* Nhóm đề tài về thông tin báo chí dành cho đồng bào DTTS; về chất lượng thông tin chuyên đề DTTS trên báo chí Trong phạm vi luận văn, tác giả xin nêu mốt số tài liệu liên quan đến - “V
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THỊ MINH
CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
VÀ MIỀN NÚI TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát Chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi của cơ quan báo Nhân Dân, báo Cựu chiến binh Việt Nam, báo Yên Bái, từ tháng 1-12 năm 2019)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2020
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
VŨ THỊ MINH
CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
VÀ MIỀN NÚI TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát Chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi của cơ quan báo Nhân Dân, báo Cựu chiến binh Việt Nam, báo Yên Bái, từ tháng 1-12 năm 2019)
Chuyên ngành: Báo chí
Mã số: 83 20 10 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG THỊ KIÊN
HÀ NỘI – 2020
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 2020 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS Lưu Văn An
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tài liệu được sử dụng trong công trình đều có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong công trình đều do cá nhân tôi nghiên cứu và tư duy dựa trên những tư liệu xác thực
Hà Nội, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Vũ Thị Minh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS,
TS Trương Thị Kiên đã tận tình, tận tâm hướng dẫn chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể Thầy, Cô giáo Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã truyền đạt, trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý giá trong suốt hai năm học vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập, các phòng, ban của Báo Nhân Dân, Báo CCB Việt Nam, Báo Yên Bái đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu để thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, cổ vũ và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Vũ Thị Minh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY 13
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 13
1.2 Đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng DTTS và vai trò của thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi đối với đồng bào dân tộc thiểu số 17
1.3 Các yếu tố tác động đến chất lượng thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi trên báo in Việt Nam hiện nay 23
1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi trên báo in Việt Nam hiện nay 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI TRÊN BA TỜ BÁO ĐƯỢC KHẢO SÁT 35
2.1 Khái lược về các tờ báo được khảo sát 35
2.2 Khảo sát thực trạng chất lượng thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi trên ba tờ báo 39
2.3 Đánh giá chung về thành công, hạn chế và nguyên nhân 83
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY 96
3.1 Những vấn đề đặt ra với việc thông tin cho đồng bào của báo in hiện nay 96
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi 99
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 124
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các mảng đề tài thể hiện trên chuyên trang DTTS&MN báo Nhân
Dân (Số liệu do tác giả thống kê năm 2019) 39 Bảng 2.2 Mảng đề tài thể hiện trên chuyên đề DTTS&MN của Báo CCB
Việt Nam (Số liệu do tác giả thống kê năm 2019) 41 Bảng 2.3 Mảng đề tài thể hiện trên ấn phẩm Yên bái vùng cao của Báo Yên
Bái (Số liệu do tác giả thống kê năm 2019) 42 Bảng 2.4 So sánh mảng đề tài được độc giả lựa chọn tìm đọc của ba ấn
phẩm (Số liệu do tác giả khảo sát năm 2020) 43 Bảng 2.5 Bảng thống kê số lượng tin, bài của ba ấn phẩm khảo sát 66
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đánh giá thông tin phong phú, đa dạng của ba ấn phẩm (Số liệu
do tác giả khảo sát 2019) 47 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ độc giả lựa chọn đọc chủ đề Văn hóa của ba ấn phẩm khảo sát
(Số liệu từ kết quả điều tra xã hội học của tác giả, năm 2019) 54 Biểu đồ 2.3 Đánh giá thông tin mới, nhanh chóng, kịp thời của ba ấn phẩm 57 Biểu đồ 2.4 Đánh giá thông tin chính xác, tin cậy, có tính định hướng của
ba ấn phẩm (Số liệu do tác giả khảo sát độc giả năm 2019) 60 Biểu đồ 2.5 Đánh giá thông tin bám sát thực tế, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo
của ba ấn phẩm (Số liệu do tác giả khảo sát độc giả năm 2019) 62 Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ tin, bài của ba ấn phẩm khảo sát (Số liệu tác giả thống kê
năm 2019) 66 Biểu đồ 2.7 Đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ trong các ấn phẩm khảo sát
(Số liệu do tác giả khảo sát độc giả năm 2019) 69 Biểu đồ 2.8 Đánh giá việc sử dụng hình ảnh trong các ấn phẩm khảo sát (Số
liệu do tác giả khảo sát độc giả năm 2019) 74 Biểu đồ 2.9 So sánh hình thức trình bày thoáng, đẹp, chữ to của 3 ấn phẩm
khảo sát (Số liệu do tác giả khảo sát 2019) 80 Biểu đồ 2.10 Thể hiện dung lượng các bài viết đăng tải trên các ấn phẩm
khảo sát (Số liệu điều tra xã hội học của tác giả năm 2019) 83
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày 35 Hình 2.2 Chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam 37 Hình 2.3 Ấn phẩm Yên Bái vùng cao của báo Yên Bái 38 Hình 2.4 Trang bìa ấn phẩm Yên Bái vùng cao số 437 và số 441 53 Hình 2.5 Chuyên mục “Giữ gìn bản sắc văn hóa” của ấn phẩm Yên Bái
vùng cao 55 Hình 2.6 Chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày,
phát hành ngày 30-10-2019 77 Hình 2.7 Trang “Cho bản làng giàu đẹp” trên chuyên đề DTTS&MN báo
CCB Việt Nam, phát hành ngày 4-5-2019 78 Hình 2.8 Trang “Xóa đói giảm nghèo” trên ấn phẩm Yên Bái vùng cao của
báo Yên Bái, phát hành tháng 6-2019 79
Trang 10Nhận thức rõ vai trò của báo chí trong công tác tư tưởng, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho đồng bào DTTS, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chính sách trong lĩnh vực này Trong đó có chính sách cấp không thu tiền một
số loại báo, tạp chí cho vùng DTTS&MN, vùng đặc biệt khó khăn theo các Quyết định 2472, 1977/QĐ-TTg, Quyết định 59/QĐ-TTg và nay là Quyết định số 45/QĐ-TTg, ngày 9-1-2019 của Thủ tướng Chính phủ, hiện 19 cơ quan báo chí đang thực hiện Quyết định này
Cùng với báo chí cả nước, nhiều tờ báo in dành cho đồng bào DTTS đã thông tin chân thực đời sống của bà con và đạt được nhiều thành công, trong
đó có 3 tờ chuyên đề của báo Nhân Dân, báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái Thành công cơ bản là nội dung thông tin chính xác, tin cậy và đa dạng, phản ánh sâu sát đời sống của bà con DTTS; phổ biến kiến thức KHKT, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị vùng dân tộc và miền núi, biên giới, hải đảo; bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc; đồng thời bài trừ mê tín, dị đoan, các phong tục, tập quán lạc hậu, xây dựng đời sống văn hóa tiến bộ… Hình thức của các ấn phẩm phù hợp với nhận thức của đồng bào cả về dung lượng, màu sắc, thể loại…
Trang 11Mặt khác, vùng đồng bào DTTS hiện nay, loại hình truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử… khá phổ biến nhưng với ưu điểm và thế mạnh thông tin sâu, lưu trữ thông tin lâu, báo in là cẩm nang không thể thiếu, giúp cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và bộ đội biên phòng, già làng, trưởng bản, người có uy tín có thêm tài liệu tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Ngoài ra, báo in đã xóa được các điểm trắng về thông tin đến các thôn, bản vùng sâu, vùng xa mà các loại hình báo chí khác chưa làm được
Tuy nhiên, báo chí nói chung, 3 ấn phẩm tác giả khảo sát nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định Ví dụ: Nhiều thông tin đến với bà con đã cũ; chưa bám sát phản ánh sâu sắc đời sống của bà con vùng cao, nhiều bạn đọc không biết chữ nên hiệu quả thông tin chưa cao; ngôn ngữ chưa gần gũi với đời sống đồng bào, nhiều tờ báo thiếu sinh động, ít tạo hứng thú cho bà con…
Việc nâng cao chất lượng thông tin các ấn phẩm cấp cho vùng đồng bào DTTS là một vấn đề cấp thiết Chất lượng thông tin báo chí tốt sẽ là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng, giúp bà con đồng bào DTTS hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tự mình vươn lên xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu, khảo sát, phân tích thực trạng chất lượng thông tin của các chuyên đề trên để đánh giá chính xác, khách quan, tìm ra nguyên nhân của thành công, hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các ấn phẩm thông tin chuyên đề dành cho đồng bào DTTS&MN
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả chọn vấn đề “Chất lƣợng thông tin
chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi trên báo in Việt Nam hiện nay”,
khảo sát chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, Chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, ấn phẩm Yên Bái vùng cao năm
2019 làm đề tài luận văn của mình
Trang 122 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề liên quan đến đồng bào DTTS&MN luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm, vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được nhiều tác giả tìm hiểu, mỗi công trình nghiên cứu ở mỗi góc độ và vấn đề khác nhau
* Nhóm đề tài nghiên cứu về thông tin báo chí và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí
Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về nhóm đề tài này, trong phạm vi luận văn tác giả xin giới thiệu một số tài liệu tiêu biểu sau:
- “Cơ sở lý luận báo chí”, (1999) của tập thể tác giả Tạ Ngọc Tấn (chủ
biên), Trịnh Đình Thắng, Đinh Thế Huynh, Lê Mạnh Bỉnh Nội dung cuốn sách gồm 7 chương, trình bày những quan niệm chung về báo chí; tính giai cấp của báo chí; tự do báo chí; các chức năng của báo chí; luật pháp, nguyên tắc hoạt động và lao động sáng tạo trong báo chí
- “Cơ sở lý luận của báo chí”, tập 1 và tập 2, (2004), tác giả
E.P.Prôkhôrốp Tập 1, tác giả đi sâu giới thiệu quá trình xuất hiện và phát triển của báo chí, bản chất của thông tin đại chúng, vị trí, vai trò và chức năng của báo chí trong xã hội và mối quan hệ với xã hội; các quan điểm và nguyên tắc hoạt động báo chí nói chung, đối với nhà báo nói riêng; tự do báo chí và trách nhiệm của nhà báo; phương diện pháp lý của tự do báo chí… Tập 2, tác giả đi sâu giới thiệu báo chí trong hệ thống các thiết chế xã hội; báo chí trong không gian thông tin; báo chí với tư cách là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo; hiệu lực và tính hiệu quả của báo chí Đặc biệt, chương cuối tác giả phân tích làm nổi bật vai trò của nhà báo với tư cách là chủ thể của hoạt động thông tin đại chúng, trong đó nêu rõ những phẩm chất nghề nghiệp, đạo đức, trách nhiệm công dân, địa vị pháp lý của nhà báo cũng như quyền tác giả trong hoạt động báo chí
- “Tổ chức nội dung và thiết kế trình bày báo in”, 2006), tác giả Hà
Huy Phượng, cuốn sách đề cập đến những vấn đề như: những nguyên tắc, phương pháp tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo, tạp chí; những phần
Trang 13mềm tin học ứng dụng trong thiết kế báo, tạp chí; tìm hiểu công nghệ và quy trình in báo, tạp chí
- “Giáo trình tác phẩm báo chí đại cương”, (2011), tác giả Nguyễn
Thị Thoa (chủ biên), Nguyễn Thị Hằng Thu, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về tác phẩm báo chí như: khái niệm, chức năng, giá trị sử dụng, vấn đề bản quyền tác phẩm báo chí; các yếu tố cấu thành tác phẩm báo chí như: yếu
tố nội dung (đối tượng phản ánh, chi tiết, quan điểm của nhà báo, ), yếu tố hình thức (kết cấu tác phẩm, ngôn ngữ thể hiện, thể loại tác phẩm báo chí); quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí,
- “Cơ sở lý luận báo chí”, (2012), tác giả Nguyễn Văn Dững, cung cấp
những kiến thức cơ bản và hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, đặc điểm, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí, về các chức năng và nguyên tắc cơ bản; về chủ thể hoạt động báo chí; vấn đề tự do báo chí
- “Quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số hiện nay”, (2016), đề tài khoa học cấp cơ sở của tác giả Đỗ
Thị Thu Hằng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đề tài nhận diện, mô tả các khâu trong quá trình tổ chức sản xuất các sản phẩm truyền thông, hướng dẫn các nhà báo tích hợp kỹ năng báo chí, kỹ năng ứng dụng công nghệ trong quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông
- “Lao động nhà báo và quản trị tòa soạn báo chí”, (2016), tác giả
Trương Thị Kiên, cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về toà soạn báo chí, cơ cấu tổ chức, các chức danh nhà báo chủ chốt, loại hình lao động nhà báo, quy trình thực hiện các sản phẩm báo chí, lao động phóng viên, quản trị tòa soạn báo chí, kỹ năng quản trị tòa soạn của tổng biên tập và quản lý nhà nước về hoạt động báo chí
- “Lao động nhà báo”, (2016), tác giả Lê Thị Nhã trình bày khái niệm,
đặc điểm lao động nhà báo Xác định vai trò, vị trí và những yêu cầu về phẩm
Trang 14chất, năng lực của nhà báo, phóng viên trong cơ quan báo chí; nhận biết được
tổ chức lao động, các loại hình lao động trong cơ quan báo chí; nắm được quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí và lao động nhà báo trong quy trình sản xuất sản phẩm báo chí ở một số loại hình cơ bản: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử
* Nhóm đề tài về thông tin báo chí dành cho đồng bào DTTS; về chất lượng thông tin chuyên đề DTTS trên báo chí
Trong phạm vi luận văn, tác giả xin nêu mốt số tài liệu liên quan đến
- “Việt Nam – hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc”, (2006), của Thông tấn
xã Việt Nam, NXB Thông Tấn, cuốn sách giới thiệu những đặc trưng văn hóa của 54 dân tộc sinh sống trên khắp các vùng miền, giúp công chúng có cách nhìn tổng quát về đồng bào các dân tộc Việt Nam
- “Vấn đề dân tộc và công chúng dân tộc”, (2011), tác giả Bế Trường
Thành, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Cuốn sách cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản về DTTS ở Việt Nam, đồng thời nêu bật đặc điểm công chúng dân tộc trong giai đoạn hiện nay
- “Sổ tay truyền thông dân tộc”, (2015), Đài Tiếng nói Việt Nam Cuốn
sổ tay trang bị một cách hệ thống các kỹ năng truyền thông, đặc biệt qua các ứng dụng công nghệ truyền thông mới nhằm tăng cường hiệu quả truyền thông dân tộc trong bối cảnh Chính phủ đang tiếp tục đầu tư các chương trình
Trang 15phát triển toàn diện vùng dân tộc chính là góp thêm “viên gạch” cho sự phát triển bền vững cộng đồng thiểu số
- “Báo chí - truyền thông cho các đối tượng chuyên biệt”, (2015) của
tác giả PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đề tài này đã xác lập cơ sở lý thuyết nền tảng về báo chí - truyền thông dành cho các đối tượng chuyên biệt, trong đó có nội dung nói về tổng quan đồng bào DTTS&MN và kỹ năng báo chí dành cho đồng bào DTTS
- “Một số vấn đề về các ấn phẩm báo chí cấp phát cho đồng bào DTTS&MN hiện nay”, (2011), của tác giả Trần Thị Thanh Phương - Học viện
Báo chí và Tuyên truyền Luận văn thiết lập hệ thống khái niệm cơ bản: báo
in, báo cấp phát, tuyên truyền và hiệu quả tuyên truyền, DTTS miền núi; nêu quan điểm của Đảng ta về dân tộc và công tác dân tộc; xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm báo chí đối với đồng bào DTTS&MN Trong chương
2, luận văn đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động tuyên truyền của các báo, tạp chí cấp phát trong năm 2010; phân tích ưu nhược điểm của các báo, tạp chí này, từ đó, đánh giá chất lượng sản phẩm và hiệu quả tuyên truyền của báo cấp phát đối với đời sống của đồng bào DTTS&MN Chương 3, đề xuất một
số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin của các tờ báo, tạp chí Với luận văn này, tác giả kế thừa được phần lý luận về đồng bào DTTS, các tiêu chí đánh giá chất lượng các báo, tạp chí và một số giải pháp nâng cao chất lượng ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS
- “Phóng sự chuyên đề về đồng bào dân tộc trên kênh VTV5”, (2015)
của tác giả Trần Ngân Hà - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn tập trung làm rõ vấn đề sản xuất chương trình truyền hình về phóng sự chuyên đề dành riêng cho đồng bào các dân tộc phát sóng trên kênh VTV5 Với đề tài này, tác giả có thể kế thừa nội dung lí luận về đồng bào DTTS; hiểu được những đặc trưng, nhu cầu của đồng bào để từ đó cung cấp thông tin bằng báo
in đến với đồng bào một cách thiết thực nhất
Trang 16- “Đài phát thanh và truyền hình các tỉnh miền núi Việt Bắc với vấn đề bảo tồn và quảng bá làn điệu dân ca các DTTS” (2016) của tác giả Nguyễn
Ngọc Toàn - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn tập trung làm rõ vấn
đề vai trò của đài phát thanh và truyền hình các tỉnh miền núi Việt Bắc trong việc bảo tồn và quảng bá làn điệu dân ca các DTTS Với đề tài này, tác giả có thể kế thừa vấn đề lí luận về đồng bào DTTS các tỉnh miền núi Việt Bắc và thấy được sự khác nhau trong các loại hình truyền thông đến đồng bào DTTS
- “Nghiên cứu về thực trạng đời sống của đồng bào DTTS: Nhìn từ khía cạnh việc làm và thu nhập” (2016) của TS Nguyễn Văn Chiều - Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Ở đây, tác giả tập trung nghiên cứu về đời sống của đồng bào các DTTS tại các khu công nghiệp và khu đô thị ở Việt Nam hiện nay nhằm phác họa được một bức tranh
cụ thể về cuộc sống của người DTTS trong quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa Qua nhận diện mô hình việc làm và thu nhập của người DTTS, nghiên cứu chỉ rõ: Người DTTS gặp nhiều khó khăn về loại hình công việc, cách thức tìm kiếm việc làm; có sự khác biệt về vùng miền, nhóm tuổi, giới tính, định hướng việc làm, thu nhập và gắn kết công việc
- “Vấn đề tổ chức ảnh báo chí về đề tài đồng bào DTTS trên báo in hiện nay” (khảo sát các báo: Lao động, Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Nhân
dân, Dân tộc và phát triển năm 2015) (2018) của tác giả Đàm Duy Tuấn – Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn tập trung làm rõ vấn đề tổ chức, sắp xếp ảnh về đồng bào DTTS trên các báo: Lao động, Tuổi trẻ thành phố
Hồ Chí Minh, Nhân Dân, Dân tộc và phát triển trong năm 2015 Với đề tài này, tác giả có thể kế thừa vấn đề lí luận về đồng bào DTTS; nâng cao chất lượng ảnh báo chí, hình thức trình bày trên các chuyên đề DTTS trên ba tờ báo mà tác giả lựa chọn nghiên cứu
- “Tác động của chính sách cấp phát báo in miễn phí đối với công chúng DTTS ở tỉnh Hòa Bình hiện nay” (Khảo sát từ tháng 1/2017 đến tháng
Trang 171/2019), (2019), của tác giả Hồ Kim Hằng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về tác động của chính sách cấp phát báo in miễn phí đối với công chúng DTTS, khảo sát thực trạng tác động của chính sách cấp phát báo in miễn phí đối với công chúng DTTS tại tỉnh Hòa Bình hiện nay; đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy tác động tích cực của chính sách cấp phát báo in miễn phí cho công chúng DTTS nói chung và tỉnh Hòa Bình trong thời gian Với luận văn này, tác giả đã kế thừa, học hỏi được cách triển khai vấn đề và phần lý luận về đồng bào DTTS, tham khảo các giải pháp nâng cao chất lượng của chính sách cấp phát báo, tạp chí đến với đồng bào
Tóm lại, các đề tài, luận văn nêu trên chỉ mới nghiên cứu một hoặc một
số khía cạnh về đồng bào DTTS mà chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN của các báo: Nhân Dân, CCB Việt Nam, Yên Bái, năm 2019
Chính vì vậy, đề tài “Chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên
ấn phẩm báo in Việt Nam hiện nay”, khảo sát Chuyên trang DTTS&MN trên
ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái vùng cao năm 2019 là hoàn toàn mới, không trùng lặp với
các công trình đã được nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng thông tin chuyên
đề DTTS&MN trên báo chí hiện nay, đề tài khảo sát, phân tích, đánh giá thực
trạng chất lượng thông tin về DTTS&MN trên Chuyên trang DTTS&MN trên
ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái vùng cao, trong năm 2019, chỉ ra thành công, hạn chế,
nguyên nhân, từ đó, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên báo in ở Việt Nam hiện nay
Trang 183.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên ấn phẩm báo in Việt Nam
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng thông tin Chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái vùng cao trong năm 2019,
chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân thành công, hạn chế
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên ba ấn phẩm được khảo sát nói riêng và trên ấn phẩm báo in Việt Nam hiện nay nói chung
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên báo in Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu Chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái vùng cao
Lý do chọn khảo sát chuyên đề trên ba ấn phẩm nêu trên Đây là các các ấn phẩm chuyên biệt hoặc có chuyên trang dành cho đồng bào DTTS&MN
- Trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, chuyên trang DTTS&MN
có thời gian xuất bản 7 năm, là chuyên trang uy tín trên một tờ báo uy tín Trung ương
- Chuyên đề DTTS&MN của Báo CCB Việt Nam là cơ quan của Trung
ương Hội – tiếng nói của CCB Việt Nam, đại diện cho báo chí của các tổ chức chính trị xã hội
Trang 19- Ấn phẩm Yên Bái vùng cao là cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản
Việt Nam tỉnh Yên Bái, là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Yên Bái, đại diện cho báo địa phương
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 12-2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí truyền thông; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về báo chí dành cho đối tượng đồng bào DTTS&MN; các tài liệu lý luận báo chí nói chung và lý luận về chất lượng thông tin các sản phẩm dành cho đồng bào DTTS&MN nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiếp cận, lựa chọn, đánh giá các giáo trình, tài liệu về đồng bào DTTS, các tài liệu báo chí nghiên cứu về thông tin cho đồng bào DTTS, tài liệu tại các cơ quan báo chí có liên quan đến đề tài để rút ra những vấn đề cơ bản về lý luận - thực tiễn, những vấn đề nội dung thông tin, hình thức thông tin của chuyên đề DTTS&MN trên ấn phẩm báo in
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tìm những điểm giống và khác nhau
về chất lượng thông tin, phương thức tổ chức của các ấn phẩm chuyên đề DTTS&MN được khảo sát để thấy được tính ưu việt và hạn chế cần khắc phục của từng ấn phẩm, từng cơ quan báo chí
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Tác giả tiến hành thống
kê, phân loại các bài báo trên ấn phẩm, từ đó phân tích chất lượng nội dung, hình thức của các tác phẩm, tổng hợp thành các luận điểm phục vụ đề tài nghiên cứu
Trang 20- Phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả luận văn tiến hành điều tra
xã hội học đối với đối tượng là độc giả thuộc diện được cấp phát ba tờ:
Chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày, chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái vùng cao, số lượng 300
phiếu, nhằm ghi nhận những ý kiến đóng góp, nhận xét của bà con dân tộc về chất lượng thông tin của các ấn phẩm báo chí được khảo sát
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ lãnh đạo, Ban biên tập,
PV, BTV người làm công tác dân tộc, số lượng: 11 người (mỗi báo 3 người, UBDT: 2 người), nhằm lấy ý kiến đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chuyên đề Dân tộc thiếu số và miền núi đối với ấn phẩm của ba
tời báo: Chuyên trang DTTS&MN trên ấn phẩm báo Nhân Dân hằng ngày,
chuyên đề DTTS&MN của báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái vùng cao
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đồng bào DTTS cũng như nghiên cứu
về báo chí dành cho đối tượng là đồng bào DTTS nhưng đây là lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu về chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên 3 ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS Vì vậy, luận văn có những đóng góp về lý luận như sau:
- Góp phần hình thành khung lý luận cơ bản về khái niệm, vai trò, đặc điểm của thông tin và chất lượng thông tin trên báo chí chuyên đề DTTS&MN
- Bước đầu xây dựng yêu cầu, tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng thông tin trên báo chí chuyên đề DTTS&MN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn là một trong những nguồn tư liệu thực tế hữu ích để các cơ quan báo chí và người làm báo tham khảo từ đó xây dựng những phương pháp, cách thức truyên truyền phù hợp đồng bào DTTS
Trang 21- Thông qua việc nghiên cứu chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN, luận văn cũng mạnh dạn đề xuất một vài kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác báo chí DTTS, nâng cao chất lượng các ấn phẩm dành riêng cho đối tượng này
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách báo chí, chính sách về đồng bào DTTS có cái nhìn chân thực về thông tin trên chuyên đề DTTS&MN
- Đồng thời, luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cho sinh viên, học viên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đồng bào DTTS&MN
7 Đóng góp mới của đề tài
- Đây là đề tài đầu tiên đề xuất những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên báo in Việt Nam hiện nay
- Là đề tài đầu tiên khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng thông tin về chuyên đề DTTS&MN thể hiện ở các ấn phẩm của ba cơ quan báo chí: báo Nhân Dân, báo CCB Việt Nam, báo Yên Bái
- Đồng thời, là đề tài đầu tiên đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng
thông tin chuyên đề DTTS&MN trên báo in Việt Nam
8 Kết cấu của luận văn
Trong luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương; 10 tiết
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất lượng thông tin chuyên đề
DTTS&MN trên báo in
Chương 2: Thực trạng chất lượng thông tin chuyên đề DTTS&MN trên
ba tờ báo được khảo sát
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin chuyên đề
DTTS&MN trên báo in Việt Nam hiện nay
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI TRÊN BÁO IN
VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Chất lượng
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của một con người, một sự vật, sự việc” [30; tr.139]
Ở khía cạnh khác, chất lượng được hiểu là: “Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng yêu cầu Yêu cầu: Nhu cầu hay mong đợi đã được công bố ngầm hiểu chung hay bắt buộc Nếu sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu, không được thị trường chấp nhận thì sản phẩm đó được coi là kém chất lượng” [45; tr, 157]
Theo điều 2.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9001:2005, chất lượng cũng được hiểu là: mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có Và suy cho cùng “chất lượng” dùng để đánh giá một loại sản phẩm, hàng hóa
Như vậy, ở luận văn này, chất lượng được hiểu là mức độ đáp ứng các yêu cầu về nội dung và hình thức đối với một ấn phẩm chuyên đề DTTS&MN cung cấp cho đồng bào
1.1.2 Thông tin và chất lượng thông tin
- Thông tin
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thông tin là truyền cho nhau để biết, điều
được truyền đi cho biết, tin truyền đi” [30; tr, 953]
Giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí” do PGS TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên
nêu: “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo” [40; tr 23]
Theo tác giả Phạm Thành Hưng, “Từ góc độ nhận thức luận, thông tin
là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan, được biểu hiện bằng hệ thống các ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh [23; tr.185]
Trang 23Trên cơ sở những khái niệm chung về thông tin, trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững đã nêu những đặc điểm cơ bản của
thông tin báo chí đó là: Thông tin báo chí có tính thời sự, tính công khai, tính mục đích, tính định kỳ đều đặn, tính phong phú đa dạng, nhiều chiều, tính dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo và tính tương tác Tất cả là những đặc điểm của thông tin báo chí mà những loại thông tin khác không thể có được [3, tr.66-67]
Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cách
hiểu Một là, tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Hai là, sự loan báo cho mọi người biết Theo cách hiểu thứ nhất, thông tin
thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương tự với khái niệm hình tượng trong nghệ thuật, hàng hóa trong kinh tế - chính trị ) Đây chính là một đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung Còn theo cách hiểu thứ hai là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh Như vậy, thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa là sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo)
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm thông tin được hiểu theo cách thứ hai Theo đó, thông tin là từ chỉ hoạt động của nhà báo nhằm truyền đạt, phổ biến các kết quả lao động sáng tạo của nhà báo (là các tác phẩm báo chí) tới công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật, qua đó tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người nhận, dẫn đến những thay đổi tích cực trong nhận thức và hành vi, hoặc mang lại những hiệu quả cụ thể với đối tượng tiếp nhận
Như vậy, có thể hiểu thông tin là việc chuyển tải thông báo, kiến thức đến nhiều người thông qua các phương tiện kỹ thuật, các loại hình chuyển tải khác nhau nhằm tác động đến những hành vi của công chúng trong xã hội, định hướng
dư luận xã hội, thực hiện chức năng giám sát, quản lý để góp phần hoàn thiện, phát triển xã hội
- Chất lượng thông tin
PGS,TS Đường Vinh Sường cho rằng, “chất lượng của thông tin là tổng thể các thuộc tính đặc trưng cho bản chất của thông tin được xác định bằng các
Trang 24thông số có thể đo được và do đó nó có khả năng thoả mãn nhu cầu của người dùng tin”
Tác giả E.P.Prôkhôrốp đưa ra quan điểm về chất lượng thông tin trong
hoạt động báo chí, viết trong cuốn “Cơ sở lý luận của báo chí” ấn hành năm
2001, hiện đang làm giáo trình giảng dạy cho sinh viên Ngành báo chí của các trường đại học và cao đẳng ở Nga: “Đó là mức độ báo chí đạt được mục tiêu đáp ứng những nhu cầu của xã hội về thông tin đại chúng có tính đến những khả năng thực tế cửa những người “sản xuất thông tin” cũng như của những người sử dụng thông tin”
Ở một hướng phân tích khác, “Chất lượng thông tin trong tác phẩm báo chí là mức độ đáp ứng nhu cầu về thông tin của công chúng bao gồm một loạt yếu tố như tính thời sự, hấp dẫn, phù hợp lợi ích sức gây ấn tượng, tâm lý mạnh mẽ” [30; tr 25]
Trong phạm vi luận văn, chất lượng thông tin được hiểu là khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, phù hợp với mục đích truyền thông của
cơ quan báo chí Một sản phẩm báo chí có chất lượng phải thỏa mãn yêu cầu về chất lượng nội dung và chất lượng hình thức Về nội dung, thông tin phải mang tính thời sự, phong phú đa dạng…; Về hình thức, ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, thể loại phong phú, trình bày sinh động…
1.1.3 Dân tộc thiểu số và miền núi
- Dân tộc thiểu số
Theo Từ điển Tiếng Việt: “DTTS là dân tộc chiếm số ít hơn so với dân
tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc” [30; Tr 247]
Theo quan điểm của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng: “DTTS dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc” [18; Tr, 47)
Theo Khoản 2, Điều 4, Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Thủ tướng
Chính phủ về Công tác dân tộc, khái niệm DTTS được hiểu: “Là những dân
Trang 25tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia”
Từ những quan điểm trên, khái niệm DTTS được hiểu: Là những dân tộc có số dân chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan dân số, Việt Nam có hơn
96 triệu dân, dân tộc Kinh chiếm 85,9% dân số, được coi là dân tộc đa số, 53 dân tộc còn lại chiếm 14,1% dân số, được gọi là DTTS trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Trong luận văn, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ DTTS theo cách hiểu này
- Dân tộc thiểu số và miền núi
DTTS&MN, hiện chưa có khái niệm, định nghĩa rõ ràng, chỉ ngầm hiểu là không
gian sinh sống của đồng bào DTTS ở đồng bằng và miền núi
- Theo các Quyết định công nhận các tỉnh, huyện, xã là miền núi, vùng cao từ 1993 đến nay để thực hiện Nghị quyết 22 và Quyết định 72/HĐBT với tiêu chí lấy độ cao so với mực nước biển để xác định, có: 12 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có miền núi, 13 tỉnh vùng DTTS ở đồng bằng (thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long), 10 tỉnh có hộ DTTS sống xen kẽ
- Theo Quyết định 582/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt
danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng DTTS&MN giai đoạn 2016-2020 có 5.266 xã ở 458 huyện của 51 tỉnh
Theo Đề án Tiêu chí phân định vùng đồng bào DTTS&MN theo trình độ phát
triển giai đoạn 2021-2025 của UBDT thì: Vùng đồng bào DTTS&MN là địa bàn các
xã, thôn có tỷ lệ hộ DTTS từ 15% số hộ trở lên
1.1.4 Chuyên đề và Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi
- Theo Từ điển Tiếng Việt: Chuyên đề lá vấn đề chuyên môn, có giới hạn, được nghiên cứu riêng [30; tr,180]
Có thể cho rằng, chuyên đề được ghép từ 2 từ chuyên và đề Chuyên có thể hiểu là chuyên sâu, chuyên biệt, chuyên về Còn từ đề trong phạm vi nghiên
Trang 26cứu này, có nghĩa là và vấn đề, đề tài, chủ đề Như vậy, chuyên đề là chuyên về vấn đề, lĩnh vực thông tin, đối tượng tiếp nhận nào đó
- Chuyên đề DTTS&MN là tên gọi một loại ấn phẩm báo chí hoặc chuyên trang của ấn phẩm báo chí chuyên sâu về đề tài dân tộc và miền núi, thực chất là những ấn phẩm được sản xuất dành riêng cho đồng bào DTTS, với nội dung về các vấn đề liên quan đến DTTS&MN, giúp định hướng nhận thức, thái độ, hành
vi bà con, giúp bà con tiếp nhận các thông tin liên quan đến đồng bào, đến phát triển KTXH miền núi và đất nước dễ dàng, thuận lợi, phù hợp…
1.1.5 Chất lượng thông tin sản phẩm báo chí về nội dung và hình thức
Chất lượng của tác phẩm báo chí, của một sản phẩm báo in thể hiện rõ
ở nội dung, hình thức Cụ thể, nội dung thông tin phải đảm bảo tính thời sự, tính chính xác, tính định hướng, phong phú, đa dạng, khách quan chân thật… Về hình thức thông tin cần sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, nhiều thể loại tin, bài, hình ảnh đẹp, sinh động…
1.2 Đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng dân tộc thiểu số
và vai trò của thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1.2.1 Đặc điểm tiếp nhận thông tin của công chúng dân tộc thiểu số
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Công chúng báo chí có thể được hiểu
là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởng hoặc hướng vào để gây ảnh hưởng Như vậy, công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo [13; tr.136-137]
Công chúng báo chí là bà con DTTS có đặc điểm:
- Trình độ dân trí thấp, năng lực nhận thức xã hội, chính trị không cao
Về giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho vùng DTTS, những năm qua được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư, chất lượng giáo dục đào tạo đã được nâng lên Tuy nhiên, so với mặt bằng chung vẫn còn thấp Theo số liệu của Tổng cục
Trang 27Thống kê năm 2015: Cứ 10 người DTTS trên 15 tuổi có 4 người chưa bao giờ đến trường hoặc chưa học xong tiểu học Trung bình 79,2% người DTTS biết đọc, biết viết tiếng phổ thông 20,8% người DTTS chưa biết đọc, biết viết và không hiểu được 1 câu đơn giản của tiếng Việt
Một số DTTS chỉ sống thu hẹp trong cộng đồng, thôn bản của dân tộc mình, ít giao lưu, làm ăn với các dân tộc khác
Như vậy, một trong những rào cản trong hoạt động truyền thông dân tộc hiện nay đó là bất đồng ngôn ngữ; tỷ lệ đọc thông, viết thạo thấp; tâm lý thiếu tự tin, e ngại; truyền thông chủ yếu bằng tiếng Việt… là vấn đề bất cập trong việc thông tin đến đồng bào DTTS khi cung cấp các chuyên đề đến với người DTTS
- Đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn Những năm qua, vùng đồng bào DTTS&MN đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đời sống của đồng bào được nâng lên rõ rệt
Tuy nhiên, các DTTS ở Việt Nam cư trú chủ yếu ở miền núi, vùng cao thuộc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, địa hình chia cắt phức tạp, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn Đất đai và rừng là nguồn sinh kế chủ yếu của DTTS nhưng do nằm trên địa hình dốc, tỷ lệ diện tích đất tốt, màu mỡ để canh tác thấp, thường xuyên bị thiếu nước, xói mòn, sạt lở nên hiệu quả sử dụng đất không cao (nhiều hộ DTTS thiếu/không có đất sản xuất) Trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các dân tộc; điều kiện cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế- xã hội của vùng DTTS còn nhiều khó khăn, người DTTS chưa được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ thiết yếu như đường giao thông, trường học, trạm y tế, điện lưới, nước sạch, nhà ở, tài sản lâu bền và liên kết với các thị trường Vì thế, kinh tế vùng DTTS còn chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn Đây được xem là “lõi nghèo của
cả nước” Điều này tạo ra những rào cản trong việc tiếp cận cơ sở hạ tầng, các dịch vụ công như y tế và giáo dục, nhất là tiếp cận thông tin
Trang 28- Đời sống văn hóa còn nghèo, ít được tiếp cận các hình thức giải trí, văn hóa, văn nghệ và giao lưu vùng miền Việc tiếp cận thông tin của đồng bào DTTS còn hạn chế Sự phát triển không đồng đều về KTXH là một đặc điểm lớn, đồng thời cũng là trở ngại không nhỏ trong công tác truyền thông của báo chí khi đưa thông tin đến với công chúng là đồng bào DTTS Điều này gây những khó khăn nhất định khi tiếp nhận các sản phẩm báo chí
Từ đặc điểm công chúng như vậy, đặc điểm tiếp nhận thông tin của đồng bào được xác định như sau:
- Chỉ tiếp nhận được loại hình sản phẩm báo chí phù hợp Truyền thông ở vùng DTTS cần phải đi trước một bước, đặc biệt là trong thời kỳ khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, trong những năm gần đây công tác này đã có sự phát triển nhất định Ngoài các kênh truyền thông trực tiếp như hội họp, hội thảo các sự kiện, các chuyên thâm nhập thực tế thì các kênh truyền thông gián tiếp như báo chí (phát thanh, truyền hình, báo in, báo ảnh, báo điện tử), mạng xã hội, điện thoại ngày càng phong phú về cả nội dung, hình thức, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng DTTS
- Chỉ tiếp nhận được nội dung truyền thông hợp lý Công chúng là đồng bào DTTS&MN tiếp nhận nội dung thông tin gần gũi, bám sát đời sống của đồng bào, nêu các vấn đề bà con quan tâm như trồng cây gì, nuôi con gì, giữ gìn bản sắc văn hóa thế nào, các tấm gương điển hình phát triển kinh tế ra sao… để bà con học tập, làm theo
- Chỉ tiếp nhận được khi hình thức thông tin phù hợp: Ngôn ngữ thể hiện trên các ấn phẩm cấp cho đồng bào cần đơn giản, gần gũi, dễ hiểu; các câu văn, đoạn văn cần ngắn; trình bày ít chữ, nhiều ảnh to, đẹp, sinh động gây
ấn tượng với đồng bào
- Chỉ tiếp nhận tốt nếu thời điểm phát báo phù hợp Đối với đồng bào, những vấn đề đồng bào đang quan tâm cần thông tin nhanh chóng nhằm thỏa
Trang 29mãn nhu cầu thông tin Đồng bào DTTS&MN sống ở vùng núi, giao thông chưa thuận tiện; dễ bị thiên tai, lũ lụt, việc cấp phát gặp khó khăn Nhiều khi, thông tin đến với đồng bào đã cũ, không hấp dẫn đồng bào
- Chỉ tiếp nhận được nếu cấp phát miễn phí Do công chúng là đồng bào DTTS chủ yếu sinh sống ở hầu hết những địa phương nghèo, cái ăn cái mặc hằng ngày còn gặp khó khăn nên thông tin cung cấp đến cho đồng bào cần được nhà nước hỗ trợ
1.2.2 Vai trò của thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Vai trò của thông tin chuyên đề dân tộc và miền núi đối với đồng bào DTTS được thể hiện như sau:
1.2.2.1 Cung cấp thông tin cho đồng bào
Đây là vai trò đầu tiên của báo chí Đó là việc thu nhận và phổ biến những tin tức, sự kiện, quá trình của đời sống xã hội đến các cơ quan công quyền và đông đảo người dân Báo chí phản ánh, cung cấp những thông tin về các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và thế giới, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới đồng bào; và ngược lại, thông tin phản hồi ý kiến, mong muốn, nguyện vọng của đồng bào tới các cơ quan lãnh đạo, quản lý Thông tin là chức năng quan trọng, đặc biệt với bà con DTTS Bà con nắm được thông tin chủ yếu qua hệ thống truyền thông Nhưng không phải loại hình báo chí nào cũng phổ cập đến được với bà con Việc cấp phát các ấn phẩm báo in đến đồng bào có ý nghĩa quan trọng, giúp bà con cập nhật các thông tin chính sách, pháp luật, KT-XH, an ninh quốc phòng, văn hóa, thể thao, gương điển hình, kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi… Đây là những vấn đề mà bà con cần được biết, sát thực, gần gũi với đồng bào
1.2.2.2 Định hướng tư tưởng cho đồng bào
Nội dung của chức năng này được thể hiện: Báo chí là lực lượng xung kích, đi đầu và góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, giáo dục lý tưởng
Trang 30xã hội, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…” Báo chí đi đầu và góp phần tích cực vào việc tuyên truyền giáo dục
hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cho nó chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần, tư tưởng của đồng bào Báo chí với những đặc trưng thế mạnh của mình trong hệ thống chính trị và gắn bó chặt chẽ với dư luận xã hội, thường xuyên và kịp thời phát hiện nhân tố mới tích cực, kích thích, năng lực sáng tạo của mỗi con người và của cộng đồng nói chung Đó là phát hiện
và biểu dương người tốt việc tốt; phát hiện, đấu tranh, bảo vệ, trân trọng và nhân rộng những nhân tố mới trong cộng đồng và vì sự phát triển bền vững cộng đồng Báo chí xung kích trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, bảo vệ hệ tư tưởng, củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị [13; tr,177-186]
Hiện nay, các thế lực thù địch luôn lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết của một bộ phận đồng bào DTTS, bằng nhiều cách thức tinh vi hòng lôi kéo đồng bào đi theo chúng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa để xây dựng chế
độ theo ý của các thế lực phản động đó Do vậy, việc thông tin định hướng tư tưởng cho đồng bào để đồng bào tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước là việc làm cấp thiết Mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo đặc biệt là các
ấn phẩm dành cho đồng bào, phục vụ đồng bào DTTS cần bám sâu sát địa bàn
để hiểu được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của bà con để giải quyết kịp thời những vướng mắc trong đồng bào DTTS
1.2.2.3 Là phương tiện giải trí hữu ích cho đồng bào
Báo chí thực hiện chức năng này thể hiện qua một số phương thức sau: Thứ nhất, đó là tham gia bảo tồn các giá trị văn hóa thông qua giáo dục truyền thống Thứ hai, cổ vũ, khích lệ năng lực sáng tạo giá trị mới; đồng thời truyền
bá và nhân rộng nhân tố mới, động viên tính tích cực xã hội của con người Thứ ba, phê phán các thói hư tật xấu, các biểu hiện bảo thủ, trì trệ, đấu tranh chống các hiện tượng phi văn hoá Thứ tư, giao lưu văn hóa với các dân tộc,
Trang 31các cộng đồng Đó là quá trình tiếp biến văn hóa qua các loại hình báo chí - truyền thông Có thể nói, báo chí góp phần to lớn vào việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc cũng như giao lưu, tiếp thu các tính hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước
1.2.2.4 Góp phần nâng cao dân trí cho đồng bào
Khi nói đến báo chí góp phần nâng cao dân trí có nghĩa là nhấn mạnh việc giáo dục chính trị tư tưởng, trách nhiệm công dân; cung cấp kiến thức hiểu biết về pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật; trao đổi và chia sẻ kỹ năng kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm ăn, cho mỗi cá nhân, nhóm xã hội cũng như cho cộng đồng dân cư Mặt khác, báo chí cũng là những kênh có nhiều ưu thế trong việc phổ biến các thành tựu khoa học - công nghệ, hướng dẫn cách thức áp dụng, triển khai và chuyển giao công nghệ Nó còn là công
cụ giám sát hữu hiệu trong việc bảo đảm mục tiêu, định hướng giá trị và hiệu quả công tác giáo dục đào tạo cũng như tập hợp nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển
1.2.2.5 Quản lý, giám sát và phản biện đời sống xã hội vùng đồng bào sinh sống
Vai trò tham gia quản lý, giám sát và phản biện đời sống xã hội vùng
đồng bào DTTS của báo chí trước hết bảo đảm dòng thông tin hai chiều từ chủ thể và khách thể quản lý, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt
và thực thi trong thực tế Chiều thứ nhất, báo chí truyền bá các chủ trương, chính sách và quyết định, quản lý - lãnh đạo, làm cho các quyết tâm chính trị của lãnh đạo và nhà quản lý thành quyết tâm của toàn dân ; chiều thứ hai, là thông tin đúng đắn, khách quan nhất về những gì đang diễn ra trước và sau chủ trương lãnh đạo, quyết định quản lý ban hành [13; tr,192-197]
Thực tế cho thấy, báo chí cần chú trọng thông tin trung thực, khách quan, nhiều chiều từ cuộc sống để giúp cho các cấp lãnh đạo kịp nắm bắt đúng và trúng tình hình để có thể điều chỉnh chính sách, chủ trương, thậm chí thay đổi quan điểm chỉ đạo Phản biện xã hội có thể hiểu là sự tham gia rộng rãi của xã
Trang 32hội - các tầng lớp xã hội, nhân dân trong việc góp ý kiến cho các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - văn hóa -
xã hội
Việc giám sát và phản biện đời sống xã hội vùng đồng bào của báo chí đối với đồng bào DTTS&MN được thể hiện rõ nhất ở các chính sách dành cho đồng bào Báo chí giám sát các cơ quan chức năng hiện thực hóa các chính sách đó, nếu có vấn đề bất cập thì phản ánh để điều chỉnh, hay những nơi làm đúng, làm hay thì biểu dương khích lệ kịp thời
Qua các chức năng của báo chí mà tác giả nêu trên, có thể thấy báo chí thông tin đến đồng bào DTTS mọi mặt của đời sống xã hội, giúp đồng bào tiếp cận được thông tin rộng rãi, đa chiều Báo chí là lực lượng xung kích trên mặt trận nâng cao dân trí và văn hóa đọc, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào Các ấn phẩm báo chí bám sát nhiệm vụ chính trị, đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào Định hướng nội dung tuyên truyền trên cơ sở tôn chỉ mục đích và nhiệm vụ được giao, nhiều chuyên trang, chuyên mục như: các mô hình kinh tế, các kinh nghiệm làm giàu, đưa khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi; gương điển hình về sản xuất giỏi; những kiến thức về bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc; phê phán những phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội Các cơ quan báo chí thường xuyên đề xuất, kiến nghị với các cơ quan ban ngành Trung ương, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương giải quyết những vấn đề mới phát sinh nổi cộm, bức xúc, tháo gỡ những khó khăn trong đời sống xã hội ở vùng đồng bào dân tộc, miền núi
1.3 Các yếu tố tác động đến chất lƣợng thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi trên báo in Việt Nam hiện nay
1.3.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước về truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Vùng đồng bào DTTS&MN là vùng “phên dậu” của Tổ quốc, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế-xã hội… nhưng đây là vùng còn nhiều khó khăn nhất nên Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự
Trang 33quan tâm đặc biệt đến vấn đề dân tộc nói chung, đồng bào DTTS nói riêng, nhằm thực hiện chiến lược đại đoàn kết các dân tộc
Từ năm 1997 đến nay, Chính phủ thực hiện chính sách cấp không thu tiền một số loại báo, tạp chí cho vùng DTTS&MN, vùng đặc biệt khó khăn Quyết định đầu tiên là tháng 7-1997, Chính phủ phê duyệt cho UBDT thực hiện chính sách đặc thù này, Chính phủ phê duyệt các Quyết định cấp miễn phí một số báo, tạp chí cho vùng DTTS, vùng ĐBKK như: Quyết định số 1637/QĐ-TTg ngày 31/12/2001; Quyết định số 975/QĐTTg ngày 20/7/2006;
Quyết định số 2472/QĐ-TTg ngày 28/12/2011; Quyết định số TTg ngày 19/4/2016; Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 16/01/2017 và Quyết định gần đây nhất là số 45/QĐ-TTg, ngày 09/01/2019, có 19 báo, tạp chí thực hiện giai đoạn từ năm 2018-2021 Đây là tiền đề cho sự ra đời và thúc đẩy các
633/QĐ-cơ quan báo chí phát triển
Việc quan tâm đầu tư truyền thông cho vùng đồng bào DTTS của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan báo chí cung cấp thông tin đến đồng bào DTTS một cách thuận lợi, các thông tin đến với đồng bào bằng nhiều kênh khác nhau, với nội dung phong phú, đa dạng; hình thức thay đổi phù hợp với thị hiếu của động bào Nhiều cơ quan báo chí không chỉ sử dụng tiếng phổ thông mà còn thông tin đến bà con bằng tiếng dân tộc Điều quan trọng trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, giúp định hướng, hướng dẫn đồng bào các dân tộc cách làm ăn, phát triển KT-XH, ổn định cuộc sống
Tuy nhiên, hiệu quả truyền thông chưa cao, mức độ tiếp nhận thông tin của đồng bào chưa tương xứng với nguồn lực mà chúng ta đầu tư trong những năm qua [1]
1.3.2 Nguồn nhân lực chuyên về dân tộc thiểu số và miền núi
Trước hết phải khẳng định, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực báo chí truyền thông đóng vai trò quan trọng Để có thông tin chất lượng cao chuyển tải đến công chúng, đòi hỏi đội ngũ nhân lực của các cơ quan báo chí, từ lãnh đạo đến hành chính, PV, BTV, kỹ thuật viên đều phải có trình độ, năng lực, có phẩm chất của những nhà báo và nhà quản lý báo chí
Trang 34Nhà báo cần phải có phẩm chất chính trị vững vàng, bao gồm tri thức, hiểu biết và kinh nghiệm chính trị ; có nền tảng tri thức bách khoa, kiến thức chuyên sâu về đồng bào DTTS&MN, giúp nhà báo thông tin chuẩn xác, giải thích và giải đáp mội cách thuyết phục về các sự kiện vấn đề liên quan đến đồng bào DTTS&MN; có đạo đức nghề nghiệp và lòng yêu nghề Nhà báo pahir có kỹ năng phát hiện đề tài, thu thập, xử lý thông tin; có kinh nghiệm giao tiếp với đồng bào DTTS&MN…
Như vậy, về cơ bản, do được đào tạo bài bản, chuyên sâu về các lĩnh vực
mà mình phụ trách nên nhiều PV, BTV đã có những tác phẩm, bài viết có tính thời sự, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo, phù hợp trình độ dân trí, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của từng dân tộc, từng vùng DTTS khác nhau Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định nào đó, đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông cho vùng đồng bào DTTS vẫn còn thiếu và yếu cả về kiến thức, kỹ năng truyền đạt còn bất cập, thậm chí chưa thực sự am hiểu phong tục tập quán đồng bào và do bất đồng ngôn ngữ nên nhiều PV, nhà báo chưa phản ánh hết được tâm tư nguyện vọng của đồng bào cũng như đời sống xã hội của họ Vì vậy, nhiều tác phẩm báo chí khi đến với đồng bào, chưa được đồng bào đón nhận
1.3.3 Trình độ tiếp nhận của đồng bào dân tộc thiểu số
Trong cuốn: “Báo chí dành cho các đối tượng chuyên biệt”, PGS,TS Đỗ
Thị Thu Hằng viết: “Công chúng báo chí là đồng bào DTTS thuộc mọi thành phần cư dân trong xã hội Do vị trí xã hội, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, sở thích, hiểu biết, mỗi người có sự quan tâm cả nhu cầu thông tin với các mức
độ khác nhau Xuất phát từ tâm lý lợi ích, có những nhóm công chúng đồng bào DTTS cùng quan tâm những thông tin chung mang tính phổ biến; Đồng thời, xuất phát từ những lợi ích riêng, có thể người quan tâm thông tin này, người quan tâm thông tin kia Những cái riêng đó, đều có ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận cùng một thông tin Người sản xuất chương trình truyền hình tiếng dân tộc luôn phải xác định biết mình đang viết cho đối tượng nào Bởi
Trang 35lẽ, công chúng báo chí là đồng bào DTTS nói riêng và công chúng báo chí nói chung chỉ quan tâm đến những tin bài hữu ích đối với họ”
Do sinh sống ở khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng, đời sống vật chất thiếu thốn, đời sống tinh thần nghèo nàn, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ và không thông thạo tiếng Việt ở người DTTS cao Nhiều người DTTS, đặc biệt là người già và phụ nữ, không biết đọc, biết viết, thậm chí không biết nói tiếng Việt Điều này hạn chế khả năng tiếp cận và chia sẻ thông tin Việc
họ ít được tiếp xúc với các phương tiện truyền thông, cũng cản trở tới khả năng tương tác của họ
Với các ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS&MN, đòi hỏi những người lám báo cho đồng bào cần tìm hiểu kỹ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, nhu cầu thông tin của họ để lựa chọn chủ đề, đề tài, cách thức thông tin phù hợp đến với đồng bào Thông tin đến với đồng bào DTTS cần thật chi tiết, cụ thể nhưng phải đơn giản, dễ hiểu, tác động trực tiếp vào tình cảm Do những nét đặc thù riêng biệt, khả năng tiếp nhận thông tin của công chúng là người DTTS cũng
có nhiều điểm khác so với công chúng ở các vùng đồng bằng, thành thị, đồng bào DTTS quen nhận thức bằng trực giác, do vậy, một bài phản ánh gương người tốt việc tốt bào giờ cũng phải kèm theo hình ảnh minh hoạ cụ thể, đặc biệt
là ngôn ngữ thể hiện không nên dùng các từ Hán-Việt, đa nghĩa hay theo kiểu nói lóng Mỗi tin, bài, ảnh phản ánh gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, tác giả nên kèm theo lời bình như: tốt, đẹp, hay và giải thích vì sao lại tốt, vị sao lại đẹp, vì sao lại hay, đồng thời khuyến khích mọi người làm theo, về các tin, bài, ảnh phê bình cũng nên kèm theo lời bình như: xấu, dở và giải thích vì sao lại xấu, lại dở, đồng thời chỉ cho mọi người biết cách tránh Đây là cách tuyên truyền theo kiểu “nói đến đâu thẩm đến đó” [13]
1.3.4 Khoa học kỹ thuật truyền thông
Hiện nay, khi KHKT phát triển, ngoài loại hình báo in thì các loại hình phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử đã thâm nhập sâu vào đời sống của đồng bào DTTS
Trang 36KHKT ra đời đồng nghĩa với việc tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các loại hình báo chí Nhất là báo mạng điện tử và mạng xã hội Trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt với mạng xã hội như hiện nay, báo chí cần phải khẳng định và đề cao hơn nữa bản chất cốt lõi nghề nghiệp của mình: đưa tin chính xác, trung thực Việc kiểm chứng thông tin, để có thể có thông tin chính xác, khách quan, trung thực không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà là lẽ sống của người làm báo, của cơ quan báo chí
Đối với ấn phẩm báo chí cung cấp cho đồng bào DTTS&MN cần tiếp tục tận dụng lợi thế trong phân tích, bình luận, lí giải, bóc tách bản chất thông tin,
đa chiều của vấn đề, từ đó, giúp công chúng nhận biết giá trị, bản chất căn cốt, tính khách quan, toàn cảnh của thông tin để có thể nhận thức đúng về sự việc đã xảy ra PV không chỉ cần kỹ năng tác nghiệp, mà cần tư duy logic, tư duy phản biện, tư duy phân tích chiều sâu trên nền tảng hiểu biết xã hội toàn diện và sâu sắc
Như vậy, KHKT ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho nhà báo sáng tạo tác phẩm báo chí, nhưng nó cũng tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các loại hình báo chí cung cấp cho đồng bào DTTS&MN trước yêu cầu ngày càng cao của công chúng Điều này đặt ra vấn đề là, mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo viết
về vùng cao cần thay đổi cách nghĩ, cách làm để tạo ra tác phẩm được đồng
bào đón nhận
1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng thông tin chuyên đề dân tộc thiểu số và miền núi trên báo in Việt Nam hiện nay
1.4.1 Tiêu chí về chất lượng nội dung
1.4.1.1 Thông tin mang tính thời sự, nhanh chóng, kịp thời
Thông tin mang tính thời sự có thể hiểu là những sự việc, sự kiện vừa mới xảy ra, nóng hổi, liên quan đến nhiều người và có ý nghĩa ngày hôm nay, ngay bây giờ Tuy nhiên, cũng có sự kiện xảy ra lâu rồi nay mới được biết, được nhận thức lại được nhiều người quan tâm Đó là những sự kiện công
Trang 37chúng muốn biết, cần biết nhưng chưa biết hoặc những sự kiện lãnh đạo cần thông tin cho công chúng để thực hiện mục đích chính trị của mình Sự kiện xảy ra từ lâu, nhưng nay mới biết hoặc xảy ra đã lâu nhưng nay mang ý nghĩa thời sự, thời cuộc
“Tính thời sự của báo chí là đưa đến cho công chúng về sự kiện mới nhất, giúp họ nhận thức kịp thời và có thái độ đúng đắn trước các sự việc, tình huống diễn ra trong đời sống xã hội Thông tin báo chí chỉ có giá trị khi đáp ứng được nhu cầu, mục đích của đối tượng tiếp nhận, giúp họ giải quyết được những vấn đề đang đặt ra” [1]
Các ấn phẩm báo chí dành cho đồng bào DTTS&MN thường khó đáp ứng yêu cầu là tính thời sự, nhanh chóng bởi các ấn phẩm thường xuất bản theo kỳ, 1 tháng 2 hoặc 4 kỳ, chứ không theo hình thức nhật báo
1.4.1.2 Thông tin chính xác, khách quan, chân thực
Tính khách quan, chân thực của thông tin báo chí thể hiện ở việc đảm bảo nội dung thông tin phản ánh chính xác về sự kiện, quá trình hiện thực Sự kiện diễn ra như thế nào thì nội dung thông tin báo chí phải chuyển tải phải như thế, không được cắt xén, bóp méo, tô hồng, làm sai lệch nguyên bản sự kiện Tính khách quan, chân thực là nguyên tắc tối cao, là điều kiện tồn tại của báo chí, thể hiện chất lượng của thông tin báo chí và tạo nên hiệu quả của hoạt động báo chí
Đây là yếu tố bắt buộc đối với mỗi cơ quan thông tin truyền thông Đối với sản phẩm dành cho đồng bào DTTS&MN thì thông tin càng bắt buộc phải chính xác, khách quan Bởi nó vừa là cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, chính quyền, vừa là nơi cung cấp thông tin chính thống cho đồng bào Thông tin chính xác, khách quan mới tạo nên độ tin cậy cho công chúng Đồng thời phản ánh phải đúng và trúng bản chất vấn đề, sự kiện, hiện tượng, xuất phát
từ lợi ích của Đảng, nhà nước, quyền lợi của nhân dân, giúp công chúng hiểu được bản chất của sự việc
Trang 381.4.1.3 Thông tin dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo
Các bài viết không nên trình bày phức tạp, rối rắm làm công chúng khó nhớ Chỉ nên dùng các khái niệm phổ biến, người dân hay sử dụng và dễ hiểu Các khái niệm mới, khó hiểu được dùng trong bài nên giải thích ngắn gọn cho đồng bào hiểu Trong tin nên dùng câu đơn, câu thông báo Thông tin dễ hiểu,
dễ nhớ và dễ làm theo được thể hiện trong mô hình thông tin – chỉ dẫn Người đọc dù ở trình độ thấp hay cao, đọc là hiểu ngay
Từ chỗ dễ hiểu, dẽ nhớ, dễ làm theo đó, công chúng là đồng bào dân tộc
có nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với sự việc, hiện tượng Thông tin ở các ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS thường có tính định kỳ rõ rệt, các chuyên mục được ấn định ở các trang Điều này, giúp cho đồng bào yêu thích chuyên mục nào có thể đón đợi, đọc nội dung mình cần một cách hiệu quả
1.4.1.4 Thông tin phong phú, đa dạng, nhiều chiều
Đối tượng phản ánh của báo chí là các vấn đề đã và đang diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đời sống xã hội… Đối tượng tác động của báo chí hết sức phong phú, đa dạng không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính, trình độ…
Các ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS&MN cũng có thông tin phong phú,
đa dạng, nhiều chiều, hướng đến nhiều đối tượng công chúng khác nhau Mỗi ấn phẩm như một bức tranh tổng thể, đề cập nhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị, kinh tế đến văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, sức khỏe, gương sáng… mặt khác, các phương tiện, phương thức, hình thức phản ánh của báo chí cũng vô cùng linh hoạt; phong cách giọng điệu mỗi chuyên mục, mỗi ấn phẩm báo chí cũng không giống nhau Thông tin của ấn phẩm là các sự kiện, vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội ở mỗi bản làng, mỗi sự việc gắn liền với đồng bào Trong thực tế, nhu cầu, sở thích và tâm lý tiếp nhận của công chúng quy định tính đa dạng, phong phú của thông tin báo chí
Trang 39Để đạt chất lượng cao, thông tin các ấn phẩm dành cho đồng bào luôn cần phong phú, đa dạng về chủ đề, vấn đề, sự kiện phản ánh; đưa thông tin ở nhiều góc đó, đáp ứng tốt nhu cầu, tâm lý tiếp nhận của đồng bào DTTS&MN Tất cả đều hướng đến đáp ứng nhu cầu thị hiếu của công chúng là đồng bào DTTS&MN, giúp họ hiểu, nhận thức rõ ràng về các vấn đề đang xảy ra
1.4.1.5 Thông tin có tính định hướng
Các ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS&MN trước hết là một kênh tuyên truyền, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân Do đó, các ấn phẩm cẩm nang giúp cho cán bộ, đảng viên, Người có uy tín và các lực lượng khác làm tài liệu tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hướng dẫn, tập huấn, phổ biến kỹ thuật, phát triển sản xuất, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào
Do vậy, thông tin mà các ấn phẩm cung cấp, truyền tải đến bà con phải có tính định hướng dư luận xã hội Khi thông tin, phân tích, bình luận về một vấn đề phải xuất phát từ lợi ích của Đảng, nhà nước, của nhân dân, đưa ra những nhận xét cho mình: đâu là tốt, đâu là xấu, việc gì nên hay không nên
1.4.1.6 Thông tin sinh động, hấp dẫn, gần gũi
Đối tượng nào, nội dung, hình thức ấy Thông tin của ấn phẩm dành cho đồng bào DTTS&MN phải có nội dung, hình thức phù hợp với nhu cầu tiếp nhận, đáp ứng năng lực, sở thích, thói quen của đồng bào Đảm bảo hài hoà phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thông tin các mặt đời sống xã hội Thông tin các ấn phẩm muốn
có chất lượng cao thì phải sinh động, hấp dẫn, thiết thực, gần gũi, liên quan đến nhiều người, mỗi độc giả đều thấy bóng dáng mình trong đó hoặc ít nhất họ cũng học hỏi được điều gì đó để áp dụng cho bản thân, gia đình, bản làng mình Đây là yêu cầu không thể thiếu đối với thông tin của báo chí nói chung, thông tin của các
ấn phẩm báo chí dành cho đồng bào DTTS&MN nói riêng Đồng bào có quyền lựa chọn thông tin thiết thực, hữu ích cho mình, nếu không họ sẽ không đọc báo hoặc tìm đến kênh truyền thông khác phù hợp với họ Thông tin dành cho đồng bào
Trang 40DTTS&MN bảo đảm người có trình độ cao tiếp nhận không thấy nhàm chán, những người trình độ thấp cũng không thấy khó hiểu
1.4.2 Tiêu chí về chất lượng hình thức
1.4.2.1 Ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu
Ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu được thể hiện qua tính chính xác, tính cụ thể, tính đại chúng, tính ngắn gọn Ngôn ngữ của bất kỳ phong cách nào cũng phải bảo đảm tính chính xác Nhưng với ngôn ngữ báo chí, tính chất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chỉ cần một sơ suất dù nhỏ nhất về ngôn từ cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí trước hết thể hiện ở mảng hiện thực được nhà báo miêu tả, tường thuật phải cụ thể, phải cặn kẽ tới từng chi tiết nhỏ Có như vậy, người đọc, người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong tác phẩm báo chí Tính đại chúng của ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dành có tính phổ cập rộng rãi Nhà nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nổi tiếng người Nga V G Kostomarov: “Ngôn ngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầng lớp công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy khó hiểu” Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí: “Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn, súc tích Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe [2; tr,14,24]
Như vậy, ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ trong các ấn phẩm cấp cho đồng bào DTTS&MN nói riêng luôn phải chính xác, cụ thể, trong sáng, ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày của đồng bào, sử dụng lối so sánh ví von, nhiều tranh ảnh, bài ngắn, chữ ít… giúp đồng bào hiểu hết được nội dung mà tác giả truyền đạt trong tác phẩm báo chí
1.4.2.2 Thể loại đa dạng, phù hợp
Thông tin có chất lượng cao phải có hình thức thể hiện đa dạng và phù hợp với điều kiện tiếp nhận của công chúng Do đó, hình thức thể hiện thông