1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa duy vật biện chứng trong các tác phẩm bút ký triết học, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

126 34 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 914,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với nguyện vọng tìm hiểu sâu hơn chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác nói riêng, góp phần nhỏ bé của mình vào việc đấu tranh và bảo vệ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ THỊ CHÂM

CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

TRONG CÁC TÁC PHẨM: BÚT KÝ TRIẾT HỌC,

CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA

KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Thanh Hương

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Thị Thanh Hương Nội dung trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Vũ Thị Châm

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM BÚT KÝ TRIẾT HỌC, CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN 9

1.1 Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận trong giai đoạn V.I.Lênin 9

1.2 Giới thiệu khái quát về hai tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán 13

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG CÁC TÁC PHẨM: BÚT KÝ TRIẾT HỌC, CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN 21

2.1 Vấn đề vật chất và ý thức 21

2.2 Phép biện chứng 47

2.3 Vấn đề lý luận nhận thức 67

2.4 Giá trị của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hai tác phẩm đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người 100

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học

do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, V.I.Lênin là người bảo vệ và phát triển

Từ khi ra đời chủ nghĩa Mác - Lênin đã đóng góp nhiều giá trị to lớn đối với sự phát triển tư tưởng nhân loại, góp phần làm phong phú thêm các trào lưu tư tưởng, cũng như có ảnh hưởng mạnh mẽ tới những hoạt động thực tiễn của các phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới Hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đánh dấu một bước phát triển mới trong nhận thức của tư duy nhân loại trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, triết học vv Đặc biệt với tư cách là học thuyết cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi đường cho phong trào cách mạng giải phóng thuộc địa, cũng như trở thành công cụ lý luận sắc bén cho phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới thế kỷ XIX - XX và mãi về sau

Trong những năm gần đây, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trên thế giới có nhiều biến động Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

và Đông Âu đã làm cho một số người hoang mang, lo lắng, thậm chí hoài nghi, dao động, đặc biệt các nhà tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội được dịp phê phán, đả kích những tư tưởng của V.I.Lênin và cho rằng: sự phát triển của V.I.Lênin đã làm cho chủ nghĩa Mác trở nên tả khuynh cực đoan

Vậy thực chất V.I.Lênin bổ sung chủ nghĩa Mác những nội dung gì? Đáp ứng đòi hỏi nào của thực tiễn?

Với nguyện vọng tìm hiểu sâu hơn chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác nói riêng, góp phần nhỏ

bé của mình vào việc đấu tranh và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trong giai

đoạn hiện nay, tôi quyết định chọn đề tài: “Chủ nghĩa duy vật biện chứng

trong các tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là nội dung triết học được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả tìm hiểu, phân tích Đã có một số bài viết, luận văn

và các tham luận hội thảo khoa học được công bố xung quanh chủ đề này

* Những công trình nghiên cứu chung về chủ nghĩa duy vật biện chứng

Cuốn “Lịch sử phép biện chứng” Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, Dịch và hiệu đính: GS.PTS Lê Hữu Tầng, GS.PTS Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp Trong tập sách này các tác giả Liên Xô đề cập đến lịch sử phép biện chứng Trong giai đoạn Mác và Ăngghen với những tiền đề hình thành, những nội dung cơ bản của phép biện chứng Mácxít Với quá trình đó, tác giả trình bày cụ thể phép biện chứng duy vật trong một số tác phẩm cụ thể, trong đó có một phần dành cho các tác

phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

M.A.Táckhốpva với cuốn sách nhỏ “Lênin và vai trò của thực tiễn trong nhận thức (1961) đã phân tích những luận điểm thiên tài của V.I.Lênin

về vai trò của thực tiễn trong nhận thức, mà dựa trên đó V.I.Lênin đã vạch trần bản chất phản động phản khoa học của chủ nghĩa Makhơ, chủ nghĩa thực dụng và nhiều biến tướng khác của chủ nghĩa duy tâm chủ quan trong việc tách rời nhận thức khỏi thực tiễn

Với bài viết “Khái niệm thực tiễn trong lý luận nhận thức - Một số vấn

đề cần quan tâm” (tạp chí Triết học, số 4/2011, tr.40-46) hai tác giả Nguyễn

Ngọc Hà và Lê Văn Mười đã phân tích đặc điểm, các hình thức của thực tiễn

và chú trọng phân tích hai vai trò: mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn chân

lý của thực tiễn

Bài viết “Về quan điểm và tiêu chuẩn thực tiễn” (tạp chí Triết học, số

10/2007, tr.41-51), tác giả Ngô Nguyên Lương đã phân tích quá trình áp dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn đổi mới ở

Trang 6

Trung Quốc, từ đó nhấn mạnh rằng trong quá trình kiên trì và vận dụng lý luận, cần thường xuyên nghiên cứu tình hình mới, vấn đề mới, thông qua tổng kết thực tiễn mới để bổ sung, phát triển thêm lý luận, thúc đẩy sự phát triển của lý luận

Tác giả Đỗ Thị Thảo qua bài viết “Bước đầu tìm hiểu quan niệm của Ph.Ăngghen về thực tiễn” (tạp chí Khoa học Chính trị, số 3/2004, tr 26-30) đã

trình bày theo góc nhìn của một nhà nghiên cứu tác phẩm kinh điển, những quan niệm, luận điểm của Ph.Ăngghen về thực tiễn theo ba nội dung chính: Thực tiễn là gì; tác dụng của thực tiễn lao động sản xuất đối với con người và nhân loại; vai trò của thực tiễn là cơ sở, động lực và tiêu chuẩn kiểm tra nhận thức Tác giả Đỗ Thị Thảo cũng dẫn chứng quan điểm của V.I.Lênin trong

Báo cáo của ban biên tập báo “Tia lửa”, trong đó Lênin nhấn mạnh sự đồng

tình của mình với C.Mác và Ph.Ăngghen về cách hiểu thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính, mang tính lịch sử - xã hội Phân tích các luận điểm của Ph.Ăngghen, tác giả chỉ ra rằng: theo Ph.Ăngghen, “tác dụng” của thực tiễn lao động sản xuất - bộ phận cơ bản nhất của thực tiễn” là ở chỗ nó là nguồn gốc của mọi của cải, là điều kiện của sự sống của mỗi cá nhân và cả nhân loại,

là nhân tố sáng tạo ra con người Đồng thời, thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm chứng tính đúng đắn của tri thức, bác bỏ những nhận thức sai lầm

Với bài “Về tính khách quan và tính năng động của thực tiễn” (tạp chí

Triết học, số 8/2008, tr.48-52), tác giả Cao Ngạn Khởi đã phân tích nội dung của tính khách quan và tính năng động của thực tiễn, và mối quan hệ biện chứng giữa chúng Tác giả cho rằng, trong hoạt động thực tiễn, “chủ thể thực tiễn buộc phải chịu sự chế ước của tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình” [31, tr.25] Trình độ cải tạo tự nhiên, xã hội của con người ngày càng cao thì

“tính chủ thể thực tiễn của con người ngày càng cao hơn”

Trang 7

Tác giả Nguyễn Tấn Hùng với bài viết “Những quan niệm khác nhau trong lịch sử triết học về bản chất, con đường nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý” (tạp chí triết học, số 3/2006, tr.51-57) đã phân tích các quan điểm

khác nhau trong lịch sử triết học về bản chất, con đường nhận thức và tiêu chuẩn chân lý Theo đó, về bản chất của nhận thức, tựu trung có ba cách hiểu khác nhau: Quan điểm duy vật cho rằng, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan; quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng, nhận thức là sự phản ánh trạng thái chủ quan (như cảm giác, biểu tượng, xúc cảm, ), hoặc cho rằng, nhận thức có tính chất tiên nghiệm, tức có sẵn trong đầu óc con người; quan điểm duy tâm và tôn giáo cho rằng, tri thức có bản chất siêu tự nhiên, con người có thể có được tri thức là nhờ sự hồi tưởng, sự hòa nhập, sự đốn ngộ, sự mặc khải, niềm tin Từ các cách hiểu khác nhau về bản chất của nhận thức,

hình thành những quan niệm khác nhau về con đường nhận thức, và cùng với

đó là vấn đề tiêu chuẩn chân lý Tác giả đã khảo sát vấn đề trên ở các thời kỳ lịch sử triết học: cổ đại, trung đại (quan điểm Do thái - Kitô, Hồi giáo, ), cận đại và cả hiện đại (chủ nghĩa thực chứng mới, chủ nghĩa duy lý phê phán )

Từ đó, tác giả khẳng định vai trò đứng đắn của lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin

Với mục đích có được tầm nhìn tổng quan về tiêu chuẩn chân lý trong lịch sử triết học, tác giả Nguyễn Tấn Hùng có bài “Vấn đề tiêu chuẩn của chân lý trong lịch sử triết học” (tạp chí Triết học, số 4/2002, tr.51-57) phân

tích các quan niệm khác nhau về tiêu chuẩn của chân lý trong lịch sử Tất cả những quan niệm (phi mácxit) khác nhau về tiêu chuẩn của chân lý có thể chia thành bốn nhóm: Một là, quan điểm tôn giáo, thần học lấy niềm tin làm tiêu chuẩn của chân lý, ví dụ như Tômát Đacanh Hai là, quan niệm của các nhà triết học duy lý, lấy lý tính, lôgic làm chuẩn mực của tất cả chẳng hạn như Đềcáctơ khẳng định tiêu chuẩn của chân lý là tính rõ ràng của tư tưởng, một

Trang 8

tư tưởng nào đó là chân lý khi nó rõ ràng, mạch lạc, không gây ra bất kỳ sự nghi ngờ nào - có nghĩa là tính lôgic của tư tưởng Ba là, quan niệm của các nhà triết học lấy sự quan sát, kinh nghiệm cảm tính và thực nghiệm khoa học làm tiêu chuẩn của chân lý, điển hình là chủ nghĩa thực chứng lôgic và chủ nghĩa kinh nghiệm lôgic Bốn là, quan niệm của các nhà triết học thực dụng,

ví như: C.S.Piếcxơ, U.Giêmxơ, G.Điuây lấy lợi ích, hiệu quả thực tế làm tiêu chuẩn của chân lý Sau khi phân tích đặc điểm và hạn chế của chúng, tác giả Nguyễn Tấn Hùng khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò tiêu chuẩn chân lý của thực tiễn

Luận văn “Bước đầu tìm hiểu lý nhận thức trong triết học của I.Kant,

và G.V.F.Hêghen” (2010) của tác giả Đinh Thị Phượng đã phân tích quá trình

nhận thức trong quan điểm nhận thức luận của I.Kant và G.V.F.Hêghen, chỉ

ra những hạn chế và những đóng góp của lý luận nhận thức của I.Kant và G.V.F.Hêghen đối với lý luận nhận thức của C.Mác

* Những công trình nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng

trong tác phẩm C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin

Cuốn “Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác - Ph.Ănghen, V.LLênin” do Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch (2003) đồng chủ biên, đã giới

thiệu một cách đầy đủ về bối cảnh ra đời và những nội dung chính yếu của các tác phẩm C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin Trong đó có giới thiệu một số nội dung về chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trong cuốn sách “Tác phẩm kinh điển Lênin về triết học” của Khoa

Triết học, trường Học viện Báo chí và Tuyên tuyền, (giáo trình), Hà Nội,

2012 đã giới thiệu khái quát những nội dung cơ bản trong các tác phẩm: Bút

ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Gần đây nhất có thêm công trình nghiên cứu “Phép biện chứng trong một số tác phẩm kinh điển chủ yếu của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin”, TS

Trang 9

Bùi Thị Thanh Hương - Trần Văn Giảng HN, (2013), đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Báo chí và Tuyên tuyền Trong cuốn sách này tác giả

đề cập đến lịch sử phép biện chứng, nội dung cơ bản của phép biện chứng

trong một số tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin, đồng thời tác giả

cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan của việc phát triển phép biện chứng duy vật trong giai đoạn Lênin

* Những công trình trực tiếp nghiên cứu riêng về hai tác phẩm:

Số lượng tài liệu viết về tác phẩm không nhiều Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:

Các tác giả cuốn “Sức sống của một tác phẩm triết học”, Nguyễn Trọng

Chuẩn và Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên, 2000), đã phân tích sâu sắc bối cảnh ra đời, phân tích những nội dung của các mảng vấn đề cơ bản (phương

pháp luận, lý luận nhận thức, ý nghĩa lịch sử triết học) trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Tác giả Phạm Văn Chung với bài viết “Phạm trù vật chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phế phán” và tác giả Nguyễn Huy Canh với bài “Bàn về phạm trù vật chất của V.I.Lênin” đã phân tích về định nghĩa vật chất của V.I.Lênin trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chỉ ra những

đóng góp và hạn chế của V.I.Lênin về định nghĩa này

Bài viết “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” - một mẫu mực về sự bảo vệ và phát triển sáng tạo triết học Mác của PGS.TS

Đặng Hữu Toàn đăng trên tạp chí triết học số 5, (1988) đã nêu ra bối cảnh lịch

sử ra đời tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

đồng thời phân tích đánh giá các quan niệm của V.I.Lênin trong tác phẩm Khẳng định tác phẩm này của V.I.Lênin có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển triết học Mác

Trang 10

Những công trình nghiên cứu trên đã khai thác và tìm hiểu về vấn đề chủ nghĩa duy vật biện chứng trên nhiều khía cạnh khác nhau và đã đặt được nhiều thành tựu nhất định Song, các công trình bài viết đó chỉ đi sâu tìm hiểu

và phân tích một cách khái quát các vấn đề: lịch sử phép biện chứng, lý luận nhận thức nói chung, phạm trù vật chất, phép biện chứng duy vật….chưa có

sự nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện về chủ nghĩa duy vật biện chứng trong giai đoạn V.I.Lênin thông qua các tác phẩm chủ yếu của ông Do

đó “Chủ nghĩa duy vật biện chứng trong các tác phẩm: Bút ký triết học,

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” vẫn cần tiếp tục

nghiên cứu nhằm làm rõ những đóng góp to lớn của V.I.Lênin đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng và ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với sự phát triển triết học nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu và đánh giá giá trị

những nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hai tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, qua đó thấy

được tính tất yếu của việc bảo vệ và phát triển triết học Mác trong giai đoạn V.I.Lênin và trong quá trình phát triển xã hội hiện nay

- Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

+ Thứ nhất, phân tích cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận trong giai

đoạn V.I.Lênin

+ Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện

chứng trong hai tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

+ Thứ ba, đánh giá ý nghĩa của những nội dung trên đối với sự phát triển nhận thức và hoạt động thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hai tác phẩm: Bút ký triết học,

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin

Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Phương pháp nghiên cứu chung: Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy

vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời, vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: logic và lịch sử, phân tích

và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, khái quát hóa,…

6 Đóng góp mới của luận văn

Đóng góp mới của luận văn là tìm hiểu những nội dung của chủ nghĩa

duy vật biện chứng thông qua phân tích các tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Từ đó, góp phần làm rõ

tính tất yếu của việc bảo vệ và phát triển triết học Mác trong giai đoạn Lênin Đánh giá ý nghĩa của những tư tưởng đó đối với sự phát triển nhận thức và hoạt động thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành 2 chương, 6 tiết

Trang 12

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM BÚT KÝ TRIẾT HỌC,

CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN

1.1 Cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận trong giai đoạn V.I.Lênin

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

Cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Sự tiếp tục phát triển của chủ nghĩa tư bản làm trầm trọng thêm mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Việc chủ nghĩa tư bản xâm chiếm thuộc địa khiến trên thế giới xuất hiện những mâu thuẫn mới sâu sắc Cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ngày càng lan rộng

Ở nước Nga, chế độ quân chủ chuyên chính Nga hoàng chiếm giữ mọi đặc quyền về chính trị và đặc lợi về kinh tế, mặc dù vậy, sau cải cách nông nô

1861, nước Nga vẫn chuyển mình sang phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, ở trình độ một nước tư bản trung bình Những quan hệ tư bản chủ nghĩa đan xen với quan hệ phong kiến già nua lạc hậu nhất khiến cho Nga trở thành nơi hội

tụ cao độ những mâu thuẫn của thời đại, nước Nga trở thành trung tâm cách mạng của Châu Âu Sự biến đổi tình hình thực tiễn thế giới nói chung và nước Nga nói riêng đòi hỏi triết học Mác phải có sự bổ sung và phát triển

Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đưa tới cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học Những phát minh mới như tìm ra điện tử, chứng minh cấu tạo của nguyên tử, phát hiện ra tia X, tia phóng xạ kế tiếp nhau ra đời Với những thành tựu to lớn

đó, con người không chỉ khám phá, nhận thức thế giới vĩ mô mà còn đi sâu

Trang 13

nhận thức thế giới vi mô, đồng thời đã làm đảo lộn cơ bản những quan niệm

đã có trong vật lý cổ điển, dẫn tới cuộc “khủng hoảng vật lý”, làm cho một số nhà khoa học hoang mang, dao động, mất phương hướng Điều đó đòi hỏi sự khái quát về mặt triết học những thành tựu khoa học đương thời, trả lời những câu hỏi mà thời đại đặt ra

Các trường phái triết học hiện có, cả duy tâm và duy vật siêu hình không đưa ra được câu trả lời đúng đắn cho những câu hỏi đó, nhiều nhà triết học quay sang nghi ngờ chủ nghĩa Mác; chủ nghĩa duy tâm lợi dụng tấn công

dữ dội vào triết học duy vật V.I.Lênin, dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và phát triển trong điều kiện lịch sử mới, đã giải quyết nhiệm vụ nói trên V.I.Lênin đã tiến hành cuộc đấu tranh để bảo vệ triết học Mác khỏi sự tấn công của bọn phản động trong lĩnh vực tư tưởng và triết học

Trên lĩnh vực tư tưởng, trước ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ của học thuyết Mác trong phong trào công nhân và xã hội, các thế lực bảo thủ và phản động đã tấn công điên cuồng vào chủ nghĩa Mác từ mọi phía Thời kỳ này xuất hiện và được phổ biến khá rộng rãi các khuynh hướng duy tâm chủ nghĩa phản động như chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa Makhơ, những người cơ hội trong Quốc tế II, chủ nghĩa xét lại Đội lốt “đổi mới” chủ nghĩa Mác, các học thuyết này đều tìm cách xuyên tạc và bác bỏ những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng; mượn chiêu bài “bảo vệ chủ nghĩa Mác” nhưng thực chất là mưu đồ thay thế chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác bằng các biến dạng của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Những người mensêvích, những người Nga theo chủ nghĩa Makhơ, những người cơ hội chủ nghĩa của quốc tế II cố gắng chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác không có triết học của mình, định hợp nhất chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Kant mới Để chống lại tất cả các trào lưu thù địch đó, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác, bảo vệ những nguyên

Trang 14

tắc lý luận của Đảng mácxít chân chính, V.I.Lênin đã viết nhiều tác phẩm,

trong đó có: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Và ông đã không những bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác mà còn phát

triển một cách toàn diện chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng

1.1.2 Nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận giai đoạn V.I.Lênin

Các thế lực phản cách mạng đã làm tất cả những gì có thể làm được để bôi nhọ giai cấp công nhân và đảng của nó, phá bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác V.I.Lênin nhận định về tình hình trong nước khi đó như sau: “Có tình trạng thoái chí, mất tinh thần, phân liệt, chạy dài, từ bỏ lập trường, nói chuyện dâm bôn chứ không phải chính trị nữa Xu hướng ngày càng ngả về triết học duy tâm; chủ nghĩa thần bí được dùng để che đậy tinh thần phản cách mạng” [34, tr.VIII] Trong văn học và nghệ thuật người ta tán dương sự sùng bái chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng phi chính trị, “nghệ thuật thuần túy”, từ bỏ truyền thống dân chủ - cách mạng của tư tưởng xã hội Nga Trong triết học, ngoài những kẻ thù công khai chống giai cấp vô sản và đảng của giai cấp vô sản (V.V.Lêxêvích, V.M.Tsécnốp, ) còn có một nhóm trí thức dân chủ - xã hội tuyên truyền chủ nghĩa Makhơ, nhóm này gồm cả các phần tử Mensêvích như N.Valentinốp, P.X.Iuskêvích, lẫn những người theo phái Bônsêvích như A.Bôgđanốp, A.V.Lunatsácxki, những người đã dùng chủ nghĩa Makhơ để xét lại chủ nghĩa duy vật biện chứng Lợi dụng những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, các triết gia tư sản tìm mọi cách để đả phá quan niệm vật chất, bác bỏ chủ nghĩa duy vật, xuyên tạc phép biện chứng

và lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin Những quan điểm triết học

xã hội của chủ nghĩa Mác - chủ nghĩa duy vật lịch sử với cách tiếp cận xã hội theo lát cắt hình thái kinh tế - xã hội; những quan điểm về đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.v.v được trình

Trang 15

bày lại hoặc che đậy “để chủ nghĩa Mác phù hợp với hiện tại”, hoặc thẳng thắn bác bỏ, phủ nhận tính chất cách mạng của nó

Bôgđanốp và đồng bọn không những đòi xét lại những nguyên lý triết học mà còn đòi xét lại cả những nguyên tắc sách lược của đảng vô sản, bảo vệ sách lược bè phái của “chủ nghĩa triệu hồi”, không sử dụng khả năng hợp pháp trong đấu tranh chính trị A.V.Lunatsácxki còn mưu toan biến chủ nghĩa

xã hội thành một dạng tôn giáo mới (“thuyết tạo thần”) để “gần gũi hơn và dễ hiểu hơn” với nhân dân Nga Trong đời sống tinh thần khi ấy “xuất hiện đủ các luồng tư tưởng tôn giáo khoác những luận điệu giả danh khoa học Tất cả các ngài ấy, dù khác nhau một cách sâu sắc, đều theo đuổi một mục đích chung: đánh lạc quần chúng khỏi cách mạng” [64, tr.136], tước bỏ “vũ khí tư tưởng” của giai cấp vô sản

Các thế lực phản động trong lĩnh vực tư tưởng, khi ấy, núp dưới chiêu bài “phê phán”, “cải tạo”, “bổ sung” ngấm ngầm phá hoại những nguyên tắc

lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác Họ tìm mọi cách lập luận nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản, phủ nhận chuyên chính vô sản, phủ nhận cách mạng xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin gọi đó là những phần

tử “xét lại” Bóc trần thủ đoạn của họ, V.I.Lênin viết:

Giả mạo chủ nghĩa Mác một cách ngày càng tinh vi, dùng các học thuyết phản duy vật để giả làm chủ nghĩa Mác một cách ngày càng tinh vi, đó là đặc điểm của chủ nghĩa xét lại hiện đại trong kinh tế chính trị học cũng như trong các vấn đề sách lược và triết học nói chung, trong nhận thức luận cũng như trong xã hội học [34, tr.409] G.V.Plêkhanốp - người có công đầu tiên tuyên truyền chủ nghĩa Mác vào Nga, cũng đã lên tiếng chống lại việc dùng chủ nghĩa Makhơ xét lại chủ nghĩa Mác Nhưng sự phê phán của Plêkhanốp đối với chủ nghĩa Makhơ rất hạn chế: bỏ qua mối liên hệ giữa chủ nghĩa Makhơ với cuộc khủng hoảng

Trang 16

trong khoa học tự nhiên; đã mắc nhiều sai lầm trong khi trình bày chủ nghĩa duy vật biện chứng, vì đứng trên lập trường Mensêvích bè phái “toan tính tìm kiếm mối liên hệ giữa chủ nghĩa Makhơ và chủ nghĩa Bônsêvích” nên đã làm hại nhiều cho sự nghiệp bảo vệ lý luận mácxít chống lại chủ nghĩa xét lại Nhiệm vụ cấp bách đặt ra là: giáng cho bọn “phản bội” (giả danh lý luận của chủ nghĩa Mác nhưng thực chất là xuyên tạc) những “đòn” lý luận xứng

đáng, lột “mặt nạ”, tố cáo chúng đến cùng để bảo vệ những cơ sở lý luận của

chủ nghĩa Mác - ngọn cờ lý luận của Đảng vô sản Plêkhanôp và phái Mensêvích không thể phê phán một cách triệt để các quan niệm “xét lại” thuộc

đủ mọi trường phái, ngoài vài bài báo có tính “phê phán” một cách hời hợt

Chỉ có và chính V.I.Lênin đã làm tròn nhiệm vụ này

1.2 Giới thiệu khái quát về hai tác phẩm: Bút ký triết học, Chủ

nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Tác phẩm Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán ra đời trong điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội vào cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX, như đã phân tích ở phần trên, đồng thời cùng với hoàn cảnh chung đó, mỗi tác phẩm đều được viết trong những điều kiện cụ thể

1.2.1 Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán được

V.I.Lênin viết trong khoảng thời gian từ tháng hai đến tháng mười năm 1908, được in thành sách năm 1909

V.I.Lênin viết tác phẩm này trong hoàn cảnh nước Nga sau thất bại của cuộc cách mạng dân chủ tư sản năm 1905- 1907 Chính phủ chuyên chế Nga hoàng phản động thẳng tay đàn áp các nhà cách mạng, tước đoạt mọi thành quả mà cuộc cách mạng thu được Họ đã tấn công phong trào cách mạng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế lẫn tư tưởng

Trước sự thoái trào của cách mạng, một số phần tử trí thức là đảng viên đảng dân chủ xã hội, và một số người trong giai cấp tư sản vốn là đồng minh

Trang 17

của cách mạng đã chao đảo, rời bỏ hàng ngũ cách mạng đi theo chế độ chuyên chế Nga hoàng Phái Men-sê-vích thì sa sút tinh thần, hoảng sợ Từ đó dấy lên phong trào chống đảng, đòi thủ tiêu đảng, thủ tiêu đấu tranh chính trị , xuất hiện trào lưu cơ hội, thoả hiệp với chế độ phản động, chống lại phong trào cách mạng

Trong lĩnh vực tư tưởng, văn học nghệ thuật, người ta tán dương sựsùng bái chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng phi chính trị, “nghệ thuật thuần tuý”, từ bỏ những tư tưởng dân chủ cách mạng có tính chất truyền thống của nước Nga

Đứng trước cuộc tấn công như vậy của thế lực phản cách mạng, việc giữ vững tinh thần và niềm tin cách mạng của quần chúng, phê phán thế giới quan phản động của bọn cơ hội, bảo vệ triết học mác xít trở thành một nhiệm

vụ hết sức quan trọng và cấp bách

Với tác phẩm này, V.I.Lênin đã thực hiện thành công nhiệm vụ đó, V.I.Lênin đã đập tan những luận điệu của những người xét lại, bảo vệ và phát triển triết học Mác trong điều kiện mới

Ngoài những lý do trên, V.I.Lênin viết tác phẩm này còn do sự phát triển

có tính cách mạng của khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XX Với những thành tựu hết sức to lớn, con người không chỉ khám phá, nhận thức thế giới vĩ mô mà còn

đi sâu nhận thức thế giới vi mô Nhiều quan điểm mới về thế giới tự nhiên, về thế giới vật chất buộc triết học phải khái quát, phải giải đáp Trong tác phẩm, V.I.Lênin đã khái quát những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, vạch ra phương pháp thoát khỏi sự khủng hoảng trong khoa học tự nhiên V.I.Lênin đã phê phán chủ nghĩa Makhơ, chủ nghĩa duy tâm về vật lý và làm giàu thêm triết học mác xít trên tất cả các lĩnh vực từ thế giới quan, nhận thức luận, những quan điểm về xã hội , đem đến cho triết học mác xít một diện mạo mới

Tính đến lần xuất bản thứ nhất (5/1909), ngoài phần lời tựa, phần thay lời mở đầu và phần kết luận, tác phẩm gồm 6 chương với 39 mục (tiết)

Trang 18

Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán đã đặt

ra và giải quyết cụ thể hàng loạt vấn đề triết học quan trọng Tác phẩm ra đời

đã đặt nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ chủ nghĩa duy vật, phát triển lý luận duy vật biện chứng về nhận thức V.I.Lênin phê phán quan điểm sai lầm về nhận thức thế giới vật chất, đưa ra định nghĩa kinh điển về vật chất Khi bảo vệ và phát triển lý luận phản ánh, V.I.Lênin đã đấu tranh chống quan điểm của những người theo chủ nghĩa Makhơ đồng nhất cảm giác với sự vật kiểu Béccơli và Hium, cũng như sự tách rời tuyệt đối cảm giác và sự vật kiểu Kant đi tới phủ nhận khả năng của con người có thể nhận thức đúng đắn sự vật khách quan

Trong tác phẩm, sự phân tích của V.I.Lênin về thực chất cuộc khủng hoảng trong vật lý học cũng làm sâu sắc thêm lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng Theo V.I.Lênin, để thoát khỏi cuộc khủng hoảng vật lý, phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng Cũng trong tác phẩm V.I.Lênin phê phán những người theo chủ nghĩa Makhơ ở Nga muốn đồng nhất chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Makhơ, xóa nhòa, thủ tiêu cuộc đấu tranh giữa các đảng phái trong triết học, thay lý luận khoa học về sự phát triển lịch sử bằng những quan điểm duy tâm chủ quan

Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán là tác

phẩm kinh điển của giai đoạn V.I.Lênin trong quá trình phát triển triết học mác xít Tác phẩm trang bị cho những người mác xít nền tảng lý luận khoa

học, giúp định hướng thế giới quan và phương pháp luận trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

Tác phẩm đã phê phán chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa Makhơ ở Nga, qua đó củng cố lập trường duy vật và niềm tin vào cách mạng Nga, mặt khác đem đến cho chúng ta phương pháp đánh giá một học thuyết, một trào lưu của triết học hiện đại

Tiếp theo Biện chứng tự nhiên của Ph.Ăngghen, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán làm rõ mối quan hệ giữa triết học và khoa

Trang 19

học tự nhiên Những phân tích của V.I.Lênin về sự khủng hoảng thế giới quan trong vật lý, về sự ra đời của chủ nghĩa duy tâm vật lý và hướng khắc phục sự khủng hoảng ấy có tác dụng định hướng đối với các nhà khoa học tự nhiên và

sự phát triển của khoa học tự nhiên nói chung

Tác phẩm cũng góp phần đập tan quan điểm của chủ nghĩa cơ hội trong Quốc tế II, là một mẫu mực của sự kết hợp giữa tính đảng và tính khoa học trong việc xem xét các sự vật hiện tượng, quá trình diễn ra trên thế giới, trong

đời sống xã hội Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán có tác

dụng quyết định đến quá trình khẳng định vị trí của chủ nghĩa duy vật trong

sự phát triển triết học cũng như sự phát triển tinh thần của xã hội

1.2.2 Tác phẩm Bút ký triết học

Bút ký triết học thực chất là những tài liệu nghiên cứu về triết học được

tập hợp từ 10 cuốn vở ghi chép của V.I.Lênin từ năm 1895 đến năm 1916, tập trung nhất là từ 1914 đến 1916, khi ông đọc những tác phẩm triết học và khoa học tự nhiên nhằm phát triển triết học Mác

Sự ra đời của tác phẩm Bút ký triết học là một tất yếu lịch sử Trong

tình hình thế giới vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản bước

sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao, mâu thuẫn gay gắt với phương thức chiếm hữu

tư nhân tư bản chủ nghĩa, biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càng sâu sắc

Mặt khác, những mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp tư sản, giữa các nước

tư bản cũng diễn ra gay gắt hơn do cạnh tranh, tranh chấp thị trường Sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản thế giới bộc lộ ngày càng rõ hơn Quy

mô thị trường không đáp ứng yêu cầu phát triển của sản xuất, nhất là các nước

tư bản phát triển sau, do đó phải xâm chiếm nước khác Chế độ thuộc địa ngày càng mở rộng, dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và các nước thuộc địa, làm dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc

Trang 20

Có thể nói đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp diễn ra cực kỳ sâu sắc, trung tâm là cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa các nước thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc Thêm vào đó, cuộc tranh giành, chia sẻ thị trường dẫn đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất chia lại thị trường Cuộc đấu tranh giai cấp tăng lên dẫn đến sự chín muồi của cách mạng vô sản, đặt ra cho những người cộng sản phải có chiến lược, sách lược đúng đắn để đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi Cơ sở để có chiến lược, sách lược đúng đắn là phải nhận thức đúng quy luật phát triển của lịch sử, với phương pháp tư duy biện chứng

Thêm vào đó trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sau khi Ph.Ăngghen mất, những người cơ hội dần dần chiếm ưu thế trong Quốc tế II

Sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra những tiền đề xã hội cho chủ nghĩa cơ hội tồn tại và phát triển

Cuối thế kỷ XIX, các đảng trong Quốc tế II dần dần thành các đảng cải lương và hình thành hai xu hướng: một số nhà lý luận giải thích chủ nghĩa Mác theo xu hướng duy kinh tế, thậm chí là xu hướng duy vật tầm thường; một bộ phận đông đảo hơn chủ trương xét lại chủ nghĩa Mác, chủ trương cải lương trong các biện pháp đấu tranh Điển hình là Béc-xtanh (1850- 1932) công khai tuyên bố học thuyết Mác đã lỗi thời, chứng minh mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản đã không còn gay gắt, bênh vực chủ nghĩa đế quốc; ngoài

ra Cau-xky bác bỏ đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản; Van-côn, Phôn-ma cho rằng chế độ thuộc địa là hợp lý.v.v

Tóm lại, các lãnh tụ cơ hội của Quốc tế II đều phủ nhận chuyên chính

vô sản, phủ nhận liên minh công nông, phủ nhận tư tưởng chuyển cách mạng dân tộc dân chủ thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền thuyết “hòa bình giai cấp”, sửa đổi chủ nghĩa Mác trên nhiều nội dung căn bản

Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, các phần tử cơ hội này đã công khai đứng về phía giai cấp tư sản nước mình, ủng hộ chiến tranh đế

Trang 21

quốc Những thái độ đó đều là hệ quả tất yếu của phương pháp tư duy siêu hình - phương pháp tư duy không cho phép dõi theo được sự vận động phức tạp của thực tế và do đó không phát hiện đúng các quy luật khách quan của sự vận động lịch sử

Trong nội bộ phong trào công nhân Nga diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt

về lý luận giữa hai khuynh hướng “tả khuynh” và “hữu khuynh” Khuynh hướng tả nhấn mạnh bạo lực chính trị; khuynh hướng hữu tìm kiếm phương pháp ôn hòa, cải lương, thỏa hiệp Cả hai khuynh hướng đều giải thích sai lạc bản chất của phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử, truyền bá các phương pháp giải quyết tình hình chính trị khác nhau, hoặc theo hướng điều hòa mâu thuẫn giai cấp, hoặc chủ quan duy ý chí, lý giải một cách duy tâm diễn biến của quá trình lịch sử

Tình hình đó đòi hỏi những người mác xít phải tỉnh táo phân tích, đánh giá một cách khoa học vấn đề, nắm bắt nhanh và đúng các khuynh hướng vận động xã hội Do đó, cần phải phát triển phép biện chứng duy vật, làm nó trở thành công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới Với mục đích đó, V.I.Lênin đã nghiên cứu lại toàn bộ tư tưởng biện chứng của loài người từ thời cổ đại đến thế kỷ XIX, nhằm phát triển phép biện chứng duy vật, qua đó trang bị tư duy biện chứng cho giai cấp vô sản và những người cách mạng, giúp họ có phương pháp luận đúng đắn trong nhận thức, đánh giá tình hình thực tế để có chiến lược, sách lược cách mạng đúng đắn, nhằm đưa cách mạng Nga và cách mạng thế giới đi đến thành công

Tác phẩm Bút ký triết học được chia làm ba phần:

Phần I: gồm 9 bản tóm tắt các tác phẩm triết học Arítxtốt, Ph.Hêghen,

L.Phoiơbắc, C.Mác, Ph.Ăngghen, Látxan và những người khác Trong đó, có

hai đoạn trích sơ thảo rất quan trọng là Dàn mục của phép biện chứng (Lôgic của Hêghen) và bài viết về vấn đề phép biện chứng

Trang 22

Phần II: gồm những ghi chú về các sách, các bài báo và các bài phê

bình từ 1903 đến 1916

Phần III: gồm những ý kiến và bút tích ghi trong các sách từ 1908 đến 1911

Đây là tác phẩm triết học lớn được viết vào thời kỳ những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã trở nên gay gắt cực độ và cuộc khủng hoảng cách mạng mới đang chín muồi Vấn đề phép biện chứng là tư tưởng trung tâm của tác phẩm

Trong tác phẩm V.I.Lênin phân tích sâu sắc tư tưởng coi phép biện chứng như là khoa học về sự phát triển Trong thời kỳ phát triển mới của khoa học đầu thế kỷ XX, vấn đề đặt ra đối với phép biện chứng, theo V.I.Lênin không phải là thừa nhận hay không thừa nhận phát triển mà là vấn đề hiểu thế nào là phát triển, hiểu thế nào về nguồn gốc và động lực của phát triển

Những mẫu mực về sự nghiên cứu các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật; nguyên tắc về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgic học và lý luận nhận thức, về nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm, về lịch sử triết học v.v… là những cống hiến vô giá vào kho tàng triết học Mác

Mặc dù chưa phải là một tác phẩm hoàn chỉnh nhưng Bút ký triết học có

vai trò rất quan trọng trong việc góp phần phát triển phép biện chứng duy vật

và nhiều nội dung triết học quan trọng khác

Bút ký triết học cũng là tác phẩm tiêu biểu cho tinh thần khoa học và

cách mạng, thể hiện thái độ đúng đắn, khách quan trong việc xem xét, đánh giá, phê phán và kế thừa những di sản tư tưởng triết học trong lịch sử

Những tư tưởng cơ bản của Bút ký triết học có liên hệ chặt chẽ với thực

tiễn cách mạng và hoạt động lý luận của V.I.Lênin và đảng Bôn-sê-vích Nga trong cuộc đấu tranh chống những người cơ hội về chính trị Có thể khẳng

định Bút ký triết học là tấm gương cho những nhà mác xít chân chính phải biết

vận dụng những nguyên lý triết học để nhận thức và giải quyết một cách sáng tạo, khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra hiện nay

Trang 23

Tiểu kết Chương 1

Trong chương 1 trình bày khái quát chung về các tác phẩm: Bút ký triết

học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Về điều kiện

kinh tế - chính trị - xã hội, tác giả tập trung phân tích một số đặc điểm nổi bật vào cuối thế kỷ XIX đầu XX của Châu Âu nói chung và của nước Nga nói riêng Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học thời kỳ này đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng về thế giới quan bởi sự trỗi dậy mạnh

mẽ chủ nghĩa duy tâm vật lý học Nhiều nhà khoa học đứng đầu trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang mang, dao động và hoài nghi tính chất đúng đắn của chủ nghĩa duy vật Họ phụ họa với các nhà duy tâm rằng

“vật chất đã tiêu tan” Lợi dụng cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật

lý học, những người theo chủ nghĩa Makhơ đã phê phán và đòi xét lại những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Để đẩy lùi cuộc khủng hoảng thế giới quan của các nhà vật lý, chống lại mọi sự xét lại, mọi sự phủ định và bài trừ chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng; chống lại quan điểm duy tâm, siêu hình nhằm bảo vệ phát triển triết học duy vật biện chứng trong giai đoạn có nhiều phát minh khoa học làm đảo lộn những nhận thức cũ V.I.Lênin

đã viết một loạt tác phẩm triết học quan trọng, trong đó có hai tác phẩm nổi

tiếng: Bút ký triết học, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán

Hai tác phẩm chứa đựng những nội dung quan trọng, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Trang 24

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT

BIỆN CHỨNG TRONG CÁC TÁC PHẨM: BÚT KÝ TRIẾT HỌC,

CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA KINH NGHIỆM PHÊ PHÁN

Trong cả hai tác phẩm, cho dù được trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nội dung khác, nhưng những nội dung về vấn đề vật chất và ý thức, lý luận nhận thức, phép biện chứng đã được V.I.Lênin phát triển một cách toàn diện và sâu sắc

2.1 Vấn đề vật chất và ý thức

2.1.1 Quan niệm của V.I.Lênin về khái niệm vật chất

Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan niệm

về vật chất vẫn là một tâm điểm, ở giai đoạn này vấn đề vật chất lại trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết trước những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời

Cho đến lúc này bằng những nỗ lực tìm tòi, khám phá cũng như đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm đủ mọi sắc thái, các triết gia duy vật đã xác lập được quan niệm được xem là thuyết phục nhất đương thời về vật chất: vật chất là những phần tử nhỏ bé nhất (nguyên tử), vững chắc nhất, không thể phân chia, những hạt vật chất đó là cái cấu tạo nên toàn bộ thế giới, nguyên tử

là viên gạch nhỏ nhất cuối cùng xây dựng nên tòa lâu đài thế giới vật chất Tuyệt đại đa số các nhà triết học, khoa học tự nhiên đều “đinh ninh” với cách hiểu về vật chất phổ biến đó

C.Mác và Ph.Ăngghen cùng với kế thừa những giá trị tích cực, đồng thời vạch ra những hạn chế trong quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước đó Các ông đã tổng kết những thành tựu của khoa học hiện đại, khái quát những quan niệm duy vật biện chứng về vật chất Các ông khẳng định quan niệm về sự đối lập giữa “vật chất” và “ý thức”, về tính thống nhất vật chất thế giới, về những dạng tồn tại cụ thể của nó

Trang 25

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, vật chất tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức, nhấn mạnh rằng cần phân biệt tồn tại khách quan của vật chất và khái niệm về “vật chất” “Vật chất” với tư cách là một phạm trù triết học không tồn tại cảm tính Khác với các đối tượng vật chất cụ thể Những từ như “vật chất” và “vận động” chỉ là những sự tóm tắt, trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung của chúng rất nhiều sự vật khác nhau có thể cảm biết được bằng các giác quan [44, tr.727] Ph.Ăngghen phê phán quan điểm đem quy vật chất về nguyên tử, về những hạt đồng nhất, hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về số lượng Ông coi quan niệm đó là siêu hình, mang tính cơ giới Qua đó, ông nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính không thể sáng tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất và các hình thức tồn tại của nó là vận động, không gian và thời gian

Tuy C.Mác và Ph.Ăngghen chưa đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh về “vật chất”, nhưng những tư tưởng về “vật chất” của các ông đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của khoa học thời bấy giờ Nó là cơ sở trực tiếp để V.I.Lênin phát triển học thuyết duy vật biện chứng về “vật chất” sau này

Cuối thể kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, những phát minh mới trong khoa học tự nhiên khiến con người có những hiểu biết căn bản hơn, sâu sắc hơn về nguyên tử Một loạt phát minh quan trọng đó đã đem lại cho con người những hiểu biết mới về cấu trúc và tính chất của vật chất trong lĩnh vực vi mô Năm

1895, Rơnghen đã phát hiện ra tia X có nguồn gốc từ nguyên tử Năm 1896, Béccơren đã phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Uranium có nguyên nhân bên trong là do tính không bền vững của nguyên tử gây ra, đã bác bỏ quan niệm về sự bất biến của nguyên tử Năm 1897, Tômsơn phát hiện

ra điện tử và chứng minh được điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Nhờ phát minh này, lần đầu tiên trong khoa học sự tồn tại hiện

Trang 26

thực của nguyên tử được chứng minh bằng thực nghiệm Năm 1901, Kaufman

đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh,

mà là khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử Những phát hiện

đó là bước tiến mới của loài người trong việc nhận thức và làm chủ giới tự nhiên, nó bác bỏ quan niệm siêu hình về vật chất Những quan niệm đương thời về giới hạn tột cùng của vật chất là nguyên tử đã sụp đổ trước khoa học

Tất cả những phát minh ấy đã chứng tỏ rằng nguyên tử có cấu trúc phức tạp và có thể bị chia nhỏ và chuyển hóa Điều đó đã gây ra một cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong các nhà triết học và khoa học tự nhiên, khiến cho các nhà khoa học “giỏi khoa học nhưng kém về triết học” đã chuyển từ chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc sang chủ nghĩa tương đối, hoài nghi và cuối cùng rơi vào quan điểm của chủ nghĩa duy tâm rằng “vật chất đã tiêu tan” Lợi dụng cơ hội này, các nhà triết học duy tâm cho rằng chủ nghĩa duy vật dựa trên nền tảng vật chất tiêu tan cũng phải bị biến mất theo

Họ đẩy mạnh cuộc tấn công vào chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (hay chủ nghĩa Makhơ) xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX ở Đức và Áo, với hai đại biểu điển hình là Avênariút (Đức) và Makhơ (Áo), đây là một lý luận duy tâm chủ quan, ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa Mác

Bằng những cách lập luận khác nhau, sử dụng những thuật ngữ mới có

vẻ khoa học, hiện đại, chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán đã ra sức bác bỏ chủ nghĩa duy vật biện chứng, trước hết là những vấn đề cơ bản, trong đó họ tập trung đưa ra những quan niệm mới với ý đồ thay thế khái niệm vật chất của chủ nghĩa Mác

Chủ nghĩa Makhơ cho rằng, các nhà duy vật thừa nhận vật chất tồn tại khách quan ngoài ý thức con người, như vậy họ đã rơi vào chủ nghĩa thần bí, vì

đã thừa nhận một cái gì đó ở bên kia, ở ngoài giới hạn của nhận thức Họ còn lập

Trang 27

luận rằng khi chủ nghĩa duy vật giải thích vật chất tác động lên cơ quan cảm giác thì gây nên cảm giác, đó là việc lấy cái hư vô, cái chưa biết làm cơ sở

Từ những lập luận đó, phái Makhơ đưa ra học thuyết về “các yếu tố của thế giới”, họ gọi sự vật là “tổ hợp của các yếu tố” Những “yếu tố” đó theo Makhơ là những “tài liệu trực tiếp” “những yếu tố của kinh nghiệm chúng ta”, chính là những viên gạch đầu tiên làm cơ sở cho toàn bộ thế giới vật lí và tâm lí… Makhơ ảo tưởng rằng “yếu tố” mà ông ta đề xuất sẽ khắc phục được sự tranh cãi lâu nay giữa các nhà duy vật và duy tâm, vì ông ta quan niệm “ yếu tố” không phải vật chất, không phải tinh thần, không phải cái vật lí, cũng không phải cái tâm lí, mà ông là trung gian giữa những yếu tố đó

V.I.Lênin đã vạch trần bản chất của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa ra một từ mới, là có thể tránh được

những trào lưu triết học cơ bản Hoặc giả “yếu tố” là cảm giác, như

tất cả những người theo chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, cả Makhơ, Avênariút lẫn Pếttxôntơ và những người khác vẫn chủ

trương, và như vậy, thưa các ngài, triết học của các ngài chỉ là chủ nghĩa duy tâm đã uổng công che đậy sự trần trụi của chủ nghĩa duy

ngã của mình bằng một thuật ngữ “khách quan” cơn Hoặc giả “yếu

tố” không phải là cảm giác, và như vậy từ “mới” hủa các ngài tuyệt đối không có một chút ý nghĩa gì cả, và các ngài chỉ làm ồn lên vô

ích mà thôi [34, tr.56]

V.I.Lênin chỉ rõ, “yếu tố” của Makhơ thực chất chính là cảm giác, kinh nghiệm, do đó, xét về bản chất, chủ nghĩa Makhơ chính là sự lặp lại triết học của Béccơli và Hium - một chủ nghĩa duy tâm chủ quan điển hình - mặc dù ông ta luôn tìm cách che giấu, che đậy điều đó

Dõi theo các thành tựu khoa học tự nhiên và nhận thức sâu sắc về nguyên nhân của sự bế tắc trong vật lí học cũng như sự dao động của các nhà duy vật trước đó, V.I.Lênin đã phân tích, luận giải sâu sắc quan niệm về vật

Trang 28

chất, đặc biệt phát triển quan niệm vật chất trong điều kiện của những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời

Khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên, V.I.Lênin khẳng định rằng vật chất không bị tiêu tan Cái bị tiêu tan, bị bác bỏ chính là giới hạn hiểu biết trước đấy về vật chất, là quan điểm siêu hình máy móc trong nhận thức khoa học cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về cấu trúc, rằng giới hạn cuối cùng bất biến của giới tự nhiên là nguyên tử hoặc khối lượng

Từ đó, V.I.Lênin kết luận “điện tử cũng vô cùng vô tận như nguyên tử, tự nhiên là vô tận” Đồng thời, V.I.Lênin chỉ rõ rằng sự thay thế một số khái niệm này bằng một số khái niệm khác trong nhận thức về thế giới chỉ chứng

tỏ khoa học, sự phản ánh hiện thực khách quan ngày càng hoàn thiện, chứng

tỏ sự hiểu biết của con người ngày càng sâu sắc Theo nghĩa đó thì vật lý học lúc đó đang trải qua bước khủng hoảng trưởng thành và nguyên nhân của sự khủng hoảng đó nằm ngay trong bước nhảy vọt của nhận thức con người khi chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô

Trên cơ sở phân tích và khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về sự đối lập giữa vật chất và ý thức, về bản chất và tính thống nhất vật chất của thế giới,

về tính khái quát của phạm trù vật chất và sự tồn tại của vật chất dưới các dạng cụ thể,…V.I.Lênin đã nêu ra một định nghĩa khoa học và hoàn chỉnh về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” [34, tr.151]

Trong định nghĩa trên, cần chú ý những nội dung chủ yếu sau đây:

Trước hết là phương pháp định nghĩa của V.I.Lênin:

Định nghĩa khái niệm là một thao tác quan trọng trong nhận thức khoa học Bởi nếu không định nghĩa khái niệm, chúng ta sẽ không thể hiểu được tư tưởng của chính mình và người khác càng không hiểu được tư tưởng của

Trang 29

chúng ta Vì thế, đối với các khái niệm triết học, đặc biệt là khái niệm “vật chất”, thao tác định nghĩa khái niệm vô cùng quan trọng

V.I.Lênin không những đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà còn chỉ rõ phương thức định nghĩa các khái niệm Ông viết:

Thế nào là đưa ra một “định nghĩa”? Điều đó trước hết có nghĩa là đem một khái niệm nào đó quy vào một khái niệm khác rộng hơn Chẳng hạn, khi tôi đưa ra định nghĩa này: con lừa là một động vật, tôi quy khái niệm “con lừa” vào một khái niệm rộng hơn Bây giờ thử hỏi trong những khái niệm mà lý luận nhận thức có thể sử dụng,

có những khái niệm nào rộng hơn những khái niệm: tồn tại và tư duy, vật chất và cảm giác, cái vật lý và cái tâm lý, hay không? Không có Đó là những khái niệm rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được (trừ

khi có sự thay đổi luôn luôn có thể xảy ra về mặt thuật ngữ) Chỉ có

bịp bợm hay ngu xuẩn đến cực độ mới có thể đòi hỏi cho hai “loạt” khái niệm rộng đến cùng cực đó, một “định nghĩa” nào khác, ngoài

“sự lặp lại giản đơn”: cái này hay cái kia phải được coi là có trước [34, tr.171-172]

V.I.Lênin phê phán những người phái Makhơ đã vô lý đến chừng nào khi họ đòi hỏi những người duy vật phải đưa ra một định nghĩa “vật chất” mà không được nhắc lại rằng vật chất, giới tự nhiên, tồn tại, cái vật lý đều là cái

có trước, còn tinh thần, ý thức, cảm giác, cái tâm lý là cái có sau

Như vậy, theo V.I.Lênin đối với tất cả các khái niệm, trừ khái niệm

“vật chất” thì chúng ta cần phải định nghĩa theo kiểu qua giống và khác biệt loài Công thức của kiểu định nghĩa này: “A=B+C”, trong đó A là khái niệm được định nghĩa, “B+C là khái niệm dùng để định nghĩa, ngoại diên của A và của “B+C” là trùng nhau, B là khái niệm giống của A Ví dụ, ở định nghĩa

Trang 30

“hình vuông là hình thoi có một góc vuông” thì A là “hình vuông”, B là “hình thoi”, còn C là “có một góc vuông” Đối với khái niệm “vật chất”, chúng ta không thể định nghĩa theo kiểu qua giống và khác biệt loài, vì không còn khái niệm nào có ngoại diên rộng hơn khái niệm “vật chất”

Tóm lại, từ chỉ dẫn của V.I.Lênin trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, để định nghĩa bất kỳ một khái niệm nào (trừ

khái niệm “vật chất”), chúng ta cũng phải quy khái niệm được định nghĩa vào một khái niệm khác rộng hơn, tức là phải định nghĩa theo kiểu qua giống và khác biệt loài Điều đó có nghĩa là muốn biết một khái niệm nào đó, chúng ta cần phải biết khái niệm khác rộng hơn, và cứ thế cuối cùng cần phải biết khái niệm có ngoại diên rộng nhất - khái niệm “vật chất” Nếu không hiểu biết về khái niệm

“vật chất”, thì chúng ta sẽ không thể hiểu chính xác tất cả các khái niệm còn lại

Trong nội dung định nghĩa, có các nội dung chủ yếu sau:

“Vật chất” là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách

quan…” Phạm trù “vật chất” là phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức Do đó, phạm trù “vật chất” phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể Điều này

sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù “vật chất” trong triết học với các khái niệm “vật chất” thường dùng trong các khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày; đồng thời không thể định nghĩa phạm trù “vật chất” theo phương pháp thông thường, mà chỉ có thể định nghĩa phạm trù “vật chất” trong quan hệ với phạm trù đối lập với nó, đó là phạm trù “ý thức” (phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với nó) Vật chất, với tư cách là một phạm trù triết học, là sản phẩm của tư duy, nó không tồn tại cảm tính, nó là tổng số các vật thể tồn tại cảm tính

Vật chất là thực tại khách quan, khi định nghĩa “vật chất” là một phạm

trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, V.I.Lênin đã bỏ qua những thuộc

Trang 31

tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiện tượng, nêu bật đặc tính nhận thức luận cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan Đó chính là “thực tại khách quan” Thực tại khách quan là tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài và không lệ thuộc vào ý thức của con người Đặc tính này là dấu hiệu cơ bản để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất “Vật chất”- cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không lệ thuộc vào ý thức “Vật chất” là thực tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức con người “Vật chất” là vô cùng vô tận, nó có vô vàn các thuộc tính khác nhau rất đa dạng và phong phú mà khoa học ngày càng phát triển thì càng tìm ra, phát hiện thêm những thuộc tính mới của nó

Trong tất cả các thuộc tính của “vật chất” thì thuộc tính thực tại khách quan, tức là sự tồn tại thực, bên ngoài và độc lập với ý thức con người là thuộc

tính chung, đặc trưng với mọi dạng, mọi đối tượng khác nhau của vật chất Chính

vì vậy, V.I.Lênin xem thực tại khách quan là thuộc tính duy nhất của “vật chất”

Thuộc tính tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với ý thức chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất cái gì không phải là vật chất, cả trong

tự nhiên lẫn trong đời sống xã hội Tất cả những cái gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức con người đều là những dạng khác nhau của “vật chất” Ví dụ: những quan hệ kinh tế - xã hội, quan hệ sản xuất của xã hội…tuy không tồn tại dưới dạng vật thể, cũng không có thuộc tính khối lượng, năng lượng, không có cấu trúc phân tử, nguyên tử nhưng chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức và quyết định ý thức, bởi vậy chúng chính là vật chất dưới dạng

xã hội Thuộc tính này cũng là tiêu chuẩn để khẳng định thế giới vật chất có tồn tại thật sự, tồn tại do chính nó hay không Bởi vậy thuộc tính đó là cơ sở khoa học để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm

Phạm trù “vật chất” trong định nghĩa này, phải được hiểu bao gồm tất

cả những gì tồn tại và không lệ thuộc vào ý thức Như vậy, “vật chất” với tư

Trang 32

cách là phạm trù triết học, nó chỉ thực tại khách quan nói chung, nó là vô hạn,

vô tận, không sinh ra, không mất đi Còn vật chất với tư cách là phạm trù khoa học cụ thể, đó là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất, đều có giới hạn, sinh ra, mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, không thể quy “vật chất” về vật thể, không thể đồng nhất “vật chất” với những dạng cụ thể của vật chất giống như quan niệm của các nhà duy vật trước Mác

“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”

Điều đó khẳng định vật chất là cái có trước, cảm giác (ý thức) là cái có sau, vật chất đóng vai trò quyết định nguồn gốc và nội dung khách quan của ý thức Bởi vì, thực tại khách quan (vật chất là thực tại khách quan) đưa lại cảm giác cho con người, chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan Đến đây, định nghĩa đã giải quyết được mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “Vật chất” được đem lại

cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, nghĩa là “vật chất” tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà là tồn tại hiện thực, cụ thể, cảm tính Khi “vật chất” tác động lên các giác quan của con người thì gây ra cảm giác, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó Như vậy, khả năng nhận thức của con người đối với

“vật chất” chính là xuất phát từ sự tồn tại của bản thân “vật chất”

“Vật chất” là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người Khi con người cảm nhận được sự tồn tại của “vật chất” có nghĩa là khi đó một trong những giác quan của con người cảm nhận được sự tồn tại về hình dáng, kích thước, màu sắc, âm thanh…của “vật chất” Chính những giác quan này tạo cho con người có cảm giác khác nhau khi nhìn thấy những dạng “vật chất” khác nhau Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của “vật chất”

Trang 33

Đồng thời “vật chất” là cái “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”, V.I.Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh…) con người có thể nhận thức được thế giới “vật chất”

Bởi vậy, về nguyên tắc đối với “vật chất”, thì chỉ có cái con người chưa nhận thức được chứ không thể có cái con người không thể nhận thức được

Đó chính là cơ sở để khoa học đấu tranh chống lại “thuyết không thể biết”

“Vật chất” được đem lại cho con người trong cảm giác tức nó là nguồn gốc, nguyên nhân của cảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của ý thức Còn cảm giác hay “ý thức” là sự chép lại, chụp lại, phản ánh, có sau so với “vật chất” Rõ ràng “vật chất” là tính thứ nhất, “ý thức” là tính thứ hai, “vật chất” quyết định “ý thức”

Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quan niệm “vật chất” của chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình độ mới, trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Định nghĩa vật chất cũng chính là cơ sở khoa học và là vũ khí tư tưởng

để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, cả duy tâm khách quan lẫn duy tâm chủ quan và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả để đảm bảo sự đứng vững cho chủ nghĩa duy vật trước sự phát triển mới của khoa học tự nhiên

“Vật chất” không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể mà giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp, do đó về nguyên tắc, không có đối tượng vật chất không thể nhận thức được, mà chỉ có những đối tượng vật chất chưa nhận thức được mà thôi Nguồn gốc của cảm giác là từ thế giới ở bên ngoài, khi sự vật tác động vào giác quan của con người thì con

Trang 34

người có cảm giác về chúng Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết; đồng thời chỉ ra rằng, “vật chất” phải được hiểu là tất cả những cái gì tồn tại khách quan bên ngoài ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được

Bằng khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực khách quan, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng Những nội dung định nghĩa vật chất đã làm phá sản sự mập mờ, ngụy tạo, giả dối của những quan niệm kiểu Makhơ Định nghĩa vật chất với tất cả phương pháp và nội dung của nó, đến nay vẫn có giá trị thế giới quan và phương pháp luận vô cùng to lớn

2.1.2 Quan niệm về tính thống nhất của thế giới

Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán,

V.I.Lênin đã chỉ ra rằng, dưới ánh sáng những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại, vấn đề sự thống nhất của thế giới được đặt lên hàng đầu trong

sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Để bóc trần bản chất triết học của phái Makhơ, V.I.Lênin kịch liệt phê phán quan niệm của họ về vấn đề sự thống nhất của thế giới V.I.Lênin viết:

“Trong vấn đề này, ông P.Iuskêvích đã phơi bày rõ rệt hàng trăm hàng ngàn lần sự mơ hồ cực độ do phái Makhơ ở nước ta gây ra” [34, tr.206] Bảo vệ và phát triển luận điểm của Ph.Ăngghen cho rằng sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó, V.I.Lênin viết:

Với ví dụ về Đuyrinh, Ăngghen đã chỉ ra rằng một triết học hễ triệt để đôi chút là có thể suy ra tính thống nhất của thế giới hoặc là từ tư duy,

- nhưng như thế thì nó sẽ bất lực trước thuyết duy linh và chủ nghĩa tín ngưỡng và những lý lẽ của một thứ triết học như thế tất nhiên dẫn tới những câu bịp bợm, - hoặc là từ thực tại khách quan, tức là cái tồn tại

Trang 35

ở ngoài chúng ta, cái đã được gọi từ lâu lắm trong nhận thức luận là vật chất và đã được khoa học tự nhiên nghiên cứu [34, tr.207]

Phê phán quan niệm của Pếttxôntơ - một nhà kinh nghiệm phê phán, người đã đánh tráo vấn đề sự thống nhất vật chất của thế giới bằng “xu hướng về tính cùng một kiểu như nhau (einheitlich) trong lĩnh vực của nhận thức” và đề nghị giải quyết các vấn đề có liên quan tới sự thống nhất của thế giới bằng cách

“hiệp thương giữa các chuyên gia và lấy biểu quyết theo đa số” [34, tr.208], V.I.Lênin chỉ rõ đây là lập trường của chủ nghĩa chủ quan và “nhà kinh

nghiệm phê phán Pếttxôntơ không hơn Đuyrinh một ly nào” [34, tr.208]

Các nhà thực chứng hiện đại cũng giữ lập trường thỏa hiệp chủ nghĩa trong vấn đề này giống như Pếttxôntơ Một thủ thuật luôn được họ sử dụng để chống lại nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới là phủ định tính chất khách quan của các quy luật của hiện thực, phủ định bản chất khách quan của quan hệ nhân quả

Vạch trần sự xuyên tạc theo lối thực chứng chủ nghĩa đối với các thành tựu khoa học, V.I.Lênin nhấn mạnh rằng khoa học tự nhiên hiện đại đang tiến dần tới “sự thống nhất của vật chất” và việc giải quyết vấn đề tính thống nhất

ấy của thế giới thể hiện mối liên hệ khăng khít nhất của triết học duy vật biện chứng với khoa học tự nhiên Rằng sự thống nhất của vật chất gắn liền với thuộc tính là thực tại khách quan, tồn tại ở bên ngoài ý thức con người của vật chất, nhưng các mối liên hệ hiện thực, những sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các

hình thức đa dạng của vật chất lại do khoa học tự nhiên vạch ra Trong Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đánh giá rất cao

tư tưởng về sự chuyển hóa lẫn nhau của các nguyên tử hóa học với tư cách là một minh chứng cho tính thống nhất của thế giới vật chất Ngày nay khoa học hiện đại đang đi theo con đường V.I.Lênin đã vạch ra là thâm nhập sâu hơn nữa vào sự thống nhất của vật chất

Trang 36

Với tinh thần biện chứng thấm đượm trong Bút ký triết học, V.I.Lênin

chỉ rõ rằng việc phân tích sự thống nhất của vật chất và vận động, tính khách quan của không gian và thời gian có ý nghĩa lớn lao đối với việc phát triển nhất nguyên luận duy vật biện chứng V.I.Lênin cho rằng cần phải kết hợp nguyên lý về sự thống nhất thế giới với nguyên lý về sự phát triển của nó Cụ thể hóa và phát triển luận điểm của Ph.Ăngghen về sự thống nhất của thế giới

ở tính vật chất của nó, V.I.Lênin đã nói về mối liên hệ khăng khít của vật chất với vận động, về sự thống nhất giữa các đặc tính của vật chất và của các quy luật phát triển khách quan của thế giới Từ đó, V.I.Lênin phân tích sự thống nhất của phép biện chứng, lôgic học và lý luận nhận thức

Việc V.I.Lênin phân tích vấn đề này từ góc độ nhất nguyên luận duy vật biện chứng có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cuộc đấu tranh chống lại các biến tướng khác nhau của triết học thực chứng Theo V.I.Lênin

sự thống nhất của thế giới được suy ra không phải từ tồn tại, hơn nữa lại càng không phải là từ sự thống nhất của tư duy và tồn tại, mà ngược lại, từ nhận thức đích thực khoa học về tính chất của tồn tại mà sự thống nhất tư duy và tồn tại chỉ có thể dựa trên nguyên lý sự thống nhất vật chất thế giới mà thôi

V.I.Lênin nhấn mạnh rằng, chỉ tồn tại một thế giới vật chất, ý thức không tạo thành thế giới đặc biệt, mà là kết quả phát triển của vật chất Nếu không vạch rõ sự thống nhất của vật chất và ý thức thì chúng ta sẽ tạo kẽ hở cho nhị nguyên luận thực hiện ý đồ tách biệt ý thức thành một thế giới riêng biệt, độc lập Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng nhận thức sự thống nhất của thế giới vật chất chỉ được thực hiện trong quá trình phát triển lâu dài và gian khổ của khoa học tự nhiên và triết học Phát triển tư tưởng đó của Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã chỉ ra các đặc điểm đặc thù của quá trình nhận thức sự thống nhất của thế giới vật chất trên cơ sở của cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Trang 37

Khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đi tới kết luận về

sự thống nhất của vật chất là nhờ khách thể mà nó nhận thức, tự chúng đã luôn ở trong sự thống nhất, không phụ thuộc vào chủ thể V.I.Lênin nhấn mạnh rằng năng lực của ý thức trong việc phản ánh đúng đắn sự thống nhất của thế giới vật chất là cái tồn tại không phụ thuộc vào ý thức Bản thân học thuyết nhất nguyên luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng là sự phản ánh tính thống nhất khách quan của thế giới vật chất Sự thống nhất của tư duy và tồn tại, sự phù hợp của tư duy với tồn tại chỉ là hệ quả của sự thống nhất của thế giới vật chất, là hệ quả của sự xuất hiện ý thức từ vật chất Sự thống nhất của

tư duy và tồn tại không phải là nguyên nhân của sự thống nhất của thế giới,

mà ngược lại, sự thống nhất của thế giới vật chất là cái vốn có, là nguyên nhân của sự thống nhất của tư duy và tồn tại

Thế giới là khả tri, vì trong nó có có sự thống nhất khách quan của thực thể vật chất và ý thức do thực thể đó sinh ra Ý thức có khả năng phản ánh đúng đắn vật chất sinh ra nó Bên ngoài khuôn khổ của vấn đề ý thức hay vật chất là cái thứ nhất, không có sự đối lập tuyệt đối nào giữa vật chất và ý thức

V.I.Lênin phát triển những chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về các quy luật thống nhất của tồn tại và ý thức trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực chứng - thứ chủ nghĩa lý giải quá trình nhận thức theo tinh thần của chủ nghĩa chủ quan V.I.Lênin chỉ ra rằng bản thân thực tế tồn tại của các quy luật phổ biến, khách quan của phép biện chứng với tư cách là sự phản ánh các quy luật của tồn tại và của tư duy đã chứng tỏ xác đáng sự thống nhất của vật chất và ý thức Khi nhấn mạnh vai trò quyết định của tồn tại vật chất trong sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, nhất nguyên luận duy vật biện chứng đã khắc phục được mọi khuyết tật của các thứ chủ nghĩa khác trong vấn đề này

Quan niệm về sự thống nhất của thế giới vật chất, xét trên bình diện nhận thức luận, đóng vai trò là cơ sở cho nguyên lý về tính khả tri của thế

Trang 38

giới V.I.Lênin chính là người đã vạch rõ mối quan hệ hữu cơ giữa luận điểm

về sự thống nhất của thế giới vật chất với luận điểm về tính khả tri của nó

2.1.3 Quan niệm của V.I.Lênin về ý thức và thuộc tính phản ánh của vật chất

Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán,

V.I.Lênin viết:

Chủ nghĩa duy vật, hoàn toàn nhất trí với khoa học tự nhiên, coi vật chất là cái có trước, coi ý thức, tư duy, cảm giác là cái có sau, vì cảm giác, trong hình thái rõ rệt của nó, chỉ gắn liền với những hình thái cao của vật chất (vật chất hữu cơ), và người ta chỉ có thể giả định là “trên nền móng của bản thân lâu đài vật chất” có sự tồn tại của một năng lực giống như cảm giác [34, tr.43]

và “…giả định rằng hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác, đặc tính phản ánh, thì như vậy lại hợp với lôgic” [34, tr.104]

Tư tưởng đó của V.I.Lênin có ý nghĩa hết sức to lớn Trong các học thuyết triết học trước Mác, nguyên tắc phản ánh và khái niệm “phản ánh” thường bị tách rời khỏi mặt bản thể luận của vấn đề cơ bản của triết học và chỉ đảm nhận chức năng nhận thức luận Theo đó, “phản ánh” không phải là thuộc tính chung, mà chỉ là đặc tính được biểu hiện trong một phần của thế giới Có nghĩa là, “phản ánh” chỉ là quá trình cảm giác và ý thức cá nhân của con người Phạm trù “phản ánh” trong triết học trước Mác không được nâng lên thành phạm trù triết học chung và không giúp ích cho việc lý giải mặt bản thể luận của triết học

Khi phát triển lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là người đầu tiên đi đến kết luận rằng nguyên tắc phản ánh không thể bị giới hạn ở các quá trình hoạt động của tư duy con người, hay là ở các quá trình phản ánh trong giới tự nhiên hữu sinh, như tính kích thích, tính cảm giác, … Nguyên

Trang 39

tắc đó, theo V.I.Lênin cần được mở rộng đến toàn bộ vật chất Vật chất có thuộc tính chung - thuộc tính phản ánh, mặc dù giống với cảm giác, nhưng không được quy về cảm giác Vì vậy, tư tưởng về sự phản ánh với tính cách là thuộc tính chung của vật chất là cống hiến to lớn của V.I.Lênin Khái niệm

“phản ánh” với tính cách là phạm trù triết học chung, dùng để chỉ một thuộc tính của toàn bộ vật chất, được biểu hiện một cách rất đa dạng dưới các hình thức khác nhau và phụ thuộc vào trình độ tổ chức của chính vật chất Đó là khả năng giữ lại, tái hiện lại những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một hình thức vật chất khác khi hai hệ thống đó tác động lẫn nhau

Với bản chất duy tâm chủ quan và bất khả tri, chủ nghĩa Makhơ đã đưa ra

“thuyết khảm nhập” (biến chủng của chủ nghĩa tín ngưỡng) Avênariút viết rằng:

“cảm giác”, “biểu tượng” “không phải là những chức năng (sinh lý, tâm lý, - vật lý) của óc”; “Chính việc nhồi nhét những vật được trông thấy, …ấy vào trong con người, chúng ta gọi là khảm nhập” Sự khảm nhập đem “cái phi cơ giới”…

“biểu hiện một cách rõ rệt và tự do trong cái hiện có (hay trong cái mà chúng ta tìm thấy, im vorgefundenen) biến thành một cái gì ẩn náu một cách thần bí…trong hệ thần kinh trung ương” [34, tr.97-98] V.I.Lênin đánh giá thuyết khảm nhập là một “sự hồ đồ, nó lén lút du nhập cái mớ hỗn độn duy tâm chủ nghĩa” và những quan điểm duy vật của khoa học tự nhiên Tư tưởng không có

bộ óc, lý tính con người tách rời khỏi con người chỉ là những “trừu tượng chết”

Một trong những tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh mà V.I.Lênin tiến hành trong lĩnh vực triết học nói chung, lý luận nhận thức nói riêng là ở chỗ, những quan niệm có tính chất xuyên tạc, những “biến chủng” lý luận - theo cách diễn đạt của V.I.Lênin - xuất hiện khá nhiều Cùng với Makhơ, Avênariút, còn những học thuyết khác, trong đó có “thuyết tượng trưng”

“Thuyết tượng trưng” (Hembôntxơ) chỉ là một hình thức biến dạng của thuyết bất khả tri, thuyết này coi cảm giác và biểu tượng của con người không

Trang 40

phải là sự phản ánh các sự vật khách quan, mà chỉ là những ký hiệu, là những tượng trưng, tượng hình mà thôi

V.I.Lênin chỉ rõ, nếu xem cảm giác không phải là hình ảnh của sự vật

mà chỉ là ký hiệu, là tượng trưng không có gì giống với sự vật thì có nghĩa là nghi ngờ sự tồn tại của sự vật, bởi vì cái tượng trưng chỉ là cái có thể biểu thị những đối tượng hư cấu

V.I.Lênin cũng phê phán Plêkhanốp đã từ bỏ lý luận phản ánh và rơi vào bất khả tri khi khẳng định cảm giác chỉ là những hình tượng, và những hình tượng này không giống với những sự kiện thực mà chúng thông tin cho chúng ta Theo V.I.Lênin, hai khái niệm “hình ảnh” và “tượng trưng” là khác nhau, hình ảnh không hoàn toàn phù hợp với sự vật, nhưng hình ảnh (sự phản ánh) là hiện thực khách quan của sự vật mà nó phản ánh, còn tượng trưng thì không thể như vậy

Đồng thời với việc công kích lý luận duy tâm chủ quan đến “vô lý” của chủ nghĩa Makhơ về bản chất của quá trình nhận thức, V.I.Lênin đã phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, khẳng định phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất: “hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác, đặc tính phản ánh” [34, tr.104] Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất trong thế giới, là cái phát sinh của vật chất Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn khẳng định:

Lý thuyết phản ánh tiên đoán về đặc tính phản ánh của vật chất, hay nói cách khác, toàn bộ vật chất đều có thuộc tính phản ánh Thuộc tính này không chỉ nằm trong một loại vật chất cao cấp nhất là bộ

óc con người với các quá trình hoạt động tư duy, mà còn thể hiện rõ nét từ những hình thức sơ đẳng nhất của giới tự nhiên [6, tr.17-18]

Lý luận của V.I.Lênin kế thừa quan điểm chủ nghĩa Mác về vấn đề ý thức, với tư cách là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất được tổ chức

Ngày đăng: 12/11/2021, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w