng của quân đội các nước nên các quan hệ đối ngoại có sự biến đổi (về thái độ chính trị, về quan điểm đối ngoại khi tình hình chính trị trong nước họ có những thay đổi) Trong thực tế, việc đặt quan hệ ngoại giao và việc chấm dứt quan hệ ngoại giao giữa các nước là điều có thể xảy ra

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, thời gian qua, công tác ĐNQS đã quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và có những đóng góp quan trọng vào thành tựu đối ngoại chung của cả nước Hoạt động ĐNQS đã được triển khai một cách chủ động, đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và chủ trương kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng-an ninh và đối ngoại cùng quy chế ĐNQS của Bộ Quốc phòng ĐNQS đã triển khai trên nhiều hướng (song phương

và đa phương), với nhiều nội dung đa dạng, phong phú, phát huy được sức mạnh tổng hợp, không ngừng mở rộng và đưa quan hệ hợp tác quốc phòng giữa nước

ta với các nước đi vào chiều sâu, có hiệu quả hơn theo hướng ổn định, lâu dài, tôn trọng, bình đẳng cùng có lợi Công tác ĐNQS đã góp phần tạo thế vững chắc cho hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước, xây dựng vành đai an ninh, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho đất nước phát triển trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia; đồng thời, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của quân đội, nâng cao uy tín và vị thế của đất nước, của quân đội trên trường quốc tế

Để thực hiện tốt công tác ĐNQS trong thời gian tới, chúng ta cần nhận thức sâu sắc về mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ công tác ĐNQS trong tình hình mới Cần hiểu rõ: lợi ích cao nhất của đất nước ta hiện nay và giai đoạn tới là phải duy trì cho được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; đồng thời, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ

Trang 31

Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN Theo đó, ĐNQS phải phục vụ đắc lực cho mục tiêu chiến lược này và góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tăng cường quốc phòng-an ninh, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống ĐNQS cần tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, theo phương châm: tích cực, chủ động, vừa hợp tác vừa đấu tranh, phát huy các điểm tương đồng, tranh thủ những lợi ích chung, thu hẹp các điểm bất đồng, tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin, hiểu biết lẫn nhau, thêm bạn bớt thù, bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích quân đội, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, không để đất nước bị bất ngờ về chiến lược, bị đẩy vào thế đối đầu hoặc bị cô lập Xử lý đúng đắn mối quan hệ chiến lược giữa phát triển và an ninh quốc gia trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới là kết quả của nhận thức về an ninh toàn diện và là sự đúc kết kinh nghiệm cách mạng nước ta về tạo dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Theo

đó, tư tưởng chỉ đạo là chủ động, tích cực; xây dựng phải đi đôi với bảo vệ; giữ vững ổn định bên trong, đồng thời ngăn chặn mọi nguy cơ từ bên ngoài, duy trì môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện quốc tế thuận lợi cho thực hiện nhiệm

vụ trung tâm là phát triển kinh tế đất nước và giữ vững an ninh quốc gia, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ Phát triển toàn diện đất nước là nhân tố đảm bảo an ninh quyết định nhất và duy trì vững chắc an ninh, ổn định là tạo cơ sở vững chắc để phát triển đất nước Đây là hai mặt chiến lược có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời và không thể xem nhẹ mặt nào

Luôn bám sát và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự phục vụ yêu cầu đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước; tham mưu cho Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng về công tác đối ngoại quân sự; triển khai các hoạt động đối ngoại

Trang 32

quân sự của quân đội phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại chung trong từng giai đoạn lịch sử

Phối hợp với các hoạt động ngoại giao tổng thể của Đảng và Nhà nước, tham gia tích cực vào việc mở rộng và phát triển các quan hệ quốc tế trên lĩnh vực của đời sống xã hội

Làm tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng xử lý các quan hệ đối ngoại liên quan đến quân sự, quốc phòng

1.2 Một số vấn đề thực tiễn

1.2.1 Giới thiệu về báo Quân đội nhân dân và công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự

1.2.1.1 Giới thiệu về báo Quân đội nhân dân

Hình 1.1: Những tờ báo tiền thân của báo Quân đội nhân dân

Vào giai đoạn khó khăn, ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chấp hành Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư

lệnh, hai tờ báo “Vệ quốc quân” và “Quân du kích” sáp nhập thành tờ báo mới, chung cho Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam, mang tên “Báo Quân đội

nhân dân” và ra số đầu tiên vào ngày 20/10/1950, tại Chiến khu Việt Bắc - ATK

(Bản Khau Diều, xã Định Biên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên)

Trang 33

Bác Hồ kính yêu đã đặt tên cho báo là Báo Quân đội nhân dân Theo

Người, tên ấy nói lên bản chất cách mạng của Quân đội ta: một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ

Măng-sét của báo QĐND có dòng chữ: "Cơ quan của Quân ủy Trung

ương và Bộ Quốc phòng, Tiếng nói của Lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam”

Hình 1.2: Măng-sét báo Quân đội nhân dân

Từ ngày đó đến nay, trải qua hơn 60 năm phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, công nhân viên Tòa soạn báo, được

sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục

Chính trị, Báo Quân đội nhân dân đã trưởng thành vượt bậc, trở thành một tờ

báo có vị trí quan trọng hàng đầu của đất nước trong việc tuyên truyền thực hiện đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhiệm vụ quốc phòng-an ninh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân ta trong sự nghiệp giải phóng đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đại đoàn kết quốc tế, đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái

1.2.1.1.1 Tôn chỉ, mục đích

Ngay từ khi ra đời, báo Quân đội nhân dân đã xác định tốt tôn chỉ, mục

đích và nhiệm vụ, nhất là lấy việc giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Quân đội làm nhiệm vụ chính trị hàng đầu Ngay từ số báo đầu tiên, ra ngày

20/10/1950, báo Quân đội nhân dân đã được Bác Hồ huấn thị thật ân cần, sâu sắc: “Nói những điều thật thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết ngắn,

Trang 34

giản dị, vẽ dễ hiểu, trình bày rõ ràng, ít tiếp sang trang khác…” Lời Bác dạy đã

định hướng, định hình, là phương châm xuyên suốt trong hoạt động và phong

cách của những chiến sĩ làm báo báo Quân đội nhân dân

Tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phản ánh việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong lực lượng vũ trang và trong mọi mặt đời sống xã hội; định hướng bạn đọc đối với những dư luận

xã hội và những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; đồng thời cung cấp thông tin chính xác, kịp thời nhằm phục vụ đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước

1.2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy

Hiện nay, báo Quân đội nhân dân được biên chế 159 cán bộ, phóng viên,

biên tập viên, công nhân viên, chiến sĩ và 17 phóng viên, nhân viên hợp đồng (biên chế đang được bổ sung do yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng tăng); tổ chức tòa soạn gồm có: Ban biên tập, 11 phòng, ban biên tập, 7 ban và cơ quan đại diện, thường trực và thường trú; đóng quân ở 8 địa phương: Hà Nội, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắc Lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Cần Thơ

Phòng Thời sự Quốc tế có 8 đồng chí Trong đó có 07 đồng chí có tuổi đời còn trẻ dưới 35 tuổi

1.2.1.1.3 Đặc điểm

Báo Quân đội nhân dân là cơ quan ngôn luận của Đảng uỷ Quân sự Trung

ương và Bộ Quốc phòng, tiếng nói của LLVT và nhân dân Việt Nam, là một trong những cơ quan báo chí hàng đầu của Đảng và Nhà nước, có chức năng tuyên truyền, phản ánh hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng LLVT nhân dân, đồng thời tuyên truyền tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế Bên

cạnh đó, Báo Quân đội nhân dân còn định hướng bạn đọc, dư luận trong, ngoài

nước, cung cấp những tư liệu nghiên cứu đáng tin cậy cho các học giả Báo

Quân đội nhân dân phát hành rộng rãi trong LLVT nhân dân và các cấp bộ

Trang 35

Đảng, chính quyền, các bộ, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội và các tầng lớp nhân dân cả nước

Báo tuyên truyền sâu rộng trong LLVT và toàn dân về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, nhất là nhiệm vụ bảo vệ

Tổ quốc; phổ biến các đường lối của Đảng, đường lối đổi mới, cập nhật các Nghị quyết Trung ương, quan điểm của Đảng đối với các diễn biến, tình hình trong nước, khu vực, quốc tế Truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống, bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân và các LLVT nhân dân; truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa loài người, góp phần xây dựng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, xây dựng con người mới Việt Nam; Phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng, Điều lệnh, Điều lệ và các quy định của Quân đội; Tuyên truyền đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước; góp phần mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế, trên cơ sở giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc

Thông tin kịp thời, chính xác và định hướng dư luận các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội

Cổ vũ phong trào thi đua yêu nước ở các cấp, các ngành và toàn xã hội; phát hiện, biểu dương nhân tố mới, điển hình tiên tiến, hướng suy nghĩ và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và nhân dân vào mục tiêu cụ thể và thiết thực của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tham gia tổ chức các phong trào thi đua, các cuộc vận động trong LLVT và nhân dân

1.2.1.1.4 Các ấn phẩm

Hiện nay báo Quân đội nhân dân có 4 ấn phẩm chính:

- Báo Quân đội nhân dân hằng ngày: gồm 8 trang khổ A2, được kết cấu

theo các mảng nội dung, đăng tải các tin tức thời sự cập nhật và các sự kiện quan

Trang 36

trọng của Nhà nước, Quân đội, cùng những chuyên đề, chuyên mục và bình

luận, các tin kinh tế, văn hóa xã hội nổi bật

- Quân đội nhân dân Cuối tuần: đáp ứng nhu cầu giải trí lành mạnh của

bộ đội và bạn đọc, nhất là văn hóa-thể thao Thực hiện chỉ đạo của Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Ban biên tập đã và đang phấn đấu nâng cao chất lượng theo hướng đậm đà, phong phú, sâu sắc và tươi trẻ, tập trung các nội dung về văn hóa, văn nghệ, về quốc tế, thể thao và giải trí

- Nguyệt san Sự kiện & nhân chứng: tuyên truyền, giáo dục truyền thống

cách mạng, với các sự kiện, nhân chứng lịch sử; đăng các tư liệu lịch sử về Đảng, về Bác hồ, về lực lượng vũ trang, về nhà nước ta; Những kỷ niệm sâu sắc trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc với những sự kiện, câu chuyện và con người cụ thể trực tiếp tham gia và chứng kiến, những trận đánh hay, những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu, trong bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ an ninh và trật tự xã hội, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Tuyên truyền những đổi mới về con người, vùng đất, vùng căn cứ cách mạng, nơi ghi dấu những chiến công của dân tộc; Trao đổi làm

rõ một số sự kiện lịch sử; Thông tin các vấn đề khoa học quân sự; Thông tin chiến sự trên thế giới; Những bình luận quân sự trong nước và trên thế giới

- Quân đội nhân dân điện tử (http://www.qdnd.vn): ra đời ngày 22 tháng

12 năm 2002 với sứ mệnh giới thiệu với thế giới về công cuộc đổi mới ở Việt Nam, cập nhật trên mạng bằng tiếng Anh, tiếng Trung, trực tiếp đưa hình ảnh Việt Nam ra quốc tế với những thông tin cập nhật cả trong nước và quốc tế Trong Tờ trình xin phép tăng trang báo hằng ngày và ra mắt trang tin Quân đội

nhân dân điện tử báo cáo Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng của báo Quân đội

nhân dân có nêu: “Việc xây dựng trang tin điện tử của Báo Quân đội nhân dân

là góp phần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tuyên truyền đối ngoại và đấu tranh tư tưởng trong tình hình mới; Đưa thông tin nhanh hơn đến các đối tượng sử dụng

Trang 37

internet và mạng nội bộ quân đội, giúp bạn đọc nhanh chóng cập nhật thông tin, đặc biệt là các đơn vị đóng quân ở địa bàn xa…”

Hình 1.3: Măng-sét báo Quân đội nhân dân điện tử

- Ngoài các xuất bản phẩm phát hành rộng rãi, báo Quân đội nhân dân còn duy trì đều đặn Nội san Thông tin viên ra mắt hàng quý do Phòng Bạn đọc -

Cộng tác viên tổ chức biên tập nội dung gửi đến các cộng tác viên, thông tin viên trong toàn quân Nội san đăng bài viết của các cán bộ phòng, ban biên tập giới thiệu và nêu đề xuất về nội dung, cách viết các vấn đề trong quý tới Nội san cũng đăng nhiều bài viết của các nhà báo có kinh nghiệm, các cộng tác viên, thông tin viên trao đổi về nghề nghiệp, nghiệp vụ cùng các thông tin về hoạt động nghiệp vụ, tri thức về nghề báo Nội san là một ấn phẩm truyền thống có chất lượng của báo, thực sự là cầu nối thân thiết giữa tòa soạn với cộng tác viên, thông tin viên

Hệ thống các ấn phẩm của Báo Quân đội nhân dân đáp ứng ngày càng tốt

hơn nhu cầu thông tin, định hướng tư tưởng, chính trị của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân; đồng thời, góp phần tích cực để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế có điều kiện hiểu rõ hơn về đất nước

và con người Việt Nam, về bản chất, truyền thống quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của Bộ đội Cụ Hồ và những nét đặc sắc trong truyền thống dựng nước, giữ nước và văn hóa của dân tộc Việt Nam

1.2.1.2 Giới thiệu về công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân

Thông tin đối ngoại quân sự trên báo QĐND luôn bám sát chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội; theo sát tình hình trong nước và quốc tế, kịp thời ứng biến với các luồng thông tin trái chiều, không có

Trang 38

lợi cho ta, đồng thời cũng giới thiệu cho bạn đọc các chủ trương, chính sách, sự kiện mang tính thời sự của quân đội nhằm hướng tới lợi ích quốc gia

Thông tin đối ngoại quân sự trên báo QĐND phù hợp với đối tượng, phân loại rõ các đối tượng nhắm tới; Có vai trò quan trọng trong việc định hướng nhận thức xã hội đối với độc giả, đặc biệt với những độc giả là cán bộ, chiến sỹ công tác trong quân đội

Đối ngoại quốc phòng đã tập trung đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước láng giềng có chung đường biên giới, với các nước trong khu vực; đưa quan hệ hợp tác quốc phòng với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện đi vào thực chất, phù hợp với lợi ích của tất cả các bên; thúc đẩy hợp tác thực chất với các nước bạn bè truyền thống…

Đối ngoại quốc phòng còn tham gia đóng góp tích cực vào các vấn đề an ninh, quân sự quốc phòng thuộc hiệp hội ASEAN, gắn với lợi ích quốc gia, đặc biệt là ở Biển Đông, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống Tại

“Hội nghị bộ trưởng quốc phòng Asean lần thứ 7” diễn ra tại Bru-nây năm 2013,

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh bày tỏ quan điểm: “Các nước cần giải quyết hòa bình, thông qua đối thoại trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982” Bộ trưởng cho rằng, cần phải tiếp tục phát huy các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ ADMM+ với vai trò trung tâm của ASEAN như đã thể hiện trong cuộc diễn tập hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa kết hợp với quân y tại Bru-nây tháng 6 vừa qua

Việt Nam đề nghị tăng cường hợp tác hải quân trong khu vực thông qua các hoạt động tuần tra chung, giao lưu, thiết lập đường dây nóng giữa hải quân cũng như quốc phòng các nước Việt Nam sẵn sàng ký cam kết về việc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trước, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh khẳng định

Trang 39

Bộ trưởng cũng đề nghị các nước trong khu vực tăng cường hợp tác cứu

hộ người và phương tiện gặp nạn trên biển, tham gia chống cướp biển Việt Nam sẵn sàng đón tiếp các tàu bè các nước thành viên…”

Tất cả các nước ASEAN và 8 nước đối tác đã ủng hộ hoàn toàn sáng kiến

“Nhóm chuyên gia về hành động mìn nhân đạo” do Việt Nam đưa ra

Sự kiện này được Báo Quân đội nhân dân phản ánh trên số 18819, ra

ngày 30/08/2013

1.2.2 Vai trò, nội dung và phương thức của công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự trên báo Quân đội nhân dân

1.2.2.1 Vai trò của công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự

Báo chí là hiện tượng xã hội có quá trình phát triển lâu đời, ngày càng chi phối rộng rãi và mạnh mẽ đến mọi tiến trình xã hội Do đó, trong quá trình phát triển, khái niệm báo chí đã được hiểu, được dùng với nhiều nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại, thông thường, có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Báo chí được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm báo in, báo phát thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử, tức là những kênh truyền thông đại chúng sản xuất và quảng bá thông tin thường xuyên liên tục nhất, trên phạm vi rộng lớn nhất, định kỳ (và phi định kỳ) đều đặn và cập nhật nhất, tác động đến nhiều người nhất, đa dạng và phong phú nhất [8, tr 101]

Trong phạm vi cuốn luận văn này, tác giả đề cập đến báo chí theo nghĩa hẹp, đó là báo in

Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định [8, tr 101]

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vì mục tiêu phát triển và hội nhập, nhiều quốc gia trên thế giới ngày càng quan tâm đến công tác thông tin đối ngoại và

Trang 40

coi đó là vấn đề quan trọng nhằm quảng bá những giá trị tốt đẹp, những lợi thế vốn có, đồng thời quảng bá, nâng cao vị thế, vai trò của quốc gia trên trường quốc

tế Ở Việt Nam, công tác thông tin đối ngoại được xác định là một bộ phận của công tác tư tưởng vừa là một bộ phận của công tác đối ngoại

Xác định được tầm quan trọng của công tác thông tin truyên truyền đối ngoại với sự hậu thuẫn của các phương tiện truyền thông là điều then chốt trong chính sách đối ngoại quốc gia Bởi thế, hoạt động đối ngoại nói chung và đối ngoại quân sự nói riêng của các quốc gia đều nhằm phục vụ ba mục tiêu chủ yếu là: mục tiêu tạo ảnh hưởng, thâm nhập, duy trì ảnh hưởng và phát huy ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế; mục tiêu phát triển - tranh thủ tốt nhất điều kiện quốc tế để phát triển đất nước lâu dài, thịnh vượng; mục tiêu an ninh, quốc phòng - bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như toàn vẹn lãnh thổ Ba mục tiêu này luôn có quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau

Một quốc gia muốn phát triển và phát triển bền vững thì không thể coi nhẹ một mục tiêu nào trong ba mục tiêu này Tuy nhiên, tùy từng giai đoạn phát triển cụ thể, mức độ ưu tiên cho từng mục tiêu có thể khác nhau Để thực hiện những mục tiêu này, không thể không nói đến vai trò quan trọng của truyền thông và các phương tiện truyền thông đại chúng

Báo chí đã làm tốt chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước, vừa là diễn đàn của nhân dân; góp phần tích cực giữ vững ổn định chính trị, tăng cường an ninh, quốc phòng, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Báo chí không chỉ góp phần quan trọng vào thành công vào sự nghiệp đổi mới của dân tộc, mà còn nhờ đó có điều kiện và môi trường để phát triển mạnh

mẽ, toàn diện, trở thành một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước Báo chí có tác dụng tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nước ta với các quốc gia, dân tộc trên thế giới

Ngày đăng: 12/11/2021, 11:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác Quốc tế (2005), Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Tuyên truyền và Hợp tác Quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
2. Lê Thanh Bình (Chủ biên, 2012), Báo chí và thông tin đối ngoại, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và thông tin đối ngoại
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật
3. Thiếu tướng Nguyễn Đình Chung (2014), Biển Đông và lợi ích của các nước, Tạp chí Sự kiện & Nhân vật, số 245, tr. 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Đông và lợi ích của các nước
Tác giả: Thiếu tướng Nguyễn Đình Chung
Năm: 2014
4. Đại tá Nguyễn Văn Diện (2014), Xu hướng quan hệ quốc phòng-quân sự của thế giới đương đại, Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, số 27, tr. 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng quan hệ quốc phòng-quân sự của thế giới đương đại
Tác giả: Đại tá Nguyễn Văn Diện
Năm: 2014
5. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên, 2006), Tác phẩm báo chí, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
6. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại, Nxb Đại Học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia
Năm: 2011
7. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
8. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
12. Thomas L. Friedman, Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử Thế giới Thế kỷ 21, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử Thế giới Thế kỷ 21
Nhà XB: Nxb Trẻ
13. Đỗ Xuân Hà (1999), Báo chí với thông tin quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với thông tin quốc tế
Tác giả: Đỗ Xuân Hà
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
14. Lâm Hà (2014), Khủng hoảng giàn khoan HD-981, hậu quả chính sách bành trướng của Trung Quốc, Tạp chí Sự kiện & Nhân vật, số 245, tr.18-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng giàn khoan HD-981, hậu quả chính sách bành trướng của Trung Quốc
Tác giả: Lâm Hà
Năm: 2014
15. Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 16. Trần Dzĩ Hạ (2005), Thuật làm báo, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 16. Trần Dzĩ Hạ (2005), "Thuật làm báo
Tác giả: Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 16. Trần Dzĩ Hạ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 16. Trần Dzĩ Hạ (2005)
Năm: 2005
17. Jack Hart, Huấn luyện viên của người viết báo, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện viên của người viết báo
Nhà XB: Nxb Thông tấn
18. Đỗ Thị Thu Hằng (2013), Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2013
19. Lương Khắc Hiếu (2008), Nguyên lý công tác tư tưởng, Tập I, II, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý công tác tư tưởng, Tập I, II
Tác giả: Lương Khắc Hiếu
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2008
20. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
21. Đinh Văn Hường (2004), Tổ chức và hoạt động của toà soạn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của toà soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Những tờ báo tiền thân của báo Quân đội nhân dân - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Hình 1.1 Những tờ báo tiền thân của báo Quân đội nhân dân (Trang 32)
Hình 1.2: Măng-sét báo Quân đội nhân dân - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Hình 1.2 Măng-sét báo Quân đội nhân dân (Trang 33)
Hình 1.3: Măng-sét báo Quân đội nhân dân điện tử - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Hình 1.3 Măng-sét báo Quân đội nhân dân điện tử (Trang 37)
Bảng 2.3: Kết quả thông tin độc giả quan tâm trên báo QĐND - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.3 Kết quả thông tin độc giả quan tâm trên báo QĐND (Trang 48)
Bảng 2.4: Kết quả thăm dò về nội dung đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan  - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.4 Kết quả thăm dò về nội dung đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan (Trang 62)
Bảng 2.5: Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của thông tin đối ngoại  quân sự-quốc phòng trên báo QĐND - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.5 Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của thông tin đối ngoại quân sự-quốc phòng trên báo QĐND (Trang 72)
Bảng 2.6: Các tiêu chí đạt được của thông tin đối ngoại quân sự trên báo QĐND - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.6 Các tiêu chí đạt được của thông tin đối ngoại quân sự trên báo QĐND (Trang 73)
Bảng 2.1: Kết quả mức độ thường xuyên đọc báo QĐND - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.1 Kết quả mức độ thường xuyên đọc báo QĐND (Trang 108)
Bảng 2.6: Kết quả về việc nên tăng hay giảm số lượng tin, bài về đối ngoại QS-QP trong mối tương quan với các chuyên mục khác trên báo  QĐND  - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.6 Kết quả về việc nên tăng hay giảm số lượng tin, bài về đối ngoại QS-QP trong mối tương quan với các chuyên mục khác trên báo QĐND (Trang 110)
Bảng 2.5: Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của thông tin đối ngoại quân sự-quốc phòng trên báo QĐND - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.5 Vai trò, vị trí, tầm quan trọng của thông tin đối ngoại quân sự-quốc phòng trên báo QĐND (Trang 110)
Bảng 2.8: Kết quả về cách viết Tiêu đề (Tít) của tin, bài về đối ngoại quân sự đăng trên báo QĐND  - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.8 Kết quả về cách viết Tiêu đề (Tít) của tin, bài về đối ngoại quân sự đăng trên báo QĐND (Trang 111)
Bảng 2.9: Kết quả đánh giá của độc giả về cách sử dụng ngôn ngữ và cách  hành  văn  của  các  tin,  bài  về  đối  ngoại  quân  sự  đăng  trên  báo  QĐND - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.9 Kết quả đánh giá của độc giả về cách sử dụng ngôn ngữ và cách hành văn của các tin, bài về đối ngoại quân sự đăng trên báo QĐND (Trang 111)
Bảng 2.11: Kết quả đánh giá chung về hiệu quả đợt tuyên truyền Đối thoại Shangri La 12 (năm 2013)?  - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.11 Kết quả đánh giá chung về hiệu quả đợt tuyên truyền Đối thoại Shangri La 12 (năm 2013)? (Trang 112)
Bảng 2.10: Kết quả đánh giá chung về nội dung đợt tuyên truyền Đối thoại Shangri La 12 (năm 2013) - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.10 Kết quả đánh giá chung về nội dung đợt tuyên truyền Đối thoại Shangri La 12 (năm 2013) (Trang 112)
Bảng 2.12: Kết quả thăm dò về những thông tin cung cấp cho độc giả qua những tin, bài về đợt tuyên truyền Đối thoại Shangri La 12 (năm  2013) - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.12 Kết quả thăm dò về những thông tin cung cấp cho độc giả qua những tin, bài về đợt tuyên truyền Đối thoại Shangri La 12 (năm 2013) (Trang 113)
Bảng 2.13: Kết quả thăm dò về nội dung đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt  trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam  - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.13 Kết quả thăm dò về nội dung đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam (Trang 113)
Bảng 2.14: Kết quả thăm dò về hiệu quả đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt  trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam - Báo quân đội nhân dân với công tác tuyên truyền đối ngoại quân sự
Bảng 2.14 Kết quả thăm dò về hiệu quả đợt tuyên truyền an ninh quốc gia và chủ quyền biển đảo thông qua sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w