- Bước đầu nhận định, phân tích phương pháp vận động trí thức của Đảng, đó là một mặt Đảng tập hợp đội ngũ trí thức trong các tổ chức cứu quốc trực thuộc Mặt trận Việt Minh hoặc Đảng chỉ
Trang 1QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN QUANG DUY
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG, TẬP HỢP TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG TRONG CAO TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1939-1945)
Ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Bùi Kim Đỉnh
HÀ NỘI - 2013
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG TRONG CAO TRÀO GIẢI
1.1 Trí thức Việt Nam và cuộc vận động trí thức của Đảng trước 1939 8
1.2 Công tác trí thức của Đảng Cộng sản Đông Dương trong cao trào
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trí thức là tầng lớp đặc biệt, là một bộ phận quan trọng trong liên minh đoàn kết toàn dân tộc Trải qua quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, trí thức Việt Nam luôn nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, không ngừng phấn đấu, hy sinh hăng hái tham gia xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cao cả của dân tộc
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vai trò của trí thức trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Từ Cương lĩnh chính trị đầu
tiên, Đảng đã xác định trí thức là lực lượng cách mạng của dân tộc và cần lôi kéo tầng lớp trí thức đi vào phe vô sản giai cấp Tuy nhiên, phải đến 10 năm sau, công tác vận động, tập hợp đội ngũ trí thức của Đảng mới thực sự có
những biến chuyển mang tính bước ngoặt Với sự ra đời của Mặt trận Việt
Minh (10-1941), tiếp sau đó là bản Đề cương văn hoá (1943) và sự thành lập Đảng Dân chủ Việt Nam (6-1944), có thể khẳng định rằng, Đảng đã có được
chủ trương, biện pháp đúng đắn và hiệu quả trong việc tập hợp tầng lớp trí thức vào công cuộc giải phóng dân tộc Thành công của Cách mạng tháng Tám 1945 có phần đóng góp không nhỏ của công tác trí thức vận của Đảng
Ngày nay, trong công cuộc toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, công tác vận động, tập hợp, bồi dưỡng và đào tạo đội
ngũ trí thức được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) khẳng định: “Trong cách mạng dân
chủ, vai trò giới trí thức đã quan trọng; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai
trò của trí thức càng quan trọng” Chúng ta hiểu rằng chuyển động của mỗi
đất nước phụ thuộc lớn vào trí tuệ và bản lĩnh của tầng lớp trí thức Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì việc đào tạo, sử dụng nhân tài cho việc chấn hưng đất nước cần được coi là một trong những nhân tố tích cực nhất Gần đây, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã
Trang 4thảo luận và thông qua một Nghị quyết số 27 - NQ/TW "Về xây dựng đội ngũ
trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" Nghị quyết khẳng định “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị… Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững”
Do vậy, nghiên cứu để tìm hiểu một cách đầy đủ, có hệ thống quan điểm, chủ trương vận động, tập hợp tầng lớp trí thức của Đảng thời kỳ 1939 -
1945, chỉ ra những thành tựu và hạn chế, đúc rút những kinh nghiệm phục vụ hiện tại là một một việc làm rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề
“Công tác vận động, tập hợp trí thức của Đảng Cộng sản Đông Dương trong cao trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945) ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về trí thức nói chung, đặc biệt là vai trò và những đóng góp của trí thức đối với cách mạng Việt Nam là một vấn đề không mới Đặc biệt vào thời điểm trước và sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X thảo
luận và thông qua nghị Nghị quyết số 27 - NQ/TW "Về xây dựng đội ngũ trí
thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(6/8/2008), nhiều công trình nghiên cứu về trí thức có giá trị đã được
xuất bản Tựu trung lại có thể phân loại các công trình này làm hai nhóm:
Nhóm thứ nhất tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về trí
thức với những công trình tiêu biểu như: Nguyễn Văn Khánh (2001), Một số
vấn đề về trí thức Việt Nam: Sách tham khảo, Nxb Lao động, Hà Nội; Phạm
Tất Dong (1995), Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Quốc Bảo (1998), Trí thức trong công cuộc đổi
mới đất nước Nxb Lao động, Hà Nội; Nguyễn Thanh Tuấn (1998), Một số vấn đề về trí thức Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hồ Sơn Diệp
Trang 5(2003), Trí thức Nam bộ trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh; Vũ Khiêu (2006), Trí
thức Việt Nam thời xưa, Nxb Thuận Hoá, Huế; Chương Thâu (2007), Góp phần tìm hiểu Nho giáo - nho sĩ - trí thức Việt Nam trước 1945, Nxb Văn hoá
Thông tin, Hà Nội; Nguyễn Đắc Hưng (2005), Tri thức Việt Nam trước yêu
cầu phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lược khảo về kinh nghiệm đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam của Phạm Hồng
Tung xuất bản năm 2008; Nguyễn Hoàng Lương - Phạm Hồng Tung (2008),
Tài năng và đắc dụng (Nghiên cứu về một số nhân tài tiêu biểu ở Việt Nam và nước ngoài), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Đương (2005), Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức, Nxb Thông tấn, Hà Nội… Những công trình này chủ yếu
nghiên cứu về đặc điểm, cơ cấu đội ngũ trí thức với tư cách là nguồn nhân lực, nhân tài và những đóng góp của họ đối với cách mạng Việt Nam
Nhóm thứ hai nghiên cứu về những chủ trương, chính sách của Đảng
đối với trí thức và trí thức với Đảng trên góc độ lịch sử Đảng Các công trình này tuy không nhiều, nhưng bước đầu đã có đề cập vắn tắt đến các chủ trương
cơ bản của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng qua các thời kỳ Có
thể kể đến các công trình như: Nguyễn Văn Khánh (2004), Trí thức với Đảng,
Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước, Nxb
Thông tấn, Hà Nội; Ngô Huy Tiếp (2008), Đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội…
Như vậy, nghiên cứu về công tác vận động, tập hợp của Đảng đối với tầng lớp trí thức hay nói khác đi nghiên cứu trí thức dưới góc độ lịch sử Đảng
là một đề tài còn khá mới mẻ, chưa có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu Cho đến nay, có tương đối ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này được công
bố Nhiều công trình đã công bố chưa tiếp cận một cách trực tiếp từ góc độ lịch sử Đảng đối với vấn đề trí thức Hầu hết các công trình này chưa làm rõ được chủ trương của Đảng về vận động, tập hợp trí thức một cách có hệ thống, chưa đánh giá được những ưu điểm và hạn chế, cũng như vai trò và ý
Trang 6nghĩa của các công tác vận động, tập hợp trí thức qua các thời kỳ cách mạng nói chung và trong thời kỳ lịch sử từ năm 1939 đến năm 1945 nói riêng
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử, Xưa và Nay, Đông Nam Á, đã đăng tải nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học bàn về các trí thức, cụ thể, vai trò của họ trong phong trào giải phóng dân tộc, bối cảnh lịch sử,… Tiêu biểu là: Nguyễn Văn Khánh (2002), “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc”, Nghiên cứu Lịch sử, Số 1/ 2002; Lê Thị Thu Hương (2012), “Trí thức Hà Nội trong cuộc vận động yêu nước thập niên đầu thế kỷ XX”, Đông Nam Á, số tháng 5/2012; Nguyễn Văn Khánh (2001), Trí thức yêu nước và xu hướng cách mạng vô sản ở Việt Nam thời kỳ trước khi thành lập Đảng, Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Số 4/2001; Phan Kế An (2005), “Sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương trước và sau Cách mạng tháng Tám”, Xưa và nay, Số 241 Ở một số bài viết thể hiện những quan niệm nhìn nhận và tiếp cận khác nhau, tuy nhiên ít nhiều đều thống nhất trong việc đánh giá vai trò, những đóng góp của các trí thức trong giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc
Tóm lại, những công trình nêu trên được nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc bởi nhiều nhà khoa học lớn Kết quả của chúng là đáng tin cậy Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ tiếp cận ở một góc độ, hay khía cạnh nào đó của quá trình Đảng lãnh đạo, tập hợp trí thức, mà chưa đi vào tìm hiểu một cách đầy đủ, có hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng đối với trí thức trong những năm 1939 - 1945
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tái hiện quá trình Đảng Cộng sản Đông Dương vận động, tập hợp tầng
lớp trí thức thời kỳ 1939 -1945, qua đó rút ra những kết luận, kinh nghiệm cần
thiết nhằm phát huy vai trò trí thức trong bối cảnh đất nước hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Trang 7- Trí thức Việt Nam và công tác vận động trí thức của Đảng Cộng sản Đông Dương trước 1939
- Bối cảnh Đông Dương thời chiến và chính sách của thực dân Pháp, phát xít Nhật đối với trí thức
- Công tác vận động, tập hợp trí thức trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc (1939 - 1945)
- Rút ra nhận xét, kinh nghiệm từ quá trình vận động, tập hợp trí thức
của Đảng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác vận động, tập hợp tầng lớp trí thức của Đảng từ năm 1939 đến năm 1945
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, trong luận văn này, tác giả không có ý định trình
bày toàn bộ quá trình vận động, tập hợp đội ngũ trí thức của Đảng, mà chỉ tập trung vào việc nghiên cứu chủ trương trí thức vận của Đảng thời kỳ 1939 -
1945 và quá trình thực hiện làm cơ sở đánh giá về chủ trương đó
- Về mặt không gian, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu những
chủ trương của Đảng đối với tầng lớp trí thức nói chung, không trình bày sâu đường lối này một cách cụ thể đối với từng địa phương, từng đối tượng
- Về mặt thời gian, luận văn có phạm vi nghiên cứu từ năm 1939 đến
5.2 Nguồn tài liệu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau bao gồm:
Trang 8- Các tác phẩm của C.Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin, các văn kiện của Trung ương Đảng, Chính phủ, Hồ Chí Minh toàn tập và Lịch sử Đảng bộ địa phương để tìm hiểu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng đối với trí thức
- Tài liệu lưu trữ tại các Trung tâm lưu trữ Quốc gia liên quan đến đề tài
- Hồi ký của các đồng chí lãnh đạo, các nhà trí thức đã từng tham gia
hoạt động trong những năm từ 1939 - 1945
- Công trình, bài nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước
có liên quan đã xuất bản, công bố trên các sách, báo, tạp chí nghiên cứu chuyên ngành
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận Mác xit, chúng tôi chủ yếu
sử dụng phương pháp lịch sử, kết hợp với phương pháp logic Khi xử lý tài liệu và đánh giá sự kiện, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, phân tích,
so sánh, tổng hợp, phương pháp liên ngành và một số phương pháp khác của khoa học lịch sử để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
6 Cái mới của luận văn
- Làm rõ chủ trương và quá trình Đảng lãnh đạo, vận động trí thức tham gia đóng góp tâm huyết, trí tuệ của mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc thời kỳ 1939 - 1945
- Bước đầu nhận định, phân tích phương pháp vận động trí thức của Đảng, đó là một mặt Đảng tập hợp đội ngũ trí thức trong các tổ chức cứu quốc trực thuộc Mặt trận Việt Minh hoặc Đảng chỉ đạo thành lập, một mặt triệt để lợi dụng những tổ chức công khai của trí thức do địch lập ra nhằm chuyển hoá, tuyên truyền, giáo dục thành viên của những tổ chức đó ra nhập Việt Minh, ủng hộ con đường giải phóng của dân tộc
- Bước đầu đề cập đến một số “khoảng trống lịch sử” trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ 1939 - 1945 như đóng góp của Tổng hội Sinh viên
Trang 9Đông Dương, Hội truyền bá quốc ngữ, Hướng đạo sinh, các tổ chức thanh niên Phan Anh…
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
- Bước đầu đưa ra một số nhận xét, kinh nghiệm về trí thức vận, góp phần củng cố cơ sở khoa học để tiếp tục đi sâu nghiên cứu các vấn đề về trí
thức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu hoặc
giảng dạy cho những môn học có liên quan Kết quả nghiên cứu của luận văn
sẽ góp phần vào công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Chủ trương vận động, tập hợp trí thức của Đảng Cộng sản
Đông Dương trong cao trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945)
Chương 2: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Trang 10Chương 1 CÔNG TÁC TRÍ THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG TRONG CAO TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1939 - 1945)
1.1 Trí thức Việt Nam và cuộc vận động trí thức của Đảng trước 1939
1.1.1 Quan niệm về trí thức
Trí thức (Intellectuel - tiếng Pháp hay intellectual - tiếng Anh) trong từ
điển vốn là một tính từ, còn danh từ gốc của nó là intellect (trí tuệ, trí thông
minh) có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia nghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết Trí thức bao gồm “trí” thuộc về hiểu biết (science, savoir), “thức” thuộc về lương tri (conscience) Trí thức là người biết mình, biết người, hiểu biết
xã hội và phụng sự xã hội, gắn sự nghiệp của mình với sự phát triển của xã hội,
do đó, trí thức phải là người có đức độ (caractère) Cho nên, nói đến chuẩn của trí thức, người ta thường nhấn mạnh đến một lượng kiến thức lớn, nhưng đồng thời lại nói đến tinh thần sáng tạo và tiêu chuẩn đạo đức
Theo thống kê hiện nay có khoảng hơn 60 định nghĩa về “Trí thức”
Chẳng hạn Đại từ điển Bách khoa Liên Xô (Prôkhônôp chủ biên, 1985): Trí
thức là tầng lớp những người lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, phát triển và truyền bá văn hóa
Từ điển Wikipedia định nghĩa: “Intellectuel: Personne dont la profession
comporte essenciellement une activité de l’esprit (par opp a manuel)” (Tiếng Pháp)
“An intellectual is a person who uses intelligence (thought and reason)
an critical or anlytical thinking either in a professionnal or personnal capacity” (Tiếng Anh)
Tạm dịch:
Một trí thức là một người sử dụng tư tưởng và suy luận, trí thông minh
và các suy luận có tính phản biện và phân tích, trong một ngành nghề nào đó hay là trong tư cách cá nhân
“Trí thức" có thể được dùng để chỉ ba loại người sau đây:
Trang 111 Một người có liên hệ với các ý tưởng và các lý thuyết trừu tượng;
2 Một người mà với ngành của mình (ví dụ triết học, phê bình văn học, xã hội học, luật, phân tích chính trị, khoa học lý thuyết v.v.) tạo ra và truyền bá các ý tưởng mới;
3 Một người với kiến thức sâu rộng về văn hóa nghệ thuật đã làm cho tiếng nói của họ có ảnh hưởng trong công chúng
Theo Từ điển Bách khoa (Hà Nội, 2005), trí thức là:
tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu
là người có trình độ học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sỹ…
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng định nghĩa trí thức và phân tích những khía cạnh khác nhau của khái niệm trí thức [48, tr.17-19] Trong Nghị quyết số 27-NQ/TW (6/8/2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng đã đưa quan điểm:
“Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối
với xã hội”
Từ những nghiên cứu về con người, C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.Lênin đã đi sâu nghiên cứu về đội ngũ trí thức trong bối cảnh cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đang diễn ra căng thẳng Người trí thức có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tiến bộ của lịch sử Tuy nhiên, người trí thức cũng cần được giác ngộ lập trường của giai cấp công nhân để thành quả về lao động trí óc của họ luôn được coi trọng và tôn vinh đúng mức trong quá trình xây dựng chế độ xã hội mới V.I.Lênin cho rằng:Trí thức không phải là giai cấp, mà “là một tầng lớp đặc biệt” trong xã hội Từ vị trí của mình trong
Trang 12phân công lao động xã hội, trí thức không có quan hệ riêng và trực tiếp với sở hữu tư liệu sản xuất - cái dấu hiệu quan trọng nhất để xác định giai cấp, do đó không có khả năng đại biểu cho phương thức sản xuất nào cả, cũng không có
hệ tư tưởng độc lập… Cho nên, trí thức luôn phải gắn với những giai cấp nhất định Với tư cách là một tầng lớp, và ở trong một thể chế chính trị cụ thể, trí thức nói chung là của gia cấp thống trị do chính hệ thống giáo dục và đường lối đào tạo của nhà nước của giai cấp thống trị ấy tạo ra Tầng lớp này, tự giác hoặc không tự giác phục vụ cho chế độ và giai cấp thống trị Quá trình đấu tranh giai cấp và tác động nhiều mặt về lợi ích đã làm cho tầng lớp trí thức
phân hoá thành những bộ phận khác nhau.Lênin nói: “Nếu không nhập cuộc với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi” Cũng theo
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mạng lịch sử toàn thế giới của mình khi liên minh với các giai cấp và tầng lớp lao động khác mà trước hết là với giai cấp nông dân, đội ngũ trí
thức và lãnh đạo họ tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng
Thấm nhuần tư tưởng của các vị tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của trí thức đối với phong trào giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong bài viết “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc”, Người xác định trí thức là “những người lao động trí óc”, “là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy ” [65, tr.202] Và với Người, trí thức là lực lượng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, là “vốn liếng quý báu của dân tộc” [64, tr.235]
Trước năm 1945, trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, trí thức Việt Nam
đã tiên phong tham gia cách mạng, là lực lượng đi đầu trong việc tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tích cực truyền bá trong quần chúng nhân dân và hăng hái tham gia vào các tổ chức cách mạng - tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam Nói về lực lượng này, Hồ Chí Minh cho rằng: Trí thức Việt Nam là lực lượng rất nhạy bén với cái mới, với những tư tưởng
Trang 13tiến bộ, “có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng” [66, tr.34], “có học thức, dễ
có cảm giác chính trị, dễ tiếp thụ sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông” [66, tr.214]
Trí thức Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng đối với thắng lợi của cách mạng, nên khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xếp trí thức vào hàng ngũ lực lượng cách mạng của dân tộc, là một trong những đồng minh gần gũi của giai cấp công nhân và nông dân Người chỉ rõ: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, thanh niên, Tân Việt, để kéo họ
đi vào phe vô sản giai cấp” [62, tr.3] Với việc xác định từ sớm vai trò, vị trí của trí thức trong cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lôi cuốn tầng lớp trí thức về phía cách mạng từ những ngày đầu tiên, góp phần gia tăng sức mạnh, đoàn kết các giai tầng vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đây là vấn đề mang tính chất chiến lược trong quá trình lãnh đạo của Đảng
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, trí thức phải đi đầu trong việc nâng cao dân trí, xây dựng và kiến thiết nước nhà Người khẳng định: “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên
xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần” [66, tr.39] Theo Người: “muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì phải cần các kỹ sư” [66, tr.32-33] Thực tiễn đã chứng minh, trong mọi lĩnh vực, mọi thời kỳ cách mạng đều rất cần đến học vấn, tài năng và tâm huyết, sức lực của giới trí thức; đội ngũ trí thức đồng hành cùng dân tộc tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa; và trong suốt quá trình cách mạng “Trí thức không có bao giờ thừa, chỉ
có thiếu trí thức thôi” [66, tr.36]
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của trí thức trong sự phát triển của xã hội, hiểu rõ sức mạnh vô tận của trí tuệ con người và sức mạnh lớn lao của một dân tộc giàu tri thức Người khẳng định: trí thức là lực lượng luôn đi đầu, là ngòi nổ trong phong
Trang 14trào đấu tranh đòi độc lập, đòi quyền dân tộc, dân chủ; là lớp “tiên tri, tiên giác” [64, tr.131] (hiểu biết trước, giác ngộ trước); là “Một phần tương lai của dân tộc” [63, tr.220] Chính vì vậy, năm 1946, khi trả lời câu hỏi của một nhà báo nước ngoài về vấn đề trí thức, Người nhấn mạnh: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế” [3, tr.235] Trên thực tế, trong suốt mấy chục năm trên cương vị Chủ tịch nước,
Hồ Chí Minh đã có thái độ, cách cư xử, chính sách hết sức trân trọng và đề cao trí thức Tâm hồn trong sáng, trí tuệ mẫm tiệp, sự khiêm tốn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh có một sức hút phi thường đối với các tầng lớp nhân dân, kể cả những trí thức kiêu sang nhất, khó tính nhất Hầu hết các trí thức Việt Nam đều suy nghĩ: Nếu không phải Hồ Chí Minh thì có lẽ khó có ai tập hợp được bấy nhiêu nhân tài của đất nước
Trên cơ sở quan điểm của C.Mác, V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và
những khái niệm nêu trên, có thể khái quát: Trí thức là những người lao động
trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của mình vì lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân
1.1.2 Đặc điểm của trí thức Việt Nam dưới thời thuộc Pháp và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của trí thức trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930)
1.1.2.1 Đặc điểm của trí thức Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Trước khi tầng lớp trí thức dưới ách thống trị của thực dân Pháp ra đời (thường gọi là trí thức Tây học), tầng lớp trí thức truyền thống (Trí thức Nho học, Nhà nho) đã hình thành và đóng vai trò trụ cột đối với xã hội trong hàng ngàn năm (trí thức đứng đầu trong Tứ dân: Sĩ, Nông, Công, Thương) Trí thức
Trang 15Việt Nam truyền thống (Nhà nho) hình thành và phát triển trong một môi trường xã hội Nho giáo - tiểu nông Đó là chế độ phong kiến tập quyền cai trị theo thể thức cha truyền con nối Nhà Vua đứng đầu bộ máy nhà nước, có quyền lực tuyệt đối trong tay nhờ sở hữu cả thế quyền lẫn thần quyền Nền nông nghiệp trồng lúa nước là sinh kế cơ bản của quốc gia Thủ công nghiệp
và thương nghiệp chỉ mang tính phụ trợ Trong cơ cấu xã hội, người tiểu nông
và nhà Nho trở thành rường cột của nước nhà Về tư tưởng, từ thế kỉ XIV trở
về sau, Nho giáo dần trở thành quốc giáo, chi phối mọi mặt đời sống tư tưởng dân tộc, đặc biệt là trong thời Lê sơ và thời Nguyễn Về giáo dục, từ thời Lê
sơ, chế độ thi cử Nho giáo được xem là mô hình mẫu mực, duy nhất trong đào tạo và tuyển chọn đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước Lí tưởng cao đẹp nhất của người đi học là thi đỗ, làm quan - tức hóa thân thành một phần tử trong hệ thống nhà nước và ra sức bảo vệ cho sự tồn tại của hệ thống đó1
Sinh trưởng trong điều kiện như vậy, đặc điểm nổi bật của trí thức Nho học là dấn thân hành đạo theo định hướng dẫn đường, cải tạo, xây dựng cộng đồng, xã hội với lý tưởng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Trí thức Nho học gắn bó với làng (Dân nhất thời, quan vạn đại) và chịu sự chi phối của quan
hệ Làng - Nước truyền thống (Phép vua thua lệ làng) Hạn chế với đa phần trí thức nhà Nho đều xuất thân từ các gia đình tiểu nông là là cái học (tri thức) trở thành phương tiện khả dĩ để thay đổi thang bậc xã hội thay vì mục đích tự thân
Về mặt học thuật, không có ai có hứng thú đi vào những tư tưởng triết học và các phát kiến khoa học tự nhiên - kĩ thuật (toán học, vật lí học, thiên văn học …) Chính vì vậy, trong đội ngũ trí thức nhà Nho Việt Nam thiếu một cách nghiêm trọng những trí tuệ lý thuyết, những xung năng sáng tạo lớn đủ sức hướng đạo cho sự phát triển của toàn thể cộng đồng Hệ quả, trong quá trình lịch sử, đội ngũ trí thức bản địa vẫn phải dựa vào các luồng tư tưởng, tôn giáo bên ngoài rồi thêm, bớt, lấy, bỏ cho phù hợp với điều kiện Việt Nam
1
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=4446&CategoryID=42
Trang 16Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của quá trình thực dân hóa của đế quốc Pháp, đặc biệt là sự du nhập của nền giáo dục thuộc địa theo kiểu phương Tây, một lớp trí thức mới ra đời, còn được gọi là trí thức Tây học bên cạnh lớp trí thức cũ (trí thức Nho học) vẫn tồn tại và duy trì ảnh hưởng Thời Pháp, giáo dục Việt Nam có ba chuyển biến căn bản Một là, chữ Quốc ngữ thay thế hệ thống chữ Nho và bên cạnh đó, tiếng phương Tây - chủ yếu là tiếng Pháp rồi tiếng Anh, cũng được sử dụng Thứ hai, nội dung học đã thay thế hệ thống đào tạo Nho giáo theo lối Khổng Trình thành những bộ môn có khoa học kĩ thuật và văn học, sử học… hiện đại Thứ ba, hệ thống giáo dục các cấp từ khai trí đến bậc đại học đã ra đời Một số trường học nổi tiếng thời
kỳ này như: Trường Trung học bảo hộ (Lycée du Protectorat)), nhưng vì được xây dựng trên đất Kẻ Bưởi, nên người dân vẫn gọi là trường Bưởi 1 , Trường
trung học nữ sinh Đồng Khánh, Đại học Đông Dương Để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, người Pháp cũng lập ra một số cơ sở nghiên cứu khoa học như Viện Vi trùng học (1900), Sở Thú y (1897), Nha Khí tượng (1898), Sở Địa lý (1899), Sở Kiểm lâm (1901) và Trường Viễn Đông Bác Cổ (1898) Cũng trong mấy thập kỷ đầu thế kỷ 20, một số trung tâm lưu trữ, thư viện được mở ở Hà Nội, Sài Gòn và một số thành phố khác Cùng với sự gia tăng của các trường học, cơ sở giáo dục - nghiên cứu, các công sở, số lượng trí thức ngày càng tăng… Theo thống kê, đến trước cách mạng Tháng Tám 1945,
số sinh viên các trường đại học ở Hà Nội đã lên tới hơn 1000 người, cụ thể:
1938-1939: 457 người
1941-1942: 834
1942-1943: 1.050
1943-1944: 1.575 người [55, tr.209]
Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử cận đại Việt Nam đã thống nhất đặc
điểm của những trí thức Tây học tiến bộ như sau: Một là, trẻ về tuổi đời, tức
1
Trường Bưởi là cái tên mà các học sinh đặt để thể hiện tinh thần phản kháng lại người Pháp, không dùng tên do Pháp đặt
Trang 17là tuổi của họ khi bắt đầu hoạt động chỉ ở mức mười lăm tuổi đến dưới hai mươi tuổi Như vậy, so với trí thức thời cụ Phan Bội Châu (tầng lớp trí thức Nho học cuối cùng) bắt đầu hoạt động từ sau 30 tuổi thì họ trẻ hơn khoảng 10
tuổi Hai là, tính cách thành thị và tiểu tư sản Ba là, có phản ứng quá khích
(radical) đối với uy quyền truyền thống Những đặc điểm ấy của các nhà cách mạng thời đại mới không phải là không có quan hệ đến điều kiện giáo dục và nghề nghiệp Ví dụ: Những năm tháng dùng cho việc học hành ở trường học hiện đại ngắn hơn so với thời gian dùng để thi cử đỗ đạt Có thể nói rằng những trí thức thời đại mới bắt đầu hoạt động chính trị ngay từ hồi còn trẻ Tính cách tiểu tư sản của họ được qui định về vai trò và địa vị của họ trong xã hội thuộc địa Sự phản ứng đối với uy quyền truyền thống mà họ có là dựa trên cơ sở những tri thức, tin tức nắm được trong quá trình đào tạo ở nhà trường và trong hoạt động nghề nghiệp [60, tr.353]
Nói chung, đội ngũ trí thức nước ta thời thuộc Pháp tuy rất hạn chế về
số lượng nhưng có lòng yêu nước nồng nàn, thông minh và ham hiểu biết, có năng lực chuyên môn khá tốt, tiềm ẩn nhiều khả năng sáng tạo Đồng thời họ cũng rất nhạy bén với cái mới và xu thế của thời cuộc Sống trong hoàn cảnh một nước thực dân nửa phong kiến, cũng như các giai tầng khác trong xã hội, trí thức cũng bị nhà cầm quyền Pháp chèn ép, bị phân biệt đối xử… Trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc thấm thía nỗi nhục nước mất nhà tan Tầng lớp này đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam
1.1.2.2 Phong trào đấu tranh của trí thức trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập (3/2/1930)
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng trên bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở màn hơn 100 năm nước ta nằm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp Cuối thế
kỷ XIX, về cơ bản thực dân Pháp đã bình định xong nước ta Đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc có nhiều chuyển biến mới Phong
Trang 18trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng
của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi Sĩ phu yêu nước đấu thế kỷ XX
phân chia làm hai phái Một phái chủ trương giành độc lập trước nhất, phải vũ
trang bạo động, nếu sức mình chưa đủ thì tìm viện trợ ở ngoài gọi là ám xã
Phe ám xã sang Tàu, nhất là sang Nhật, tức là làm nhiệm vụ Đông du Còn phe kia, tiến hành vận động đổi mới ngay trong nước, tìm cách khai thác triệt
để những điều kiện công khai, hô hào nâng cao dân trí, với danh nghĩa là thúc đẩy cho quần chúng thấy rõ cái hủ bại của đất nước dưới chế độ phong kiến
quân chủ, người ta gọi họ là ở trong phái minh xã Minh xã hay ám xã, thì vẫn cùng chung mục đích đổi mới đất nước, giải phóng dân tộc
Tổ chức nòng cốt của khuynh hướng bạo động do Phan Bội Châu lãnh đạo
là tổ chức Duy Tân và Việt Nam Quang phục Hội Sau khi ra đời, Hội Duy Tân đã phát động phong trào Đông Du sôi nổi trong toàn quốc, tập hợp hàng trăm thanh thiếu niên Việt Nam sang du học ở Nhật Bản nhằm chuẩn bị lực lượng cho công cuộc giải phóng đất nước Trong khoảng 3 năm (từ 1905 - 1908), phong trào Đông Du đã thu hút, tập hợp được gần 200 thanh niên và sĩ phu sang Nhật học tập [69, tr.23], trong đó ở Nam Kỳ có 100 người, Trung Kỳ có 50 người và Bắc Kỳ có trên 40 người [15, tr.136] Hầu hết số học sinh này đều trên dưới 20 tuổi, là đều là con em các gia đình thân sĩ phú hào hoặc xuất thân từ các gia đình quan lại Tất nhiên, bên cạnh đó còn có những người xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác, nhưng chủ yếu vẫn là thanh niên Nho học và các sĩ phu
Bên cạnh tầng lớp sĩ phu chủ trương đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập dân tộc bằng đấu tranh vũ trang, từ năm 1903 trở đi còn có một bộ phận sĩ phu tiến bộ khác đã đứng ra hô hào “nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí”, bằng con đường mở mang công thương nghiệp và tiến hành cải cách xã hội Khuynh hướng này tuy tồn tại và phát triển đồng thời với khuynh hướng bạo động, nhưng diễn ra trong một không gian hẹp hơn và thời gian ngắn hơn Trung tâm của nó là các trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở ngoài Bắc và phong trào Duy Tân ở miền Trung
Trang 19Trường Đông Kinh Nghĩa Thục xuất hiện ở Hà Nội vào tháng 3/1907, sau đó bắt đầu giúp đỡ sĩ phu các tỉnh, thành lập các lớp học theo mô hình trường nghĩa thục Hà Nội Hoạt động chủ yếu của các trường này là chiêu sinh, dạy những môn khoa học cơ bản dựa theo chương trình quy định của nhà nước thực dân nhưng lồng vào là nội dung mới, tư tưởng mới, kiến thức mới Ngoài chương trình chính khóa, học sinh còn được dự các buổi ngoại khóa do nhà trường tổ chức dưới các hình thức diễn thuyết, bình văn Nội dung các bài diễn thuyết, cũng như các tài liệu tuyên truyền (bằng thơ, văn) trong trường tập trung đả phá những tư tưởng lạc hậu của đám sĩ phu thủ cựu, đánh đổ lối học từ chương, bài trừ hủ tục, hô hào mở trường dạy học theo lối
mở, cổ động chữ quốc ngữ, chấn hưng công thương nghiệp Về tổ chức, trường Đông Kinh Nghĩa Thục có 8 lớp, số học sinh có lúc lên tới 1000 người Học sinh của trường hầu hết là con em các nhà nho, gia đình quan lại, hoặc các nhà tư sản, địa chủ giàu có Còn giáo viên đại đa số là cử nhân, tú tài xuất thân, chưa có quan tước gì lớn, cao nhất cũng chỉ đến chức Huấn đạo của Nguyễn Quyền Những người sáng lập ra trường như cử nhân Lương Văn Can, Án sát từ chức Nghiêm Xuân Quảng, nhà giáo Nguyễn Văn Đức đều là những người có học thức cao và danh vọng
Gần như đồng thời với sự xuất hiện của phong trào cải cách giáo dục ở miền Bắc, cuộc vận động duy tân ở các tỉnh miền Trung cũng bắt đầu phát triển mạnh trong những năm 1903 - 1907 Bên cạnh hoạt động kinh tế, các sĩ phu còn mở lớp dạy học theo những nội dung và phương pháp mới Cổ động kinh doanh công thương nghiệp (làm ăn theo lối mới) và mở lớp học được coi
là thước đo lòng yêu nước Riêng Phan Chu Trinh đã trực tiếp lập ra ở Quảng Nam được 48 lớp học và diễn thuyết nhiều lần ở đó [15, tr.161] Phong trào Duy tân lúc đầu chỉ diễn ra trong các nhà trường, sau lan dần về nông thôn và cuối cùng bùng nổ thành phong trào đấu tranh chống thuế quyết liệt của quần chúng nông dân, khiến cho thực dân Pháp và bè lũ tay sai vô cùng hoảng sợ
Trang 20Rõ ràng các sĩ phu yêu nước không chỉ là lực lượng nhạy cảm về chính trị mà còn là bộ phận đi đầu, đóng vai trò tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhưng
do hạn chế và nhận thức giai cấp và thời đại, tất cả các phong trào đấu tranh yêu nước do họ lãnh đạo và đại diện tuy đã bùng nổ rầm rộ, sôi nổi một thời vẫn không tránh khỏi một kết cục thất bại
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, dưới ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa Mác - Lênin, trong hàng ngũ trí thức Việt Nam bắt đầu có sự phân hoá Nhưng trong thời gian đầu, lập trường mỗi nhóm cũng khác nhau và không rõ ràng “Họ thống nhất với nhau ở chỗ yêu nước ghét Tây, muốn có một tập đoàn chiến đấu” [54, tr.116] Với tinh thần yêu nước và vốn văn hoá nhất định, một bộ phận trí thức tiên tiến đã thành lập nhiều tổ chức và lôi cuốn quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh dân tộc thông qua nhiều hoạt động phong phú và thiết thực
Trên lĩnh vực văn hoá và tư tưởng, trí thức đã sử dụng báo chí làm công cụ để thể hiện tinh thần yêu nước của mình Vào những năm 1923 -
1925 ở Nam Kỳ, ngoài những bài báo có tính chất cải lương của tư sản mại bản, đã bắt đầu xuất hiện những tờ báo có khuynh hướng XHCN đầu tiên như
tờ Chuông rè của Nguyễn An Ninh, Người nhà quê của Nguyễn Khánh Toàn, Annam của Phan Văn Trường Trong những tờ báo này, Chuông rè và Annam
là diễn đàn của tầng lớp trí thức tiểu tư sản yêu nước cấp tiến Trên các tờ báo
đó đã công bố những bài viết tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân, mà hơn nữa còn đăng các bài mang tính chất mác xít, các tác phẩm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin Nhiều bài viết của báo Nhân đạo, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, cũng như các báo Người cùng khổ (Le Paria)
và các báo chí tiến bộ khác ở Paris lúc đó cũng được giới thiệu trên các báo này [83, tr.35] Điều đó đã góp phần giác ngộ tư tưởng yêu nước và ý thức dân tộc, truyền bá nền văn hóa mới và tin tức cách mạng trong quần chúng
Trang 21nhân dân, nhằm chống lại chế độ thực dân và phong kiến, trực tiếp đòi tự do ngôn luận và xuất bản Những tư tưởng tự do ngôn luận, báo chí và hội họp
đã lan tràn trong trí thức Việt Nam thời kỳ này Họ đưa ra yêu cầu mở rộng bằng mọi cách hệ thống giáo dục cho người Việt Nam, cho phép người Việt Nam tới làm việc trong bộ máy nhà nước thuộc địa, cũng như cho nhân dân Việt Nam những quyền mà công dân Pháp đã có ở các nước Đông Dương
Bên cạnh việc viết và xuất bản báo, trí thức Việt Nam còn cho công bố các tác phẩm văn học và sử học để cổ động lòng yêu nước Tại các đô thị, một
số nhóm trí thức trẻ đã tổ chức biên soạn và xuất bản nhiều tài liệu chứa đựng nội dung yêu nước nói trên Những cơ sở thư xã lớn nhất lúc bấy giờ là “Quan hải tùng thư” ở Huế, “Giác Quần thư xã” và “Nam Đồng thư xã” ở Hà Nội,
“Cường học Thư xã” và “Tân Việt thư xã” ở Sài Gòn, đã cho in nhiều sách của các tác giả Việt Nam và các sách dịch của nước ngoài Nam Đồng thư xã
đã xuất bản một loạt sách về gương anh hùng dân tộc như “Trưng Nữ Vương”, “Thuyền về cố quốc”, “Thiếu niên anh hùng” Cường Học thư xã
do Trần Huy Liệu quản lý lại cho in nhiều tác phẩm có tư tưởng yêu nước, trong đó có những tài liệu bị cấm lưu hành Tân Việt thư xã dưới sự lãnh đạo của Trần Hữu Độ quan tâm nhiều về triết học và đã công bố một loạt sách về các vấn đề triết học và lý luận [34, tr.75] Các tác phẩm như: Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, Một bầu tâm sự của Trần Huy Liệu, Tiếng cuốc kêu của Việt Quyên… do các thư xã trên ấn hành là những hiện tượng lớn của văn học Việt Nam, không chỉ đề cao chủ nghĩa yêu nước nói chung Mà như Trần Huy Liệu nói, đã vượt qua những giới hạn của thời đại nhằm xác định con đường đưa nhân dân và dân tộc đi tới tự do
Nhờ những hoạt động đó mà uy tín của tầng lớp trí thức được nâng lên, góp phần tập hợp, lôi cuốn quần chúng nhân dân và cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, mà đỉnh cao là cao trào đòi tự do dân chủ vào những năm
1925 - 1926 Các cuộc đấu tranh yêu nước thời kỳ này tập trung vào việc
Trang 22đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, đám tang Phan Chu Trinh, đấu tranh đòi thả nhà báo Nguyễn An Ninh và cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu, lãnh tụ Đảng Lập hiến Đóng vai trò tổ chức các hoạt động này chủ yếu là hội viên của các đảng tiểu tư sản yêu nước: Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên, với các yếu nhân như: Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Mộng Bạch (ở miền Bắc và Trung), Trần Huy Liệu, Bùi Công Trừng, Nguyễn An Ninh (ở miền Nam) Hội Phục Việt được thành lập giữa năm 1925, địa bàn hoạt động chủ yếu ở Trung Kỳ Thành phần chủ yếu là trí thức trẻ, nhà nho, giáo viên, sinh viên, học sinh và những người làm nghề tự do Lực lượng tham gia nhiệt tình và tích cực nhất trong các hoạt động yêu nước này là học sinh
và sinh viên Đặng Thai Mai, một hội viên của Hội Phục Việt đã kể lại rằng: “Trong cuộc vận động quần chúng hội ấy, sinh viên Hà Nội đã đóng một vai trò khá tích cực Anh em đã chia nhau viết truyền đơn, viết báo, tổ chức các buổi họp quần chúng, nói chuyện với đồng bào” [59, tr.276]
Tháng 3/1926, dấy lên phong trào tổ chức truy điệu Phan Chu Trinh ở nhiều nơi Tại Sài Gòn, nơi trực tiếp tiến hành tang lễ, sinh viên không chỉ tích cực tổ chức, mà còn thực hiện các biện pháp để giữ gìn trật tự cho những người tham gia tang lễ Trong các trường học ở Hà Nội và các thành phố, thị xã, học sinh và sinh viên cũng tổ chức các buổi lễ truy điệu nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh Mặc dù chính quyền thực dân ra sức ngăn cản tổ chức truy điệu, bắt
bớ những học sinh và sinh viên tham gia tích cực nhưng không thể dập tắt được phong trào, mà ngược lại chỉ làm tăng thêm ngọn lửa yêu nước và giúp đỡ những nhà cách mạng có cơ hội tuyên truyền các tư tưởng cách mạng
Cùng thời gian này, Đảng Thanh niên còn đứng ra vận động phong trào đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh và tổ chức cuộc đón tiếp Bùi Quang Chiêu
ở Sài Gòn, để biểu dương lực lượng của quần chúng nhân dân, nhằm chống lại âm mưu phản động của các tập đoàn tư sản và địa chủ miền Nam định cấu kết với chính quyền thực dân Pháp chống phá phong trào cách mạng
Trang 23Cũng trong những năm 1925 - 1926, dưới ảnh hưởng của tư tưởng Cách mạng tháng Mười và học thuyết Mác - Lênin, trí thức Việt Nam đã phân hóa làm 02 bộ phận: một bộ phận theo xu hướng cách mạng vô sản, bộ phận khác tiếp tục đứng trên lập trường tư sản Hai bộ phận này cùng tồn tại và phát triển, quy định hình thái của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam thời kỳ này
Bên cạnh đó, còn tồn tại các phong trào đòi cải cách của một bộ phận trí thức tư sản và công chức cao cấp Đương thời khuynh hướng này được gọi
là phái Lập hiến, thực chất là khuynh hướng tư sản (đại biểu như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Phan Long, Bùi Quang Chiêu) Trong kiều bào Việt Nam ở Pháp, khuynh hướng chính trị này đã thu hút được một
số người, gồm Dương Văn Giáo, Trần Văn Khá… tập hợp quanh nhóm Lập hiến (ra đời ngày 15/11/1925 tại Paris) Sau năm 1923, trên một số tờ báo L’Echo Annamite (Tiếng vang An Nam) và La Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương), người ta thấy nêu lên việc thành lập Đảng Lập hiến do Bùi Quang Chiêu đứng đầu Theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thì đây không phải là một đảng có tổ chức, mà chỉ là một số người trí thức (vào làng Tây) tự đặt tên đảng Đường lối chính trị của Đảng gửi Toàn quyền Đông Dương Varen ngày 28/11/1925 có viết: “Đảng đòi hỏi một chế độ báo chí tự do hơn, một địa vị xứng đáng cho người Việt Nam trong các chức vụ chính quyền, một sự đối đãi bình đẳng đối với công chức người Việt, một sự nới rộng các điều kiện hành nghề cho người Việt muốn mở văn phòng luật sư, quyền tự do đi lại ở trong và ngoài xứ Đông Dương và quyền tự do riêng cho Nam kỳ” Mặc dù Đảng Lập hiến cố gắng đẩy mạnh các hoạt động ở Nam Kỳ, nhưng ảnh hưởng
và hoạt động của nó chỉ giới hạn trong các tầng lớp trên Ngoài Đảng Lập hiến, cùng với khuynh hướng trên còn phải kể tới các nhóm “Nam phong” của Phạm Quỳnh và “Trung Bắc tân văn” của Nguyễn Văn Vĩnh ở ngoài Bắc Hoạt động của nhóm này chủ yếu là dung báo chí làm công cụ tuyên truyền
Trang 24cho tư tưởng Pháp - Việt đề huề và văn hóa Âu Tây, đòi các quyền lợi trong khuôn khổ chế độ thuộc địa
Khác với phong trào dân tộc tư sản đầu thế kỷ, khuynh hướng cách mạng tư sản ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất được phát triển trên nền tảng xã hội và tư tưởng mới Giai cấp tư sản đã xuất hiện, tiểu tư sản đông thêm về số lượng, giai cấp công nhân đang lớn mạnh và dần dần trở thành lực lượng chính trị độc lập ở trong nước Cùng với hệ tư tưởng XHCN, trong đời sống xã hội đã tồn tại các biến thể của hệ tư tưởng tư sản Lúc bấy giờ những luồng tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam không chỉ qua Trung Quốc
và Nhật Bản như vào hồi đầu thế kỷ, mà chủ yếu qua sách báo phương Tây, trước hết là sách báo Pháp, mặc dù con đường Châu Á: Trung Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ cũng còn có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam Do tác động của các yếu tố bên ngoài khác nhau nên khuynh hướng tư sản (cả trên bình diện xã hội và tư tưởng) được biểu hiện dưới những hình thức đa dạng và phức tạp Tổ chức đại diện cho khuynh hướng tư sản ở nước ta thời kỳ này là Việt Nam Quốc dân Đảng Đây là một chính đảng chính trị đã tập hợp đông đảo trí thức yêu nước đấu tranh giải phóng dân tộc trên lập trường tư sản Được thành lập tại Hà Nội vào ngày 25/12/1927, Đảng bao gồm phần lớn đảng viên xuất thân từ tầng lớp tiểu và trung tư sản cũng như các tầng lớp nông dân khá giả (phú hào) và binh lính Trong việc phát triển đảng viên, Việt Nam Quốc dân Đảng cũng hướng vào tầng lớp trí thức, sinh viên, điền chủ nhỏ, thương nhân, thợ thủ công Gia nhập Đảng còn có một số công chức làm việc trong bộ máy chính quyền Pháp
Người sáng lập cũng đồng thời là Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học vốn
là sinh viên Trường Sư phạm Hà Nội Khi còn đi học ở trường này, ông đã công khai biểu lộ thái độ bất bình đối với các giáo viên người Pháp và đó là nguyên nhân làm xuất hiện những dòng sau trong hồ sơ mật thám: “Nguyễn Thái Học, một học sinh bướng bỉnh, thường phát biểu chống đối thầy giáo”
Trang 25Nguyễn Khắc Nhu - một yếu nhân của Đảng - xuất thân trong một gia đình nhà nho, cha ông làm nghề dạy học và bốc thuốc, bản thân ông từng là thầy giáo Năm 1903, ông tham dự các kỳ thi và đỗ đầu trong xứ, vì thế gọi là
“Đầu xứ Nhu” Sau đó, ông vào học Cao đẳng Sư phạm Hà Nội Một yếu nhân khác của Việt Nam Quốc dân Đảng là Phó Đức Chính là công chức ngành giao thông công chính
Về tổ chức, Việt Nam Quốc dân Đảng là sự liên hiệp của các nhóm yêu nước theo lập trường tư sản hoạt động ở Bắc Kỳ, trong đó có Nam Đồng thư xã
do các nhà giáo Phạm Tuấn Tài, Phạm Tuấn Lâm lãnh đạo, nhóm Nguyễn Khắc Nhu ở Bắc Giang, Nguyễn Thế Nghiệp ở Bắc Ninh, nhóm Nguyễn Hoàng, Nguyễn Đại ở Thanh Hóa… Về bộ máy tổ chức của Đảng, đứng đầu là Tổng bộ, rồi đến Kỳ bộ, tỉnh bộ và chi bộ, mỗi chi bộ không quá 19 người Các nhà nghiên cứu đều nhận xét công tác tổ chức của Đảng khá tùy tiện, nhất là trong khâu kết nạp hội viên mới Điều này dẫn tới sự suy yếu sức mạnh thống nhất, tạo
sơ hở cho một số phần tử phản động và quá khích chui vào phá Đảng
Là một tổ chức yêu nước của tiểu tư sản trí thức, Việt Nam Quốc dân Đảng không thể tự đề ra được đường lối chính trị độc lập Kể từ khi thành lập (1927) đến lúc khởi nghĩa Yên Bái thất bại (1930), Đảng đã hai lần thay đổi cương lĩnh chính trị và ba lần thay đổi điều lệ
Thực tế lịch sử chứng tỏ lực lượng trí thức tiểu tư sản và Việt Nam Quốc dân Đảng đã có những đóng góp nhất định cho phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta trước năm 1930 Tuy nhiên, Việt Nam Quốc dân Đảng không đủ sức để xây dựng một đường lối chống đế quốc triệt để, không đề ra được những khẩu hiệu thích hợp có khả năng thu hút và tập hợp lực lượng của toàn dân tộc vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước
Do chịu ảnh hưởng tư tưởng của Cách mạng tháng Mười qua tiếp xúc với sách báo cách mạng và những tài liệu tuyên truyền do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gửi về, nhiều thanh niên trí thức đã biết đến Lênin và nước Nga Năm
Trang 261924, Nguyễn Ái Quốc sau khi tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản đã từ Liên Xô đến Quảng Châu Tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên với hầu hết là thanh niên trí thức Theo Trần Dân Tiên, thành phần xã hội của Hội “90% là trí thức tiểu tư sản, chỉ có 10% là công nông” [88, tr.64] Sau này, mặc dù thành phần công nhân và nông dân tăng lên, nhưng số trí thức và học sinh vẫn chiếm tới 40%1 Theo điều tra của Chánh Mật thám Đông Dương Louis Marty thì “Bộ máy của Đảng (Thành bộ, Tỉnh
bộ, Huyện bộ…) gồm những thầy giáo hoặc những người nửa trí thức trượt thi hoặc bỏ học” [6, tr.279]
Sau khi thành lập, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã phái người
về nước vận động, lựa chọn và đưa thanh niên sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức Trong khoảng 2 năm từ tháng 6/1925 đến giữa năm 1927, đã có khoảng 200 thanh niên tham gia các khóa huấn luyện chính trị và được cử về nước xây dựng cơ sở, vận động quần chúng, phát triển hội viên Đến năm 1929, số hội viên của Hội đã lên đến 1.500 người, trong đó hầu hết là thanh niên và học sinh, sinh viên Theo Louis Marty, “Các chức vụ quan trọng đều do những người trẻ tuổi huấn luyện ở Quảng Châu”
Vì phần lớn cán bộ lãnh đạo là hội viên của Hội đều xuất thân từ tầng lớp trí thức tiểu tư sản nên ngay từ 1929, hội đã chủ trương phát động và thực hiện phong trào “Vô sản hóa”, đưa hội viên vào các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền cùng lao động và sinh hoạt với công nhân Bằng cách đó, các hội viên thanh niên vừa có điều kiện cải tạo mình, xóa dần những tàn dư tư tưởng tiểu
tư sản, nâng cao lập trường giai cấp công nhân, vừa kết hợp tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho công nhân, bước đầu tổ chức và tham gia lãnh đạo công nhân đấu tranh Thông qua phong trào vô sản hóa, những thanh niên cách
1
Thư của Chi hội An Nam Cộng sản Đảng gửi Quốc tế Cộng sản ngày 29/10/1929
Trang 27mạng đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin truyền tới giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân với tốc độ và quy mô lớn hơn, thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước biến chuyển dần về chất, đi vào quỹ đạo cùa cách mạng vô sản
Như vậy, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là tổ chức có vai trò lớn nhất trong việc hình thành khuynh hướng cộng sản trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam; còn lớp thanh niên hội viên trong tổ chức ấy trở thành người mở đường, người lãnh đạo các phong trào đó
Trong phong trào yêu nước và cách mạng những năm 1927 - 1928, ngoài Hội Việt Nam thanh niên cách mạng còn xuất hiện một tổ chức khác
là Tân Việt cách mạng Đảng Tiền thân của tổ chức này là Hội Phục Việt, được thành lập năm 1925 ở Vinh, Bến Thủy Mặc dù trong quá trình hoạt động, Tân Việt đã chú ý đến nhiều thành viên xã hội khác nhau (công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, tiểu thương…) nhưng số hội viên chính thức của Hội phần lớn vẫn là trí thức Là một tổ chức yêu nước tiến bộ của trí thức tiểu tư sản, khi mới thành lập, tổ chức này chưa có đường lối và lập trường giai cấp rõ ràng Họ nhận rằng chủ nghĩa cộng sản thì quá cao và chủ nghĩa “Tam dân” của Quốc dân Đảng thì quá thấp Họ chỉ muốn đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, theo chủ nghĩa gì sau sẽ hay” [88, tr.73] Nhưng do tác động mạnh mẽ của cách mạng vô sản và phong trào công nhân trong nước mà Việt Nam cách mạng thanh niên đóng vai trò chủ chốt, Tân Việt đã dần chuyển biến về tư tưởng chính trị và tổ chức, từng bước tiếp cận chủ nghĩa cộng sản Trải qua một thời kỳ đấu tranh nội bộ gay gắt, đa số hội viên của Hội đã tự động rời bỏ đường lối hữu khuynh của cơ quan tổng bộ, và quyết định tách ra thành lập Đông Dương cộng sản liên đoàn vào cuối năm 1929 Sự chuyển biến nhanh chóng về tư tưởng của những thanh niên trí thức tiểu tư sản trong tổ chức Tân Việt nói lên sức cảm hóa và cuốn hút mạnh mẽ của chủ nghĩa cộng sản đối với những người yêu nước Việt Nam lúc đó
Trang 281.1.3 Công tác trí thức của Đảng từ năm 1930 đến 1939
Ngay từ khi ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, nhằm tập hợp lực lượng để thực hiện “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội cộng sản”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ rõ thái độ coi trọng trí thức “Phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức… để kéo họ về phe vô sản giai cấp” [23, tr.554] Nguyễn Ái Quốc, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng, trí thức được đào tạo dưới chế độ cũ và xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, nhưng nói chung trí thức Việt Nam đều bị đế quốc và phong kiến áp bức “Vì vậy, trí thức Việt Nam có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng”
Vì cũng có đầu óc dân tộc và vì có học thức nên xem được sách, biết được dân chủ, biết được lịch sử cách mạng, nhất là lịch sử cách mạng Pháp, nên dễ hấp thụ tinh thần cách mạng… Cũng vì vậy, lúc
đã hiểu biết, trí thức ta dễ theo cách mạng, và vì vậy, Đảng cách mạng phải dìu dắt, giúp đỡ trí thức ta dựa vào phe cách mạng, phe công nông [66, tr.34]
Học sinh, sinh viên, trí thức nghe theo tiếng gọi của Đảng đã tập hợp trong những đoàn thể thống nhất, sẵn sàng hoạt động trong mọi hoàn cảnh vì quyền lợi của dân tộc Họ trở thành những người tuyên truyền đắc lực các tư tưởng yêu nước và cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và chủ nghĩa Mác - Lênin Họ kề vai sát cánh với giai cấp công nhân, nông dân trong những cao trào cách mạng Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931) và vận động dân chủ (1936 - 1939) Nhiều cuộc bãi công, biểu tình của công nhân, nông dân đã thu hút được cả học sinh, sinh viên tham gia Trong những cuộc bãi thị, mit tinh, đón rước, kỷ niệm… thanh niên, học sinh, sinh viên cũng góp mặt đông đảo Tại các trường học, họ tổ chức những cuộc mit tinh, diễn đàn, bãi khóa để tuyên truyền, cổ động cho cách mạng Phong trào không nổ ra lẻ tẻ mà phát triển thành một cao trào rộng lớn trên cả nước, trở thành một lực lượng quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chính quyền thuộc địa
Trang 29Năm 1930, dưới tác động của Đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 -
1933 và mất mùa ở Bắc Kỳ, miền Tây Nam Kỳ, tình cảnh của công nông và các tầng lớp lao động khác khổ cực hơn bao giờ hết Không chỉ có nông dân
bị đói, công nhân viên chức bị hạ lương, mất việc mà học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường cũng không xin được việc, lâm vào tình cảnh thất nghiệp, đói khổ Chính trong hoàn cảnh ấy, tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức mới càng tỏ rõ tinh thần cách mạng của mình
Tháng 3 - 1930, phân hội Sinh viên ở Hà Nội đã tổ chức hội nghị ở Ngã Tư
Sở để bàn phương hướng, nội dung hoạt động và bầu người lãnh đạo phân hội
Đến tháng 10 - 1930, Ban Chấp hành Trung ương ta họp và thông qua bản Luận cương chính trị do đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú khởi thảo Hội nghị đã quyết định đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Hội nghị cũng đã thảo luận và thông qua Nghị quyết về công tác vận động thanh niên Nghị quyết của Đảng đã đánh giá thực trạng và vai trò to lớn của thế hệ trẻ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Thanh niên là mỗi hạng người ít bị những ảnh hưởng quốc gia, phong kiến đế quốc chủ nghĩa trói buộc hơn người lớn cho nên từ khi phong trào cách mạng nổi lên khắp xứ, chúng ta thấy quần chúng thanh niên tham gia rất hăng hái… Những cuộc biểu tình trong năm 1930 chứng tỏ rằng, thanh niên lao động đã thành lực lượng cách mạng rất quan trọng không thể kể tới được [28, tr.67] Ngoài ra, Nghị quyết còn đưa ra những nguyên lý chung về xây dựng Đoàn, một kiểu tổ chức mới của thanh niên trong cách mạng vô sản và nhấn mạnh: ”Đảng phải thi hành ngay Nghị quyết của Quốc tế Thanh niên Cộng sản, phải cử ra một số đồng chí thanh niên trẻ tuổi phụ trách tổ chức Thanh niên Cộng sản Đoàn và giúp Đoàn có tổ chức độc lập” Có thể nói Nghị quyết
ra đời đã đặt nền móng cơ sở lí luận cho đường lối thanh vận của Đảng, là sự tiếp nối một cách khoa học tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc,
Trang 30đóng vai trò thúc đẩy phong trào đấu tranh của thanh niên nói chung và học sinh, sinh viên, trí thức nói riêng, thu hút nhiều thanh niên tiểu tư sản, nhất là học sinh tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị ở Đông Dương
Trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, dưới sự lãnh đạo của Tổng hội học sinh, học sinh, sinh viên đã có nhiều hoạt động tích cực như rải truyền đơn, treo cờ, biểu ngữ để cổ động cho cách mạng Cuối tháng 9/1930, nổ ra cuộc bãi công lần thứ ba của công nhân Vinh - Bến Thủy Học sinh, sinh viên, trí thức theo gương công nhân cũng tổ chức đấu tranh ủng bộ Ngày 24/9/1930, toàn thể anh chị em học sinh Quốc học Vinh biểu tình phản đối chính sách tàn sát của thực dân Pháp đối với nhân dân ta Tại Hà Nội, ngày 11/10/1930, thanh niên cũng tổ chức tuyên truyền, diễn thuyết ở Phố Sinh Từ (Nay là Nguyễn Khuyến) với khẩu hiệu “Không được động đến công nông Nghệ Tĩnh” Cuộc diễn thuyết này sau đó đã bị thực dân Pháp đến đàn áp và bắt đi những người đứng đầu…
Ở ngoài nước, học sinh, sinh viên trí thức cũng phát động phong trào hưởng ứng cuộc đấu tranh chống chính sách khủng bố của thực dân Pháp ở Việt Nam Ngày 22/5/1930, du học sinh Việt Nam biểu tình trước Điện Élysée đòi thả những người tham gia khởi nghĩa Yên Bái và đả đảo đế quốc chủ nghĩa Sau cuộc biểu tình, 11 học sinh đã bị bắt
Nhân kỷ niệm sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga, ngày 7/11/1930, học sinh sinh viên trí thức ở nhiều thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… đã tổ chức treo cờ, rải truyền đơn, phát hành báo chí, diễn thuyết
về ý nghĩa lớn của cuộc cách mạng vô sản ở Liên Xô
Ngày 26/3/1931, Đoàn thanh niên Cộng sản Đông Dương chính thức được thành lập, đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh kiên cường của tầng lớp thanh niên học sinh sinh viên trí thức
Tuy nhiên, công tác vận động, tập hợp trí thức của Đảng trong thời kỳ
1930 - 1931 cũng bộc lộ những khuyết điểm, hạn chế Với Hội nghị Ban Chấp
Trang 31hành Trung ương Đảng tháng 10/1930 và Luận cương chính trị tháng 10/1930, đường lối nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và vai trò của công - nông của Quốc tế Cộng sản được xác lập ở Việt Nam Dưới lăng kính của Quốc tế Cộng sản, vấn đề đoàn kết dân tộc không được đề cập, các giai cấp, tầng lớp trung gian không được đánh giá đúng Tầng lớp trí thức bị coi là bấp bênh, hoạt đầu, dễ bị ngả về phe phản cách mạng… Thậm chí ảnh hưởng này còn được phát triển đến mức Xứ uỷ Trung Kỳ nêu thành một chủ trương trong Đảng “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”
Trong thời kỳ 1932 - 1935, phong trào cách mạng của quần chúng cả nước dần được khôi phục và phát triển Bên cạnh các phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức đã tổ chức nhiều hình thức đấu tranh thích hợp Một bộ phận trí thức tham gia một số tổ chức quần chúng cách mạng bí mật như: Công hội, thanh niên, phụ nữ và tổ chức công khai như: Hội đọc sách… Trong những năm 1933 - 1934, trí thức tiến bộ đã dùng báo chí công khai để phê phán các quan điểm sai lầm, qua đó góp phần tuyên truyền các quan điểm cách mạng và văn hóa cho quần chúng nhân dân Đáng chú ý là cuộc bút chiến giữa quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều đứng đầu với quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” do Phan Khôi đứng đầu
Trong cuộc tranh cử Hội đồng thành phố Sài Gòn năm 1933, 1935 và tranh cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ năm 1935, cùng với công nhân và dân nghèo thành thị, đông đảo học sinh, sinh viên, trí thức đã hoạt động chính trị sôi nổi dưới sự hướng dẫn của các đảng viên cộng sản Họ đã tham gia tổ chức các cuộc mittinh lên tới 2000 - 3000 người; nghe tuyên truyền những chương trình chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng…
Bước vào thời kỳ 1936 - 1939, trí thức yêu nước và tiến bộ đã tích cực tham gia các phong trào hành động cách mạng của quần chúng nhân dân, phản đối chiến tranh đế quốc, chống nguy cơ chủ nghĩa phát xít, đòi tự do, cơm áo, hòa bình Ở thời kỳ này, căn cứ vào tình hình quốc tế và trong nước,
Trang 32vận dụng sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản vào thực tiễn nước ta, Đảng đã có
sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thể hiện qua các Hội nghị Trung ương năm 1936, 1937, 1938 Về chỉ đạo chiến lược, tạm gác khẩu hiệu “Độc lập dân tộc và người cày có ruộng” Mục tiêu trước mắt lúc này không phải là chống đế quốc chủ nghĩa và phong kiến nói chung mà chỉ tập trung mũi nhọn chống bọn phản động thuộc địa và tay sai đòi tự do, cơm áo, hòa bình, chống phát xít, chống chiến tranh Về sách lược, Đảng ta chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, gọi là Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổi là Mặt trận Dân chủ Đông Dương)
Mặt trận phản đế phải bao gồm tất cả các đảng phái (như đảng cách mạng dân tộc và các đảng khác) Các đảng cải lương dân tộc, ví dụ như Đảng Lập hiến và các nhóm khác, các tổ chức quần chúng, các hội thể thao, hợp tác, hội sinh viên, hội nhà báo, hội luật gia và hội các nhà văn… Tóm lại, Mặt trận dân tộc phản đế bao gồm tất cả các đảng phái và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phụ thuộc vào dân tộc nào - dù là người Pháp, người Việt, người Lào hay các dân tộc thiểu số khác, miễn là họ nhất trí tranh đấu để thực hiện, những yêu sách đã nêu ra trên đây [65, tr.81]
Qua thực tế đấu tranh, Đảng ta nhận thức rõ rệt hơn nhiệt tình và năng lực cách mạng của tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức Với việc thành lập Mặt trận dân chủ rộng rãi, Đảng ta đã thu hút đông đảo học sinh, sinh viên, trí thức tham gia vào phong trào đấu tranh Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7/1936 xác định: “Nhiệm vụ của Đảng cơ sở không những phải thâu phục đa số thợ thuyền mà còn phải thâu phục quảng đại quần chúng nông dân và tiểu tư sản thành thị” [9, tr.234] Khẩu hiệu của Đảng đề ra cho học sinh, sinh viên, trí thức trong chương trình tối thiểu của mặt trận dân chủ là phổ cập giáo dục phổ thông, mở thêm các trường tiểu học,
sơ đẳng trong các làng, mở các lớp học buổi tối; sửa đổi lại chương trình giáo
Trang 33dục, nới rộng tuổi học, sửa đổi lại trường tư; bỏ học phí cho học sinh các trường tiểu học, cao đẳng tiểu học, tăng học bổng cho các học trò nghèo Đối với trí thức: đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí; người Việt được tham gia vào các vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền, đòi bình đẳng về tiền lương giữa công chức người Việt và công chức Pháp…
Mở đầu là cuộc vận động Đông Dương đại hội Ngày 13/8/1936, tại Sài Gòn, một Ủy ban Đông Dương đại hội đã được thành lập Ủy ban gồm 19 người, trong đó có 6 đại biểu là trí thức tư sản Trên tinh thần Đông Dương đại hội, mùa thu năm 1936, ở Nam Kỳ, đã có hàng trăm ủy ban hành động được thành lập, hàng ngàn học sinh, sinh viên, trí thức đã tham gia biểu tình, mit tinh, biểu dương lực lượng, tố cáo tội ác của thực dân Pháp và đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ Ở Hà Nội, đông đảo trí thức đã tham gia ký vào bản Dân nguyện gửi Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp đòi ân xá chính trị phạm, thực hiện cải cách dân chủ Phong trào này được báo chí tiến bộ công khai ủng hộ Học sinh, sinh viên, trí thức ở các trường học sôi nổi tổ chức các cuộc họp bàn và ký vào bản Dân nguyện Đầu năm 1937, lợi dụng đặc phái viên Chính phủ Pháp là Gô-đa sang kinh lý Đông Dương và toàn quyền Đông Dương Brêvie nhậm chức, trí thức, học sinh, sinh viên Hà Nội đã tham gia đấu tranh bằng các khẩu hiệu đòi dân sinh, dân chủ trong phong trào đón Gô - đa và chống Brêvie
Cùng với phong trào Đông Dương đại hội, phong trào lập hội cũng rất rầm rộ Việc lập các hội trong nhân dân đã có từ trước, nhưng đến giai đoạn này, ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước đều lập hội Đã có hàng chục nghìn hội quần chúng được thành lập như: hội ái hữu, tương tế, đọc sách, làm nhà, bóng đá… Các hội này đã thu hút hàng triệu hội viên, trong đó có đông đảo trí thức làm cơ sở cho phong trào cách mạng ngày càng phát triển trên cả nước Đặc biệt, đông đảo trí thức trẻ đã tham gia các nhóm nghiên cứu macxit Tháng 10/1937, Hội Ái hữu cựu học sinh Thăng Long được thành lập
Trang 34Đầu 1938, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội, Đoàn thanh niên dân chủ được thành lập, thu hút phần lớn học sinh, sinh viên tiến bộ ở các vùng ngoại thành Hà Nội và trí thức trẻ tham gia, dưới các hình thức, như hội đọc sách, hội văn nghệ
Các hoạt động văn hóa như cắm trại, du lịch, tuyên truyền văn hóa và sách báo tiến bộ, phong trào truyền bá chữ quốc ngữ cũng phát triển mạnh
mẽ Hoạt động sách báo công khai thời kỳ 1936 - 1939 đã qui tụ đông đảo lực lượng trí thức Hiệu sách Đồng Xuân (Hà Nội) đã trở thành địa điểm tập hợp nhiều trí thức tiến bộ tìm đọc Dưới danh nghĩa nhóm Tin tức, tờ báo công khai của Xứ ủy Bắc Kỳ, những người cộng sản đã liên minh với chi nhánh của Đảng xã hội, nhóm Ngày nay (bao gồm một số trí thức ở Hà Nội) thành lập Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ Mặt trận đã đưa đại biểu ra tranh cử vào Viện Dân biểu Bắc Kỳ và Hội đồng thành phố Hà Nội và đã giành thắng lợi Trong cao trào dân chủ 1936 - 1939, trí thức dân tộc hăng hái tham gia cuộc đấu tranh chống chính sách văn hóa ngu dân của chủ nghĩa thực dân, giúp nhân dân thoát nạn mù chữ, nâng cao hiệu biết về chính trị, cách mạng Từ 9/1936, nhiều lớp dạy chữ quốc ngữ đã được học sinh, sinh viên, trí thức tổ chức ở Hà Nội Đến 8/1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ được thành lập Hội đã phát triển ngày càng lớn mạnh, thu hút đông đảo anh em trí thức tham gia, là một điểm sáng trong công tác trí thức vận của Đảng
Một hình thức đấu tranh khá độc đáo được tổ chức trong giai đoạn này
là từ việc tổ chức các đám hiếu, hỉ cho các nhân sĩ, trí thức, người có uy tín trong xã hội, người nghèo khổ hay các quần chúng cách mạng tiêu biểu để tập hợp lực lượng, kêu gọi đấu tranh: đám tang cụ Dị (đầu năm 1938) ở Liễu Khê
- Thuận Thành - Bắc Ninh; đám tang cụ Nguyễn Hữu Tuệ (cuối năm 1938) ở Hải Phòng Ở Thái Bình có lễ an táng và tưởng niệm hai đồng chí đảng viên
là Chu Lâm và Phạm Quang Lịch với sự tham gia của hàng nghìn người Kết thúc buổi lễ, mọi người hô khẩu hiệu “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn
Trang 35năm” Học sinh, sinh viên, trí thức là lực lượng nòng cốt để tổ chức hoạt động trên Đặc biệt là đám tang Phan Thanh (4/5/1939) - một trí thức nổi tiếng đã thu hút hàng vạn người dự lễ Phan Thanh là một trí thức quê ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Ông là tổng thư ký của Hội Truyền bá quốc ngữ (thành lập 8/1938) Cũng năm 1938, ông tham gia bầu cử và trở thành đại biểu của Viện Dân biểu Trung Kỳ và Hội đồng thành phố Hà Nội Ở cương vị này, ông
đã dũng cảm nói lên tiếng nói của người dân lao khổ, tố cáo tội ác của chế thuộc địa Hoạt động của ông như nhận xét của đại tướng Võ Nguyên Giáp,
“gây sôi nổi cho dư luận, gây phấn khởi cho đồng bào, gây lúng túng e sợ cho các đối thủ” Ông mất ngày 1/5/1939 khi vừa mới 31 tuổi Đám tang của ông như trong báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc viết:
“anh Phan Thanh, một trong số đại biểu Đảng Xã hội đó, chết Dân chúng đã tổ chức tang lễ rất trọng thể Đám tang có 153 vòng hoa, có đại biểu 14 tỉnh về dự
và dài 2km Gia đình nhận được 110 điện viếng Chưa bao giờ có một đám tang lớn như thế ở Hà Nội” Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu tại lễ kỷ niệm
60 năm ngày mất Phan Thanh, tổ chức tại Hà Nội thì: “đám tang Phan Thanh thực sự là một sự kiện lớn Nó cũng là thước đo sự giác ngộ của nhân dân, uy tín của đảng và sự trưởng thành của Cách mạng Đám tang của ông cho thấy vai trò những người trí thức dân tộc chân chính, uy tín, hành động của họ có sức lôi kéo, lan toả như thế nào trong quần chúng nhân dân
Như vậy, phong trào học sinh sinh viên, trí thức trong cao trào 1936 -
1939 đã đóng góp xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc Tuy vẫn còn bộ phận thanh niên học sinh sinh viên trí thức chưa giữ vững lập trường cách mạng, hoang mang dao động khi cách mạng bị khủng bố; một số người quay lưng lại với thời cuộc, tự bằng lòng với cuộc sống nhỏ hẹp, một số khác cam tâm trở thành tay sai đắc lực cho đế quốc chống lại quyền lợi của dân tộc,… nhưng đại
bộ phận thanh niên học sinh, sinh viên, trí thức đều có tinh thần yêu nước và cách mạng, đóng vai trò to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Trang 361.2 Công tác vận động trí thức của Đảng Cộng sản Đông Dương trong cao trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945)
1.2.1 Bối cảnh Đông Dương thời chiến và chính sách của Nhật - Pháp đối với trí thức
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã nổ ra, đẩy loài người vào cuộc thảm sát chưa từng có Đông Dương là xứ thuộc địa của Pháp - một nước tham chiến nên cũng bị ném vào vòng xoáy của cuộc chiến khốc liệt Để phục vụ cho yêu cầu chiến tranh của chính quốc, thực dân Pháp đã biến Đông Dương thành nơi thi hành chính sách kinh tế thời chiến và phát xít hóa bộ máy nhà nước, nhanh chóng thủ tiêu các quyền lợi mà nhân dân ta giành được trong cao trào Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 - 1939) Sắc lệnh ngày 26/9/1939 của Chính phủ Pari và nghị định ngày 28/9/1939 của Toàn quyền Đông Dương nêu rõ:
1 Cấm hết thảy mọi hoạt động có tính chất trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền các khẩu hiệu của Quốc tế Cộng sản
2 Gián tán hết thảy các đội ái hữu, tổ chức hay nhóm nào có liên hệ với cộng sản
3 Cấm phát hành, tàng trữ hay trưng bày, hết thảy những đồ in hay tranh vẽ, tất cả những tài liệu tuyên truyền, khẩu hiệu của Đệ tam quốc tế
4 Những ai vi phạm những điều nói trên đây, sẽ bị kết án từ 1 - 5 năm
tù và phạt từ 100 đến 5.000 quan…
Toàn quyền Đông Dương Catroux tuyên bố “…Chúng ta quyết không
để mụn độc phát triển Phải mổ nó trước khi nó phát triển Chúng ta đã đánh toàn diện và mau lẹ vào các tổ chức cộng sản” [35, tr.320]
Ngày 22/9/1940, Nhật cho quân tiến công Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ vào Đồ Sơn Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật ở Lạng Sơn Sau
đó Nhật lấn dần Pháp, buộc Pháp ký hết hiệp định này đến hiệp định khác, nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa và căn cứ chiến tranh của Nhật
Trang 37Quân đội phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương trong khi thực dân Pháp vẫn còn nắm quyền cai trị, vừa là "người chủ thống trị" nhân dân ta, vừa làm tay sai cho Nhật, dân ta "một cổ đôi tròng, đã làm trâu ngựa cho Tây, lại làm nô
lệ cho Nhật" Nhật bắt Pháp phải cung cấp nhiều nguyên liệu, lương thực, thực phẩm, tiền bạc, các vật dụng khác Đáp lại yêu cầu của Nhật và cũng để
vơ vét cho riêng mình, thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn bóc lột nhân dân
ta Chính sách bóc lột kinh tế, áp bức chính trị của Pháp - Nhật đã gây hậu quả tai hại đến nền kinh tế đất nước, đến mọi mặt của đời sống nhân dân, trực tiếp làm hai triệu đồng bào miền Bắc chết đói trong mấy tháng đầu năm 1945
và hàng triệu đồng bào khác trong cả nước sống dở, chết dở Mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội Việt Nam, chỉ trừ bọn tay sai đế quốc, địa chủ lớn, tư sản mại bản, đều bị ảnh hưởng của chính sách thực dân phản động và của chiến tranh đế quốc Tầng lớp trí thức tiểu tư sản chịu tác động không nhỏ, bị ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp của những chính sách thực dân phản động Nhiều học sinh, sinh viên thất học, nhiều trí thức, viên chức mất việc làm, đồng lương thực tế giảm sút
Từ khi Nhật vào nước ta, tình hình chính trị trở lên rất phức tạp Hiện tượng chính quyền kép đã xuất hiện: Nhật - Pháp cùng thống trị Đông Dương Bên cạnh các thủ đoạn về chính trị, quân sự, kinh tế, thực dân Pháp và phát xít Nhật đều ra sức tuyên truyền, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên học sinh, sinh viên, trí thức, kể cả bằng các hình thức đầu độc rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện và các tệ nạn xã hội khác, lôi kéo một bộ phận trí thức trẻ, phả bội lại quyền lợi của dân tộc, chống phá cách mạng, chống phá Đảng Cộng sản
Năm 1940, tại Pháp, chính phủ bù nhìn Pétanh được thành lập Chế độ Pétain sửa đổi khẩu hiệu của Cộng Hòa Pháp (République Française) nguyên
là “Tự Do - Bình Đẳng - Bác Ái” (Liberté - Égalité - Fraternité) thành ra
“Cần Lao - Gia Đình - Tổ Quốc” (Travail - Famille - Patrie) Theo đó, thực
Trang 38dân Pháp thực hiện chế độ cai trị dựa trên sự nhấn mạnh chủ nghĩa gia trưởng, chủ nghĩa bảo thủ và tôn ti trật tự xã hội, nhưng cũng quan tâm nhiều đến thanh niên Thanh niên được coi là nền tảng và niềm hy vọng của cuộc cách mạng dân tộc Pháp; thanh niên phải được giáo dục trong tinh thần danh dự, nghĩa vụ và sự phục tùng Mục tiêu trước mắt của việc giáo dục đó là sự sùng bái Thống chế Pétain và lòng trung thành với nước Pháp Ở Đông Dương, mục tiêu đó được thực hiện với nhiều biện pháp khác nhau1, trong đó nổi bật
là người Pháp tổ chức thanh niên Đông Dương vào những Hội, Đoàn, tổ chức rầm rộ phong trào thể thao “Khỏe để phụng sự” 600.00 thanh niên đã được đưa vào các tổ chức trong các phong trào khác nhau ở Đông Dương [43, tr.567] Toàn quyền Đông Dương Đờ Cu (Decoux) giao cho sĩ quan tình báo Đuycuaroay (Đucuaroay) làm Tổng ủy viên Thể thao và Thanh niên (Commissaire général aux Sports et à la Jeunesse) Đuycuaroay đã mở một cuộc vận động thanh niên lớn khắp Đông Dương, tổ chức những cuộc đua xe đạp, thi bơi lội, đấu quyền Anh, thi sắc đẹp để lôi cuốn thanh niên làm cho họ lạc hướng đấu tranh cách mạng Thực dân Pháp cho thành lập một số tổ chức thanh niên như: “Hội thanh niên công giáo”, “Tổng hội sinh viên Đông
1
Tại Việt Nam, thực dân Pháp bắt buộc mọi người đi vào rạp chiếu phim đều phải đứng nghiêm chào cờ, chiêm ngưỡng ảnh của Thống chế Pétain, trong lúc nhạc trỗi bài “suy tôn” ông ta, trước khi phim được chiếu lên Thanh niên, sinh viên, và học sinh đều phải học thuộc lòng mấy bài thơ phổ nhạc ca tụng Pétain, ví dụ: Debout, belle jeunesse! Voici l'heure d'agir
Et voici la promesse de toujours obéir!
(Thanh niên, hãy đứng lên! Đây là giờ hành động!
Và đây là lời hứa: hãy luôn luôn vâng lời !)
Sinh viên học sinh mỗi khi hội họp, diễn hành, phải hát các bài hát ấy Công chức, dân chúng nói chung, phải học tập các “huấn từ (lời nói)” của Pétain, cũng như phải thuộc lòng bài thơ Đường luật tiếng Việt ca tụng Pétain như sau:
Con thuyền nguy biến lúc phong ba
Đứng mũi chịu sào rước Cụ ra
Thời thế dở dang trăm nỗi khó
Giang sơn trông cậy một ông già
Tám tuần đầu bạc pha sương tuyết
Một tấm lòng son nặng quốc-gia
“Lời nói Ma San” ghi chép đó
Đọc thì phải hiểu, hỡi dân ta!
“Lời nói Ma San” (“Les Paroles du Maréchal”) là những lời huấn thị và hiểu-dụ của Thống chế Pétain (mà thực dân Pháp muốn sánh với kinh điển “Khổng Tử viết” của sĩ phu Việt Nam thời bấy giờ), và Sở Thông tin Pháp in thành từng tập sách nhỏ phổ biến khắp nơi, với mục đích khuyến dụ mọi người hãy luyện “Đức vâng lời”
Trang 39Dương”, phát triển mạnh mẽ phong trào Hướng đạo sinh (Scuot), tổ chức đào tạo cán bộ thanh niên và huấn luyện viên thể dục tại trương Phan Thiết (Trung Kỳ) Đồng thời khuyến khích phong trào vui vẻ, trẻ trung dưới hình thức hội trại, hội chợ, trò chơi, ăn uống, tuyên truyền mạnh mẽ lối sống hưởng lạc
Ngoài ra, thực dân Pháp cũng khuyến khích các hoạt động văn hóa phát triển đủ mức để ngăn chặn tuyên truyền của Nhật mở rộng khu thịnh vượng chung Đại Đông Á Dân mỗi nước thuộc Liên bang Đông Dương được phép tuyên dương những sự kiện lịch sử anh hùng của dân tộc mình miễn là không chống đối lại Pháp Hơn 80 năm, thực dân Pháp siết chặt các “kênh” dù nhỏ đến mấy gợi lên tình cảm đồng bào, dân tộc, quốc gia - ngay trên từ ngữ Nhưng nay, ở trong thế yếu trước Nhật, Pháp đã bắt buộc phải hé cho những danh từ “Tổ quốc Việt Nam”, “dân tộc Việt Nam”, “con Lạc cháu Hồng”… xuất hiện trên báo chí, sách vở, trong âm nhạc và trên sâu khấu Nhà cầm quyền thực dân nhấn mạnh “chấn hưng văn hoá dân tộc”, lập một số trường học nhằm khôi phục nghệ thuật Lào, Khmer, nghệ thuật Việt Nam, cổ vũ việc
tổ chức những giải thưởng văn học, những cuộc triển lãm nghệ thuật, mở rộng đại học, lập thêm trường phổ thông
Đồng thời với việc kiểm sát chặt chẽ, nghiêm ngặt các sách, báo, tài liệu, nhất là tài liệu liên quan đến Cộng sản và Quốc tế Cộng sản theo Sắc lệnh 29/9/1939, thực dân Pháp cho xuất bản nhiều sách xem bói, xem tướng, sách kiếm hiệp, trinh thám, khuyến khích đồi phong bại tục, mê tín dị đoan Tuy vậy, nhiều văn nghệ sỹ tiến bộ cũng bằng nhiều cách xuất bản tác phẩm của mình, kể cả những tác phẩm bàn về các vấn đề Mácxit Những chính sách của Pháp đối với thanh niên, Văn hóa và Lịch sử Việt Nam một mặt ru ngủ, bóp nghẹt ý chí phản kháng của chúng ta, một mặt tạo ra cơ hội tiềm tàng để giác ngộ, tập hợp đông đảo thanh niên và quần chúng tham gia vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc
Đối với phát xít Nhật, từ khi vào Việt Nam, Nhật Bản không ngừng tuyên truyền luận điệu “giải phóng Á Châu” để “thành lập Khối (Khu vực)
Trang 40thịnh vượng chung Đại Đông Á”1 nhằm một mặt biện hộ cho hành động gây chiến đồng thời lung lạc, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân ta Ngay từ tháng 9/1940, Tổng hành dinh tối cao của Đế chế Nhật Bản đã quyết nghị:
Chúng ta sẽ đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào để dân chúng bản xứ ủng hộ chúng ta Chúng ta sẽ chỉ đạo chính quyền Nhật Bản tiến hành các thủ đoạn tuyên truyền để hướng công luận Nhật Bản đến chỗ hình thành tự nhiên sự ủng hộ quyền độc lập dân tộc của người An Nam, giải phóng họ khỏi ách áp bức, xây dựng một khu vực Đông Á mới, và tự phát hợp tác với cuộc đấu tranh giải phóng Đông Á [97, tr.82]
Đây chính là mặt thứ hai trong chính sách của Nhật ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng: Ngấm ngầm ủng hộ ở mức nào đó các phong trào và phần tử chống Pháp thân Nhật, coi đó như một nước cờ và thủ đoạn hăm dọa người Pháp
Ngoài tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền về khối “Đại Đông Á thịnh vượng chung“, quân Nhật còn mở một số trung tâm truyền bá văn hóa và ngôn ngữ Nhật Bản ở Hà Nội và Sài Gòn Thậm chí, các đoàn đại biểu trí thức, tăng
sĩ, phật tử Nhật Bản cũng được khuyến khích sang thăm Nam Kỳ, sau đó mời các giới nhân sĩ Việt Nam sang thăm, giao lưu ở Nhật Bản Dưới sự chỉ đạo của Shibata - Đại tá Nhật, tháng 11/1940, tổ chức chính trị thân Nhật đầu tiên là Việt Nam Phục quốc Đảng được thành lập Cơ sở hoạt động rộng khắp trên cả ba kỳ
Ở Bắc kỳ: Trần Trung Lập, Ngô Văn Ba và Matsui cầm đầu, Trung Kỳ: Ngô
1
Khu vực Đại Đông Á Thịnh vượng Chung), chính sách của nước Nhật Bản quân phiệt đối với các nước Đông Á trong Chiến tranh thế giới II Được cổ vũ bởi những chiến thắng của nước Đức phát xít ở Châu Âu, ngày 1.8.1940, Chính phủ Nhật Bản Kônôê (F Konoe) đưa ra khẩu hiệu thành lập "Khu vực Đại Đông Á thịnh vượng chung" do Nhật Bản đứng đầu, bao gồm các nước Đông Á và Nam Hải: Trung Quốc, Mãn Châu Quốc (Manzhu Guo), Đông Dương, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin (thậm chí sau này có thể mở rộng tới cả Ấn Độ, Ôxtrâylia và Niu Zilân) Thực chất của chính sách này là bằng những chiêu bài "đồng văn, đồng chủng" và những hứa hẹn "giải phóng" các nước Châu Á thoát khỏi ách thống trị của các "đế quốc
da trắng", cùng nhau xây dựng thịnh vượng chung và bình đẳng, Nhật Bản mưu đồ tranh giành các thuộc địa rộng lớn của các đế quốc phương Tây ở khu vực này; khai thác, vơ vét các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực phục vụ cho các kế hoạch xâm lược