1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Hưng Hà đến năm 2030

38 34 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 376,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2030 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 2021 CỦA HUYỆN HƯNG HÀ. Hưng Hà nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Bình, bao gồm 35 xã và thị trấn (33 xã và 02 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên là 21.028,28 ha, chiếm 13,26% tổng diện tích tỉnh Thái Bình. Ranh giới của huyện được xác định như sau: Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên. Phía Nam giáp huyện Vũ Thư. Phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và huyện Đông Hưng. Phía Tây giáp tỉnh Hà Nam. Huyện có ba mặt tiếp giáp với 3 con sông lớn (sông Hồng phía Tây, sông Luộc phía Bắc và sông Trà Lý phía Tây Nam). Có 5 tuyến quốc lộ và tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện (trong đó tuyến quốc lộ 39 chạy qua 7 xã và 2 thị trấn) và đặc biệt khi đường cao tốc Thái Hà hoàn thiện cùng với hệ thống giao thông nông thôn, huyện lộ và giao thông thủy đã tạo thành hệ thống giao thông quan trọng nối liền huyện Hưng Hà với thành phố Thái Bình, các huyện trong tỉnh và thành phố Hưng Yên. Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội Hải Phòng Quảng Ninh. Vị trí địa lý của huyện đã tạo những điều kiện rất thuận lợi cho huyện trong buôn bán, trao đổi, vận tải hàng hóa, hành khách và giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế xã hội.

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

BÁO CÁO ĐỒ ÁN MÔN HỌC

Đề tài:

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2030 VÀ KẾ HOẠCH SỬ DỤNG

ĐẤT 2021 CỦA HUYỆN HƯNG HÀ

Học phần : Đồ án quy hoạch bảo vệ môi trường

Sinh viên : Trương Minh Hải

Mã sinh viên: 1811100278

Lớp: DH8QM1

Giảng viên hướng dẫn: Lê Đắc Trường

HÀ NỘI – 08/2021

Trang 2

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định tại Khoản 1 Điều 54 “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.” và Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 22 Khoản 4 quy định "Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai"

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trong sự phát triển hài hoà, cân đối của từng địa phương và của đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, quy hoạch đất đai là công tác rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở cho việc thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc xây dựng pháp chế về quản lý đất đai

Trang 3

Hưng Hà là một huyện phát triển bậc nhất của tỉnh Thái Bình Trong những năm gần đây, huyện đã có những bước tiến rõ rệt, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng Trên toàn huyện, nhiều công trình được xây dựng khang trang, sạch đẹp Không

ít các trường học, trung tâm y tế đã được nâng cấp Tất cả nhằm cải thiện đời sống của nhân dân, đảm bảo sự thuận tiện nhất về mọi mặt cho người dân trong huyện Hưng Hà không quá rộng Song, nơi đây vẫn đảm bảo hội tụ đầy đủ điện, đường, trường, trạm theo đúng nhu cầu sử dụng của người dân Không ít tuyến đường mới đã được xây lên khiến cho bộ mặt của toàn huyện thay đổi theo hướng tích cực Không chỉ vậy, giao thông phát triển còn đồng nghĩa với việc kinh tế, giáo dục, các làng nghề truyền thống của huyện cũng được tạo đà

để phát triển thuận lợi hơn

Cũng vì vậy, vấn đề sử dụng và quản lý đất trên địa bàn thành phố gặp nhiềukhó khăn và phức tạp hơn Ngày càng nhiều các chương trình, dự án lớn sẽ được đầu tư phát triển trên địa bàn huyện cần được bố trí đất, sự gia tăng dân sốcũng gây áp lực không nhỏ đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa bàn đều có nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển Để phân bổ quỹ đất hợp lý, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng đất cho tất cả các ngành tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của huyện là việc làm cần thiết

Nhận thấy tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay cũng như việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định Luật đất đai 2013, Nghị định số 43/NĐ –CP của Chính phú, Thông tư

số 29/214/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi Trường UBND huyện Hưng

Hà Xuất phát từ thực tế trên, em xin nghiên cứu đề tài: “Quy hoạch sử đất đến năm 2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2021 của huyện Hưng Hà” làm căn cứ

để quản lý, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai

Trang 4

II Mục tiêu

1 Tổ chức lại việc sử dụng đất theo hướng đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả phù hợp vớitốc độ phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo quỹ đất cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng an ninh, từng chủ sử dụng đất có lãnh thổ sử dụng đất cần thiết và được phân bổ hợp lý trên địa bàn tỉnh

2 Tạo lập cơ sở để quản lý thống nhất đất đai trong lãnh thổ và làm căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất theo đúng thẩm quyền

3 Làm căn cứ định hướng cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chuyên ngành

4 Xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai, phục vụ cho công tác quản lý đất đai một cách hợp lý, khoa học, tiết kiệm và có hiệu quả Quy hoạch sử dụng đất còn tạo cơ

sở cho việc tin học hóa các nguồn dữ liệu quy hoạch phục vụ quản lý, sử dụng đất

5 Làm cơ sở để UBND huyện cân đối giữa các khoản thu ngân sách từ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; các loại thuế có liên quan đến đất đai

và các khoản chi cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

III Nội dung

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Trang 5

CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI 5

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI……… 13

CHƯƠNG III: KẾ HOẶCH SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 2021 20

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1.Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Trang 6

Hưng Hà nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Bình, bao gồm 35 xã và thị trấn (33 xã và 02 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên là 21.028,28 ha, chiếm 13,26% tổng diện tích tỉnh Thái Bình Ranh giới của huyện được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên

- Phía Nam giáp huyện Vũ Thư

- Phía Đông giáp huyện Quỳnh Phụ và huyện Đông Hưng

- Phía Tây giáp tỉnh Hà Nam

Huyện có ba mặt tiếp giáp với 3 con sông lớn (sông Hồng phía Tây, sông Luộc phía Bắc

và sông Trà Lý phía Tây Nam) Có 5 tuyến quốc lộ và tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện (trong đó tuyến quốc lộ 39 chạy qua 7 xã và 2 thị trấn) và đặc biệt khi đường cao tốc Thái

Hà hoàn thiện cùng với hệ thống giao thông nông thôn, huyện lộ và giao thông thủy đã tạo thành hệ thống giao thông quan trọng nối liền huyện Hưng Hà với thành phố Thái Bình, các huyện trong tỉnh và thành phố Hưng Yên Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Vị trí địa lý của huyện đã tạo những điều kiện rất thuận lợi cho huyện trong buôn bán, trao đổi, vận tải hàng hóa, hành khách và giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế - xã hội

Trang 7

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Huyện Hưng Hà thuộc vùng châu thổ sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% (trên 1km), cao trình biến thiên từ 1-2m so với mặt nước biển Nhìn chung, địa bàn huyện có độ cao bình quân lớn nhất tỉnh, hướng đất thấp dần từ Bắc xuống Nam Đất Hưng Hà thuộc khu vực phía Bắc sông Trà Lý được hình thành sớm và chịu ảnh hưởng của phù sa sông Hồng và sông Luộc nên là vùng đất tương đối cao hơn,

độ cao trung bình từ 1,3 - 2,5 m so với mực nước biển

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm xấp xỉ 2.000mm, biên độ giao động 1.200 -

3.000mm, phân bố theo mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài 7 tháng (tháng 5 đến tháng 11) 6

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 84%, mùa mưa độ ẩm cao

có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 24%

- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 2.372 giờ, các tháng có số giờ

Trang 8

nắng cao từ tháng 3 đến tháng 9 trung bình đạt 260 giờ/tháng (cao nhất vào tháng 5), các tháng có số giờ nắng thấp từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau trung bình 120 - 130

giờ/tháng (thấp nhất vào tháng 12)

- Gió: Hướng gió thịnh hành là gió Đông từ tháng 11 đến tháng 4; gió Đông Nam tháng

5; gió Tây tháng 6 đến tháng 9; gió Tây Nam tháng 10 Tốc độ gió trung bình năm là 3,9m/s, trung bình tháng lớn nhất là 4,9m/s, trung bình tháng nhỏ nhất là 3,1m/s

1.1.4.Thủy văn

Huyện Hưng Hà chịu ảnh hưởng chủ yếu của các sông là sông Hồng, sông Luộc và sông Trà Lý

- Sông Hồng: chảy ven theo địa giới hành chính các xã Tiến Đức, Hồng An, Minh Tân,

Độc Lập, Hồng Minh; với chiều dài khoảng 14 km Vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng

10 mực nước sông lên nhanh và cao hơn mặt ruộng từ 2 - 5m Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau mực nước sông xuống thấp hơn mặt ruộng từ 2 - 3m Sông Hồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất, đồng thời cũng cung cấp lượng phù sa không nhỏ phục vụ việc cải tạo đồng ruộng

- Sông Luộc: là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu từ xã Tân Lễ

đến xã Điệp Nông qua địa phận các xã: Tân Lễ, Canh Tân, Cộng Hòa, Hòa Tiến, Tân Tiến, Điệp Nông có chiều dài 21km Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm Sông Luộc cũng góp phần tích cực vào việc tưới, tiêu và bồi đắp phù sa cho đồng ruộng

- Sông Trà Lý: là một nhánh của sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt đầu từ xã Hồng

Minh đến xã Chí Hòa (qua địa phận 2 xã: Hồng Minh, Chí Hòa); có chiều dài 4,5km Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm

1.2 Đặc điểm các nguồn tài nguyên

1.2.1.Tài nguyên đất

Đất đai huyện Hưng Hà được hình thành qua quá trình biển lùi và bồi tụ phù sa của sông Hồng và sông Trà Lý, cùng với việc quai đê, lấn biển, khai hoang của cư dân từ xưa đến nay Do đó, đất Hưng Hà phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng “Bờ xôi, ruộng mật” với 93% là đất phù sa Đất phù sa ở huyện Hưng Hà có thành phần cơ giới chủ yếu là đất cát pha và đất cát, địa hình đất lại tương đối cao, 70% diện tích canh tác nằm ở bề mặt cao và trung bình nên ngoài diện tích cấy lúa, đất đai ở Hưng Hà còn thích hợp cho phát triển cây vụ đông, cây công nghiệp ngắn ngày (cây đay, cây dâu, cây đậu tương…) Nhìn chung, đất đai Hưng Hà thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, đất đai huyện Hưng Hà được chia làm 3 nhóm chính:

Trang 9

- Nhóm đất phù sa: diện tích 11.440,37 ha chiếm 93% diện tích đất điều tra Là nhóm

đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng, với khả năng hấp thu các chất hữu cơ khá cao

- Nhóm đất cát: diện tích 723.58 ha, khả năng giữ nước kém, nghèo chất dinh dưỡng

- Nhóm đất phèn: diện tích 66,45 ha nằm xen kẽ rải rác ở các xã Ngoài ra còn có nguồn

đất sét, nguồn tài nguyên cát lòng sông rất phong phú để phục vụ sản xuất, khai thác vật liệu xây dựng

1.2.2.Tài nguyên nước

- Nước mặt: Bao gồm nước mưa và nước trong hệ thống sông ngòi, ao, hồ, trên địa bàn

nhưng chủ yếu là nguồn nước sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý… Nhìn chung nguồn nước mặt khá phong phú, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và sinh hoạt của nhân dân trong giai đoạn phát triển Tuy nhiên, nguồn nước mặt ở Hưng Hà đang bị ô nhiễm

- Nước ngầm: Theo tư liệu dự án Quy hoạch nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Thái Bình đến năm 2020 cho biết nguồn nước ngầm ở Hưng Hà có 2 tầng đặc trưng:

+ Tầng chứa nước Thái Bình: Đây là tầng phát triển không đồng đều, rất mỏng ở phía

Bắc với chiều dày tầng chứa nước lớn nhất đạt tới 25 m, trung bình 5 - 10 m và lưu lượng

từ 0,1 - 0,7 l/s, mực nước giao động từ 1 - 2m Tầng chứa nước Thái Bình thuộc tầng nghèo nước, điều kiện thủy hóa phức tạp

+ Tầng chứa nước Hải Hưng: được ngăn cách với tầng chứa nước Thái Bình bởi lớp

sét, có chiều sâu gặp từ 2 - 40m, chiều dày phát triển không đều Tầng được tạo bởi nhiều nguồn gốc trầm tích Sông - Biển; Biển - Đầm lầy, đất đá chủ yếu là sét, bột cát, bột - sét lẫn cát, nhiều vỏ sò sinh vật biển Tầng có lưu lượng từ 0,025 - 0,59 l/s, mực nước giao động từ 0,5 - 1m Tầng chứa nước Hải Hưng thuộc tầng nghèo nước, chất lượng kém, phần lớn đều bị lợ đến mặn

- Nguồn nước nóng ở xã Duyên Hải: Theo tư liệu của Bộ môn Sinh hóa Trường Đại học

Nông nghiệp Hà Nội cho biết tại vùng đất xã Duyên Hải ở độ sâu 50m có nguồn nước nóng 500 C; ở độ sâu 178m có nguồn nước nóng 720 C Tuy trữ lượng chưa được xác định nhưng 6 năm gần đây chính quyền xã Duyên Hải đã đưa vào quản lý giao cho tư nhân khai thác bằng máy khoan bơm điện, bể chứa xử lý với mục đích cung cấp nước nóng phục vụ ngành thủy sản nuôi giữ cá bố mẹ qua đông và đẻ sớm, đã góp phần cung cấp lượng cá giống cho khu vực Nhìn chung, tài nguyên nước của huyện rất dồi dào, chất lượng nước tương đối tốt, ít bị ô nhiễm vì thế có giá trị rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của huyện

1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

Trang 10

Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển, đất đai của huyện được hình thành

do quá trình bồi đắp của trầm tích biển nên tài nguyên khoáng sản của huyện rất nghèo về chủng loại và ít về trữ lượng, chủ yếu là khoáng sản cát lòng sông, đất sét trắng, gạch ngói, than nâu và sa khoáng

Ngoài ra huyện còn phát hiện được mỏ nước nóng 570 C ở độ sâu 50m và 720 C ở độ sâu 178m thuộc xã Duyên Hải Hai mỏ nước nóng này hiện đang được đầu tư khai thác phục vụ chăn nuôi thủy sản, phát triển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân Trong lòng đất huyện Hưng Hà nói riêng và tỉnh Thái Bình nói chung còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng lớn (toàn tỉnh Thái Bình có tới trên 30 tỷ tấn), nhưng phân bố ở độ sâu 600 - 1000m nên chưa đủ điều kiện về vốn, khoa học công nghệ để khai thác

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

Trong những năm qua kinh tế ở huyện có mức hon trưởng khá Thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, huyện đã và đang tích cực xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp, cải tạo hệ thống giao hong, thủy lợi, hạ tầng nông thôn, khai thác quỹ đất tạo nguồn vốn xây dựng đã tạo sức ép lớn về đất đai, cụ thể là:

2.1 Về kinh tế

- Kinh tế nông nghiệp:

Sản xuất nông nghiệp, thủy sản đạt kết quả khá Giá trị sản xuất ước đạt 3.699,6 tỷ đồng, tăng 1,58% so với 2019 Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 19.269 ha, giảm 250,47 ha so với năm 20191 Sản xuất lúa xuân, lúa mùa được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ; cơ cấu giống lúa và phương thức gieo cấy tiếp tục chuyển dịch tích cực; huyện đã ban hành kịp thời cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp 2 ; công tác phòng trừ sâu bệnh, chăm sóc bảo vệ lúa được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả

Do vậy sản xuất lúa năm 2019 thắng lợi, năng suất ước đạt 132,45 tạ/ha Giá trị sản xuất ngành trồng trọt ước đạt 1.582,8 tỷ đồng tăng 2,21% so với năm 2018.

- Kinh tế công nghiệp:

Sản xuất công nghiệp - TTCN giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid 19, giá trị sản xuất ước đạt 3.785 tỷ đồng, đạt 36,9% kế hoạch năm, tăng 1,84% so với cùng kỳ năm

2019 Năm 2019; Một số lĩnh vực phát triển khá như sản xuất nước sạch; chế biến lương thực thực phẩm; chế biến đồ nhựa Đến nay toàn huyện có 6 cụm công nghiệp đã quy hoạch chi tiết, với tổng diện tích đất quy hoạch 229,7 ha, có 01 CCN đang lập quy hoạch (CCN Đức Hiệp 70ha); Tổ chức cắm mốc ngoài thực địa cụm công nghiệp Hưng Nhân (Phần mở rộng); hoàn thiện hồ sơ, cắm mốc CCN Hưng Nhân, CCN Đồng Tu I… Giá trị

Trang 11

ngành xây dựng ước đạt 2.400 tỷ đồng, đạt 99,65% kế hoạch năm, tăng 10,68% so cùng

kỳ 2019

- Kinh tế dịch vụ - thương mại, du lịch:

Các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân; từng bước phát huy tiềm năng, lợi thế của huyện Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ bình quân ước đạt 2.889,9 tỷ đồng/năm, tăng 7,43%/năm Hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển Mạng lưới thương mại rộng khắp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Các thương hiệu sản phẩm hàng hoá truyền thống được chú trọng Các loại hình dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tín dụng, ngân hàng phát triển nhanh và hoạt động hiệu quả

2.2 Về cơ sở hạ tầng

Giao thông, văn hóa, y tế, giáo dục tương đối hoàn thiện sẽ góp phần phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản được tăng cường và ứng dụng các kỹ thuật - công nghệ mới vào sản xuất, nhất là trong khâu giống và kỹ thuật canh tác nên năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường.

2.3 Về xã hội

Mật độ dân số phân bố không đều; có lực lượng lao động dồi dào song chất lượng lao động còn nhiều hạn chế, cơ cấu lao động nông thôn chủ yếu vẫn là thuần nông Chất lượng và trình độ chuyên môn của lực lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trên địa bàn và hội nhập quốc tế

III BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT

3.1 Phân tích, đánh giá chung về biến đổi khí hậu tại huyện

Hưng Hà là huyện có địa hình khá bằng phẳng, độ cao trung bình từ 1,8-2,5 m so với mực nước biển Mặt khác, huyện có 3 mặt giáp sông (sông Luộc và sông Hồng), có thủy chế khá thất thường Mùa mưa nước lên nhanh và phức tạp, mùa khô nước xuống thấp Chính vì vậy, biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến hầu hết điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội trong đó có sử dụng đất của huyện

Theo tính toán, Hưng Hà nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ nên có thể chịu ảnh hưởng chủ yếu của các hiện tượng ngập lụt, hạn hán, ảnh hưởng của bão và nhiệt độ cao

Dự báo các hiện tượng khác như xâm nhập mặn, ngập do triều cường…trong giai đoạn 2010-2020 và xa hơn là 2030 chưa ảnh hưởng lớn đến Hưng Hà

Trang 12

3.1.1 Dự báo khả năng ngập lụt

Diện tích đất của huyện có độ cao so mực nước biển thấp nên nguy cơ ngập lụt theo kịch bản biến đổi khí hậu, đặc biệt là kịch bản nước biển dâng là có khả năng xảy ra Tuy nhiên, theo kịch bản trung bình nước biển dâng thêm 50cm vào cuối thế kỷ này (tức là đến năm 2050), hầu hết các diện tích đất của huyện chưa bị ngập lụt bởi nước biển Mặc

dù vậy nhưng hậu quả của nước biển dâng sẽ kéo theo tình trạng ngập lụt nặng hơn trong mùa mưa Các khu vực có khả năng xảy ra tình trạng này là vùng giữa huyện Diện tích chịu ảnh hưởng khoảng 1200 ha

Biện pháp cấp thiết trong quy hoạch là bố trí đất để củng cố hệ thống đê, sửa chữa hệ thống mương tiêu nước cũng như tăng cường mạng lưới trạm bơm tiêu úng, chú trọng xây dựng đồng bộ hệ thống tưới, tiêu tại một số vùng trũng

3.1.2 Dự báo khả năng hạn hán

Sản xuất nông nghiệp chính là đối tượng chịu tác động lớn nhất của hạn hán Là một huyện thuần nông với diện tích đất trồng lúa chiếm tỷ lệ cao, những năm tới, biến đổi khí hậu sẽ có những tác động nhất định đến lượng mưa cũng như mực nước hệ thống sông ngòi khu vực huyện Hưng Hà Trong giai đoạn 2015-2020, hiện tượng hạn hán sẽ tiếp tục diễn ra với mức độ ngày càng gay gắt, vì vậy

phương án sử dụng đất cần tính tới các vấn đề sau:

- Bố trí diện tích đất cho tu sửa, nâng cấp và cải tạo hệ thống kênh mương thủy lợi

- Hệ thống trữ nước nội đồng trong đó chú trọng tới các ao, hồ tự nhiên Nâng cao khả năng trữ nước của hệ thống này thông qua biện pháp kè, nạo vét…

- Bố trí thêm hệ thống trạm bơm tưới phục vụ sinh hoạt và sản xuất

- Ngoài ra, ngành nông nghiệp cũng cần chú trọng biện pháp canh tác giữ nước, tủ

ẩm cho cây trồng vụ đông cũng như bố trí hệ thống canh tác theo hướng thích hợp với điều kiện khô hạn trong tương lai

3.1.3 Dự báo ảnh hưởng của bão và nhiệt độ cao

Bão cũng là một trong những yếu tố sẽ ngày càng ảnh hưởng rõ rệt đến sử dụng đất của huyện trong tương lai do mức độ phức tạp và diện ảnh hưởng của chúng Trong tương lai, tần suất bão huyện phải hứng chịu sẽ tăng dần và có thể tăng thêm1- 2 cơn/năm so năm 2005 Đặc biệt là cường độ bão sẽ mạnh dần Chính vì vậy, quy hoạch sử dụng đất cũng sẽ phải tính đến ảnh hưởng của bão thông qua việc bố trí, khoanh định diện tích đất sử dụng theo địa hình, phù hợp với điều kiện của loại

Trang 13

hình sử dụng đất cũng như đạt yêu cầu chống chịu bão Nhiệt độ cao là hiện tượng

đã xảy ra gần đây Hậu quả của các hiệu ứng El nino hay El nina đã gây những biến động về nhiệt độ cho vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung và Hưng Hà nói riêng Hệ quả là mùa hè vài năm gần đây nhiệt độ trung bình cao hơn trước từ 2-50

C

Nhiệt độ và bão là hai yếu tố có sự ảnh hưởng rộng đến toàn bộ diện tích đất đai trong huyện Phương án chủ yếu là điều hòa hệ thống sử dụng đất theo thời tiết, khíhậu Chú ý biện pháp thủy lợi, tưới nước để giảm tác hại của nhiệt độ cao Trồng các đai cây chắn gió tại các khu vực nhất định…

3.2 Phân tích, đánh giá về sa mạc hoá, xói mòn, sạt lở đất

Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu diện tích đất nông nghiệp dùng cho sản xuất nông nghiệp đang thu hẹp và có xu thế bị xói mòn, mất cân đối về dinh dưỡng đất

do tình trạng thâm canh cao, sử dụng quá nhiều phân hóa học

Mặt khác Hưng Hà có hệ thống sông sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý có thủy chế khá thất thường Theo tính toán, Hưng Hà nằm ở vùng tiếp giáp giữa trung tâmvùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng biển nên có thể chịu ảnh hưởng chủ yếu của các hiện tượng ngập lụt, hạn hán, ảnh hưởng của bão và nhiệt độ cao Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu với những hiện tượng bất thường về thời tiết sẽ gây ra hiện tượng rửa trôi đất, suy giảm độ phì nhiêu có thể dẫn đến những thiệt hại về sản xuất nông nghiệp trong tương lai

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

Bộ TN&MT; Chất lượng quy hoạch được nâng lên một bước đáng kể so với quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010

- UBND huyện đã chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy

Trang 14

định của Luật đất đai; đã làm tốt công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo tính công khai minh bạch UBND huyện đã chỉ đạo sát sao việc lập kế hoạch

sử dụng đất hàng năm đảm bảo phù hợp với quy hoạch sử dụng đất; đáp ứng nhu cầu về đất cho phát triển KT-XH và nhu cầu đất ở của nhân dân Việc tăng cường quản lý đối với thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã góp phần quan trọng đưa công tác quản lý đất đai ở địa phương đi vào nề nếp

1.2.2 Những tồn tại trong việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

* Việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất còn nhiều bất cập

- Trước hết, việc dự báo nhu cầu sử dụng đất cho phát triển KT-XH do quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và quy hoạch chuyên ngành của các ngành KT-XH chưasát với nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong cơ chế kinh tế thị trường định 27 hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước; nên nhiều công trình hạ tầng, nhiều dự

án đầu tư có sử dụng đất phát sinh chưa được đề cập trong quy hoạch, kế hoạch kỳ đầu nhưng lại có nhu cầu cấp thiết Tính dự báo về sự phát triển, biến động của thị trường bất động sản trong quy hoạch và kế hoạch kỳ đầu chưa cao nên xác định nhu cầu sử dụng đất chưa sát với biến động của thị trường bất động sản

- Hai là, tính đồng bộ, thống nhất giữa quy hoạch chuyên ngành của các ngành

KT-XH với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa cao; khả năng đáp ứng nhu cầu đất đai cho quy hoạch các ngành thấp do quỹ đất không đáp ứng được; nguyên nhân chính là do quy hoạch chuyên ngành chưa tính toán đến khả năng đáp ứng về đất đai; điển hình là quy hoạch nông thôn mới và quy hoạch nông nghiệp để đáp ứng các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới do các Bộ ban hành đòi hỏi quỹ đất lớn; nhưng chỉ tiêu phân khai các loại đất của tỉnh không đáp ứng đủ

* Về tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Ở một số xã tình trạng tự ý chuyển mục đích sử dụng đất không xin phép vẫn còndiễn ra, chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời

- Tình trạng tự chuyển mục đích sử dụng đất không đúng quy hoạch vẫn còn xảy ranhất là chuyển đất trồng lúa kém hiệu quả sang lập vườn, trồng cây, đào ao nuôi trồng thủy sản

1.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Trang 15

* Về khách quan:

- Chính sách, pháp luật giữa các ngành luật, sự chỉ đạo giữa các bộ, ngành tính thống nhất chưa cao, điển hình như sự thiếu thống nhất trong việc xác định nhu cầuđất đai trong việc lập quy hoạch chuyên ngành, lập các đề án tái cơ cấu của các ngành với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Luật đất đai và Nghị định 42/2012/NĐ-CP đề ra yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa; tuy nhiên cơ chế, chính sách hỗ trợ người trồng lúa còn rất bất cập; mức

hỗ trợ còn rất thấp so với lợi nhuận thu được nếu nông dân chuyển đất lúa sang nuôi trồng thuỷ sản hay lập vườn trồng cây lâu năm; do vậy người nông dân

chuyển mục đích sử dụng đất sang lập vườn, đào ao nếu chỉ ngăn chặn bằng biện pháp hành chính gặp rất nhiều khó khăn

- Tác động của biến đổi của khí hậu diễn ra sớm hơn dự báo, nông dân không trồnglúa được buộc phải chuyển đổi từ đất trồng lúa sang lập vườn trồng cây, đào ao nuôi trồng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao để khai thác tiềm năng đất đai

* Về chủ quan:

- Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật đất đai, nhất là về quản lý quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn yếu kém Buông lỏng quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chưa thường xuyên kiểm tra,giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt

- Việc xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở một số nơi còn chậm, chưa kiên quyết

- Sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, giữa chính quyền các cấp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị để thực hiện các nhiệm vụ về quản lý đất đai có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, chưa phát huy cao được vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và quần chúng nhân dân trong công tác quản

lý Nhà nước về đất đai

II HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT.

2.1 Hiện trạng sử dụng đất theo từng loại đất

Theo số liệu thống kê đất đai tính đến ngày 01/01/2021, huyện có 21.028,28 ha đất

tự nhiên, chiếm 12,96% so với diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Trong đó, xã Hồng Minh có diện tích tự nhiên lớn nhất 898,39ha, chiếm 4,27 % tổng diện tích tự nhiêntoàn huyện; xã Hòa Bình có diện tích tự nhiên nhỏ nhất 340,81 ha, chiếm 1,62% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu ngườiđạt 0,09 ha/người

Trang 16

STT Chi tiêu sử dụng đất Mã Diện tích

(ha) Cơ cấu (%)Tổng diện tích tự nhiên 21.028,28 100,00

2.6 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh

2.7 Đất phát triển hạ tầng cấp quốc

2.8 Đất có di tích lịch sử-văn hoá DDT 1,90 0,01

2.9 Đất bãi thải, xử lý chất thải DRA 35,81 0,17

2.12 Đất xây dựng trụ sở cơ quan TSC 25,91 0,12

2.13 Đất xây dựng trụ sở của tổ chức

2.15 Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà

tang lễ, nhà hoả táng NTD 264,94 1,26 2.16 Đất sản xuất vật liệu xây dựng,

Trang 17

2.20 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 719,14 3,42

2.21 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 18,60 0,09

2.22 Đất phi nông nghiệp khác PNK 3,33 0,02

2.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Huyện Hưng Hà hiện có 14.428,6 ha đất nông nghiệp, chiếm 68,62% so tổng diện tích tự nhiên Trong đó:

- Đất trồng lúa là 10.673,30 ha, chiếm 50,76 % so tổng diện tích tự nhiên;

Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước có diện tích là 10.659,49 ha, chiếm

50,69% so tổng diện tích tự nhiên;

- Đất trồng cây hàng năm khác là 1.176,87 ha, chiếm 5,60% diện tích tự nhiên;

- Đất trồng cây lâu năm là 1.124,97 ha, chiếm 5,35% so tổng diện tích tự nhiên;

- Đất nuôi trồng thuỷ sản là 1.300,02 ha, chiếm 6,18% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất nông nghiệp khác là 153,51 ha, chiếm 0,73% so tổng diện tích tự nhiên;

2.1.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp

* Đất phi nông nghiệp có diện tích là 6.530,17 ha, chiếm 31,05% tổng diện tích tự nhiên Trong đó:

- Đất quốc phòng có diện tích là 7,87ha, chiếm 0,04% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất an ninh có diện tích là 2,10 ha, chiếm 0,010% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất cụm công nghiệp là 53,11ha, chiếm 0,25% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất thương mại, dịch vụ là 53,30 ha, chiếm 0,25% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất cơ sở SXPNN là 89,61 ha, chiếm 0,43% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh có diện tích là 3.126,95 ha,

chiếm 14,87% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất có di tích lịch sử-văn hoá là 1,90 ha, chiếm 0,01% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất bãi thải, xử lý chất thải là 35,81ha, chiếm 0,17% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất ở tại nông thôn là 1.787,03 ha, chiếm 8,50% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất ở tại đô thị là 173,33ha, chiếm 0,82% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất xây dựng trụ sở cơ quan là 25,91ha, chiếm 0,12% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp là 0,97 ha, chiếm 0,005% diện tích

tự nhiên;

Trang 18

- Đất cơ sở tôn giáo là 49,16 ha, chiếm 0,23% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hoả táng có diện tích là 264,94ha,chiếm 1,26% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm là 47,43ha, chiếm 0,23% tổng

diện tích tự nhiên;

- Đất sinh hoạt cộng đồng là 20,84ha, chiếm 0,10% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất khu vui chơi giải trí là 1,31ha, chiếm 0,006% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất cơ sở tín ngưỡng là 47,53 ha, chiếm 0,23% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất sông, ngòi, kênh, rạch là 719,14ha, chiếm 3,42% tổng diện tích tự nhiên;

- Đất có mặt nước chuyên dùng là 18,60ha, chiếm 0,09% diện tích tự nhiên;

- Đất phi nông nghiệp khác là 3,33ha, chiếm 0,02% tổng diện tích tự nhiên;

2.1.3 Hiện trạng đất chưa sử dụng

Toàn huyện còn 69,45 ha diện tích đất chưa sử dụng, chiếm tỷ lệ 0,33% tổng diện tích tự nhiên Trong đó 100% là đất bằng chưa sử dụng, chủ yếu là đất bãi bồi ven sông phân bố tại vùng ven các sông của huyện Trong tương lai có thể sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp

Tóm lại tiềm năng đất chưa sử dụng vẫn còn tương đối lớn, đòi hỏi trong thời gian tới cần có quy hoạch hợp lý tận dụng vào các mục đích sản xuất đặc biệt là mục đích phi nông nghiệp, tránh tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên đất, đảm bảo việc

sử dụng đất đạt hiệu quả trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường

III TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI

3.1 Phân tích, đánh giá tiềm năng đất đai cho lĩnh vực nông nghiệp.

Tiềm năng đất cho sản xuất nông nghiệp của huyện được khai thác theo hướng đầu

tư thâm canh nâng cao hiệu quả diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện có bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển thuỷ lợi và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ, hình thành các vùng chuyên canh cây tập trung, nâng cao hệ số sử dụng đất canh tác, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Theo

Trang 19

Tiến Đức…

3.2 Phân tích, đánh giá tiềm năng đất đai cho lĩnh vực phi nông nghiệp.

3.2.1 Tiềm n ăng đất đai để phục vụ cho việc phát triển công nghiệp

Chỉ tiêu để đánh giá tiềm năng cho phát triển công nghiệp gồm: vị trí địa lý, địa hình, địa chất, nguồn nguyên liệu, điều kiện cơ sở hạ tầng, thị trường, lao động và chính sách đầu tư phát triển

Hưng Hà có nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản, lại tập trung để hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung Ngoài ra có thể phát triển các cụm công nghiệp nhỏ khai thác chế biến nông sản và phát triển làng nghề truyền thống, đặc biệt là nghề dệt nhuộm và chiếu cói Lực lượng lao động của huyện hiện lại khá dồi dào Đây chính là tiềm năng phát triển công nghiệp của huyện

Để khai thác được tiềm năng này Đại hội đảng bộ huyện đã xác định mục tiêu tổng quát đến 2025 của huyện là: Phát huy những thành quả và kinh nghiệm của 35năm đổi mới, giữ vững đoàn kết thống nhất, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy truyền thống văn hoá, văn hiến, yêu nước, cách mạng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; huy động mọi nguồn lực, phát triển toàn diện kinh

tế - xã hội nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát triển mạnh thương mại - dịch vụ; tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội Tăng cường công tác quản lý nhà nước trong các cụm côngnghiệp, quản lý, giám sát việc sử dụng đất trong các cụm công nghiệp Nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm phát triển cụm công nghiệp, phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm trong sử dụng đất, ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp,

Với khu vực dân cư nông thôn giai đoạn 2021 -2030 huyện xác định tập trung công tác xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu; củng cố, nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt được theo hướng bền vững, quan tâm

Ngày đăng: 12/11/2021, 11:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT - Báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Hưng Hà đến năm 2030
BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w