1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo dục Quốc phòng - An ninh Chủ quyền của Việt Nam đối với Vùng đất Tây Nam Bộ

72 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ
Tác giả Thạc Sĩ Doãn Đình Tránh
Trường học Chưa xác định
Chuyên ngành Giáo dục Quốc phòng - An ninh
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản Chưa xác định
Thành phố Chưa xác định
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 32,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược Pháp; Mỹ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam đã khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, lòng d[r]

Trang 2

MIỀN TÂY NAM

BỘ, một vùng đất máu thịt của non sông VIỆT NAM

Trang 3

Chuyên đề CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

Thạc Sĩ DOÃN ĐÌNH TRÁNH

Trang 4

Giúp người học nắm được nội dung cơ bản lịch sử vùng đất Tây Nam Bộ, những bằng chứng lịch sử và cơ

sở pháp lý cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ Qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong tham gia đấu tranh chống những quan điểm phản động, thù địch Đồng thời tích cực đóng góp cho sự phát triển ngày càng phồn thịnh của vùng đất này

.

Trang 5

I Cơ sở lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam

đối với vùng đất Tây Nam Bộ

NỘI DUNG

3

II Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội, phản động chống phá chủ quyền của Việt Nam đối với

vùng đất Tây Nam Bộ

Trang 6

Báo cáo viên: sử dụng phương pháp thuyết trình,

nêu vấn đề kết hợp với trình chiếu Power point.

Người học: Nghe, ghi chép được những nội dung

chính và ghi theo ý hiểu những nội dung được phân tích, dẫn chứng.

4 THỜI GIAN: Buổi sáng nay

5 PHƯƠNG PHÁP

Trang 7

I CƠ SỞ LỊCH SỬ, PHÁP LÝ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

Có đường biên giới với CPC dài 409km qua bốn tỉnh Long An, Đồng Tháp,

An Giang, Kiên Giang (từ Nam Tây Ninh đến mép biển Xà Xía, Kiên Giang);

có vùng biển rộng lớn, bờ biển dài 743 km, có 2 huyện đảo là Phú Quốc, Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang)

Trang 8

Một số hình ảnh bản đồ của nước Phù Nam cổ

FUNAM

2 Cơ sở lịch sử khẳng định chủ quyền của

Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

a) Miền Tây Nam Bộ được hình thành gắn với quá trình khai hóa đất hoang của người Việt và việc xác lập chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam cách đây hơn 300 năm

Trang 9

Hiện vật văn hóa Óc Eo, ở núi Ba Thê, Thị trấn

Óc Eo, huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang

Trang 10

Chân Lạp

Các tư liệu cổ của Trung Quốc cũng phân biệt rất rõ Phù Nam với Chân Lạp:

Sử ký của nhà Tùy

(581-618) chép rằng: nước Chân Lạp ở về phía Tây Nam ChămPa, nguyên là một chư hầu của Phù Nam Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam

Trang 11

Sử ký nhà Đường (618-907) chép: “Nước Phù Nam bấy giờ có thay đổi lớn Nhà vua đóng đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về miền Nam, trú ở thị trấn Na Phất Na”, rồi bị Chân Lạp tiêu diệt.

Trang 12

Sau khi chiếm được Phù Nam, vùng đất này được gọi là Thủy Chân Lạp (vùng

hạ, thấp, sông

nước).

Trang 13

Khi Thực dân Pháp cai trị Miền Tây Nam bộ, vùng đất này cũng vẫn còn hoang vu đến mức còn có cả voi sinh sống

Khi Thực dân Pháp cai trị Miền Tây Nam bộ, vùng đất này cũng vẫn còn hoang vu đến mức còn có cả voi sinh sống

Trang 14

+ Từ năm 1698, chủ quyền thực tế của Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ được xác lập Năm 1759, toàn

bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long chính thức đặt dưới

hệ thống chính quyền và thuộc lãnh thổ của nhà Nguyễn

Thế kỷ XVII - XVIII, Nhà Nguyễn tiếp tục thiết lập các đơn vị hành chính, bố trí quan lại, lập sổ sách quản lý dân cư, đất đai và định ra các loại thuế Sau năm 1744, vùng đất Nam Bộ được chia thành 4 dinh (ở miền Đông

có dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, ở miền Tây có dinh Long

Hồ, Hà Tiên)

Năm 1759, vua Cao Miên là Nặc Tôn dâng cho Nhà Nguyễn phần đất cuối cùng của Thủy Chân Lạp là đất Tầm Phong Long, tức tỉnh An Giang ngày nay

Trang 15

Vua Minh Mạng 1791- 1841

Dưới triều Nguyễn,

hệ thống hành chính tiếp tục được hoàn thiện

và thống nhất quản lý trên quy mô cả nước

Năm 1836, vua Minh Mạng cho lập sổ địa bạ

toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ (trong đó: 3 tỉnh miền Đông gồm Phiên An, Biên Hòa, Định Tường

và 3 tỉnh miền Tây gồm

Vĩnh Long, An Giang,

Hà Tiên; trong đó có 10 phủ, 25 huyện, 135 tổng với 1.637 xã, thôn, phường)

Trang 16

Mạc Cửu

1655 - 1735 )

Quang Trung – Nguyễn Huệ

( 1753 – 1792 )

Trang 17

Trận Rạch Gầm - Xoài Mút (19/1/1785), là trận phục kích đường sông nổi tiếng của quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ

huy, tiêu diệt quân Xiêm xâm lược Miền Tây Nam Bộ

Trang 18

- Thời Pháp thuộc, 6 tỉnh Nam Bộ, trong đó có 3 tỉnh Miền Tây do thực dân Pháp cai quản (1867-1949).

Pháp đánh chiếm thành Gia Định(02/1859)

Trang 20

Thắng lợi vẻ vang của hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược (Pháp; Mỹ) và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam đã khẳng định quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, lòng dũng cảm, kiên định, sự hy sinh xương máu của nhân dân ta để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trong đó có Miền Tây Nam Bộ.

Trang 21

b) Lịch sử hình thành cộng đồng cư dân

trên vùng đất Tây Nam Bộ

Miền Tây Nam Bộ hiện nay có nhiều tộc người sinh sống, trong đó có 4 dân tộc chiếm tỉ lệ dân số cao là: người Việt (Kinh); người Khơme , người Hoa,

người Chăm Ngoài ra còn một số tộc người có số

lượng ít như Tày, Nùng, Ngái, Mnông, Striêng,

Mường, Chơ ro, Châu mạ, K’ho

Trang 22

Người Khơme có mặt ở Miền Tây Nam Bộ từ rất sớm nhưng

số lượng ít, sống rải rác, có tính biệt lập, chưa có quốc gia

nào thiết lập quan hệ quản lý hành chính đối với họ

Đến giữa thế kỷ XIX, người Khơme ở Nam Bộ cũng chỉ có 146.718 người

Hiện nay, có trên 1,2 triệu người Khơme sinh sống ở Miền Tây Nam Bộ, tập trung nhất là ở các tỉnh

Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.

Trang 24

Người Hoa di cư đến Tây Nam Bộ vào

thế kỷ XVII- XVIII:

Trang 25

Người Hoa sống chủ yếu ở các thành thị nơi giao

thương nhộn nhịp với nghề thương mại là chủ yếu

Hiện nay, người Hoa ở Miền Tây Nam Bộ có gần 200.000 người, chiếm khoảng 1,24% dân số toàn vùng Tây Nam Bộ và chiếm khoảng 23,2% số người Hoa trong toàn quốc Họ sống tập trung nhiều nhất ở các tỉnh

Bạc Liêu, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau

Trang 26

Người Chăm ở Tây Nam Bộ còn gọi là người

Chàm, người Chiêm, dân Chiêm Thành có nguồn gốc

từ miền Trung Trung Bộ, nguyên là cư dân nước Chămpa

Hiện nay vùng Miền Tây Nam Bộ, đa

số người Chăm sống ở An Giang, hiện có trên 14.200 người, hầu hết đều cư trú giáp biên giới CPC

Trang 27

Người Việt có công lớn nhất trong quá

trình khai phá Miền Tây Nam Bộ

Trang 28

Trang phục của người Việt ở Miền Tây Nam Bộ

Trang 29

3 Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của

Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

a) Chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ được khẳng định bằng các văn bản có giá trị pháp lý, được cộng đồng quốc tế, trong đó có chính phủ Campuchia thừa nhận (10)

- Hiệp ước giữa An Nam (Việt Nam),

Xiêm (Thái Lan) và Cao Miên (Campuchia),

12/1845 đã thừa nhận về mặt pháp lý, Nam Kỳ lục tỉnh thuộc về Việt Nam

1.

- Hiệp ước năm 1846 giữa An Nam và

Xiêm tiếp tục xác nhận nội dung: Nam Kỳ lục

tỉnh thuộc về Việt Nam Sau đó, Cao Miên cũng

đồng ý và tham gia Hiệp ước này

2.

Trang 30

- Hiệp ước Pháp - Tây Ban Nha và Nhà

Nguyễn (Việt Nam), ký tại Sài Gòn ngày

05/6/1862 đã khẳng định quyền lực của Việt Nam trên lãnh thổ Nam Kỳ Nhưng sau đó triều đình Nhà Nguyễn bất lực trước áp lực của Pháp, nhượng 3 tỉnh miền Đông (1862) và 3 tỉnh miền Tây (1874) cho Pháp Chính phủ CPC lúc đó không có phản ứng gì

4.

- Hiệp ước Việt - Xiêm năm 1847 với sự

chứng kiến của vua Cao Miên là Ang Dương, khẳng định vùng đất Nam Kỳ thuộc chủ quyền Việt Nam Hiệp ước đã công nhận Ang Dương

là vua Cao Miên, nhưng Cao Miên nhận là chư hầu của hai nước Việt và Xiêm; Cao Miên cũng xác nhận vùng đất Nam Kỳ thuộc về Việt Nam

3.

Trang 31

- Trong thời Pháp thuộc, ranh giới giữa hai

nước Việt Nam và CPC được phân định bao gồm hai đoạn: đoạn biên giới giữa Nam Kỳ với CPC và đoạn biên giới giữa Trung Kỳ với CPC Đoạn biên giới ở Nam Kỳ (từ Tây Ninh đến Hà Tiên) được hình thành trên cơ sở các thỏa ước được ký kết giữa Pháp với CPC:

+ Thỏa ước Pháp - CPC ngày 09/7/1870.

+ Thỏa ước Pháp - CPC ngày 15/7/1873.

   Với 02 Thỏa ước trên đường biên giới giữa CPC và Nam Kỳ đã được xác lập đầy đủ trong thời Pháp thuộc

Trang 32

- Ngày 04/6/1949 Tổng thống Pháp Vincent

Auriol đã ký Bộ luật số 49-733 trả lại Nam Kỳ lục

tỉnh cho “Quốc gia Việt Nam”, đại diện là Bảo Đại

Điều 2 của Luật quy định “Vùng đất Cochinchine (Nam Kỳ) được trao lại Nhà nước thuộc địa Việt Nam theo Tuyên bố chung ngày 05/6/1948

và Tuyên bố của Chính phủ Pháp ngày 19/8/1948 Vùng đất Cochinchine (Nam Kỳ) không còn nằm trong quy chế lãnh thổ thuộc Pháp”.

8.

Trang 34

từ triều đình Huế mà Pháp nhận được toàn bộ miền Nam Việt Nam”, trước lúc Pháp có mặt ở Đông Dương, miền

Tây Nam Kỳ không thuộc triều đình Khơme”.

Trang 35

Hội nghị Genève 1954

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (giữa) tại Hội nghị

Paris 1973.

Chủ quyền của Việt Nam đối với Miền Tây Nam

Bộ tiếp tục được công nhận tại Hiệp định ne-vơ (1954) và Hiệp định Pari (1973), được các nước có liên quan như Anh, Pháp, Mỹ, Liên

Giơ-Xô, Trung Quốc và Lào, Campuchia thừa nhận

9.

10.

Trang 36

Xe thiết giáp chở quân M-113 của quân Việt Nam Cộng

Hòa trên một con đường ở Campuchia.

Nguồn: US Department of Defense Wikimedia Commons.

Trang 37

b) Những hiệp ước về biên giới, lãnh thổ

được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và

Hiệp ước này, tại Điều 4 đã thống nhất: "Hai bên

cam kết sẽ giải quyết bằng thương lượng hoà bình tất cả những bất đồng có thể nảy sinh trong quan hệ hai nước Hai bên sẽ đàm phán để ký một hiệp định hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước trên cơ sở đường biên giới hiện tại; quyết tâm xây dựng đường biên giới này thành biên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài giữa hai nước”.

Trang 38

Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam – Campuchia, 20/7/1983.

2.

Trong đó đã thống nhất áp dụng hai nguyên tắc:

+ (1) Trên đất liền, hai bên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước được thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ đã được hai bên xác nhận) là đường biên giới quốc gia giữa hai nước;

+ (2) ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ hoặc hai bên đều thấy chưa hợp lý thì sẽ cùng nhau bàn bạc, giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - CPC, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế

Trang 39

- Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Campuchia, ngày 27/12/1985.

3.

Trang 40

- Hiệp ước giữa nước CHXHCN Việt Nam và

Vương quốc Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định

biên giới quốc gia năm 1985, ngày 10/10/2005

4.

Trang 41

c) Tính khách quan, khoa học, chính xác và đồng thuận trong quá trình phân giới, cắm mốc

giữa Việt Nam và Campuchia

Thực hiện các hiệp định nêu trên, hai nước đã tiến hành khảo sát thực tế, vẽ bản đồ và phân định biên giới; đồng thời tổ chức xây dựng hệ thống cột mốc biên giới hoàn toàn dựa trên cơ sở kết quả vẽ bản đồ và phân định trên thực địa đã được hai bên thống nhất, những khu vực còn chưa thống nhất thì tiêp tục nghiên cứu, khảo sát để hoạch định trên nguyên tắc công bằng, bình đẳng, tuân thủ luật pháp quốc tế và các thỏa thuận hai bên đã ký kết

Trang 42

- Ngày 07/9/2006, đại diện Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia đã chứng kiến Lễ khởi công xây dựng cột mốc quốc tế đầu tiên tại cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh).

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Hun Sen

khánh thành cột mốc số 171 27/09/2006

Trang 43

Sáng 24/6/2012 trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia thuộc địa bàn xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang và xã Rus Xây Sroc Khang Lếch, huyện Kom Pong Trach, tỉnh Kampot, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Thủ tướng Hun Sen dự lễ khánh thành cột mốc biên giới số 314 là cột mốc có số thứ tự cuối cùng trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia.

Trang 44

CỘT MỐC 245

An Giang

Kandal

Trang 45

CỘT MỐC 254

CỘT MỐC 247

Trang 47

4 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

Trang 48

Ngay sau khi được thành lập (8/1945), Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khẳng định chủ quyền đối với vùng đất Tây Nam Bộ - một bộ phận không thể tách rời

của toàn bộ lãnh thổ Việt Nam

Trang 49

Tháng 7/1946, Tại Pari, bên lề Hội nghị Phôngtenbơlô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Nam Bộ là đất của Việt Nam Nó

là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu

chúng tôi”.

Trang 50

Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 31/5/1946, Hồ Chủ tịch đã viết:

“Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý

đó không bao giờ

thay đổi”.

Trang 51

Những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng và Nhà nước ta đã tập hợp, động viên được đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó đồng bào các dân tộc ở Miền Tây Nam Bộ tham gia kháng chiến, kề vai sát cánh cùng quân và dân CPC trong Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - CPC; lực lượng cách mạng hai nước đã thường xuyên phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau, cùng đấu tranh chống xâm lược Lúc đó, Chính quyền CPC luôn giữ quan hệ đoàn kết, hợp tác, thể hiện sự tôn trọng đường biên giới giữa hai nước.

Trang 53

Trong lúc xảy ra tranh chấp biên giới giữa Chính

quyền Việt Nam cộng hòa với Nhà nước CPC, Chính

phủ CPC và Quốc vương Norodom Sihanouk kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận đường biên giới hiện tại

Khi đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng đã lần lượt ra tuyên bố thừa nhận và cam kết tôn trọng đường biên giới hiện tại của CPC.

Trang 54

Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo quân và dân

ta đánh đuổi Khơme đỏ

xâm lược.

Trang 55

Quân đội và nhân dân Việt Nam đã không tiếc máu xương, tận tình giúp

đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt

chủng

Trang 56

Về đối nội, Đảng, Nhà nước ta luôn thực thi chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, thường xuyên quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Khơme ở Miền Tây Nam Bộ; đã có nhiều chính sách, giải pháp cụ thể để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn

Trang 57

Ngày 18/4/1991, Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị số 68-CT/TW về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme Ngày 14/8/2012, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 28-KL/TW về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH và bảo đảm ANQP vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 Ngày 21/11/2013 Thủ tướng Chính phủ đã

ký Quyết định số 2270/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận số 28-KL/TW của Bộ Chính trị

Trang 58

Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 35,66% năm 2011 xuống còn 28,11% năm 2014, hiện nay không còn hộ đói; 80% số hộ dân có phương tiện nghe, nhìn.

Một số tỉnh miễn 100% học phí và đóng góp xây dựng trường cho học sinh Khơme Toàn đồng bằng sông Cửu Long có 167 bác sĩ và 436 y sĩ là người dân tộc Khơme

Trang 59

II ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN

CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, CƠ HỘI, PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ

1 Một số tổ chức hoạt động chống phá chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất Tây Nam Bộ

(1) Tổ chức “Khơme tự do”

(Khơme Serei) với tư tưởng

ly khai dân tộc

Sơn Ngọc Thành (1908 - 1977)

Ngày đăng: 12/11/2021, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w