1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc thù sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề di sản văn hoá thế giới ở vùng văn hoá kinh bắc

117 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang là hai đơn vị có vai trò rất quan trọng trong công tác truyền thông về di sản văn hóa Kinh Bắc, đặc biệt là Dân ca Quan họ Bắc Ninh, tạo cầu nối đưa những l

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ KHÁNH LINH

ĐẶC THÙ SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ

VỀ CHỦ ĐỀ DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI

Ở VÙNG VĂN HOÁ KINH BẮC

( Khảo sát Báo Bắc Ninh và Báo Bắc Giang

từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019 )

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI– 2020

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ KHÁNH LINH

ĐẶC THÙ SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ

VỀ CHỦ ĐỀ DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI

Ở VÙNG VĂN HOÁ KINH BẮC

( Khảo sát Báo Bắc Ninh và Báo Bắc Giang

Trang 3

Chủ tịch Hội đồng

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ báo chí với đề tài “ĐẶC THÙ SÁNG

TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ VỀ CHỦ ĐỀ DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI Ở

VÙNG VĂN HOÁ KINH BẮC” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong luận văn đã được nêu rõ trong danh mục tài liệu tham khảo Các thông tin trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Học viên

Nguyễn Thị Khánh Linh

Trang 5

viện Báo chí và Tuyên truyền đã dìu dắt, giảng dạy, cung cấp kiến thức cho tác giả suốt 2 năm học thạc sĩ vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc

Oanh - người đã chỉ bảo, hướng dẫn tận tình về mặt khoa học trong quá trình

thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà báo, phóng viên tại báo Bắc Ninh, báo Bắc Giang đã hỗ trợ, chia sẻ thông tin cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng xin được cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Tuy đã có cố gắng nhưng Luận văn không tránh khỏi những sai sót về mặt kiến thức cũng như kỹ thuật Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, thầy cô giáo và đồng nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Khánh Linh

Trang 6

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

Trang 7

Biểu đồ 2.1 Thể loại tin, bài trên báo Bắc Ninh 51

Biểu đồ 2.2 Số lượng tin bài trong chuyên mục trên báo Bắc Ninh 52

Biểu đồ 2.3 Bảng số lượng tin bài trên báo Bắc Giang 53

Biểu đồ 2.4 Số lượng tin bài trong chuyên mục trên báo Bắc Giang 54

Trang 8

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Một số khái niệm 12

1.2 Đặc thù di sản văn hóa thế giới ở vùng Kinh Bắc 34

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đặc thù sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hóa thế giới khu vực đồng bằng sông Hồng 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHỦ ĐỀ DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI VÙNG VĂN HOÁ KINH BẮC TRÊN BÁO BẮC NINH VÀ BÁO BẮC GIANG 43

2.1 Một số nét khái quát về Báo Bắc Ninh và Báo Bắc Giang 43

2.2 Đánh giá thực trạng sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hóa thể giới vùng văn hóa kinh bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang 48

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHỦ ĐỀ DI SẢN VĂN HOÁ THẾ GIỚI VÙNG VĂN HOÁ KINH BẮC TRÊN BÁO BẮC NINH VÀ BÁO BẮC GIANG HIỆN NAY 75

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa thế giới hiện nay 75

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí 82

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 103

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC 109

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài

Kho tàng văn hóa đồ sộ, độc đáo qua 4.000 năm lịch sử đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia du lịch nổi tiếng thế giới với 11 di sản văn hóa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) vinh danh: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ, Hội Gióng… gắn liền với văn hoá từng vùng miền Cùng với các di sản văn hóa vật thể, di sản phi vật thể Việt Nam, đặc biệt là các di sản thế giới được UNESCO công nhận đã trở thành nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng quý giá, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tăng sức hút về du lịch, thương mại và đầu tư quốc

tế, quảng bá, giới thiệu về hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam đến bạn bè và cộng đồng quốc tế Tại một số tỉnh, thành phố, các di sản thế giới đã trở thành điểm nhấn nổi bật, hấp dẫn, riêng có, thu hút khách tham quan, du lịch

UNESCO cho rằng: “Trong thời đại ngày nay, nguồn gốc của sự phồn thịnh và phát triển lâu dài của một quốc gia không đơn thuần chỉ là vấn đề nhân công, nguồn vốn, công nghệ và tài nguyên thiên nhiên, mà còn là tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người Tiềm năng sáng tạo này nằm trong văn hoá và truyền thống của dân tộc, nghĩa là trong kho tàng trí thức, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng Vì l đó, việc bảo tồn và phát huy những giá trị của nền văn hoá truyền thống là một vấn đề thiết thân và cấp bách, đặt ra đối với hầu hết các quốc gia

Đối với Việt Nam, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của dân tộc là một nhiệm vụ của Nhà nước, của xã hội và của mỗi người dân Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, k họp thứ 9, ngày 26 10 2001 đã thông qua “Luật di sản văn hoá Điều 10 của Luật di sản văn hoá đã chỉ rõ: “Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh

Trang 10

tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy di sản văn hoá

Vùng đồng bằng sông Hồng chứa đựng toàn bộ bề dày lịch sử Việt Nam Những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình nổi tiếng từ hồi tiền sử có giá trị: khoa học, giáo dục truyền thống, giáo dục kiến thức Những lễ hội truyền thống như đền Trần, hội Lim (Bắc Ninh), hội Gióng (Hà Nội), hội chùa Hương , là quê hương của những làn điệu chèo, khúc ca quan họ, câu hát văn, nghệ thuật tuồng, rối nước, âm nhạc…

Trong đó, Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một trong những làn điệu dân

ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam Nó còn được gọi là dân ca quan họ Kinh Bắc do được hình thành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh ngày nay Ngày 30 9 2009, UNESCO đã chính thức công nhận Quan họ là di sản văn hóa phi vật thể của thể giới

Công tác bảo tồn di sản văn hóa ở các địa phương cũng được quan tâm Các địa phương có di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh và di sản được đưa vào Danh mục quốc gia đã chủ động xây dựng và triển khai các

đề án bảo tồn, phát huy giá trị di sản Điển hình như Phú Thọ triển khai Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát Xoan Phú Thọ (giai đoạn từ năm 2013 đến 2020) với tổng kinh phí 165 tỷ đồng; Bắc Ninh phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị Dân ca Quan họ Bắc Ninh và Ca trù giai đoạn từ năm 2013 đến 2020 với kinh phí 65 tỷ đồng

Tính đến thời điểm tháng 11 2019, cả nước có 850 cơ quan báo in, báo điện tử Về phát thanh - truyền hình, hiện có 72 cơ quan có giấy phép hoạt động phát thanh - truyền hình với 2 đài quốc gia, 64 đài địa phương, 5 kênh truyền hình, với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình Với vai trò là phương tiện thông tin nhanh nhạy, kịp thời và rộng khắp, công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về đề tài bảo tồn và phát huy giá trị các

di sản văn hóa dân tộc được đẩy mạnh ở tất cả các loại hình báo chí của các

Trang 11

cơ quan, tổ chức, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương Cùng với việc thông tin kịp thời các tin tức, sự kiện liên quan đến các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, đặc biệt là các di sản văn hóa được UNESCO vinh danh, báo chí còn phản ánh chân thực, có chiều sâu nét đẹp văn hóa trong các phong tục, tập quán, các lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc; các làn điệu dân ca, dân vũ đặc sắc; các loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc (tuồng, chèo, cải lương, múa rối nước, ca trù ); các ngành nghề cổ truyền; món ăn ẩm thực; các nghi thức, nghi lễ truyền thống; các hương ước, quy ước của bản, làng, dòng họ gắn liền với tín ngưỡng, tâm linh trong đời sống hằng ngày, mang đặc trưng riêng của từng dân tộc, từng dòng họ Qua đó, đã góp phần khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, làm cho nét đẹp văn hoá truyền thống lan rộng trong đời sống xã hội

Bên cạnh việc tuyên truyền giá trị của các di sản văn hóa, báo chí thông tin những mặt trái, những nguy cơ đe dọa hủy hoại môi trường tài nguyên di sản văn hóa; kêu gọi cộng đồng bảo vệ, giữ gìn giá trị của di sản văn hóa cũng như sự ứng xử của con người đối với công tác bảo vệ môi trường cảnh quan xung quanh di sản văn hóa

Thực tế những năm qua cho thấy, hầu hết các cơ quan báo, đài đều xây dựng chuyên trang, chuyên mục về đề tài văn hoá, trong đó ít nhiều đề cập đến nội dung bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, đồng thời cũng phê phán, lên án mạnh m những hành vi xâm hại đến di sản văn hoá Nhờ có báo chí phát hiện, lên tiếng kịp thời mà chính quyền, các cơ quan quản lý về văn hóa quan tâm hơn đến việc bảo vệ, đầu tư phục hồi những di tích bị hư hỏng, xuống cấp hoặc bị mất hiện vật, cũng như những vụ việc xâm hại đến di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh Báo chí cũng lên tiếng phê phán mạnh

m những hiện tượng lợi dụng lễ hội truyền thống để hoạt động mê tín, dị đoan, đồng thời tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn nhân dân tham gia lễ hội một cách lành mạnh, bài trừ các tệ nạn xã hội trong các lễ hội

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số cơ quan báo chí chưa

Trang 12

thực sự quan tâm đến chủ đề này mà chạy theo những tin, bài về văn hóa

“thời thượng giật gân, câu khách, những phát ngôn “sốc về văn hóa tác động xấu đến các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc Không ít phóng viên, biên tập viên do kiến thức, sự hiểu biết về văn hóa dân tộc còn hạn chế nên khi viết các tin, bài về chủ đề văn hóa dân tộc đã thông tin sai lệch Vô hình trung, họ đã “tiếp tay cho việc làm mai một di sản văn hóa dân tộc, làm lu mờ bản sắc văn hóa dân tộc Thời gian qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã xử lý nghiêm khắc một số cơ quan báo chí theo quy định của Luật Báo chí, đình bản một số tờ báo, thu hồi thẻ nhà báo đối với một số phóng viên đã có những bài viết hoặc cho đăng những bài viết về chủ đề văn hóa vi phạm đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bị dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh m

Báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang là hai đơn vị có vai trò rất quan trọng trong công tác truyền thông về di sản văn hóa Kinh Bắc, đặc biệt là Dân ca Quan họ Bắc Ninh, tạo cầu nối đưa những loại hình này đến gần với người dân hơn nữa, góp phần bảo tồn, giữ gìn các giá trị di sản văn hóa

Nhà báo làm thế nào để có được tác phẩm đáp ứng các yêu cầu về nội dung, hình thức chuyển tải xứng tầm di sản thế giới? Các thao tác nghề nghiệp của nhà báo đã và đang thực hiện ra sao? Tất cả các vấn đề liên quan đến kỹ năng nghề nghiệp nhà báo trong sáng tạo tác phẩm về chủ đề di sản văn hóa thế giới ở vùng văn hóa Kinh Bắc s được nghiên cứu trong luận văn này

Với tất cả lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đặc thù sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề di sản văn hoá thế giới ở vùng văn hoá Kinh

Bắc” (Khảo sát báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang từ tháng 2 năm 2018 đến

tháng 3 năm 2019)

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu liên quan đến sáng tạo tác phẩm báo chí, cũng như một số tài liệu liên quan đến chủ đề di sản văn hóa

thế giới, có thể kể đến như sau:

Trang 13

Các tài liệu về sáng tạo tác phẩm báo chí

Sách “Tác phẩm báo chí tập III của PGS, TS Trần Thế Phiệt”, nhà xuất

bản Giáo dục, Hà Nội -1995 nghiên cứu sâu về thể loại tác phẩm chính luận báo chí từ khi hình thành cho đến thời điểm ra cuốn sách Trong đó, tác giả đi sâu bàn về ba thể loại chính của chính luận báo chí là xã luận, bình luận và chuyên luận, đặc điểm, một số dạng thức và phương pháp sáng tạo của từng thể loại cụ thể

Sách “Sáng tạo tác phẩm báo chí” của tác giả Đức Dũng – Nhà xuất

bản Văn hóa Thông tin 2002 đề cập đến lý thuyết và kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí ở các loại hình: Báo in, báo phát thanh, báo truyền hình trên cơ

sở nhìn nhận hoạt động sáng tạo ở nhiều thể loại báo chí khác nhau, trong đó

có thể loại bình luận

Sách “Các thể loại báo chí” của A.A Chertưchơnưi; Đào Tấn Anh,

Trần Kiều Vân dịch; Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội - 2004 Nội dung cuốn sách cung cấp những vấn đề lý luận về các yếu tố hình thành thể loại trong báo chí; trình bày về các thể loại báo chí

Sách “Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo” của G.V Lazutina; Đào

Tấn ANh, Hồ Quốc Vĩ, Lê Xuân Tiềm dịch; Nhà xuất bản Thông tấn Hà Nội – 2014 bên cạnh việc đề cập đến hoạt động sáng tạo của phóng viên còn có những nội dung mô tả những phương thức sáng tạo của nhà báo

Sách “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS, TS Nguyễn Văn Dững, Nhà

xuất bản Lao động - 2013 đề cập đến kỹ năng và kinh nghiệm như một yếu tố quan trọng trong phẩm chất nghề nghiệp của nhà báo

Sách chuyên khảo: “Tác phẩm báo chí trong môi trường truyền thông

hiện đại” của tác giả Nguyễn Thành Lợi (Nxb Thông tin và truyền thông,

2014) đề cập về kỹ năng viết báo đa phương tiện, tác giả đã tập trung phân tích về vai trò của kỹ năng viết báo đa phương tiện, yêu cầu đối với nhà báo

đa phương tiện, viết báo trong môi trường hội tụ, kỹ năng viết tin cho báo điện tử trong tòa soạn hội tụ, kỹ năng viết tin cho báo điện tử trong tòa soạn hội tụ, các bước thiết kế nội dung TPBC đa phương tiện Trong môi trường

Trang 14

truyền thông hội tụ, nhà báo đa phương tiện cần thu hút sự hợp tác và cùng tham gia của công chúng; cần biết tổng hợp và chắt lọc thông tin nhanh nhưng phải chính xác Trong kỷ nguyên truyền thông hội tụ, mặc dù cách thức truyền thông luôn được đổi mới, nhưng “nội dung vẫn là số một vẫn là yếu

tố then chốt để các hãng truyền thông cạnh tranh nhau và yêu cầu về chất lượng cũng cao hơn

Các tài liệu liên quan đến di sản văn hóa

Đề tài “Bảo t n và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội tr n báo in

của Ngô Thị Hà đã tìm hiểu về vấn đề báo in với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội, khảo sát nội dung, hình thức phản ánh việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội qua 3 tờ báo: báo Nhân Dân, báo Hà Nội Mới, báo Văn Hoá Qua tổng hợp, phân tích số liệu khảo sát về nội dung, hình thức phản ánh từ năm 2012 - 2013, tác giả nhận diện việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể Hà Nội trên 3 tờ báo, giải pháp cho tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của di sản văn hóa vật thể ở Hà Nội, đánh giá hiệu quả báo chí qua phản hồi của công chúng Qua đó, nêu những vấn đề đặt

ra về nội dung, hình thức chuyển tải và đặt ra những giải pháp nâng cao chất lượng báo in về vấn đề bảo tổn và phát huy di sản văn hoá vật thể Hà Nội Văn hoá là tiềm lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những giá trị hàm chứa trong vốn di sản văn hoá dân tộc được tích luỹ theo thời gian lịch

sử Di sản văn hoá trở thành điểm tựa quan trọng, tạo thế đi vững chắc cho hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Trải qua hàng ngàn năm, những giá trị di sản văn hoá vật thể Việt Nam vẫn hiện diện như muôn trùng con sóng cuộn chảy trong dòng sông văn hoá truyền thống của dân tộc Kế thừa di sản quá khứ là quy luật phát triển tất yếu của văn hoá Mặc dù chỉ nghiên cứu về di sản văn hoá vật thể Hà Nội nhưng đề tài có hệ thống hoá, bao quát và đi sâu về một số vấn đề lý luận, đóng góp chung vào những thành tựu lý luận về lĩnh vực này

Đề tài “Phương thức bảo t n, phát huy và truyền bá các di sản văn hoá

phi vật thể âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam” của Nguyễn Quang Vinh

Trang 15

Luận văn trình bày một cách có hệ thống các phương thức bảo tồn, phát huy

và truyền bá các di sản văn hóa phi vật thể âm nhạc của Đài TNVN, làm rõ quan điểm của Đảng CSVN, tư tưởng Hồ chí Minh, công ước Quốc tế của UNESCO, luật pháp Việt Nam cũng như vai trò của báo chí - truyền thông trong công việc này Luận văn khảo sát việc bảo tồn, phát huy và truyền bá di sản văn hóa phi vật thể âm nhạc tại phòng công nghệ lưu trữ âm thanh của Đài TNVN; trên 4 loại hình báo chí của Đài TNVN là: phát thanh: hệ VOV1,

hệ VOV2, hệ VOV3, hệ VOV4, hệ VOV5; báo trực tuyến VOV; báo in: Báo tiếng nói Việt Nam; báo hình: VOVTV và Nhà hát Đài TNVN Qua đó, luận văn s phân tích, so sánh, đánh giá, chỉ ra những điểm mạnh, điểm hạn chế và đưa ra những đề xuất, gợi ý để việc bảo tồn, phát huy và truyền bá các di sản văn hoá phi vật thể âm nhạc tại Đài TNVN được tốt hơn

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Hồng Linh (2014), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, với đề tài: “Vấn đề gìn giữ và phát huy di sản Văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay Tác giả đã nêu khá rõ về những di sản văn hóa trên địa bàn, những vấn đề làm được và chưa làm được về việc gìn giữ và phát huy giá trị của những di sản văn hóa, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa trên địa bàn Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay Qua đó, tác giả luận văn này có cơ sở để so sánh những với những di sản văn hóa phi vật thể thế giới vùng văn hóa Kinh Bắc, từ đó nhận biết những đặc thù riêng của văn hóa vùng Kinh Bắc hiện nay

Luận văn thạc sĩ của Võ Biên Thùy (2006), đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, với đề tài: “Quá trình truyền thông về di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh trên báo in Tác giả đã đề cập khá sâu sắc về lý luận báo chí và truyền thông, từ đó làm nổi bật đặc trưng truyền thông về dân

ca Quan họ của báo in, những mặt được và những hạn chế trong truyền thông

về lĩnh vực này trên báo in Thông qua khảo sát báo Bắc Ninh tác giả đã đưa

ra những giải pháp để nâng cao chất lượng truyền thông về di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh trong thời gian tới

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Nga (2014), đại học Khoa học

Trang 16

Xã hội và Nhân văn, với đề tài: “Quá trình tuyền thông hai di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Tác giả đã làm rõ mối quan hệ truyền thông về di sản văn hóa Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới Phân tích quá trình truyền thông về hai di sản này, thấy được những ưu điểm và những hạn chế trong quá trình truyền thông về lĩnh vực này Từ những nghiên cứu, khảo sát

cụ thể tác giả đã đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Luận văn của tác giả Ngô Bình Nam Giang (2017), với đề tài: Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ , chuyên ngành Quản lý công Tác giả đã đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá công tác quản lý Nhà nước về di sản văn hóa, đặc biệt là

di sản văn hóa thế giới Từ đó đưa ra những giải pháp để làm tốt công tác quản lý Nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Tác phẩm: “Cách mạng 4.0 với vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Dân tộc trên Tạp chí Du lịch (ngày 31 tháng 7 năm 2018) của thạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường Tác giả phân tích khá sâu sắc về giá trị của văn hóa Dân tộc, những vấn đề về thuyết minh và quảng bá văn hóa Dân tộc Từ đó phải đổi mới nâng cao chất lượng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Dân tộc trên cơ sở phát triển và ứng dụng công nghệ 4.0 vào nghiên cứu sản xuất

Qua công tác nghiên cứu, khảo sát về những nội dung có liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu, người thực hiện đề tài nhận thấy những đề tài khoa học

đã nghiên cứu có liên quan đến một vài khía cạnh sát với đề tài nghiên cứu của tác giả Nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu, đầy đủ, toàn diện về thực trạng thông tin đăng tải trên các tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hóa thế giới ở vùng văn hóa Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang để đưa ra những giải pháp phù hợp, khả thi nhằm nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm báo chí để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao

trong tình hình mới Vì vậy, tác giả khẳng định đề tài “ĐẶC THÙ SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ VỀ CHỦ ĐỀ DI SẢN VĂN HOÁ THẾ

Trang 17

GIỚI Ở VÙNG VĂN HOÁ KINH BẮC” được thực hiện độc lập, không

trùng với các công trình nghiên cứu trước đây

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Mục đích chung

Luận văn nghiên cứu và khảo sát, đánh giá thực trạng đặc thù sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới ở vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất chất lượng sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề

di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện những mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về những đặc thù của sáng tạo tác phẩm, về đặc thù sáng tạo tác phẩm văn hóa, di sản văn hóa đăng tải trên các tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang

- Thực hiện khảo sát nội dung thông tin, và các hình thức thể hiện tác phẩm để chỉ ra đặc thù sáng tạo Từ đó rút ra được những vấn đề và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc thù sáng tạo tác phẩm văn hóa trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang với thông tin đăng tải trên các tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát thông tin đăng tải trên các tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới khu vực vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang

Trang 18

Thời gian khảo sát: Từ 2 2018 - 3/2019

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, lý luận cơ bản về báo chí truyền thông, lý thuyết truyền thông, nguyên tắc hoạt động báo chí ở Việt Nam và quan điểm của Đảng và Nhà nước về truyền thông cho di sản văn hoá thế giới vùng Kinh Bắc

5.2 Phương pháp nghiên cứu công cụ

Để đạt được mục đích nghiên cứu, tác giả nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghi n cứu tài liệu: dùng đề nghiên cứu, tập hợp những

tài liệu liên quan đến đề tài Từ đó rút ra những luận điểm, luận cứ, luận chứng phục vụ cho quá trình nghiên cứu

- Phương pháp phân tích nội dung: dùng để phân tích các thông điệp,

các tác phẩm trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang về chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 3 năm 2019

Từ đó giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn bao quát, chi tiết về thực trạng báo chí 2 tỉnh với công tác sáng tạo tác phẩm chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc

- Phương pháp quan sát: cách thức thực hiện quy trình làm báo tại báo

Bắc Ninh và báo Bắc Giang

-Phương pháp phỏng vấn sâu: Nhà báo, người quản lý báo chí , những

người hiện đang sáng tạo tác phẩm ở hai tờ báo này

- Ngoài các phương pháp chính tr n, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp thống k , so sánh, phân tích, tổng hợp… để thực hiện luận văn

+ Thống k : số lượng tác phẩm trên mỗi tờ báo trong vùng khảo sát + So sánh: số lượng, nội dung, hình thức tác phẩm của hai tờ báo Bắc

Ninh và báo Bắc Giang

+ Phân tích: nội dung, ngôn ngữ, ý nghĩa tác phẩm

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 19

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài này tập trung nghiên cứu đánh giá đặc thù sáng tạo về nội dung; hình thức của các tác phẩm báo chí viết về di sản văn hoá thế giới vùng văn hóa Kinh Bắc Qua đó kiến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang trong thời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Không chỉ dừng ở những lý luận, tác giả luận văn còn thực hiện các biện pháp phân tích, đánh giá, so sánh nội dung và hình thức các tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang Từ đó chỉ ra những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm báo chí

Luận văn s là tư liệu hữu ích cho phóng viên, biên tập viên đang hoạt động nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa ở các Đài phát thanh, báo in, báo trực tuyến, báo hình, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và làm tư liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên tại các trường đào tạo báo chí trong cả nước, cũng như những ai quan tâm đến đề tài này

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu làm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng sáng tạo tác phẩm báo chí chủ đề di sản văn hoá thế giới vùng văn hoá Kinh Bắc trên báo Bắc Ninh và báo Bắc Giang hiện nay

Trang 20

- Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa bắt nguồn từ chữ la tinh

“Cultus mà nghĩa gốc là gieo trồng, bao gồm gieo trồng ruộng đất và gieo trồng về tinh thần (giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người)

- Các định nghĩa miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm, hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học văn hóa là một tổng thể phức hợp gồm kiến trúc, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội

- Các định nghĩa về lịch sử: nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa Coi văn hóa chính là bản thân con người cho dù là những người hoang dã nhất trong một

xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, lối ứng sử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống

- Các định nghĩa về chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị Coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất k nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử…)

Trang 21

- Các định nghĩa về tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người Quan niệm tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh… Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp giữa thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt kế thừa

- Các định nghĩa về cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; hoặc Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ

kế thừa

- Các định nghĩa về nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ hai góc độ văn hóa của nó Với nghĩa rộng nhất văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến nỗi ứng xử của nhau

Edurnett Tyler nhà xã hội học về văn hóa người Anh là người đầu tiên định nghĩa về văn hóa một cách rộng rãi: “Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất k năng lực, thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội [35, tr 3]

Văn hóa là biểu hiện trình độ phát triển của xã hội và của con người, biểu hiện trong các kiểu và các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và giá trị về tinh thần do con người sáng tạo ra, văn hóa có thể được dùng để chỉ trình độ phát triển của xã hội, dân tộc Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống, của mỗi cá nhân và cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, trở thành một hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ, lối sống… mà dựa vào đó, từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình

Cùng với các nhà nghiên cứu trên thế giới, một số nhà nghiên cứu Việt

Trang 22

Nam cũng đưa ra một số nhận thức cơ bản về văn hóa, theo giáo sư Hoàng Trinh: “Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo, bảo vệ và phát huy những giá trị của một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trên cơ sở một phương thức sản xuất nhất định Văn hóa thể hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, tổ chức xã hội và mức sống, lý tưởng thẩm

mỹ [35, tr 5] Giáo sư Vũ Khiêu đưa ra nhận định: “Văn hóa thể hiện trình độ vun trồng của con người trong xã hội… Văn hóa là trạng thái con người ngày càng tách rời khỏi giới động vật, ngày càng xóa bỏ những đặc tính của động vật

và khẳng định những đặc tính của con người [35, tr.5]

Còn rất nhiều nhận thức về văn hóa được khái quát thành những vấn đề

cơ bản không thể đưa ra hết được Nói tóm lại, mọi hoạt động và sản phẩm kết quả những hoạt động ấy do con người có ý thức tác động vào tự nhiên và

xã hội mà có đều có thể thuộc về văn hóa Điểm xuất phát của văn hóa là con người hoạt động trong thực tiễn, cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội Văn hóa bao trùm, chi phối, thấm sâu vào hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực Văn hóa có chiều sâu lịch sử, tạo thành truyền thống, mang bản sắc dân tộc, mang tính tư tưởng nhân văn

UNESCO đã nhìn nhận văn hóa với ý nghĩa rộng rãi nhất, đó là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng (gia đình, làng xóm, vùng, miền, quốc gia, xã hội…) Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng… Văn hóa là một yếu tố cơ bản của sức sống của một dân tộc, nó tổng hợp những sáng tạo của một dân tộc, những phương tức sản xuất và sở hữu, những của cải vật chất, những thể chế

tổ chức, những tín ngưỡng và những đau khổ, những sự nghiệp đang làm và những hoạt động giải trí, những ước mơ và khát vọng Năm 2002, UNESCO đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc

Trang 23

của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng văn học - nghệ thuật, và cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin

Mỗi xã hội đều có những dân tộc và cộng đồng khác nhau, và mỗi cộng đồng nhỏ đều có những cách ứng xử riêng mang tính đặc trưng của cộng đồng

ấy Những biểu hiện ấy được gọi là “tiểu văn hóa , có người còn gọi là “văn hóa phụ Các cộng đồng này thường bao gồm những cá nhân có cùng một nền tảng dân tộc hoặc chủng tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo, đôi khi có cả những nhóm người trong lĩnh vực nghề nghiệp, lứa tuổi (ví dụ như tiểu văn hóa của thanh niên; tiểu văn hóa của một dân tộc ít người nào đó; hay tiểu văn hóa của cộng đồng người sinh sống ở nước ngoài.v.v.), thực chất tiểu văn hóa là một bộ phận của văn hóa cộng đồng, song nó có những nét khác biệt nhưng không đối lập với nền văn hóa cộng đồng đó

Tính nhân văn là chuẩn mực xác định giá trị của văn hóa, vì văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực hoạt động của con người, của xã hội, văn hóa hình thành và phát triển qua một quá trình lịch sử lâu dài Các giá trị của văn hóa được tích lũy, chọn lọc, lưu truyền, hiệu chỉnh, gia cố… bởi nhiều thế hệ, tạo thành truyền thống văn hóa, truyền thống văn hóa có vai trò rất lớn trong việc định hình nếp sống, lối sống, phong tục tập quán, dư luận… của cộng đồng nhất định, trong đó có cá nhân với tư cách là thành viên của cộng đồng

Qua những vấn đề cơ bản về văn hóa như trên, bản thân tác giả đề tài này nhận thấy rằng: Văn hóa là một vấn đề rất rộng, bao gồm cả các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động, được lưu truyền, lưu giữ và phát triển liên tục qua từng giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc, cộng đồng, gia đình và xã hội Văn hóa là sản phẩm của con người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội, song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững trật tự xã hội, văn hóa truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa, văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ

Trang 24

chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

1.1.2 Di sản văn hóa

Di sản là tài sản vật chất hoặc tài sản tinh thần do lịch sử để lại hoặc do thiên nhiên tạo ra gắn kết với cuộc sống con người và trở thành biểu tượng của quốc gia, dân tộc hay cộng đồng dân cư, được gìn giữ và lưu truyền từ đời này sang đời khác

Ở góc độ văn hóa: Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ đời này sang đời khác (bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể)

Trong vài thập kỷ gần đây, khái niệm về di sản văn hóa đã có những thay đổi một cách đáng kể để phù hợp với quá trình bổ sung hoàn thiện về định nghĩa văn hóa và một phần là do tác động của các văn kiện quốc tế của UNESCO Di sản văn hóa không chỉ dừng lại ở các đền tháp và các bộ sưu tập hiện vật, mà nó còn bao gồm các truyền thống và các biểu đạt sống do ông cha để lại như các truyền thống truyền khẩu, các loại hình nghệ thuật biểu diễn, các phong tục tập xã hội, các nghi lễ, lễ hội, tri thức và các phong tục tập quán liên quan đến thiên nhiên và vũ trụ, hay các tri thức và kỹ năng để làm ra các sản phẩm thủ công truyền thống

Di sản văn hóa dân tộc là tài sản vô giá, tiềm lực tinh thần gắn kết cộng đồng dân tộc trong một quốc gia, Việt Nam coi văn hóa là nguồn lực thúc đẩy

xã hội phát triển, di sản văn hóa dân tộc được coi là tài sản vô giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Di sản văn hóa dân tộc Việt Nam rất phong phú

và đa dạng, là những chuẩn mực cốt lõi phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc, là nguồn vốn vô giá sáng tạo nên những giá trị mới trong xã hội đương đại, là tiềm năng to lớn để giao lưu văn hóa trong nước và với các nước, góp phần phát triển xã hội

1.1.3 Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể

1.1.3.1 Văn hóa vật thể

Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại, là sản phẩm do con người sáng tạo ra hoặc do tạo hóa thiên nhiên gắn chặt với đời sống tinh

Trang 25

thần của con người, tồn tại dưới hình thức vật chất Trong quá trình lao động sáng tạo của con người, từ khi có loài người đến nay, con người đã biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng

và thẩm mỹ phục vụ cuộc sống, những đồ vật đó tồn tại và trở thành biểu tượng về tinh thần của con người, đó chính là văn hóa vật thể

Văn hóa vất thể được khái quát bằng nhiều phương pháp khác nhau, tạo nên những giá trị văn hóa cao trong nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa tinh thần, làm cho con người biết tận dụng và phát huy góp phần nâng cao giá trị kinh tế, văn hóa, tầm vóc của một quốc gia, dân tộc, trong tiến trình lịch sử

và trở thành di sản văn hóa của nhân loại

Ở các hạng mục như di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể, di sản tư liệu của nhân loại do UNESCO bình chọn, Việt Nam có nhiều công trình được vinh danh Điều này đã khiến cho du lịch Việt Nam ngày càng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm quan, từ đó góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế, quảng bá và nâng cao giá trị văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế hiện nay Các di sản văn hóa vật thể têu biểu như: Quần thể

di tích Cố đô Huế là biểu trưng cho sự nổi bật về uy quyền của đế chế phong kiến triều Nguyễn (1802- 1945), là một điển hình nổi bật của kinh đô phong kiến phương Đông (được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới năm 1993); Phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, là khu phố được hình thành từ thế kỷ XVI-XVII, là thương cảng miền Trung (được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới năm 1999); Thánh địa Mỹ Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam, được xây dựng từ thế kỷ thứ IV, là một ví dụ điển hình về trao đổi văn hóa, là bằng chứng duy nhất của một nền văn minh Châu Á đã biến mất (được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới năm1999); Hoàng thành Thăng Long, là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt chiều dài lịch sử; Thành Nhà Hồ, thuộc tỉnh Thanh Hóa, là tòa thành kiên cố với kiến trúc độc đáo bằng đá có quy mô lớn, được xây dựng năm 1397 ( được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 2011)

Nói tóm lại, mọi loại giá trị vật chất đều là kết quả lao động của con

Trang 26

người, do con người sáng tạo ra hoặc do con người biến đổi, cải tạo thiên nhiên phục vụ cuộc sống, trở thành văn hóa của nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con người dưới dạng vật chất được coi là văn hóa vật thể

1.1.3.2 Văn hóa phi vật thể

“Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng, diễn xướng, dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thông tri thức về nghề y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác 5

(Điều 4- Luật di sản văn hóa)

Có thể hiểu theo một khía cạnh khác, văn hóa phi vật thể là một dạng tồn tại (hay thể hiện) của văn hóa không phải chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại khách quan trong không gian và thời gian, mà nó thường tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và thông qua các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội, trong hoạt động tư tưởng và văn hóa- nghệ thuật mà thể hiện ra, khiến người ta nhận biết được sự tồn tại của nó Những dạng thức chính của văn hóa phi vật thể như:

- Ngữ văn truyền miệng: như thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục ngữ, hò vè, ngụ ngôn…

- Các hình thức diễn xướng và trình diễn: bao gồm các hình thức ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật diễn xướng)

- Những hành vi ứng xử của con người: Đó là ứng xử giữa cá nhân với

cá nhân, cá nhân với cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng

- Các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, lễ hội như: Ki-tô giáo, đạo giáo, phật giáo, thờ cúng tổ tiên, đạo Mẫu…

- Tri thức dân gian cũng là một lĩnh vức của văn hóa phi vật thể Tri thức dân gian ở chừng mực nào đó còn được hiểu tương ứng với các thuật ngữ như tri thức bản địa, tri thức địa phương

Trang 27

Di sản văn hóa phi vật thể: “Được hiểu là các tập quán, hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo

để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ Đồng thời, hình thành trong họ ý thức về bản sắc và

sự kế tục, qua đó kích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người 6

(Khoản 1, điều 2, mục I, Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003)

Di sản văn hóa phi vật thể là một nhân tố quan trọng để bảo tồn sự đa dạng của văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa, hiểu được di sản văn hóa phi vật thể của nhiếu cộng đồng khác nhau giúp cho quá trình đối thoại giữa các nền văn hóa và thúc đẩy sự tôn trọng các cách sống khác nhau Sự quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể không phải ở hình thức thể hiện mà là ở kho tàng kiến thức và kỹ năng được truyền từ đời này qua đời khác, di sản văn hóa phi vật thể không chỉ là những truyền thông được truyền lại từ quá khứ mà còn bao gồm các tập quán đương đại của nhiều nhóm văn hóa khác nhau, tiến hóa theo môi trường xung quanh và hình thành một ý thức về bản sắc và sự kế tục, kết nối quá khứ với hiện tại và tương lai Di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể được gọi là di sản khi nó được thừa nhận bởi chính cộng đồng, nhóm người và các cá nhân tạo ra, lưu giữ và truyền giao nó, nếu không có sự thừa nhận này thì không ai có thể quyết định biểu đạt văn hóa hay tập quán nào là

di sản của họ

Di sản văn hóa phi vật thể liên tục thay đổi, tiến hóa và ngày càng được các thế hệ sau bồi đắp phong phú thêm, rất nhiều biểu đạt và hình thức thể hiện di sản văn hóa phi vật thể bị đe dọa và có nguy cơ bị thất truyền do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa và đồng hóa văn hóa, cũng như do thiếu sự ủng hộ, tôn trọng và hiểu biết Nếu di sản văn hóa phi vật thể không được

Trang 28

nuôi dưỡng thì s gặp phải nguy cơ bị mai một hay bị đóng băng trong quá khứ Bảo tồn di sản và truyền dậy cho các thế hệ tương lai s giúp củng cố, lưu giữ di sản sống, làm cho nó thay đổi và thích ứng, bởi di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể sống khi chúng còn phù hợp với nền văn hóa đó, được thực hành thường xuyên và được truyền dậy giữa các thế hệ trong cộng đồng Bảo

vệ di sản là sự chuyển giao tri thức, kỹ năng và ý nghĩa, phụ thuộc rất nhiều vào quy trình truyền giao hay truyền dậy các di sản văn hóa phi vật thể từ thế

hệ này sang thế hệ khác

Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể là một phần cuộc sống của thế hệ hiện tại và s được truyền dậy sang các thế hệ tương lai Các biện pháp bảo vệ hướng tới mục tiêu bảo đảm sự sống, sự liên tục làm mới và truyền dậy, các hoạt động nhằm bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể bao gồm xác định và tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, thúc đẩy, tăng cường, truyền dậy di sản Một hoạt động rất quan trọng tham gia bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đó là truyền thông, công tác truyền thông vừa thể hiện làm nhiệm vụ lưu trữ, vừa lan tỏa rộng rãi mang tính toàn cầu Di sản văn hóa phi vật thể là một động lực thúc đẩy sự đa dạng văn hóa và đã nhận được sự công nhận của quốc tế, bảo vệ di sản là một trong những chính sách ưu tiên của hợp tác quốc tế UNESCO là tổ chức chuyên trách về văn hóa duy nhất trong hệ thống các tổ chức Liên Hợp Quốc, với nhiệm vụ là hỗ trợ các quốc gia thành viên trong việc phối hợp và thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo tồn di sản văn hóa một cách có hiệu quả, trong số các biện pháp đó, việc thông qua Công ước về việc Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể là một bước tiến quan trọng trong xây dựng các chính sách mới về lĩnh vực văn hóa Công ước do Đại hội đồng UNESCO thông qua năm 2003 là một trong những bộ luật quốc tế cung cấp khung luật pháp, hành chính và tài chính để bảo vệ di sản Công ước là một hiệp ước quốc tế có giá trị về luật pháp do các Quốc gia thành viên thừa nhận quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Các Di sản Văn hóa Phi vật thể được Ủy ban liên hiệp quốc lựa chọn s được đưa vào Danh sách các Di sản Văn hóa cần được Bảo vệ Khẩn cấp hoặc Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại

Trang 29

Trong đó Danh sách các Di sản Văn hóa Phi vật thể cần được Bảo vệ Khẩn cấp là danh sách quan trọng nhất, vì mục tiêu của nó nhằm đưa ra các biện pháp bảo vệ phù hợp để bảo vệ các biểu đạt và thể hiện của văn hóa phi vật thể đang phải đối mặt với các đe dọa tới sức sống của chúng, đó là sự chuyển giao và tiếp tục được sáng tạo Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại nhằm ghi nhận tầm quan trọng của chúng và thúc đẩy sự trao đổi, qua đó thể hiện sự đa dạng văn hóa trên toàn cầu và tôn vinh sự sáng tạo của loài người

Tính đến tháng 9 năm 2018, Việt Nam có 248 di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia, bao gồm: 93 di sản lễ hội truyền thống; 63 di sản nghệ thuật trình diễn dân gian; 59 di sản tập quán xã hội và tín ngưỡng; 23 di sản nghề thủ công truyền thống; 5 di sản nghi thức dân gian; 5 di sản tiếng nói, chữ viết; 4 di sản ngữ văn dân gian (Theo báo điện tử Chính Phủ truy cập ngày 06 tháng 3 năm 2018) Đây cũng chỉ là con số mang tính tương đối do có những

di sản được tính chung cho nhiều tỉnh, thành phố (như Ca trù, Đờn ca tài tử…)

Việt Nam có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là

di sản văn hóa thế giới (trong đó có 9 Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại; 2 Di sản Văn hóa cần được Bảo vệ Khẩn cấp) đó là:

- Nhã nhạc cung đình Huế: Là âm nhạc cung đình thời phong kiến, được trình diễn trong các dịp triều hội, tế lễ hoặc các sự kiện trọng đại (lễ đăng quang của nhà vua, tiếp đón sứ thần…) Trong các thể loại nhạc cổ truyền của Việt Nam, nhã nhạc đạt tới tầm vóc Quốc gia Nhã nhạc được phát triển từ thế kỷ thứ XIII, đến thời nhà Nguyễn, nhã nhạc cung đình Huế phát triển rực rỡ và và đạt đến trình độ hoàn chỉnh nhất Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyển khẩu và phi vật thể của nhân loại

- Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Trải rộng trên địa bàn

5 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm các bộ phận như: cồng chiêng, các

Trang 30

bản nhạc tấu cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội sử dụng cồng chiêng, những địa điểm tổ chức lễ hội cồng chiêng… Cồng chiêng gắn

bó mật thiết với cuộc sống của người dân Tây Nguyên, thường được thể hiện trong các sự kiện quan trọng của cộng đồng như: lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả, lễ mừng lúa mới, lễ mừng nhà rông mới… tháng 11 năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại

- Dân ca quan họ Bắc Ninh: là một hình thức hát giao duyên đạt đến đỉnh cao kỹ thuật hát, phong cách văn hóa ứng xử, ngôn từ, trang phục, tập quán xã hội và nghệ thuật trình diễn Dân ca quan họ được thực hành trong các hoạt động văn hóa, xã hội của cộng đồng; được cộng đồng lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ, trở thành bản sắc của địa phương và lan tỏa trở thành không gian đặc thù Tháng 9 năm 2009, dân ca quan họ Bắc Ninh được UNESCO vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

- Ca trù (hát ả đào): Thường được trình diễn ở đình làng, đền thờ thần, nhà thờ tổ, ca quán và dinh thự của các quan lại, tri thức…Ca trù có nhiều hình thức thể hiện như hát thờ, hát thi, hát tế tiên sư… Tháng 10 năm 2009, ca trù được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại

- Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc: Là một trong những lễ hội lớn ở vùng châu thổ Bắc Bộ Hội Gióng ở đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, nơi Thánh Gióng sinh ra, diễn ra từ ngày 7-9 tháng Tư Âm lịch) Hội Gióng ở đền Sóc (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn nơi Thánh Gióng hóa, cưỡi ngựa về trời, diễn ra từ ngày 6-8 tháng Giêng Âm lịch Tháng 11 năm 2010, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc được vinh danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

- Hát Xoan: còn gọi là hát Lãi Lèn, Hát Đúm, Hát Hờ, Hát Cửa đình, bắt nguồn từ hình thức hát thờ các vua Hùng Đây là một trong những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của nhân dân tỉnh Phú Thọ Tháng 11 năm 2011, Hát

Trang 31

Xoan được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp

- Tín ngưỡng thờ Hùng Vương: Biểu hiện tiêu biểu nhất của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch hằng năm tại Khu di tích lịch sử đền Hùng Tháng 12 năm

2012, Tín ngưỡng thờ Hùng Vương được UNESCO ghi vào danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

- Đờn ca tài tử Nam Bộ: Là loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng Nam

bộ, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX trên cơ sở nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian, được trình diễn ở các lễ hội và sau những giờ lao động trong không gian đời thường Tháng 12 năm 2013, Đờn ca tài tử Nam bộ được UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

- Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh: là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm,

do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và gắn bó với đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân

cư xứ Nghệ, thường được thực hành trong cuộc sống như: ru con, làm ruộng, chèo thuyền, dệt vải, xay lúa…Tháng 11 năm 2019, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

- Nghi lễ và trò chơi kéo co: tập trung ở vùng trung du, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ với trung tâm là tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội Tháng 12 năm 2015 Nghi lễ và trò chơi kéo co được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

- Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt: Tín ngưỡng này hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn… Từ thế kỷ thứ XVI, việc thực hành Tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức của người dân Việt Nam Ngày 01 tháng 12 năm 2016, Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phúc của người Việt được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của Nhân loại

Trang 32

Để bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể, bước đầu tiên là xác định các biểu đạt và các hình thức có thể được coi là di sản văn hóa phi vật thể để tư liệu hóa và làm kiểm kê các di sản này, đây là nền tảng để xây dựng các biện pháp bảo vệ các biểu đạt và hình thức thể hiện của di sản văn hóa phi vật thể được miêu tả và thống kê Đồng thời tiến hành công tác truyền thông về các

di sản văn hóa đó để quảng bá và xác định được tầm quan trọng của từng di sản văn hóa qua sự quan tâm của công chúng, cộng đồng, đây là nhiệm vụ rất quan trọng của báo chí truyền thông đối với bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể của từng quốc gia, dân tộc và của mỗi địa phương

1.1.4 Tác phẩm báo chí

“Tác phẩm báo chí là một chỉnh thể chuyền tải nội dung thông tin mang tính thời sự trên các phương tiên thông tin đại chúng với hình thức tương ứng, làm nổi bật chủ đề và tư tưởng chủ đề, hay nói một cách ngắn gọn tác phẩm báo chí là những văn bản mang tính thời sự được thể hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng [25, tr 7]

Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy một số vấn đề cơ bản về tác phẩm báo chí như:

Tính chất chỉnh thể của tác phẩm báo chí mang ý nghĩa tương đối, trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí hoàn chỉnh, một tác phẩm báo chí không có ý nghĩa nếu nó không được chuyển tải đến công chúng qua sản phẩm báo chí hoàn chỉnh, nhưng trong sản phẩm báo chí hoàn chỉnh, tác phẩm báo chí lại mang tính độc lập tương đối, công chúng tiếp nhận đánh giá

nó như một chỉnh thể độc lập Tác phẩm báo chí mang yếu tố cá nhân (phóng viên) còn sản phẩm báo chí mang yếu tố tập thể (tòa soạn), do vậy mối quan

hệ giữa tác phẩm báo chí và sản phẩm báo chí là mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong hoạt động báo chí

1.1.4.1 Nội dung của tác phẩm báo chí

Nội dung tác phẩm báo chí là một phạm vi, một bộ phận cuộc sống hiện thực được phản ánh qua sự lựa chọn, nhận thức sáng tạo tác phẩm của nhà báo, bao gồm: sự kiện, chi tiết, vấn đề, đề tài, chính kiến, chủ đề tư tưởng

Trang 33

- Sự kiện: là những sự việc, hiện tượng, những giai đoạn phát triển, những trạng thái biểu hiện của tiến trình xã hội xảy ra trong đời sống xã hội

và tự nhiên, được nhiều người quan tâm và con người nhận thức được

Sự kiện có vị trí quan trọng nhất trong các yếu tố nội dung của báo chí,

nó là chất liệu cơ bản để sáng tạo nên tác phẩm báo chí, là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để đánh giá chất lượng thông tin và nó chi phối các yếu tố nội dung khác, là cơ sở hàng đầu trong việc vận dụng các yếu tố hình thức để tọa thành tác phẩm báo chí hoàn chỉnh

- Chi tiết: là bộ phận nhỏ nhất của sự kiện, chi tiết có thể là một hành

vi, một lời nói, một cử chỉ của con người hay một trạng thái cụ thể của hoàn cảnh diễn ra sự kiện Một sự kiện có thể bao gồm nhiều chi tiết khác nhau, mỗi chi tiết lại biểu đạt tư tưởng, thái độ, ý nghĩa xã hội ở tính chất và cấp độ khác nhau Việc lựa chọn những chi tiết tốt s phản ánh rõ bản chất của sự kiện, bảo đảm cho chất lượng, hiệu quả của tác phẩm báo chí

- Chính kiến: Chính kiến bao giờ cũng dựa trên cơ sở tính chất, quy mô

của sự kiện và bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan của nhà báo, chính kiến có quan hệ hữu cơ với sự kiện biểu hiện trong sự lựa chọn và tổ chức các hệ thống của sự kiện, tron những lời bình luận, nhận định, đánh giá trực tiếp về

sự kiện Có thể coi chính kiến là một bộ phận gắn liền với sự kiện, diễn giải cho sự kiện

- Vấn đề: là một trong những thành tố nội dung trong tác phẩm báo chí

phản ánh hiện thực đời sống xã hội một cách khái quát Nói cách khác, vấn đề

là tri thức về các phương diện, bộ phận của thực tiễn mà bản chất, đặc trưng của nó chưa được biết đến, nhưng sự hiểu biết về chúng là cần thiết nhằm thực hiện các chức năng của báo chí Vấn đề phản ánh tính chất, đặc điểm của tình huống có vấn đề, đó là tình huống xuất hiện mâu thuẫn giữa thực trạng và yêu cầu, giữa các chiều hướng vận động khác nhau của tiến trình xã hội, hoặc mâu thuẫn giữa quy mô, tính chất khách quan của sự kiện, hiện tương với nhận thức hiện thời về chúng

- Đề tài: là phạm vi đời sống hiện thực được phản ánh vào tác phẩm

Trang 34

báo chí Trong báo chí đề tài được hiểu theo hai cấp độ khác nhau: đề tài của tác phẩm và đề tài của một nhà báo hoặc một nhóm nhà báo được chuyên môn hóa Ở cấp độ thứ nhất, về cơ bản đề tài cũng chính là sự kiện hay vấn đề

mà nhà báo phải hướng tới, nhận thức và phản ánh vào tác phẩm Ở khía cạnh thứ hai, đề tài dùng theo nghĩa rộng rãi, thiên về mặt xã hội học, tương ứng với các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội hiện thực như: đề tài quốc tế, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, khoa học kỹ thuật…

- Chủ đề tư tưởng: là một thành tố có vai trò quyết định trong nội

dung tác phẩm báo chí, tư tưởng thúc đẩy và hướng dẫn nhận thức của công chúng đối với các quá trình xẩy ra trong đời sống, nó là sự thống nhất của mọi thành tố trong nội dung biểu hiện qua các chi tiết cụ thể, qua mối quan hệ giữa các chi tiết, các sự kiện

1.1.4.2 Hình thức của tác phẩm báo chí

Là hệ thống các yếu tố nội dung thành một chỉnh thể thống nhất và toàn bộ những phương tiện, biện pháp nhằm thể hiện nội dung, bao gồm kết cấu, thể loại, ngôn ngữ, các biện pháp sáng tạo tác phẩm

- Kết cấu chính là tổ chức, mối quan hệ giữa các bộ phận của một tác phẩm báo chí, vai trò của nhà báo có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành kết cấu tác phẩm Tiêu chí đầu tiên, quan trọng nhất để đánh giá kết cấu

là chất lượng thông tin trong tác phẩm báo chí, kết cấu tác phẩm báo chí tôt giúp cho công chúng nắm bắt đầy đủ thông tin và định hướng thông tin cho công chung đạt hiệu quả cao Kết cấu tác phẩm báo chí rất đa dạng và phong phú, có thể kết cấu theo mức độ quan trọng của các bộ phận nội dung trong tác phẩm, kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu theo logic tư duy, kết cấu liên tưởng, kết cấu đối lập các chi tiết của vấn đề được trình bày thành hai bộ phận hoặc hai tuyến quan hệ mâu thuẫn với nhau…

- Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng hàng đầu của tác phẩm báo chí, là phương tiện vận tải toàn bộ nội dung tác phẩm báo chí, những đặc trưng của ngôn ngữ báo chí bị quy định bởi tính chất đặc thù của của mối quan hệ thông tin và các chức năng xã hôi của báo chí Đặc trưng của ngôn ngữ báo chí thể

Trang 35

hiện ở: tính chính xác, tính ngắn gọn, tính phổ cập - xã hội (nhu cầu thông tin, loại hình phương tiện thông tin, tính chất, trình độ văn hóa đói tượng tiếp nhận thông tin…)

- Thể loại tác phẩm báo chí là sự thống nhất có tính quy luật, lặp lại của các yếu tố trong một loạt tác phẩm báo chí, các yếu tố lặp đi lặp lại quy định thể loại tác phẩm báo chí bao gồm toàn bộ nội dung và hình thức của tác phẩm

Bản chất của thể loại là quan hệ đặc thù giữa yếu tố nội dung và hình thức từ đó tạo thành các thể loại khác nhau, trong thể loại có phân tầng, sự phân tầng cũng chỉ mang tính chất tương đối và chưa thực sự thống nhất

Thể loại tác phẩm báo chí hình thành và phát triển do nhu cầu khách quan về thông tin giao tiếp của xã hội, thể loại báo chí chịu ảnh hưởng của các yếu tố dân tộc, xã hội càng phát triển thì tính quốc tế càng đậm trong thể loại báo chí, thể loại tác phẩm báo chí có quan hệ chặt ch với sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật, trong quá trình phát triển của báo chí, các thể loại tác phẩm báo chí có thể chuyển hóa lẫn nhau, hình thành các thể loại mới, khi đã được hình thành thể loại tác phẩm báo chí mang tính ổn định tương đối

Các loại tác phẩm báo chí và đặc trưng của từng thể loại như:

- Loại tác phẩm thông tấn có các thể loại: tin, tường thuật, phỏng vấn, bài báo, ghi nhanh, điều tra, phóng sự Đối tượng phản ánh của loại tác phẩm thông tấn là các sự kiện, hiện tượng, vấn đề thời sự có ý nghĩa xã hội Ngôn ngữ trong các loại tác phẩm thông tấn mang tính sự kiện, phản ánh khách quan trực tiếp sự kiện, hiện tượng, ngắn gọn, dễ hiểu với thời gian nhanh nhất

- Loại tác phẩm chính luận bao gồm các thể loại: bình luận, xã luận, chuyên luận Đội tượng phản ánh của loại tác phẩm này là các sự kiện, hiện tượng, vấn đề thời sự mà xã hội quan tâm Ngôn ngữ của loại tác phẩm chính luận mang tính logic, lý luận, giúp cho công chúng nhận thức hợp lý về tính chất và bản chất của sự kiện, vấn đề thời sự

Trang 36

- Loại tác phẩm thông tấn - nghệ thuật: bao gồm các thể loại bút ký, tùy bút, nhật ký phóng viên, tiểu phẩm Đối tượng phản ánh của loại tác phẩm thông tấn- nghệ thuật là các sự kiện, vấn đề khách quan tồn tại trong thực tế, mang tính thời sự hoặc quan hệ chặc ch với dòng thời sự chủ lưu, có ý nghĩa chính trị hoặc giáo dục, hướng dẫn suy nghĩ, hành vi của con người trong xã hội Ngôn ngữ và kết cấu của loại tác phẩm thông tấn - nghệ thuật rất uyển chuyển, kết hợp tính chất thông tấn, chính luận của báo chí và tính chất nghệ thuật với các thủ pháp phong phú của văn học

về thời gian ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý sáng tạo tác phẩm báo chí

Phát hiện là yếu tố quan trọng hàng đầu của nhà báo để sáng tạo tác phẩm báo chí (khả năng phát hiện sự kiện bằng quan sát cà kinh nghiệm nghề nghiệp; khả năng phát hiện chi tiết, nhất là các chi tiết đắt giá; khả năng phát hiện vấn đề, phát hiện những mâu thuẫn trong sự kiện; khả năng phát hiện nhu cầu xã hội, xem xã hội đang cần nhu cầu thông tin gì…), đó là việc tìm tòi để nhận ra những giá trị mới, nhà báo phải tìm giá trị tin tức hoặc tìm giá trị thông điệp mà công chúng quan tâm muốn nhận biết Trong cuộc sống có vô vàn những giá trị mới nhưng phải được khai thác, phát hiện, nhà báo phải chọn góc độ tiếp cận sự việc,

sự kiện, có cách nhìn của nhà báo từ đó xá đình chủ đề nào cho phù hợp đẻ sáng

Trang 37

tạo tác phẩm

Nhà báo là người sáng tạo tác phẩm báo chí, chính là người cung cấp thông tin cho công chúng, công chúng tiếp nhận thông tin qua nhận thức của nhà báo, vì vậy sự trung thực của nhà báo rất quan trọng, sự trung thực là một yêu cầu và là một điều kiện không thể thiếu đối với nhà báo, nhà báo phải trung thực với tính khách quan của sự vật hiện tượng và trung thực với các mối quan hệ thì mới sáng tạo ra những tác phẩm báo chí với nguồn tin khách quan toàn bộ, tác phẩm báo chí mới thực sự có giá trị

Muốn có thông tin hay, thông tin nhanh thì nhà báo phải có mặt ở những nơi nóng bỏng, vì vậy đòi hỏi sự dũng cảm của nhà báo, trong quá trình khai thác thu thập thông tin, tài liệu để sáng tạo tác phẩm báo chí nhà báo buộc phải xuất hiện ở những nơi nguy hiểm, do đặc điểm nghề nghiệp nhà báo phải di chuyển nhiều, đồng thời nhà báo là người dễ bị va trạm khi phản ánh tiêu cực, dễ bị hành hung trả thù, nếu không có lòng dũng cảm thì s không thể sáng tạo những tác phẩm báo chí trung thức, khách quan, không có thông tin có giá trị đến với công chúng, bạn đọc

Trong hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, không chỉ có vai trò cá nhân của nhà báo mà còn có vai trò của tập thể, do mối quan hệ giữa tác phẩm

và sản phẩm báo chí Sản phẩm báo chí là sự tập hợp của nhiều tác phẩm báo chí, tác phẩm báo chí nằm trong sản phẩm báo chí, sản phẩm báo chí là sản phẩm của tập thể có nhiều người tham gia, cả những người sử dụng kỹ thuật Tuy có sự phân công chuyên môn hóa, có những hoạt đông độc lập theo từng công đoạn, nhưng hoạt động sáng tạo báo chí luôn có mối quan hệ mật thiết giữa cá nhân và tập thể, đó là mối quan hệ giữa nhà báo và tòa soạn

1.1.4.4 Tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa

Tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa, trước hết nó mang đầy đủ yếu tố của một tác phẩm báo chí nói chung, nhưng truyền tải thông tin chuyên về lĩnh vực văn hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng, với các hình thức tương ứng, làm nổi bật chủ đề về lĩnh vực văn hóa

Các thành phần của tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa cũng bao gồm

Trang 38

nội dung và hình thức tác phẩm Nội dung tác phẩm gồm sự kiện, chi tiết, vấn

đề, đề tài, chính kiến, chủ đề tư tưởng của lĩnh vực văn hóa, nội dung tác phẩm báo chí về văn hóa là một phạm vi, một bộ phận cuộc sống hiện thực văn hóa cộng đồng, hay di sản văn hóa quốc gia, dân tộc… được phản ánh qua sự lựa chọn nhận thức sáng tạo của nhà báo Chủ đề về văn hóa là một phạm vi rộng, bao gồm nghệ thuật, văn chương, lối sống, hệ thống giá tri, truyền thống, tín ngưỡng…đặc trưng, diện mạo về vật chất và tinh thần, tri thức, tình cảm… Chính vì vậy, văn hóa là nguồn vô tận để nhà báo khai thác, tìm hiểu sáng tạo tác phẩm báo chí

Hình thức tác phẩm báo chí là một hệ thống tổ chức các yếu tố nội dung

về văn hóa thành một chỉnh thể thống nhất, đó là tác phẩm báo chí, các yếu tố hình thức tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa cũng bao gồm kết cấu, thể loại, ngôn ngữ, các biện pháp sáng tạo tác phẩm Riêng ngôn ngữ tác phẩm về chủ đề văn hóa mang đậm nét ngôn ngữ đặc trưng văn hóa vùng, miền, ngôn ngữ báo chí xen lẫn ngôn ngữ văn học, kết cấu tác phẩm thương theo trình tự thời gian vì văn hóa có bề dầy lịch sử, có sự truyền giao và kế tục

1.1.4.5 Sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa

Sáng tạo là tìm ra cái mới, phát hiện cái mới, sáng tạo khác với sự lặp

đi lặp lại cái cũ, nhàm chán Sáng tạo tác phẩm báo chí hay lao động nhà báo gồm các công việc như: thu thập, xử lý thông tin dữ liệu và trực tiếp sáng tạo tác phẩm báo chí (bao gồm tin, bài, ảnh – sản phẩm đơn lẻ)

Theo TS, Lê Thị Nhã trong “Giáo trình lao động nhà báo”, lao động

sáng tạo tác phẩm báo chí là hoạt động phát hiện, tìm kiếm đề tài, thu thập, xử

lý thông tin hình thành một tin, bài báo chí Đây là lao động nòng cốt trong hoạt động báo chí Sự sáng tạo của người phóng viên trong sáng tạo tác phẩm báo chí thể hiện ở việc phát hiện chủ đề, tìm kiếm góc độ phản ánh, chọn lựa các chi tiết và thể hiện qua bố cục, ngôn ngữ như thế nào để thu hút, thuyết phục độc giả Phóng viên không những phát hiện ra cái mới mẻ, độc đáo trong nội dung mà còn sáng tạo ra những hình thức hấp dẫn để truyền tải nội dung

đó Quy trình lao động sáng tạo tác phẩm của nhà báo dù ở loại hình báo chí

Trang 39

nào cũng gồm các giai đoạn cơ bản: (1) phát hiện, tìm kiếm đề tài; (2) thu thập và tìm kiếm thông tin, dữ liệu; (3) Xử lý thông tin, dữ liệu Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, mỗi loại hình báo chí có những đặc điểm riêng

Đối với hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa cũng

có những nét đặc thù riêng trong quy trình sáng tạo của nhà báo được thể hiện như sau:

- Khâu thu thập thông tin: Khác với những chủ đề khác, văn hóa là

một chủ đề rộng bao gồm nhiều thành tố, do vậy buộc người sáng tạo tác phẩm báo chí phải lựa lựa chọn đề tài phù hợp để không bị trùng lặp Quá trình thu thập thông tin về văn hóa cũng diễn ra khó khăn và phức tạp hơn từ nhiều nguồn tin như: sách, báo, tạo chí, văn bản của chính phủ liên quan đến văn hóa, các nghệ nhân hoạt động về văn hóa, người dân sử dụng các sản phẩm văn hóa đó… đòi hỏi người thu thập thông tin phải có những kỹ năng cần thiết để chắt lọc những nguồn tin tin quan trọng và cần thiết cho tác phẩm của mình

- Nội dung tác phẩm về chủ đề văn hóa:

Văn hóa là một phạm trù rộng, bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, do vậy tác phẩm báo chí về văn hóa phải đề cập, miêu tả nhiều vấn

đề, cả về vật chất, cả về tinh thần, về tri thức, cảm xúc, về văn học - nghệ thuật, cách sống, hệ thống giá trị, truyền thống… Đây được coi là đặc thù riêng rõ nét nhất về nội dung trong sáng tạo tác phẩm báo chí về văn hóa

Văn hóa vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính hiện thực, sáng tạo tác phẩm báo chí về văn hóa phải thể hiện các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa, đây là một nội dung rất quan trong mà các tác phẩm báo chí cần đạt được

Văn hóa gắn chặt với cuộc sống con người, văn hóa chính là bản thân con người, nên sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa không tách rời với cuộc sống con người cho dù con người hoang dã nhất trong xã hội

Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của con người, sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa phải làm sáng tỏ ý nghĩa giá trị của văn hóa

Trang 40

về giá trị lịch sử và giá trị hiện thực, sự biến đổi, chọn lọc, kế thừa giá trị văn hóa đảm bảo thống nhất, hài hòa của lịch sử, hiện tại và tương lai

- Hình thức thể hiện: Đối với chủ đề văn hóa các tác phẩm báo chí có

hình thức đa dạng không bị gò bó có thể là các: tin, bài, bình luận…Thông qua hình ảnh, video làm sao để hấp dẫn nhất đối với công chúng

- Ngôn ngữ thể hiện:

Mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, dân tộc có nền văn hóa riêng, khi viết về chủ đề văn hóa phải sử dụng đúng ngôn ngữ văn hóa vùng, miền, đúng phong tục, tập quán, cách ứng xử, thiết chế truyền thống của từng địa phương, từng vùng Nelson Mandela đã nhận ra tầm quan trọng của ngôn ngữ bản địa đối với với người bản địa khi ông phát biểu “Nếu bạn nói với một người bằng ngôn ngữ người đó hiểu, điều bạn nói s tới được đầu anh ta Nếu bạn nói với người đó bằng ngôn ngữ của họ, điều bạn nói s tới trái tim anh ta."

Đặc thù trong sáng tạo tác phẩm báo chí về chủ đề văn hóa là kết hợp ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ văn học cùng dùng chung văn tự, từ ngữ làm phương tiện chuyển tải nội dung, khi sáng tạo tác phẩm nhà báo phải nắm vững và kết hợp viếc sử dụng ngôn ngứ báo chí và ngôn ngữ văn học trong tác phẩm mới đạt hiệu quả tối đa khi vận dụng Ngoài việc dùng văn tự với mục đích phát huy hiệu quả thông tin, biểu đạt tối đa để đạt được yêu cầu thông tin chuẩn xác, phong phú, mới mẻ, hấp dẫn và đạt được tính thẩm mỹ của tác phẩm Cần làm sao để giảm thiểu chữ nghĩa mà lại đạt được sức gợi mở, miêu tả, biểu hiện lớn nhất Để đạt được yêu cầu này, việc sử dụng ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ văn học đều cần tính hàm súc, cô đọng để chuyển tải một dung lượng thông tin cần thiết trên các

dữ liệu mà nhà báo đã thu thập được

Kết cấu tác phẩm:

Một tác phẩm báo chí có hai bộ phận chính là nội dung tác phẩm và hình thức tác phẩm Yếu tố hình thức lại thể hiện kết cấu tác phẩm, ngôn ngữ tác phẩm và thể loại tác phẩm Như vậy, kết cấu của tác phẩm báo chí chính

là một trong những yếu tố hình thức để hoàn thiện một tác phẩm báo chí hoàn

Ngày đăng: 12/11/2021, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
2. Phan Kế Bính (1915), Việt Nam phong tục, NXB Nhã Nam & Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Nhã Nam & Hồng Đức
Năm: 1915
3. Đỗ Quý Doãn (2014), Quản lý, phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, NXB Thông tin & Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý, phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quý Doãn
Nhà XB: NXB Thông tin & Truyền thông
Năm: 2014
5. Nguyễn Văn Dững (2007), Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
6. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
Năm: 2012
7. Nguyễn Văn Dững (chủ biên, 1996), Tác phẩm báo chí tập 2, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí tập 2
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
8. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2016
10. Hà Đăng (2002), Nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng vi n báo chí trong thời kỳ CNH-HĐH, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng vi n báo chí trong thời kỳ CNH-HĐH
Tác giả: Hà Đăng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Vũ Quang Hào (2010), Ngôn ngữ báo chí, NXB thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB thông tấn
Năm: 2010
13. Nguyễn Quang Hòa (2016), Bi n tập Báo chí, NXB Thông tin & Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi n tập Báo chí
Tác giả: Nguyễn Quang Hòa
Nhà XB: NXB Thông tin & Truyền thông
Năm: 2016
14. Đỗ Chí Nghĩa, Đinh Thị Thu Hằng (2014), Báo chí và mạng xã hội, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và mạng xã hội
Tác giả: Đỗ Chí Nghĩa, Đinh Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2014
16. Nguyễn Bá Sinh (2007), Nâng cao tính hấp dẫn của Báo Đảng địa phương, Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí &Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao tính hấp dẫn của Báo Đảng địa phương
Tác giả: Nguyễn Bá Sinh
Năm: 2007
17. Hoàng Phê (chủ biên, 2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng-Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng-Trung tâm Từ điển học
18. Trần Thế Phiệt (chủ biên, 1995), Tác phẩm báo chí - Tập III, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí - Tập III
Nhà XB: NXB Giáo dục
25. Dương Xuân Sơn (2016), Các loại hình Báo chí truyền thông, NXB Thông tin & Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại hình Báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: NXB Thông tin & Truyền thông
Năm: 2016
43. Báo Bắc Giang điện tử: http://baobacgiang.com.vn 44. Báo Bắc Ninh điện tử: http://baobacninh.com.vn Link
45. Thư viện điện tử Học viện Báo chí & Tuyên truyền: http://thuvien.ajc.edu.vn Link
46. Website Trường cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn: http://saigonact.edu.vn Link
48. Website của Tổng Cục Du lịch Việt Nam: http://vietnamtourism.gov.vn 49. Wepsite của Cục Di sản Văn hóa: http://dch.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w