Đài Truyền hình Việt Nam đã thành lập một kênh riêng, kênh Khoa học và Giáo dục VTV2 với nhiều chương trình, chuyên mục để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.. Với mong muốn để chương trì
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THỊ KHUYÊN
CHUYÊN MỤC BỔ TRỢ KIẾN THỨC VĂN HÓA TRÊN KÊNH VTV2 ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
- THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA (Khảo sát từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Trí Nhiệm
HÀ NỘI – 2015
Trang 3Luận văn đã được sửa theo ý kiến của hội đồng khoa học
CHủ TịCH HộI ĐồNG
PGS, TS Hoàng Đình Cúc
Trang 4LờI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
TÁC GIẢ
VŨ THỊ KHUYÊN
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỔ TRỢ
KIẾN THỨC VĂN HÓA TRÊN TRUYỀN HÌNH 10
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 10
1.2 Vai trò của truyền hình trong việc bổ trợ kiến thức văn hóa cho công chúng 18
1.3 Tiêu chí của chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên truyền hình 22
1.4 Yêu cầu đối với chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên truyền hình 23
Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYÊN MỤC “BỔ TRỢ KIẾN THỨC VĂN HÓA” TRÊN KÊNH VTV 2 - ĐÀI TRUYềN HÌNH VIệT NAM 26
2.1 Giới thiệu về đài truyền hình Việt Nam 26
2.2 Giới thiệu về Phòng nhà trường, Chuyên mục Bổ trợ kiến thức văn hóa trên kênh VTV 2 – Đài Truyền hình Việt Nam 34
2.3 Thực trạng chuyên mục Bổ trợ kiến thức Văn hóa trong thời gian khảo sát từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2014 37
2.4 Đánh giá thành công và hạn chế của Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên kênh VTV 2 – Đài truyền hình Việt Nam 55
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO 69
CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CHUYÊN MỤC “BỔ TRỢ KIẾN THỨC VĂN HÓA” 69
3.1 Những vấn đề đặt ra 69
3.2 Một số bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện chương trình giáo dục của một số nước trên thế giới 72
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của chuyên mục 77
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây Đài Truyền hình Việt Nam đã có những bước tiến rất dài cả về khoa học công nghệ và chất lượng nội dung chương trình Đặc biệt phải kể đến các chương trình truyền hình giáo dục ngày càng phong phú,
đa dạng và cũng đã chiếm được mảng lớn người xem chương trình này Truyền hình đã và đang trở thành một phương tiện giáo dục ngoài nhà trường hỗ trợ, thúc đẩy rất mạnh mẽ giáo dục từ xa và xã hội hoá giáo dục
Giáo dục và truyền hình ngày càng giữ vai trò to lớn trong việc góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật v.v Tập trung sự chú ý của người đọc, người xem vào những vấn đề quan trọng và thiết thực nhằm trang bị cho họ những nhận thức mới và tri thức mới tham gia vào giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong họat động thực tiễn
Giáo dục và truyền hình giúp cho con người nắm vững những kinh nghiệm xã hội mà nhân loại đã tích luỹ được trong quá trình sản xuất, trong các lĩnh vực xã hội và tinh thần Giáo dục và truyền hình có khả năng tạo ra lớp người mới nắm được các chuẩn mực và quy tắc xã hội, những giá trị xã hội, những mục tiêu của xã hội giúp họ suy nghĩ và hành động phù hợp với những yêu cầu của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội
Truyền hình và giáo dục đóng vai trò to lớn trong việc khắc phục những hiện tượng tiêu cực, những tàn dư của quá khứ trong ý thức và hành vi của con người, những thiếu sót hay sơ hở của cơ chế Với ý nghĩa đó, giáo dục và truyền hình trở thành diễn đàn sâu rộng của quần chúng nhân dân, tạo nên phong trào xã hội mạnh mẽ không chỉ thúc đẩy các quá trình kinh tế - xã hội phát triển, mà còn giúp ngăn chặn các hành vi và hiện tượng tiêu cực
Trang 8Với nhiệm vụ và khả năng to lớn của truyền hình trong việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, truyền bá những tri thức của nhân loại và dân tộc về nhiều lĩnh vực khác nhau phục vụ cho các tầng lớp nhân dân Đứng trước những yêu cầu của tình hình mới, trách nhiệm của truyền hình ngày càng nặng nề hơn, đòi hỏi phải nỗ lực cố gắng xứng đáng là công cụ hữu hiệu của Đảng và sự tin cậy của nhân dân
Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng
và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội”, đối với Truyền hình “Chǎm lo đặc biệt về định hướng chính trị - tư tưởng, vǎn hóa, cũng như về kỹ thuật hiện đại đối với truyền hình là loại hình báo chí có ưu thế lớn, có sức thu hút công chúng đông đảo” [33]
Để xứng đáng với vị trí và vai trò của mình, trong những năm qua, Đài truyền hình Việt Nam không những chỉ cung cấp thông tin - đặc biệt là thông tin thời sự - tham gia quản lý, giám sát xã hội; góp phần thỏa mãn nhu cầu giải trí của nhân dân, mà còn là một kênh quan trọng trong việc góp phần nâng cao dân trí - một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của bất cứ quốc gia nào muốn phát triển Đài Truyền hình Việt Nam đã thành lập một kênh riêng, kênh Khoa học và Giáo dục (VTV2) với nhiều chương trình, chuyên mục để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này Trong các chương trình, chuyên mục của VTV2 đã đề cập đến nhiều lĩnh vực và phục vụ nhiều nhóm đối tượng khác
nhau, trong đó có chuyên mục Bổ trợ kiến thức nhằm phục vụ nhóm đối
tượng học sinh trung học và trung học cơ sở Đây là một chuyên mục rất hữu ích đối với các em, nhất là các em ở nông thông, vùng sâu, vùng xa, các em
Trang 9có điều kiện kinh tế khó khăn không có đủ điều kiện theo học các lớp luyện
thi Chương trình Bổ trợ kiến thức không những cung cấp kiến thức mà còn
có ý nghĩa xã hội, tính nhân văn sâu sắc Tuy nhiên, so với mục tiêu đề ra, chuyên mục vẫn chưa đạt được kết quả mong đợi Nội dung chương trình chưa được đón nhận một cách tích cực từ phía các em học sinh; phương pháp giảng dạy vẫn nặng tính thuyết trình, chưa hấp dẫn và ít sử dụng phương tiện
hỗ trợ; ít có sự tương tác giữa người giảng và người học; tổ chức sản xuất chương trình còn bị động
Với mong muốn để chương trình thực hiện được mục tiêu đề ra, có tác
động tích cực đối với xã hội, học viên chọn đề tài: Chuyên mục Bổ trợ kiến thức” trên sóng VTV2, Đài Truyền hình Việt Nam để nghiên cứu với mong
muốn từ việc khảo sát, phân tích, đánh giá rút ra những vấn đề bất cập của chuyên mục và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đây là một đề tài đi sâu nghiên cứu một chuyên mục phát sóng trên kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam nên hầu như chưa có các nghiên cứu khoa học, khóa luận, luận văn, luận án đề cập đến Hiện nay, các công trình nghiên cứu hầu như chỉ tập trung vào chương trình thời sự truyền hình, một
số thể loại cơ bản của truyền hình như Tin tức; Phóng sự; Tổ chức sản xuất chương trình; Công chúng truyền hình Đây cũng là một thuận lợi cho tác giả nhưng cũng là một thiệt thòi vì ít có tài liệu tham khảo
Tuy nhiên, trong thực tế cũng đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến đề tài nghiên cứu của tác giả Tác giả luận văn xin đề cập một số công trình nghiên cứu:
- Dương Xuân Sơn (2009); “Giáo trình báo chí truyền hình”, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Đây là cuốn giáo trình tuy chưa thật hoàn thiện nhưng đã đề cập đến tất cả những vấn đề liên quan đến truyền hình từ khái niệm, chức năng đến qui trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền hình
Trang 10- ThS Phạm Thị Sao Băng (2005), “Giáo trình Công nghệ sản xuất
chương trình truyền hình”, Trường Cao đẳng Truyền hình, Đài Truyền hình
Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
Đức Dũng (2002); “Sáng tạo tác phẩm báo chí”, Nhà xuất bản Văn hoá
Thông tin, Hà Nội 2002 có chương 2 bàn về cách nói và viết cho Phát thanh – Truyền hình
- Trần Bảo Khánh (2003), “Sản xuất chương trình truyền hình”, Nhà
xuất bản Văn hoá - Thông tin, Hà nội; đề cập phương pháp sản xuất các chương trình truyền hình
Những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sĩ đề cập đến những họat động của ngành phát thanh, truyền hình ở trung ương và địa phương nước ta Theo trình tự thời gian có thể điểm một số nghiên cứu sau đây:
Luận văn của học viên Trần Tiến với đề tài (2002), “Vấn đề giáo dục
kiến thức trên VTV2” (bảo vệ năm 2002 tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn Hà Nội)
Luận văn của học viên Trần Hoài Thu (2012): Nâng cao chất lượng
chuyên mục Nghiên cứu - Trao đổi trên Tạp chí Giáo dục Lý luận (bảo vệ
năm 2012 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Luận văn đã tiếp cận vấn đề
lý luận về chuyên mục trên tạp chí Đây là một tài liệu giúp tác giả tham khảo được một số hiểu biết về chuyên mục; khái niệm, đặc điểm, vai trò của chuyên mục báo in
Luận văn của Đỗ Thị Anh Ngọc (2012) với đề tài “Đổi mới hệ thống
chuyên trang, chuyên mục của Báo điện tử Vietnamnet (Bảo vệ năm 2012 tại
Học viện Báo chí và Tuyên truyền)
Luận văn của Hồ Quang Phương (2014); “Tác động xã hội và bài học
kinh nghiệm từ chuyên mục “Những việc cần làm ngay” và chuyên mục
“Hưởng ứng những việc cần làm ngay” trên Báo Nhân Dân (Bảo vệ năm
2014 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền)
Trang 11Luận văn của Nguyễn Thị Thu Hương (2012); “Nâng cao hiệu quả truyền
thông của chuyên mục “Tham vấn và phản biện” trên báo Đại đoàn kết” (bảo vệ
năm 2012 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội)
Nhìn chung, thông qua những luận văn này tác giả đã tham khảo được một số vấn đề lý luận về chuyên mục trên các loại hình báo chí
Liên quan đến vấn đề về phương pháp giảng dạy, có nhiều công trình
đề cập Tuy nhiên, có hai tài liệu liên quan đến đề tài mà tác giả quan tâm là
cuốn “Phương pháp dạy học Giáo dục học” của tác giả Phan Thị Hồng Vinh
do Nhà xuất bản Đại học sư phạm in lần thứ 2 năm 2010 và Đề cương chi tiết
bài giảng “Phương pháp giảng dạy tích cực” của Thạc sĩ Đinh Ngọc Sơn
đang được sử dụng làm tài liệu giảng dạy tại hệ thống các trường thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Có thể nói, đây là hai tài liệu hữu ích giúp tác giả luận văn làm cơ sở đánh giá phương pháp giảng dạy của các
giảng viên trong chuyên mục “Bổ trợ kiến thức”
Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách có hệ thống về Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên kênh VTV2- Đài Truyền hình Việt Nam – Thực trạng và những vấn đề đặt ra”
Vì vậy, có thể nói đây là đề tài mới, không trùng lặp với các đề tài đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát việc tổ chức sản xuất, chất lượng, hiệu quả của
Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức” của kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam,
tác giả luận văn rút ra những vấn đề làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của chuyên mục và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của chuyên mục
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, tác giả luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu những tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu như quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục; quan điểm, mục tiêu của
Đài Truyền hình Việt Nam trong việc góp phần nâng cao dân trí, Bổ trợ kiến
thức cho học sinh; lý luận về báo chí, lý luận báo chí truyền hình, lý luận về
chuyên mục; các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Thống kê, khảo sát và phân tích thực trạng chuyên mục “Bổ trợ kiến
thức” của kênh VTV2 trong thời gian khảo sát trên các bình diện: nội dung,
phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảng viên, thời lượng chuyên mục, tổ chức sản xuất
- Điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu để thu nhận những đánh giá, nhận xét của đối tượng phục vụ (học sinh) và các chuyên gia về chuyên mục
- Rút ra những vấn đề tồn tại và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lương, hiệu quả của chuyên mục
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu có liên quan đến đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn là Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức” của VTV2 - Đài Truyền
Trang 135.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả sử dụng phương pháp này
để nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm hệ thống hóa khung lý thuyết nghiên cứu, tham khảo những tri thức, những nhận xét, đánh giá về vấn đề giáo dục và giáo dục trên các phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và truyền hình nói riêng
- Phương pháp khảo sát, thống kê: mục đích của việc sử dụng phương
pháp này là thống kê hệ thống các bài giảng trong chuyên mục “Bổ trợ kiến
thức văn hóa” trong thời gian khảo sát để tiến hành phân tích, đánh giá
- Phương pháp phân tích tác phẩm (bài giảng): đây là phương pháp
quan trọng nhất mà tác giả sử dụng để phân tích những thành công, hạn chế của các bài giảng trong chuyên mục trên hai bình diện nội dung và phương pháp thể hiện để làm cơ sở đề xuất các giải pháp, kiến nghị
- Phương pháp quan sát: Tác giả luận văn sử dụng phương pháp này để
theo dõi quá trình tổ chức sản xuất các chuyên mục Đối việc việc thực hiện
đề tài này, tác giả cho rằng đây là phương pháp cần thiết và có thể thực hiện được để đánh giá quá trình tổ chức sản xuất xem có hợp lý không và quá trình này đã ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng, hiệu quả của bài giảng
- Phương pháp điều tra xã hội học: phương pháp này không thể thiếu
trong quá trình thực hiện luận văn Bởi vì những kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi là những căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả của chuyên mục, những hạn chế của chuyên mục làm cơ sở đề xuất các giải pháp
Vì điều kiện chủ quan và khách quan nên tác giả luận văn chỉ điều tra
số lượng phiếu 300 ở 3 trường, mỗi trường 100 phiếu Cụ thể chúng tôi đã thực hiện điều tra ở các trường sau: Trường Phổ thông trung học Chương Mỹ,
Trang 14thành phố Hà Nội; Trường trung học phổ thông Bình Xuyên, Vĩnh Phúc và Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trãi, Thái Bình Lý do tác giả chọn 3 trường để khảo sát do đây là 3 trường thuộc vùng nông thôn, nơi học sinh do điều kiện kinh tế khó khăn nên ít có điều kiện học thêm và truyền hình là phương tiện chủ yếu để tiếp nhận thông tin, ngoài ra tác giả phỏng vấn học sinh ở một số trường trong nội thành Hà Nội để có thêm ý kiến đánh giá về chất lượng nội dung chuyên mục
Đối tượng điều tra chính của chuyên mục là học sinh Tác giả nhận thấy rằng: số lượng phiếu phát ra chưa nhiều, địa điểm phát chưa mang tính đại diện vùng miền nhưng vì lý do thời gian và kinh tế nên tác giả chưa thực hiện được như mong muốn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: để có thêm căn cứ đánh giá, tác giả đã
tiến hành phỏng vấn sâu một số nhà quản lý, một số chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và một số em học sinh
Tác giả luận văn cũng thấy rằng, nếu điều kiện cho phép, tiến hành được một số cuộc tọa đàm giữa các nhà lãnh đạo, chuyên gia (giảng viên), phụ huynh, học sinh sẽ rất hữu ích Nhưng trong quá trình thực hiện luận văn điều kiện chưa cho phép nên tác giả không thực hiện được
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Đề tài khẳng định truyền hình là phương tiện có khả năng to lớn trong
việc góp phần nâng cao dân trí, góp phần Bổ trợ kiến thức cho nhiều đối
tượng khác nhau Tuy nhiên, để các chương trình (chuyên mục) đạt được hiệu quả nội dung cần phải phù hợp, thiết thực với từng nhóm đối tượng và phương pháp truyền đạt phải hấp dẫn, thời lượng chương trình, thời điểm phát sóng phải phù hợp
Trang 15Ý nghĩa thực tiễn
* Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng và vận dụng một cách hữu ích, đáp ứng nhu cầu lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong điều kiện chương trình truyền hình giáo dục còn chưa mang tính hệ thống và chuyên nghiệp
* Là tài liệu tham khảo cho truyền hình Việt Nam và các đài Phát thanh
- Truyền hình trong cả nước
* Là tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo nhà báo và những ai quan tâm
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Bổ trợ kiến thức văn hóa
trên truyền hình
Chương 2: Thực trạng của Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên
kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả của
Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa”
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BỔ TRỢ KIẾN THỨC
VĂN HÓA TRÊN TRUYỀN HÌNH 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Truyền hình
Ra đời từ đầu thế kỷ XX, có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình Hai tác giả người Pháp Brigitte và Didier Deormeaux, trong cuốn Phóng sự truyền hình, quan niệm rằng truyền hình là “truyền thanh có minh họa”
“Làm thông tin trên truyền hình, cũng là nói Và nó là mô tả bằng cách
trả lời những câu hỏi: Ai? Cái gì? Ở đâu? Tại sao?” [1, tr 121 ]
Truyền hình theo từ điển Tiếng Việt “Truyền hình ảnh thường đồng
thời có cả âm thanh, đi xa bằng radio hoặc bằng đường dây” [26, tr 1053]
Trong Tập bài giảng môn Truyền hình của PGS, TS Dương Xuân Sơn
(2006), Khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn: “Truyền
hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm: hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh”[37, tr.3]
Tác giả Tạ Ngọc Tấn (2001), trong cuốn Truyền thông đại chúng, NXB
Chính trị quốc gia Hà Nội cho rằng: “Truyền hình là một loại phương tiện
thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ Tele có nghĩa là
“ở xa” và Vision nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [40, tr.143]
Cả hai định nghĩa trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh Đây chính là đặc trưng của truyền hình Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền
Trang 17thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cho cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình Cho dù có những khác biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình vẫn có chung một cơ sở ngôn ngữ, cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin
Về kỹ thuật, truyền hình được họat động theo nguyên lý cơ bản sau: hình ảnh về sự vật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về độ sáng tối, màu sắc Đó là tín hiệu hình (tín hiệu video) Sau khi được xử lý, khuyếch đại, tín hiệu hình được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ máy phát sóng hoặc hệ thống dây dẫn Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu hình thành hình ảnh trên màn hình Phần âm thanh cũng được thực hiện theo một nguyên lý tương tự như thế đế rồi đưa ra loa
Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công
cụ giải trí, thông tin Đến ngày nay, truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, có vai trò quan trọng trong định hướng dư luận xã hội So với các loại hình truyền thông đại chúng khác, truyền hình là phương tiện ra đời muộn, song nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát triển Truyền hình kết hợp phương pháp tạo hình, tiếng của điện ảnh và phát thanh Truyền hình tổng hợp được nhiều ưu điểm từ các loại hình báo chí khác như có sự khái quát triết lý của báo in, có tính chuẩn xác cụ
thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phát thanh Có thể xem “truyền
hình là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp giữa kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí” [37, tr.12]
Nhờ kết hợp các yếu tố kỹ thuật hiện đại, truyền hình có ưu điểm là cùng lúc cung cấp cả hình và tiếng cho người xem Do đó, truyền hình có khả năng hấp dẫn cao hơn so với các loại hình báo chí khác Tuy nhiên, vì phụ
Trang 18thuộc vào yếu tố kỹ thuật nên truyền hình phụ thuộc vào phát sóng và phải có máy thu hình để theo dõi thông tin Cũng vì đặc tính riêng nên việc xây dựng một chương trình truyền hình khó khăn hơn so với các loại hình báo chí khác Đội ngũ tham gia làm chương trình truyền hình mang tính tập thể cao, bao gồm sự tham gia của biên tập, phóng viên, đạo diễn, quay phim, họa sỹ,
kỹ thuật và các bộ phận hành chính phụ trợ khác dưới sự điều hành tổ chức chặt chẽ của một cơ chế thống nhất
Đặc trưng của truyền hình
Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc điểm chung của báo chí nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyền hình
Tính thời sự
Tính thời sự là đặc điểm chung của báo chí Nhưng truyền hình với tư cách là một phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra thậm chí khi
nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình có khả năng phát sóng liên tục 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là
ưu thế đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại truyền hình có đặc trưng cơ bản là truyền trực tiếp cả hình ảnh và âm thanh trong cùng một thời gian về cùng một sự kiện, sự việc
“khi sự kiện diễn ra phát thanh báo tin, truyền hình trình bày và báo in giảng
giải nó”
Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh
Trang 19Một ưu thế của truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và âm thanh cùng một lúc Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác, phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác Do vậy truyền hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện
Tính phổ cập và quảng bá
Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng xa Tính quảng bá của truyền hình còn thể hiện ở chỗ một sự kiện xảy ra ở bất kì đâu được đưa lên vệ tinh
sẽ truyền đi khắp cả thế giới, được hàng tỉ người biết đến Ngày nay ngồi tại phòng nhưng người ta vẫn có thể nắm bắt được sự kiện diễn ra trên thế giới
Khả năng thuyết phục công chúng
Truyền hình đem đến cho khán giả cùng lúc hai tín hiệu cơ bản là hình ảnh và âm thanh đem lại độ tin cậy, thông tin cao cho công chúng, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của con người Truyền hình có khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng
yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng “Trăm nghe không bằng mắt
thấy”, chính truyền hình đã cung cấp những hình ảnh về sự kiện thỏa mãn nhu
cầu “thấy” của người xem Đây là lợi thế lớn của truyền hình so với các loại
hình báo in và phát thanh
Khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân
Trang 20Các chương trình truyền hình mang tính thời sự, cập nhật, nóng hổi, hấp dẫn người xem bằng cả hình ảnh, âm thanh và lời bình, vừa cho người xem thấy được thực tế của vấn đề vừa tác động vào nhận thức của công chúng Vì vậy, truyền hình có khả năng tác động vào dư luận mạnh mẽ Các
chương trình của Đài truyền hình Việt Nam như các chuyên mục “Sự kiện và
bình luận”, “Đối thọai trực tiếp”, “Chào buổi sáng” của ban Thời sự VTV1
không chỉ tác động dư luận mà còn định hướng dư luận, hướng dẫn dư luận phù hợp với sự phát triển của xã hội và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo, nên sự tác động dư luận ngày càng rộng rãi Chính vì thế, truyền hình có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân Các
chuyên mục “ý kiến bạn xem truyền hình”, “với khán giả VTV3”, “Hộp thư
bạn xem truyền hình”, đã trở thành cầu nối giữa người xem và những người
làm truyền hình Qua đó người dân có thể nêu lên những ý kiến khen chê, ủng
hộ, phản đối, góp ý phê bình về các chương trình truyền hình của đài truyền hình hoặc gửi đi những thắc mắc, bất cập, sai trái ở địa phương Rất nhiều vụ tham nhũng, lạm dụng quyền hạn đã được người làm báo làm sáng tỏ qua sự phản ánh của nhân dân
1.1.2 Chuyên mục
Theo Từ điển Tiếng Việt 2002 của Trung tâm Từ điển học – Nhà xuất
bản Đà Nẵng thì chuyên mục có nghĩa là: “Mục thường kỳ trên các phương
tiện thông tin đại chúng dành riêng cho một vấn đề” [48, tr 187] Cũng theo
từ điển nói trên thì thường kỳ có nghĩa là; “Theo kỳ hạn đã định trước một
cách đều đặn” [48, tr 187]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam - Hà Nội xuất bản năm 1998): chuyên mục (báo chí) là mục
Trang 21dành riêng cho một đề tài nhất định xuất hiện định kỳ và chiếm một vị trí nhất định trên báo chí, do một hay nhiều người viết chuyên sâu phụ trách Một chuyên mục trở nên đông đảo bạn đọc không những vì nội dung vấn đề được nêu ra mà còn có tính hấp dẫn mang phong cách độc đáo và trình độ của những cây bút chuyên trách [52]
Ông Clas Thor chuyên gia báo chí tổ chức SIDA (Thụy Điển) khi được
hỏi về chuyên mục cho rằng: “Chuyên mục là mục có tính định kỳ ổn định về
vị trí và nội dung, do một hoặc nhiều người viết Mỗi tờ báo nên duy trì một vài chuyên mục để người đọc có thể tìm thấy dễ dàng”
Theo TS Hà Huy Phượng, giảng viên Khoa Báo chí - Học viện Báo chí
và Tuyên truyền cho rằng: Chuyên mục là một thành tố cấu thành sản phẩm báo chí Về nội dung, chuyên mục phải thể hiện được tính chất chuyên biệt liên quan đến lĩnh vực thông tin của tờ báo, tạp chí hay chương trình phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Về hình thức chuyên mục thường được duy trì dài ngày ở vị trí ổn định trong trang hoặc số báo, tạp chí Nó có thể được trình bày đóng khung hoặc sử dụng nền màu, tiêu đề mục (đối với tạp chí) để tách biệt với các nội dung khác trong tổ chức hệ thống các thông tin cấu thành sản phẩm báo chí
Như vậy, chúng ta có thể khái quát rằng: Chuyên mục là một thành tố của sản phẩm báo chí, mang tính định kỳ, được ổn định về vị trí trình bày, cách trình bày, phong cách thể hiện, dung lượng tác phẩm Chuyên mục có thể do một hoặc nhiều tác giả thực hiện Chuyên mục ra đời nhằm tạo ấn tượng, tạo sức hấp dẫn riêng, có khả năng khu biệt đối tượng công chúng, góp phần xây dựng bản sắc cho cơ quan báo chí Thời gian duy trì chuyên mục trong thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào ý đồ của cơ quan báo chí và hiệu quả thực tế
Trang 22Tất nhiên, đây là cách hiểu có tính chung nhất về chuyên mục Điều cốt lõi để một chuyên mục báo chí ra đời là để thực hiện nhiệm vụ chuyên biệt hóa thông tin về một chủ đề nào đó, tạo ấn tượng để độc giả có thể tiếp nhận thông tin một cách tốt hơn Chính vì mục đích này mà việc tạo ra các chuyên mục, phong cách chuyên mục, tần suất xuất hiện, thời gian xuất hiện, người thực hiện chuyên mục là khá linh họat
1.1.3 Chuyên mục truyền hình
Chuyên mục truyền hình là một đoạn phim video hoà trộn cả âm thanh, hình ảnh và cả giọng nói có chủ đề rõ ràng, có thể kết thúc chủ đề đó trong một chương trình hoặc kéo dài ra nhiều chương trình, tuỳ theo quy mô của thông tin nhằm truyền tải đến người xem
Chuyên mục truyền hình bao giờ cũng có thời lượng (độ dài) nhất định tuỳ theo đặc thù và tiêu chí của chuyên mục Độ dài của chuyên mục thường được ấn định: 10 phút, 15 phút, 20 phút, 30 phút, 45 phút, 60 phút và có thể
có những chuyên mục kéo dài tới 3h nhưng dạng chuyên mục này rất ít
Mỗi chuyên mục truyền hình đều có hình hiệu riêng biệt hay còn gọi là
mũ chương trình, tiếp đến là kết cấu nội dung và hình thức thể hiện, và được định hướng cụ thể về nội dung tuyên truyền và thu hút người xem ở lứa tuổi
và đối tượng nào đó
Về hình thức phát sóng: gồm chuyên mục ở dạng thành phẩm tức là một chuyên mục hoàn chỉnh dạng tập và băng hoặc đĩa và được duyệt khi phát sóng; có những chuyên mục truyền hình trực tiếp, truyền tín hiệu trực tiếp từ Trường quay (Studio) hoặc một địa điểm nào đó đến tận máy thu hình Mỗi chuyên mục truyền hình đều có tên cụ thể, để người xem biết được chuyên mục này đề cập đến vấn đề gì, mang tính truyền thông và tính giáo dục như thế nào
Trang 231.1.4 Bổ trợ kiến thức văn hóa
Ngày nay, khoa học kĩ thuật, công nghệ phát triển đã tạo ra nhiều hình thức học tập phong phú và hiệu quả Việc tự học của mỗi cá nhân ngày càng
dễ dàng hơn Thậm chí người học có thể lấy bằng mà không cần phải đến lớp học (đào tạo từ xa) Chính vì vậy, giáo dục và bổ trợ kiến thức là một nhóm nội dung không thể thiếu được trên sóng truyền hình Nội dung trên sóng truyền hình có thể phân thành 3 nhóm: nhóm thông tin chính luận, nhóm thông tin khoa giáo và nhóm thông tin giải trí Để bổ trợ kiến thức cho học sinh, hầu như truyền hình của tất cả các quốc gia trên thế giới đều có chương trình giáo dục và chuyên mục bổ trợ kiến thức Theo từ điển tiếng việt bổ trợ:
“giúp thêm vào, phụ thêm vào cho đủ hơn, tốt hơn” [48, tr 78] Vậy bổ trợ
kiến thức là cung cấp một số tri thức phổ thông bổ trợ thêm vào lượng kiến thức vốn đã phong phú mà người xem đã và đang được nhà trường truyền thụ Nhắm nâng cao chất lượng tri thức về văn hóa xã hội của từng con người trong những vấn đề mà họ còn thiếu
Bổ trợ kiến thức là quá trình con người tiếp thu những kiến thức, kĩ năng do người khác truyền lại và tự học là việc con người phát huy những kiến thức, kĩ năng đã được truyền lại bằng chính sức lực, khả năng của riêng mình
Chính những thực tế được nêu trên lại càng khẳng định việc tự bổ trợ kiến thức văn hóa cho bản thân là rất quan trọng Nó là một chiếc chìa khóa đưa con người đến với kho tàng tri thức của nhân loại, là điều kiện giúp mỗi
cá nhân có thể thành công trong cuộc sống Mỗi cá nhân nếu biết tự học thì chắc chắn sẽ thành công và nâng cao được tri thức của chính mình Tự học giúp con người có được ý thức tốt nhất trong quá trình học: chủ động suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, nghiên cứu và nắm được bản chất vấn đề từ đó tự học
Trang 24giúp ta tiếp thu được kiến thức từ các phương tiện truyền thông đại chúng và
từ giao tiếp trực tiếp
Bổ trợ kiến thức văn hóa giúp học sinh có thể chủ động ghi nhớ các bài giảng trên lớp, tiết kiệm được thời gian, có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn mà vẫn hiểu và nắm chắc bài học Thông qua các chuyên mục bổ trợ kiến thức, người học có thể củng cố lí thuyết, chủ động luyện tập thực hành, củng
cố kĩ năng, nâng cao kiến thức đã học Vì vậy, chủ động tự bổ trợ kiến thức văn hóa sẽ giúp người học tìm ra được phương pháp học tốt nhất mang lại hiệu quả cao cho chính bản thân
Ví như các vị danh nhân nổi tiếng trên thế giới thành đạt trong sự nghiệp học tập, có được kiến thức uyên thâm cũng là nhờ biết chủ động tự học mà dẫn đến thành công như Thần đồng Lương Thế Vinh khi xưa, nhờ cố gắng chủ động tự học cộng với phẩm chất thông minh trời ban mà sau đỗ trạng, chế ra bảng cửu chương còn lưu truyền mãi đến ngày nay hay Trạng nguyên lừng danh Mạc Đĩnh Chi, lúc nhỏ nhờ biết chủ động tự học, sáng tạo cách học bắt đom đóm bỏ vỏ trứng mà sau đỗ trạng, đi xứ làm rạng danh nước nhà, được phong “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” vang danh hai nước, ghi vào
sử sách nhân loại về những tấm gương tự học sáng ngời
Chính vì vậy, tự học là cách tốt nhất giúp người học tiến bộ hơn trong học tập, mang lại kết quả học tập cao nhất có thể
1.2 Vai trò của truyền hình trong việc bổ trợ kiến thức văn hóa cho công chúng
Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng khai sáng và bổ trợ kiến thức văn hóa cho công chúng Mục đích của các chương trình khoa giáo, các chuyên mục
bổ trợ kiến thức văn hóa là phương pháp giáo dục phù hợp với xu thế và yêu cầu của xã hội
Trang 25Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục to lớn, nếu được phối hợp chặt chẽ, cùng thống nhất một mục đích, một yêu cầu và cùng một phương thức giáo dục sẽ đem lại kết quả giáo dục tốt đẹp
Giáo dục ngoài việc bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp của con người, còn có thể giúp sửa chữa những lệch lạc trong ý thức đạo đức và hành
vi (Giáo dục lại) Giáo dục còn có thể giúp khắc phục cả những khuyết tật của cơ thể, tinh thần do bẩm sinh hoặc rủi ro bệnh tật (Giáo dục người có tật,
thiểu năng bẩm sinh) giúp con người hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng
Giáo dục còn bao gồm cả tự giáo dục, tự giáo dục là bước tiếp theo,
nhưng quyết định kết quả của toàn bộ quá trình giáo dục Tự giáo dục, tự tu dưỡng là họat động có ý thức là giai đoạn phát triển cao của nhân cách Như vậy, giáo dục là yếu tố chủ đạo trong quá trình phát triển nhân cách Một nền giáo dục mạnh, đươc tổ chức tốt, bằng các hình thức họat đông và giao lưu phong phú và đa dạng, với những phương pháp tốt có thể làm cho con người đạt tới sự phát triển toàn diện phù hợp với sự phát triển của thời đại
Trong điều kiện của xã hội hiện đại, học tập xã hội là nhu cầu của sự phát triển và là nguyện vọng chính đáng của mỗi công dân Do đó, cần tạo cơ hội và điều kiện học tập suốt đời và học bất cứ ở đâu cho mỗi cá nhân Học tập xã hội chính là quá trình kích thích phát triển nguồn lực xã hội
Điều này liên quan đến Lý thuyết học tập xã hội Lý thuyết học tập xã hội cho rằng: mỗi người đều có cơ hội học tập bình đẳng như nhau và xã hội cần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu đó Học tập nâng cao dân trí là điều kiện tiên quyết cho sự sáng tạo của mỗi cá nhân và mỗi nhóm xã hội cũng như của cộng đồng nói chung
Lý thuyết này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta, bởi vì từ
xã hội văn minh nông nghiệp chuyển dần lên xã hội văn minh công nghiệp,
xã hội đang phát triển với tốc độ nhanh, sản phẩm giáo dục - đào tạo rất
Trang 26nhanh chóng bị đẩy lùi về phía sau, trong khi nhu cầu đào tạo nguồn lực hết sức cần thiết
Lý thuyết học tập xã hội phát biểu rằng mọi người có thể nâng cao năng lực học tập nhờ các yếu tố:
- Quan sát việc người khác làm (kỹ năng quan sát);
- Xem xét những ảnh hưởng do họat động của những người đó trải
qua;
- Dự liệu điều sẽ xảy ra với chính họ nếu họ làm theo hành vi của người khác;
- Hành động bằng việc tự thử nghiệm hành vi;
- So sánh kinh nghiệm của mình với cái đã xảy đến với những người khác;
- Từ đó có thể bắt đầu quá trình bắt chước, phân tích và sáng tạo;
- Khẳng định niềm tin về hành vi mới
Như vậy, truyền hình là phương tiện để thực hiện Lý thuyết học tập xã hội Truyền hình đã tạo ra môi trường xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng cho các cá nhân học tập suốt đời, không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo
Xây dựng được xã hội học tập, tạo mọi điều kiện bình đẳng và thuận lợi cho mỗi cá nhân học tập là quá trình tạo lập cơ sở phát triển bền vững cho cộng đồng và xã hội Đó là quá trình tạo dựng cơ sở nền tảng quan trọng cho việc nâng cao dân trí và phát triển cũng như nâng cao chất lượng dân chủ xã hội Xã hội không thể có chất lượng dân chủ cao nếu dân trí thấp Dân trí là nền tảng bảo đảm chất lượng của dân chủ
Một quá trình học tập đem lại kết quả bền vững, có khả năng ứng dụng luôn phải đảm bảo đủ các thao tác: quan sát, suy nghĩ về những điều đã quan sát, liên hệ với bản thân, làm thử (bắt chước), tổng kết kinh nghiệm và phân tích từ
Trang 27đó khẳng định niềm tin với hành vi mới Như vậy, quá trình học tập không thể thiếu quan sát và thử hành vi/bắt chước, sau đó mới có thể sáng tạo
- Quá trình học tập, không chi là tự tích lũy, mà quan trọng hơn nữa là quá trình cung cấp kiến thức, cập nhật thông tin, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa các cá nhân, nhóm với nhau; giữa người dạy và người học Quá trình này đòi hỏi không chỉ kiến thức, kinh nghiệm của mỗi thành viên, mà còn môi trường, điều kiện tương tác, chia sẻ
Người dạy không phải là người “rót” những tri thức đã chuẩn bị sẵn vào “cái cốc” là người học Lý thuyết học tập xã hội cho thấy, học tập là quá trình tiếp thu kiến thức thông qua quan sát các hành vi và động não, thử nghiệm, chia sẻ kỹ năng và tiếp thu kinh nghiệm, tự mình tiếp cận và “khám phá” các “lý thuyết” (chứ không phải là học thuộc lý thuyết) Thay cho vai trò “truyền đạt kiến thức” là vai trò “hướng dẫn” người học tư duy, hình thành phương pháp tiếp cận và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm; tự mình tìm ra lối đi cho việc ứng dụng kiến thức trong cuộc sống, từ đó hình thành quan điểm, niềm tin, thế giới quan Tôn trọng tư duy sáng tạo và ý kiến cá nhân của người học, tạo môi trường học tập bằng các tình huống giúp người học được quan sát, trải nghiệm và động não là những yêu cầu cơ bản trong công việc của người thầy hiện đại Người dạy học không phải là người huấn thị, mà quan trọng hơn là người cung cấp kiến thức, trang bị phương pháp tư duy, tiếp cận vận để và tạo điều kiện cho người học suy nghĩ, tìm kiếm kiến thức mới, “cọ xát tư duy”, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm
Người học chiếm vị trí trung tâm trong quá trình đào tạo Việc học của mỗi cá nhân không chỉ diễn ra trong trường học mà diễn ra trong suốt cả cuộc đời Tính chủ động và tích cực của người học, phương pháp học tập và phương pháp tự học đóng vai trò quyết định trong sự phát triển cả về trí tuệ
và nhân cách của mỗi cá nhân Trong một xã hội học tập suốt đời, tinh thần
Trang 28hợp tác và óc phản biện, nhu cầu ứng dụng và tổng kết lý thuyết là những đòi hỏi quan trọng nhất cho mỗi cá nhân trong xã hội Phản biện và tự phản biện khoa học là tố chất cần có ở người dạy và người học; đồng thời phản biện và
tự phản biện khoa học cần có môi trường tâm lý - xã hội tương thích
Giáo dục từ xa, thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, Internet là một bước tiến nhảy vọt nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của xã hội học tập hiện đại Với các nhà giáo dục/nhà báo/nhà truyền thông thực hiện các chương trình giáo dục từ xa này, bên cạnh những chú ý về ưu thế và hạn chế của các phương tiện truyền thông
đại chúng, những chú ý trong việc tổ chức với đầy đủ các bước của quá trình
học tập cho người học trong điều kiện không phải “mặt đối mặt” là vô cùng cần thiết
Có thể khẳng định rằng, truyền hình không phải là phương tiện duy nhất, nhưng truyền hình có vai trò và khả năng to lớn trong việc giúp mỗi người tự đào tạo để bổ sung kiến thức, nâng cao kiến thức, hoàn thiện nhân cách
1.3 Tiêu chí của chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên truyền hình
Tiêu chí chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” được Đài Truyền hình
Việt Nam xác định dựa trên chức năng, nhiệm vụ của Đài
Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” nhằm củng cố kiến thức, kỹ
năng và thái độ cho một nhóm đối tượng học sinh có học lực trung bình, có
thể chưa tiếp thu một cách đầy đủ, sâu sắc khối lượng kiến thức được giảng viên trình bày trên lớp
Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” cung cấp cho học sinh kiến
thức phổ thông vững chắc để giúp họ tiếp tục học tập ở bậc đại học hay bước vào cuộc sống lao động
Trang 29Tiêu chí của Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” được cụ thể hóa
trong từng môn học, từng bài học Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức” đặt ra yêu cầu cụ thể cho họat động của thầy giáo và học sinh với từng nội dung, từng chủ đề, từng vấn đề nhận thức Đó là mục tiêu trực tiếp được tính toán xây dựng trên cơ sở đặc điểm cụ thể của môn học, đặc điểm đối tượng học sinh ở từng cấp, từng lớp; xác định rõ những kiến thức và kỹ năng học sinh sẽ nắm được và thái độ sẽ được hình thành sau bài dạy
1.4 Yêu cầu đối với chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” trên truyền hình
Mỗi chương trình, chuyên mục trên sóng truyền hình đều xác định mục đích cụ thể Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, mỗi chương trình, chuyên mục đều phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe của loại hình và nội dung chuyển
tải Chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” đạt hiệu quả cần phải đáp ứng
các điều kiện sau:
Thứ nhất, nội dung phải phù hợp và thiết thực đối với đối tượng tác
động Đây là điều kiện quan trọng bởi mục tiêu của chuyên mục không phải là cung cấp kiến thức mới mà chủ yếu tập trung nhằm bổ sung những kiến thức
mà học sinh trong quá trình học tập trên lớp không đủ thời gian lĩnh hội hoặc
do hạn chế về năng lực nên chưa lĩnh hội đầy đủ Nếu nội dung không phù hợp, không thiết thực, học sinh sẽ không theo dõi hoặc không hào hứng theo dõi chương trình Đây là vấn đề cốt lõi đảm bảo hiệu quả của chương trình Vì vậy, những người thực hiện chuyên mục phải điều tra, tính toán kỹ lưỡng về nội dung các môn học, nội dung từng bài học, lượng kiến thức cần đưa đến cho người học, khả năng tiếp thu của người học, phương pháp giảng dạy, khả năng sản xuất một cách hợp lý nhất
Thứ hai, phương pháp giảng dạy phải hiện đại, kết hợp hài hòa giữa
phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại Tùy vào bài học mà lựa
Trang 30chọn các phương pháp phù hợp, phải tạo được sự giao lưu, đối thọai giữa người dạy và người học, sử dụng hợp lý các phương tiện hỗ trợ như băng, đĩa, thậm chí là phim, ảnh v.v Phải có kênh để tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía người học
Thứ ba, thời lượng của chuyên mục phải đảm bảo đủ để giảng viên
truyền lượng kiến thức của từng bài giảng cho học sinh Do phụ thuộc vào số lượng chương trình, khung giờ phát sóng, chi phí sản xuất, khả năng thu nên có nguy cơ dẫn đến chuyên mục bị rút ngắn thời gian, dẫn đến giảng viên không
đủ thời gian tối thiểu để truyền thụ lượng kiến thức cần thiết Vì vậy, người tổ chức sản xuất phải tính toán giữa mục tiêu, dung lượng kiến thức và thời gian cần thiết, không quá tham về nội dung nhưng lại hạn chế về thời gian
Thứ tư, thời điểm phát sóng phải tương đối phù hợp với đối tượng tiếp
nhận (học sinh) Phải điều tra về thời gian biểu (lên lớp, ở nhà) của học sinh
để bố trí khung giờ có thể hợp lý nhất trong tổng thể của khung chương trình Nếu thời điểm phát sóng không phù hợp có thể dẫn đến bị hạn chế về số lượng học sinh muốn nhưng không thể tiếp nhận nội dung của chuyên mục Thứ năm, vì chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” bao gồm nhiều môn học nên phải tính toán tính lôgic, liên tục của nội dung, tránh trường hợp nội dung của một bài học nhưng bị chia tách quá xa dẫn đến “học trước, quên sau”
Để thực hiện được hai yêu cầu cơ bản trên, đòi hỏi những người thực hiện chuyên mục phải có sự am hiểu về lĩnh vực giáo dục, phải biết tổ chức một cách khoa học trong việc chuẩn bị và tổ chức sản xuất chuyên mục; phải xây dựng đội ngũ giảng viên vừa có kiến thức, vừa có khả năng sư phạm, tạo
ra sự hấp dẫn, lôi cuốn người học Giảng viên phải là những thầy, cô giáo có được sự tín nhiệm không những đối với người học mà cả đối với các bậc phụ huynh học sinh Điều kiện tổ chức sản xuất phải đảm bảo về tài chính, về phương tiện kỹ thuật, về địa điểm ghi hình
Trang 31Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả luận văn đã đề cập đến 4 nội dung cơ bản:
- Tìm hiểu các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu Đây là các khái niệm công cụ cần thiết trong quá trình thực hiện đề tài
- Đánh giá vai trò của truyền hình trong việc góp phần bổ trợ kiến thức văn hóa cho học sinh Tác giả khẳng định, bổ trợ kiến thức văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng của đài, góp phần thực hiện đường lối, mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước, đây là một chuyên mục vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính nhân văn
- Xác định tiêu chí của chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” Để
chuyên mục thực sự mang lại hiệu quả cho người học, những người tổ chức sản xuất phải xác định được những tiêu chí cần thiết của chuyên mục Những tiêu chí đó, có thể gọi là kim chỉ nam cho những người thực hiện chuyên mục
- Để chuyên mục “Bổ trợ kiến thức văn hóa” thực hiện được mục tiêu,
nhiệm vụ xác định, chuyên mục cần phải đáp ứng những yêu cầu cần thiết như nội dung phải thiết thực đối với người học; phương pháp giảng dạy phải hiện đại, kết hợp phương pháp truyền thống (bảng, phấn) với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, phải chuyển từ phương pháp độc thọai sang đối thọai; thời lượng chuyên mục phải đảm bảo để giảng viên có thể truyền đạt lượng kiến thức đến người học, người học có khả năng tiếp thu lượng kiến thức đó; thời điểm phát sóng (khung giờ phát sóng) phải tương đối phù hợp với người học Những nội dung được giải quyết trong chương một là cơ sở
để tác giả thực hiện khảo sát ở chương 2
Trang 32Chương 2
THỰC TRẠNG CHUYÊN MỤC “BỔ TRỢ KIẾN THỨC VĂN HÓA”
TRÊN KÊNH VTV 2 - ĐÀI TRUYềN HÌNH VIệT NAM
2.1 Giới thiệu về đài truyền hình Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ở Việt Nam, công tác chuẩn bị cho việc phát triển được thực hiện từ năm 1968, đến ngày 7 tháng 9 năm 1970, chúng ta đã có chương trình truyền hình đầu tiên, phát sóng thử nghiệm tại 58 Phố Quán Sứ - Hà Nội
Từ năm 1970 đến năm 1976 chương trình truyền hình phát sóng truyền hình đen trắng Thời gian này vẫn được xác định là thời gian phát sóng thử nghiệm, qua đó để đào tạo lực lượng nhà báo truyền hình và xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho Trung tâm Truyền hình chính thức
Tháng 8 năm 1980, trong dịp Thế vận hội Olympic Maxcơva và sự kiện anh hùng Phạm Tuân bay vào vũ trụ, Đài Truyền hình Trung ương đã sử dụng trạm thu vệ tinh Hoa Sen của Liên Xô giúp đỡ, do Tổng cục Bưu điện quản
lý, cùng đội ngũ những người làm truyền hình đã kịp thời truyền hình trực tiếp nhiều diễn biến của hai sự kiện này bằng hình ảnh màu rất rõ nét Sự kiện này đã khẳng định được hướng đầu tư trang bị kỹ thuật và đào tạo đội ngũ trong điều kiện có thể của kinh tế đất nước và các nguồn viện trợ
Từ 1-8-1986, toàn bộ chương trình được ghi băng Video để phát hình màu Thời gian này, tất cả các thiết bị ghi hình đều theo hệ PAL, do đó có rất nhiều thuận lợi trong việc đầu tư thiết bị kỹ thuật truyền hình từ các nhà sản xuất ở các nước tư bản phát triển và cũng thuận lợi cho việc trao đổi chương trình và nhân sự với các nước trong khu vực
Đầu năm 1991, Đài truyền hình Việt Nam bắt đầu sử dụng vệ tinh để truyền dẫn chương trình quốc gia cho các Đài truyền hình địa phương, nhằm phủ sóng toàn quốc
Trang 33Nghị định 96/CP của Chính phủ ban hành ngày 20 tháng 8 năm 2003 đã quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Đài Truyền hình Việt nam như sau:
Đài Truyền hình Việt nam là Đài quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình
Trên thực tế tinh thần của Nghị Định đã được Đài truyền hình Việt Nam quán triệt từ năm 2001- năm đầu tiên thực hiện cơ chế mới theo các điều khoản của Quyết Định số 87/TTg Thực hiện Nghị định 96/CP, Đài Truyền hình Việt Nam đã đổi mới về tổ chức và cơ chế quản lý, tạo tiền đề cho những chuyển biến rõ rệt thể hiện qua màn ảnh nhỏ hàng ngày Phần thời sự trong và ngoài nước đã được đa dạng hoá, thông tin nhanh nhạy và sinh động đã thực
sự đáp ứng nhu cầu của người xem Truyền hình Việt Nam đã phản ánh kịp thời, có chiều sâu, những ngày lễ lớn của dân tộc, những sự kiện trọng đại của đất nước, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng đối với các tầng lớp nhân dân Đài Truyền hình Việt Nam đã phối hợp với các ngành, đoàn thể
quần chúng, khởi xướng và phát động phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”,
“Chăm sóc và phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng”, xây dựng “Quỹ hỗ
trợ phòng chống tệ nạn xã hội”, kiên trì vận động mọi người trong xã hội
tham gia các họat động từ thiện, giúp đỡ những người nghèo khó, gặp tai nạn, rủi ro, bệnh tật Nhiều phóng sự và phim tài liệu đã phản ánh trung thực cuộc sống và những chuyển biến đổi mới của đất nước Các phóng sự điều tra chống tham nhũng, tiêu cực được đề cập một cách trực diện, triệt để, góp phần làm lành mạnh đời sống xã hội Đặc biệt, các chương trình truyền hình bằng nhiều hình thức thể hiện khác nhau đã thông tin sâu rộng về các đợt đấu
Trang 34tranh chống tiêu cực trong quản lý đất đai, trấn áp các tệ nạn xã hội, lập lại trật tự an toàn giao thông đô thị và trên phạm vi toàn quốc
Các chương trình văn hoá nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, công nghệ và đời sống, dạy ngoại ngữ ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu nâng cao dân trí
của nhân dân Chương trình “Văn nghệ chủ nhật”, “Điện ảnh Thứ bảy” đem
đến cho người xem những Phim truyền hình thuần tuý Việt Nam, gần gũi với đời sống thường nhật và thực tế cuộc sống, được rất nhiều các khán giả thuộc các lứa tuổi khác nhau, trình độ khác nhau đón nhận và mến mộ
Trong nhiều năm qua Đài Truyền hình Việt Nam đã từng bước tăng thêm thời lượng phát sóng, đến nay tổng thời lượng chương trình phát sóng của các kênh là 72 giờ/ngày
Theo quy họach phát triển đến năm 2020 và những năm sau, Đài Truyền hình Việt Nam phấn đấu nâng cao đồng bộ chất lượng chương trình truyền hình quốc gia, mang tính toàn diện, toàn quốc Các kênh chương trình cần được tăng thêm để đáp ứng yêu cầu của nhiều nhóm khán giả khác nhau như: Nhóm thể thao, Nhóm giải trí, Nhóm thanh thiếu niên Đây là bước ngoặt quan trọng để Truyền hình Việt Nam sánh vai với các nước phát triển trong khu vực và hội nhập quốc tế về lĩnh vực truyền hình
Trải qua hơn 40 năm ngày phát sóng chương trình đầu tiên của Đài Truyền hình Việt Nam (7/9/1970 - 7/9/2014), có thể thấy những dấu ấn của Đài THVN trong suốt thời gian qua
Mở rộng mạng lưới
Đầu năm 2013, Đài Truyền hình Việt Nam chính thức khai trương 2 cơ quan thường trú tại Singapore và Nhật Bản, nâng tổng số cơ quan thường trú nước ngoài của Đài THVN lên 8
Với 2 cơ quan thường trú mới thành lập và 6 cơ quan thường trú Đài Truyền hình Việt Nam tại Mỹ, Nga, Bỉ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, các cơ
Trang 35quan thường trú đã bao quát được thông tin về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở hầu hết khu vực điểm nóng trên toàn thế giới
Quan trọng hơn, sự hiện diện của phóng viên Đài THVN tại các khu vực này đã nâng cao uy tín, vị thế của Đài THVN nói riêng và ngành truyền hình Việt Nam nói chung
Chuyên môn hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm truyền hình, Đài Truyền hình Việt Nam đã thành lập hai trung tâm chuyên trách là Trung tâm sản xuất các chương trình thể thao và Trung tâm truyền hình thời tiết và cảnh báo thiên tai Hai trung tâm này được thành lập nằm hướng tới việc chuyên nghiệp hóa đội ngũ và nâng cao chất lượng sản xuất chương trình
Đa dạng hoá nội dung
Thời sự là một trong những mảng thông tin được khán giả quan tâm nhất hiện nay, do vậy, trong năm qua, Đài THVN đã đặc biệt chú trọng thay đổi ở mảng thời sự chính luận, nâng cao chất lượng của 15 bản tin phát sóng hàng ngày
Với các sự kiện nóng trong nước như thiên tai, bão lũ hoặc các sự kiện lớn trên thế giới, phóng viên của Ban Thời sự cũng luôn có mặt để tác nghiệp
và kịp thời truyền tin tới khán giả truyền hình
Ở các mảng nội dung khác, năm qua cũng là năm Đài THVN để lại nhiều dấu ấn khi ra mắt nhiều chương trình mới, ở nhiều mảng nội dung khác nhau như văn hoá, giải trí, khoa học, giáo dục… Đặc biệt, các chương trình dịp Tết Nguyên Đán với sự đầu tư công phu cũng để lại nhiều ấn tượng sâu sắc
Cập nhật công nghệ mới vào sản xuất phát sóng
Cùng với việc đưa Trung tâm sản xuất chương trình mới vào sử dụng, năm qua, Đài THVN cũng có được bước phát triển mới trong việc cập nhật công nghệ vào sản xuất phát sóng
Trang 36Đài THVN đã đầu tư thiết bị hiện đại, trường quay đa năng và đào tạo đội ngũ ngày càng chuyên nghiệp Tháng 6 năm 2013, Đài Truyền hình Việt Nam đã bắt đầu phát sóng kênh VTV3 chuẩn độ nét cao HD Trong tháng 9 này, kênh VTV6 cũng sẽ bắt đầu thử nghiệm phát sóng HD Thực tế, rất nhiều chương trình trong năm qua đã được sản xuất, phát sóng HD và nhận được phản hồi tích cực
Ông Phan Ngọc Tiến, Giám đốc Trung tâm Sản xuất các chương trình
Thể thao, Đài THVN cho biết: “Chúng tôi nhận được rất nhiều phản hồi từ
khán giả nhận xét Đài THVN sản xuất chương trình rất chuyên nghiệp và đẹp mắt Khi về xem lại các trận bóng trên Đài VTV3, các vận động viên nước ngoài đều tỏ ra thích thú vì chất lượng tốt”
Ứng dụng công nghệ, đáp ứng đa dạng nhu cầu
Năm qua cũng là năm đánh dấu sự thay đổi mang tính bước ngoặt của Truyền hình Cáp Việt Nam khi đơn vị này thay đổi toàn diện từ nhận diện thương hiệu, đến chất lượng chương trình
Tăng số tỉnh thành cung cấp dịch vụ lên gần 3 lần, tăng số lượng kênh phát, chất lượng nội dung, cung cấp dịch vụ truyền hình độ nét cao HD, ứng dụng xem truyền hình trên di động, cung cấp dịch vụ internet trên mạng truyền hình cáp Đài VTVnet… là những dịch vụ nổi bật
Ông Hoàng Ngọc Huấn, Tổng Giám đốc TNHH MTV Truyền hình Cáp
Việt Nam cho biết: “Một sợi dây cáp nhưng đa dịch vụ, giúp cho khán giả
giảm giá thành đầu tư và tiện lợi, giảm chi phí khi sử dụng dịch vụ”
Bên cạnh đó, bằng việc đầu tư nâng cấp hạ tầng, khán giả cũng có thể xem được truyền hình trực tuyến các kênh quảng bá và xem lại nhiều chương trình hấp dẫn trên Báo Điện tử Đài VTV News
Trang 37Thắt chặt, củng cố quan hệ quốc tế
Duy trì phát triển mối quan hệ với hàng chục tổ chức và Đài Truyền hình quốc tế, Đài THVN năm qua tiếp tục phát huy vị thế và vai trò trong việc phối hợp tổ chức truyền thông cho các sự kiện ngoại giao quốc gia hay các sự kiện mang tầm quốc tế được tổ chức tại Việt Nam
2.1.2 Vài nét về sự hình thành và phát triển của Ban khoa giáo VTV 2 – Đài truyền hình Việt Nam
Năm 1984, từ tổ Khoa Giáo trực thuộc Ban Thời Sự đã được xây dựng thành Phòng Khoa Giáo Nhiệm vụ của Phòng Khoa Giáo là sản xuất các chương trình phản ánh các họat động khoa học kỹ thuật, khoa học thường thức, các chương trình dân số và sức khoẻ, các chương trình về du lịch
Giai đoạn mới hình thành phòng Khoa Giáo (Ban Thời sự), đã bước đầu định hướng cho những chương trình Khoa học và Giáo dục Tuy lúc bấy giờ, các chương trình vẫn mang màu sắc và phong cách của thời sự, tác phẩm chủ yếu là phán ánh và nêu vấn đề Nhưng những bước đi ban đầu ấy lại vô cùng quan trọng tạo tiền đề và hướng phát triển cho các chương trình Khoa Giáo sau này
Từ khi ra đời hình hiệu quả Rôbích trên nền bảng chữ “Khoa học & Giáo
dục” thì các chương trình khoa giáo đã đi theo một định hướng rõ nét Người
xem có thể thấy rõ mục đích của chương trình khoa giáo là phổ biến kiến thức khoa học, hướng dẫn cho mọi người học và cùng làm theo Các đề tài khoa giáo đã chia ra làm bốn mảng:
+ Các chương trình Du lịch qua màn ảnh nhỏ: Giới thiệu và ca ngợi vẻ đẹp của các vùng đất khác nhau trên toàn quốc
+ Đề tài về các thành tựu khoa học trong và ngoài nước
+ Đề tài về hướng dẫn và dạy nghề thông dụng trong cuộc sống
+ Đề tài về các chính sách dân số và các biện pháp trong kế họach hoá gia đình
Trang 38- Căn cứ quyết định 52CP ngày 16/8/1993 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Đài Truyền hình Việt Nam, quyết định số 263QĐ/TC- THVN đã ghi: Ban biên tập Khoa Giáo là đơn vị thuộc Đài Truyền hình Việt Nam, có chức năng: Căn cứ vào chỉ đạo
của Tổng giám đốc để biên tập, sản xuất và khai thác các chương trình khoa học giáo dục, du lịch nhằm thông tin, giáo dục trên truyền hình, phù hợp với
đường lối, quan điểm của Đảng
Ban biên tập khoa học giáo dục có trách nhiệm và quyền hạn sau:
- Xây dựng kế họach ngắn hạn và kế họach dài hạn về định hướng tuyên truyền, giáo dục và kế họach sản xuất các thể loại sản phẩm khoa học giáo dục: + Khoa học tự nhiên
+ Khoa học xã hội
+ Các chương trình Nhà trường
+ Các chương trình dạy ngoại ngữ và khai thác
+ Các chương trình thiếu nhi và vì trẻ em
+ Các chương trình du lịch
+ Các chương trình dân số và sức khoẻ
- Trực tiếp tổ chức biên tập, sản xuất và khai thác các thể loại sản phẩm
đó
Có thể nói rằng, giai đoạn từ 1985 đến 1995, ban biên tập Khoa giáo đã luôn bám sát nhiệm vụ và luôn đi theo định hướng để hình thành một bản sắc riêng của mảng đề tài khoa học và giáo dục Khoa giáo đã không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng Các chương trình khoa giáo đã đi đúng định hướng, nội dung thiết thực, bổ ích, được các nhà khoa học cũng như toàn xã hội quan tâm
Từ ngày 1 tháng 1 năm 2002, Ban Khoa giáo nhận nhiệm vụ phát sóng
từ l0h sáng đến 24h hàng ngày Thời lượng của các chương trình phổ biến
Trang 39kiến thức được tăng từ 20 phút/01 chương trình lên 30 phút/01 chương trình Trên cơ sở khung chương trình được giao, Ban biên tập đã chỉ đạo xây dựng kế họach đề tài dựa trên nguyên tắc làm theo hệ thống, thành từng vệt chương trình mang tính khoa giáo để công chúng tiện thẹo dõi, nâng cao hiệu quả tuyên truyền; đồng thời kiên quyết chống cách làm tuỳ tiện, bị động Những chương trình 7 ngày công, nghệ, VTV trường học, Cùng với nông dân bàn cách làm giàu, Theo dòng lịch sử, Cuộc thi pháp luật, Theo dòng lịch sử, Phim tài liệu khoa giáo, Sức khoẻ và dân số và hàng loạt các chương trình phổ biến kiến thức khác đã được khán giả theo dõi và gửi thư khen ngợi
Chương trình Cùng nông dân bàn cách làm giàu đã được Nhà nước khen thưởng vì đã góp phần cùng nông dân ở những vùng kinh tế khó khăn xoá đói, giảm nghèo
Trong bức thư của Chủ tịch nước Trần Đức Lương, gửi các cán bộ,
phóng viên, kỹ thuật viên và cộng tác viên chương trình truyền hình “Cùng
với nông dân bàn cách làm giàu” ngày 26/06/2000 có đoạn viết: Tôi được biết hơn 1 năm qua, chương trình Cùng nông dân bàn cách làm giàu phát trên kênh VTV2 của Đài Truyền hình Việt Nam thật sự là việc làm hữu ích, tạo điều kiện để bà con nông dân gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với cán bộ khoa học nông nghiệp, các nhà quản lý; qua đó giới thiệu, chuyển giao các biện pháp kỹ thuật, công nghệ mới, các kinh nghiệm và mô hình làm kinh tế giỏi, cũng như cách thức làm giàu , được đông đảo bà con nông dân trong cả nước đồng tình, hưởng ứng Đây là việc làm rất đáng hoan nghênh
Chương trình Robocon đã nhiều lần liên tiếp đạt giải tại các cuộc thi Robocon quốc tế Chương trình cũng đã nhận được thư khen của Thủ tướng Chính phủ
Đến nay, về mặt tổ chức, Khoa giáo đã có 09 phòng chuyên môn và
Trang 40phòng tổng hợp:
- Phòng Khoa học xã hội
- Phòng Nhà trường
- Phòng Khai thác/chương trình nước ngoài
- Phòng Khoa học nông nghiệp
- Phòng Sức khoẻ & Dân số
- Phòng Phim Tài liệu khoa giáo
2.2 Giới thiệu về Phòng nhà trường, Chuyên mục Bổ trợ kiến thức
văn hóa trên kênh VTV 2 – Đài Truyền hình Việt Nam
2.2.1 Giới thiệu phòng nhà trường
Phòng Nhà trường - Ban Khoa giáo có tổng số 17 người trong biên chế
và hợp đồng dài hạn Phòng có đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản (100% tốt nghiệp ĐH và trên ĐH Trong đó 01 tiến sĩ, 02 thạc sĩ đảm nhiệm các chương trình dạy học và dạy ngoại ngữ trên truyền hình)
Các chương trình nổi bật nhất của Phòng là các chương trình trực tiếp về
“Tư vấn mùa thi” phục vụ các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và đại học Chương
trình đã được con em đồng bào vùng sâu, vùng xa nhiệt liệt hưởng ứng vì đã
đem lượng kiến thức quý giá phục vụ con em mình Các chương trình “Bổ trợ
kiến thức văn hoá” cũng thường xuyên cung cấp một lượng kiến thức nhất
định cho giới trẻ Thời gian tới, Phòng vẫn giữ vững những mũi chương trình
đã có và nâng cao chất lượng hơn nữa để phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của nước nhà