Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa tiếng việt 1 có kèm theo các từ khóa, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc.Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng d[r]
Trang 1B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.Cơ sở lí luận:
CGD xác định đối tượng lĩnh hội trong môn Tiếng Việt lớp 1CGD là cấu tạo ngữ âm của tiếng Việt Để chiếm lĩnh đối tượng một cách hiệu quả, CGD đã đặt đối tượng trong một môi
trường thuần khiết- chân không về nghĩa CGD đã xuất phát từ Âm (Âm thanh, âm vị) để đi đến chữ (kí mã), rồi từ chữ quay về âm (giải mã) Dựa trên những thành quả khoa học hiện đại nhất
về ngữ âm học của tác giả Đoàn Thiện Thuật (1977), CGD đã chắt lọc những vấn đề cơ bản nhất nhằm mang đến cho trẻ em không chỉ những kiến thức và kĩ năng cần thiết mà còn giúp trẻ lần đầu tiên đến trường được làm việc một cách khoa học, phát triển khả năng tối ưu của mỗi cá thể, phát triển năng lực làm việc trí óc, năng lực sử dụng tiếng Việt hiện đại một cách có văn hóa thông qua các hoạt động kích thích khả năng tư duy và khái quát hóa
Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp 1.CGD được chiếm lĩnh theo con đường từ trừu tượng đến
cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp Bản chất việc dạy Tiếng Việt lớp 1 CGD cho học sinh là dạy cho học sinh hệ thống khái niệm của một môn khoa học nhằm giúp các em chiếm lĩnh được tri thức ngữ âm cơ bản và hình thành các kĩ năng Nghe- Nói- Đọc- Viết tương ứng Lần đầu
tiên học sinh biết tiếng là một khối âm thanh toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói Tiếp đó, bằng phát âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn Sau đó, các em phân biệt các tiếng khác nhau một phần Đến đây, tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần, thanh Trên cơ sở đó, các em biết đánh vần một tiếng theo
cơ chế hai bước Học sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị (gọi tắt là âm) Qua phát âm, các em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái TiếngViệt Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng kí hiệu để ghi lại Như vậy, con đường chiếm lĩnh đối tượng của CGD đi từ âm đến chữ
Đặc biệt, chương trình Tiếng Việt 1CGD được xây dựng từ 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu Ba nguyên tắc này xuyên suốt trong
toàn bộ hệ thống Bài học Tiếng Việt 1.CGD
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi mỗi sản phẩm của thời điểm trước (của một tiết học hay một bài
học) đều có mặt trong sản phẩm tiếp sau Vì thế mà các Bài học trong chương trình Tiếng Việt 1CGD được xây dựng trên một trật tự tuyến tính lôgic, khoa học: Tiếng, Âm, Vần, Nguyên âm đôi
Nguyên tắc chuẩn mực được thể hiện ở tính chính xác của các khái niệm khoa học, tính chuẩn
mực trong cách lựa chọn thuật ngữ để định hướng và tổ chức quá trình phát triển của học sinh
Nguyên tắc tối thiểu yêu cầu việc xác định và lựa chọn một số chất liệu tối thiểu và một số vật
liệu tối thiểu cho chất liệu đó nhằm đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh lớp Về phương pháp
và kĩ thuật dạy học.
Công nghệ giáo dục thiết kế việc dạy học theo một quy trình logic chặt chẽ, bằng hệ thống các biện pháp KTDH với các hình thức tổ chức dạy học hợp lý
Về phương pháp dạy học: Quy trình Công nghệ bao gồm hai công đoạn là công đoạn Lập mẫu
và công đoạn Dùng mẫu Lập mẫu là quá trình T tổ chức cho HS chiếm lĩnh khái niệm trên một vật liệu xác định Dùng mẫu là luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với công đoạn Lập mẫu Để thực hiện quy trình này, T phải sử dụng phương pháp Mẫu T phải xuất phát từ Mẫu, phân tích Mẫu và vận dụng Mẫu Mỗi mẫu cơ bản trên tương ứng với quy trình của một tiết Lập mẫu Dựa trên quy trình của tiết Lập mẫu đó có thể xây dưng nhiều tiết Dùng mẫu Bên cạnh phương pháp Mẫu còn phải kể đến một phương pháp đặc trưng xuyên suốt quá trình dạy học theo quy trình công nghệ - phương pháp Việc Làm Đây là phương pháp dạy học hoàn toàn mới, xây dựng trên cơ sở sự hợp tác mới giữa Thầy và Trò Trong đó, T tổ chức việc học của HS (T không giảng, chỉ giao việc, hướng dẫn, theo dõi, điều chỉnh) thông qua những việc
Trang 2làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy Điều này thể hiện rất rõ qua toàn
bộ thiết kế TV1.CGD Kĩ thuật dạy học đã được chuyển giao thành công nghệ mới Công nghệ mới chính là quá trình có thể kiểm soát được Quá trình này cho ra những sản phẩm đồng loạt, bảo đảm độ tin cậy một cách chắc chắn
CGD nhấn mạnh vấn đề đánh giá sản phẩm giáo dục thông qua hoạt động của HS, đánh giá dựa trên quá trình chứ không phải đánh giá dựa vào kết quả tại một thời điểm Việc dánh giá không chỉ dừng ở phương diện kiến thức, kĩ năng mà còn xem xét ở góc độ ý thức học tập và phương pháp học tập Học môn Tiếng Việt 1.CGD, H không chỉ ý thức được các hoạt động của chủ thể
mà còn tự kiểm soát được quá trình hình thành tri thức H không chỉ có thói quen làm việc độc lập mà còn hình thành một phương pháp tự học, tự mình chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động của chính bản thân
Để đánh giá HS, CGD không chỉ nhìn nhận trong cả quá trình mà còn so sánh đối chiếu với chính cá thể đó ở các thời điểm khác nhau Sự tiến bộ của một HS phải được so sánh với chính bản thân HS trong cùng một hoạt động
Điểm nổi bật trước hết của chương trình này là tính vững chắc Nói như giáo sư Hồ Ngọc Đại đó
là việc học sinh học đâu biết đấy, học đâu chắc đấy Sự vững chắc đạt được nhờ hai yếu tố: giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội CGD được thiết kế dựa trên 3 nguyên tắc: Ai cũng học được; Học gì được nấy; Học đâu chắc đó Do đó giúp học sinh đọc thông viết thạo, đúng chính tả, không thể tái mù chữ Bất kỳ tiếng nào miễn là nghe được, nhắc lại được thì viết được và đọc được
Vì những lý lẽ trên dạy đọc có ý nghĩa to lớn đối với HS lớp1 Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập các môn học khác Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập Nó tạo điều kiện để học sinh
có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người văn minh
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
2 Cơ sở thực tế:
Thực tế cho thấy HS lớp 1 thông thường hay đọc vẹt, nghĩa là nhìn hình ảnh để đọc chữ Do vậy dẫn đến tình trạng khi đọc vần mới, tiếng , từ, câu HS thường đọc chậm và đọc không trôi chảy
Nhưng tính chất tuyến tính của CGD là hết sức khắt khe nên ngay từ những bài đầu của tiết TV CGD,GV phải dạy HS phát âm đúng,đọc đúng Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Qua giảng dạy Tiếng Việt CGD Tôi thấy yêu cầu đọc của HS lớp 1 rất cao Ngay từ những bài đầu , số lượng chữ mà HS phải đọc trong việc 3 ( Tiết TV) rất nhiều, ngoài ra khi HS viết được chữ nào thì phải đọc trơn chữ ấy Bắt đầu bằng tiếng nguyên khối –Phân tích tiếng để viết chữ - Trở về tiếng ban đầu tức là đọc trơn Ngay từ khi mới học / a/ b/ ba/ thì đã yêu cầu đọc trơn Có những con chữ
có 2,3 cách viết nhưng lại chỉ có một cách đọc (phát âm) như chữ d , gi (đọc: dờ) ; chữ c, k, q ( đọc : cờ) nên có nhiều HS rất dễ nhầm lẫn theo cách đọc cũ
Là một GV trực tiếp giảng dạy ,Tôi nhận thấy ở lớp 1 hiện nay :
a/ Thuận lợi:
* Giáo viên:
Trang 3- Được học tập lớp chuyên đề về dạy Tiếng việt CGD Được cung cấp đủ tài liệu, phương tiện giảng dạy
- Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và tâm huyết với việc dạy Tiếng Việt CGD
* Học sinh:
- Ở độ tuổi của học sinh lớp 1.Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn
- Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh ,chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp học tập
b/ Khó khăn
Năm học 2014-2015, Trường chúng tôi triển khai chương trình môn Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục (CGD) theo chủ trương toàn tỉnh Bởi lần đầu tiên tiếp xúc với một chương trình mới nên từ Ban giám hiệu đến các giáo viên lớp 1 trực tiếp đứng lớp rất băn khoăn lo lắng Trong thực tế giảng dạy, giáo viên lớp 1 cũng đã gặp không ít lúng túng khi tất cả HS vào lớp 1 đều chưa biết chữ cái , Trình độ HS nông thôn không đồng đều Mà nhìn vào nội dung sách Tiếng
Việt CGD thì số lượng chữ trong mỗi tiết học rất nhiều, mà yêu cầu HS phải đọc trơn các chữ
đó sau khi học xong Lần đầu tiên tiếp xúc với cách dạy theo CGD nên GV chưa thành thạo với
việc dạy các Việc trong mỗi tiết
3, Các biện pháp thực hiện:
Nhưng mọi khó khăn vướng mắc đều được giải quyết khi đến nay trong lớp tôi dạy hầu hết HS đều đọc rất tốt ,tốc độ đọc nhanh hơn hẳn so với cùng thời điểm này của HS lớp 1 học theo chương trình cũ Điều đó cho thấy rõ sự phù hợp và tính ưu việt của chương trình Tiếng việt CGD
Để giúp học sinh rèn luyện và phát triển kỹ năng đọc tốt tôi đã áp dụng những biện pháp sau:
3.1, Biện pháp tác động giáo dục
- Để đáp ứng mục tiêu và phù hợp với yêu cầu học Tiếng Việt CGD,Từ đầu năm ,trong cuộc họp phụ huynh học sinh ,Tôi đã đề nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học.Quán triệt với phụ huynh không được hướng dẫn cho con em đọc bài trước ở nhà vì cách đánh vần mới khác hẳn cách đánh vần cũ
- Xây dựng đôi bạn học giỏi – yếu kèm cặp nhau
- Bồi dưỡng, luyện tập cho học sinh sau khi phân loại học sinh ngay sau mỗi tuần học theo các mức giỏi, khá, trung bình, yếu.Đối với các học sinh trung bình yếu, các em nhận diện các chữ cái chậm ,đọc yếu Tôi đã dành nhiều thời gian để bồi dưỡng cho đối tượng này kịp thời với quan điểm :dạy đến đâu,chắc đến đó
3.2.Dạy học phần âm, vần:
Giai đoạn này vô cùng quan trọng Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới có thể ghép các được các chữ cái với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơn lại với nhau tạo thành từ, thành câu
Lúc này tôi dạy cho các em nhận diện, phân tích từng nét trong từng con chữ cái và nếu chữ cái
đó có cùng tên mà lại có nhiều kiểu viết – kiểu in khác nhau hay gặp trong sách báo như chữ a, chữ g thi tôi phân tích cho học sinh hiểu và nhận biết và ghi nhớ từng con chữ Vào các buổi chiều ,Tôi cho HS sử dụng Bộ chữ in thường để tổ chức trò chơi “ Ong tìm chữ”.Như vậy qua luyện tập củng cố hàng ngày HS ghi nhớ rất tốt các âm đã học,đọc tốt
Do vậy qua giai đoạn HS học ở quyển 1,Tôi giúp HS nắm chắc 38 âm vị của Tiếng Việt Biết phân biệt nguyên âm, phụ âm qua phát âm dựa vào luồng hơi bị cản hay luồng hơi đi ra tự
do.Biết ghép phụ âm đầu với nguyên âm tạo thành tiếng có thanh ngang, ghép tiếng có thanh
Trang 4ngang với các dấu thanh tạo thành tiếng khác nhau và đọc luôn được các tiếng đó Biết phân tích tiếng thanh ngang thành 2 phần : phần đầu và phần vần, phân tích tiếng có dấu thanh thành tiếng thanh ngang và dấu thanh (cơ chế tách đôi).Yêu cầu của phần này là HS đọc trơn, rõ ràng đoạn văn có độ dài 20 tiếng Tốc độ đọc tối thiểu là 10 tiếng / phút.Với mỗi bài HS đọc trôi chảy từ
mô hình tiếng đến âm, tiếng từ, câu trong bài
Để đọc trên bảng Tôi linh động chọn âm , tiếng luyện tùy vào đối tượng trong lớp mình.Yêu cầu
HS đọc từ dễ đến khó, từ tiếng có thanh ngang đến các tiếng có dấu thanh (đe,đè, đé, đẻ, đẽ, đẹ), rồi đến ( bè, dẻ , chè)
Trong các tiết dạy Tôi đã sử dụng nhiều hình thức đọc ( nhóm, cá nhân, cả lớp), các mức độ đọc (T- N- N- T)
Sau khi đưa chữ in thường giới thiệu, mô phỏng nét cho H, T chỉ vào chữ in thường cho H đọc
để các em nhận và nhớ rõ mặt chữ (đọc cá nhân, nhóm, tổ, lớp)
Ví dụ: Việc 2a khi dạy âm /h/
GV đưa chữ h in thường ra gắn lên bảng và nói: Đây là chữ h in thường Gồm một nét thẳng đứng và một nét móc xuôi GV chỉ vào chữ h, H đọc (cá nhân, nhóm, tổ, lớp…)
Khi dạy âm, xong phần giới thiệu chữ in thường Tôi dùng chữ in thường đó gắn ngay một góc bảng Mỗi ngày, trên tấm bìa được gắn thêm một chữ ghi âm mới Cứ như vậy,vào 15 phút đầu giờ,bạn lớp trưởng sẽ cho cả lớp ôn luyện đọc các âm GV đã gắn lên bảng Với cách đó giúp học sinh ghi nhớ mặt chữ và đọc tốt hơn Ở Mẫu Âm, bài nào cũng vậy Tôi đều luyện tập rất kĩ
bước tìm tiếng mới (thay âm và thêm thanh để tìm tiếng mới) Mục đích của bước tìm tiếng mới
là HS có thêm vốn tiếng có chứa âm vừa học Qua đó giúp HS đọc tốt hơn ở việc 3 Đối với bài
dạy là phụ âm, bước tìm tiếng mới là thay âm chính bằng các nguyên âm đã học để có tiếng mới Đối với bài dạy là nguyên âm, bước tìm tiếng mới là thay âm đầu bằng các phụ âm đã
học để có tiếng mới
Ví dụ: Dạy âm /o/
- Khi HS đưa được tiếng /nho/ vào mô hình T yêu cầu H chỉ vào mô hình đọc
- H chỉ tay vào mô hình và đọc: /nho/- /nhờ/ - /o/ - /nho/, phần đầu /nhờ/, phần vần /o/.
Cách đọc như thế giúp H khắc sâu âm vừa học, vị trí mỗi âm trong mô hình tiếng tách thành hai phần
GV lệnh: “Thay âm đầu bằng các phụ âm đã học để có tiếng mới.”
H nối tiếp đọc các tiếng các em thay, GV viết lên bảng ở V1 (bo, co, cho, do, đo,…) GV chỉ cho H đọc các tiếng T;GV vừa ghi lên bảng (cá nhân, nhóm, lớp)
- Trước khi thêm thanh để có tiếng mới, trên bảng con H có các tiếng không giống nhau Em thì tiếng /bo/, em thì /co/, em thì /do/,…Mục đích của GV muốn H cùng đưa chung một tiếng thanh
ngang, GV phải thêm lệnh: “Đưa trở lại tiếng /nho/ vào mô hình” (hoặc tiếng thanh ngang nào
T chọn: /bo/ hay /co/ chẳng hạn
GV lệnh tiếp: “Thêm thanh để có tiếng mới”
H đọc nối tiếp tiếng các em có, GV viết lên bảng ở V1 (nho, nhò, nhó, nhỏ, nhõ, nhọ) GV chỉ vào các tiếng vừa viết cho H đọc (cá nhân, nhóm, lớp)
- Khi TGV chỉ vào các tiếng mới cho H đọc ở bảng việc 1 (kể cả đọc tiếng khó ở việc 3) tuyệt đối GV không đọc mẫu Những tiếng nào H không đọc được, GV che dấu thanh để H đọc tiếng thanh ngang Nếu tiếng thanh ngang đó H không đọc được, GV giúp H nhận ra âm đầu, vần của tiếng đó để đọc được tiếng có thanh ngang rồi sau đó đọc tiếng có thanh khác
Trong từng tiết học, từng bài ôn tôi luôn tìm đủ cách để kiểm tra phát hiện sự tiến bộ của các em thông qua các bài đọc, các giờ chơi, giờ nghỉ… từ đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh Khi HS đã nắm chắc tất cả các âm đã học và ghi nhớ các chữ in thường thì việc đọc bài của HS
ở sgk dễ dàng Tôi luôn hiểu rõ là dạy cho HS âm nào chắc âm đó Sự vững chắc đạt được nhờ
Trang 5hai yếu tố: giải quyết dứt điểm (từng đơn vị học) và nhắc lại thường xuyên, nhắc lại khi có cơ hội Với quan điểm dạy ngữ âm nên chương trình không đặt nặng về nghĩa mà tập trung vào cấu tạo ngữ âm của tiếng Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua nghĩa, mà với quan điểm “chân không về nghĩa”, chương trình trước hết giúp học sinh nắm được tiếng Việt trong mối quan hệ ngữ âm của nó Tiếng là vật thật, chữ chỉ là vật thay thế Cái mà học sinh lớp 1 muốn nắm và cần phải nắm trước hết là “vật thật” Khi nắm được “vật thật” một cách chắc chắn rồi thì các em mới có thể sử dụng nó trong học tập và giao tiếp Khi đó nghĩa sẽ được các em nắm bằng nhiều con đường mà không cần giáo viên phải tốn nhiều thời gian và công sức Chính vì tuân thủ quan điểm này mà chương trình đảm bảo dạy học sinh lớp 1 nắm chắc về nguyên âm, phụ âm, biết chắc chắn một vần, một tiếng cụ thể có thể ghép với bao nhiêu thanh và đặc biệt các em nắm rất chắc luật chính tả Học chương trình này, HS chỉ cần học đến quyển 2 (tuần 10) là các em tự đọc được, viết được và rất đúng chính tả Đây thực sự thành công bước đầu rất lớn của chương trình
TV CGD
HS Viết xong chữ nào đọc trơn chữ đó, đọc chữ mình viết ra Chữ ghi tiếng thanh ngang phải là một khối đúc liền nhìn vào cả chữ và đọc trơn Đọc trơn chữ ghi tiếng thanh ngang là cơ sở để đọc trơn chữ có các thanh
Nếu HS nào yếu ,GV hướng dẫn HS Phân tích trên chữ quen gọi là đánh vần Đánh vần theo
cơ chế lưỡng phân (phân hai, tách hai, chia đôi).
VD: 1 toàn /toan/ - / huyền/ - /toàn/.
2 toan /tờ/ - /oan/ - / toan/
3 oan /o/ - /an/ - / oan/
4 an /a/ - //n/ - /an/.
Như vậy,GV hướng dẫn HS đọc các tiếng mà HS còn quên theo cơ chế tách đôi :
*Tạm thời “bỏ” thanh ra (che đi) - đọc trơn tiếng thanh ngang
*Trả lại thanh – đọc tiếng có thanh (nhìn chữ thanh ngang rồi “ lắp” thanh vào)
Đọc cả 4 mức độ: To – nhỏ - nhẩm- thầm (đọc thầm, đọc bằng mắt) vì Đọc cả 4 mức độ là quá trình chuyển từ ngoài vào trong giúp học sinh dễ dàng ghi nhớ nên GV cần huấn luyện ngay từ đầu và làm quyết liệt
Mỗi khi HS đọc phân tích:GV quản lý việc học của học sinh (Bằng miệng và bằng tay) giúp học sinh nhận biết từng phần của tiếng có thanh ngang và tiếng có thêm thanh
Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận
biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng
Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen:nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững
VD: Học vần ay :
1/ Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ay : vần ay gồm 2 âm: âm a và âm y đứng sau
Vị trí âm trong vần: âm a đứng trước, âm y đứng sau
2/ Đánh vần vần ay :
- Hướng dẫn học sinh: âm a đứng trước , ta đọc a trước, âm y đứng sau ta đọc y sau : a_ y _ ay
- Đọc trơn vần: ay
Kết hợp dùng bộ chữ học vần tiếng vần dành cho học sinh sử dụng bộ thực hành ghép chữ dành cho lớp Một để học sinh tìm và ghép âm , thanh , tiếng mới trong mỗi bài Học vần
Ví dụ : Yêu cầu các em: chọn đúng hai âm : a và y
Ghép đúng vị trí : a trước y sau
Nếu các em đã ghép đúng giáo viên hướng dẫn cách đánh vần và đọc trơn vần như trên các em
sẽ nhận biết và đọc được vần ay
Trang 6Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế , nếu được áp dụng thường xuyên cho mỗi tiết học vần chúng ta sẽ tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt Trong các bài dạy vần, sách giáo khoa tiếng việt 1 có kèm theo các từ khóa,
từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc.Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài
Hàng ngày tôi luôn đưa ra cho học sinh so sánh vần đã học với vần hôm nay học để học sinh so sánh
VD: dạy vần ay cho học sinh so sánh với vần ai , từ đây học sinh tìm ra âm giống nhau âm nào , khác nhau âm nào ? Rồi so sánh cả hai vần trong bài học : ay / ây Từ đây giúp các em có kỹ năng so sánh đối chiếu và khắc sâu các vần trong phân môn Học vần
3.3, Dạy phần Luyện đọc câu, bài ứng dụng:
- Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh Nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu Học sinh khá- giỏi đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận biết tốt Còn học sinh trung bình, yếu các
em nhận biết còn chậm, chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc từ chậm và đọc câu rất khó khăn Vì thế đối với các học sinh này, sang phần đọc câu,
từ ,bài ứng dụng ,giáo viên cần hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội tập đọc cho các em giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều giáo viên tránh nóng vội để đọc trước cho các em đọc lại dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh.Giáo viên nên cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ,rồi đọc câu,đọc cả bài
VD: Dạy bài đọc Nước Việt Nam ta (sách Tiếng Việt 1-CGD-Tập 3)
Nếu tiếng nào HS chưa đọc được,GV ghi lên bảng rồi hướng dẫn HS đánh vần theo cơ chế tách đôi và sau mỗi lần đánh vần, cho học sinh đọc trơn lại tiếng vừa đành vần nhiều lần để khắc sâu vào trí nhớ học sinh
2,Bài học kinh nghiệm
Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời gian để luyện đọc củng cố và nâng cao Trong phần này giáo viên cho học sinh luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc yếu để em đó được tham gia đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời Trong quá trình học sinh đọc giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai kịp thời cho các em Giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các tình huống
có thể xảy ra khi hướng dẫn học sinh đọc cho đúng, cho hay Muốn vậy giáo viên phải nắm thật chắc thiết kế Phải thật sự quan tâm đến tất cả HS trong mỗi giờ lên lớp và dạy rất kĩ
ở Việc 1 Vì đó là cơ sở cho việc rèn đọc cho HS tốt hơn ở việc 3 Trong giờ học, giáo viên
chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh nắm thật chắc kiến thức ngữ âm GV chú trọng rèn kĩ năng phát âm đúng,đọc đúng ,viết đúng ngay từ đầu Đó chính là điều cốt lõi làm nên
sự thành công của việc dạy và học Tiếng Việt CGD
I Công nghệ giáo dục (CGD) là gì?
- Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
- Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề.- Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau
2 Học để làm gì?(Mục đích giáo dục)
Trang 7- Học để sống hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày của cá nhân.
- Đi học là hạnh phúc
- Đi học là phương thức mỗi cá nhân tự khẳng định mình, vì hạnh phúc của chính mình
3 Học cái gì?(Nội dung giáo dục)Khoa học Nghệ thuật Cách sống
4 Học như thế nào?(Phương pháp giáo dục)- Cách học cái gì là làm ra cái đó trong nhà
trường, Học CÁCH cư xử khái niệm
- Quá trình giáo dục là quá trình nhà giáo dục tổ chức cho trẻ em thực hiện quá trình tự giáo dục Quan điểm dạy học theo công nghệ giáo dục?
1 HS là trung tâm- Thầy thiết kế- trò thi công Cơ chế việc làm
2 HS tự chiếm lĩnh kiến thức - Xác định đối tượng chiếm lĩnh.
- Tách đối tượng chiếm lĩnh ra thành các phạm trù riêng biệt: lời nói, tiếng, âm, vần
3 Phát triển tư duy học sinh
+Mỗi cá nhân được phát triển (về mặt tinh thần) đều bằng lao động, học tập của chính mình +Mỗi học sinh muốn phát triển, phải TỰ MÌNH học tập, lao động Ai làm nhiều có nhiều, ai làm
ít có ít, giá trị của mình do mình tự làm ra
+Chiếm lĩnh đối tượng theo sự phát triển của phương pháp làm ra sản phẩm khoa học: Con đường chiếm lĩnh từ trừu tượng đến cụ thể
Phân tích Khái niệm xuất phát từ đâu, lôgic của nó như thế nào, có bao nhiêu thành tố, mối
quan hệ giữa các thành tố, sự tác động qua lại giữa các thành tố.
Mô hình hóa Mô hình hóa được mối quan hệ này ở dạng tổng quát, giữ lại các thành tố cốt lõi
của khái niệm và mối quan hệ qua lại giữa chúng
Phần đầu Phần vần
I Nội dung chương trình, SGK
A Nội dung chương trình
1 Bài 1: Tiếng
+ Tiếng là một khối âm toàn vẹn như một “khối liền” được tách ra từ lời nói Tiếp đó bằng phát
âm, các em biết tiếng giống nhau và tiếng khác nhau hoàn toàn, tiếng khác nhau một phần + Tiếng được phân tích thành các bộ phận cấu thành: phần đầu, phần vần, thanh
+ Đánh vần một tiếng theo cơ chế hai bước:
- Bước 1: b/a/ba (tiếng thanh ngang)
- Bước 2: ba/huyền/bà (thêm các thanh khác)
II 2 Bài 2: Âm
+Học sinh học cách phân tích tiếng tới đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, đó là âm vị Qua phát âm, các
em phân biệt được phụ âm, nguyên âm, xuất hiện theo thứ tự của bảng chữ cái Tiếng Việt Khi nắm được bản chất mỗi âm, các em dùng ký hiệu để ghi lại Như vậy CGD đi từ âm đến chữ +Một âm có thể viết bằng nhiều chữ và có thể có nhiều nghĩa nên phải viết đúng luật chính tả +Do đó, các luật chính tả được đưa vào ngay từ lớp 1, CGD xử lý mối quan hệ âm và chữ
3 Bài 3: Vần Bài này giúp học sinh nắm được:
- Cách tạo 4 kiểu vần Tiếng Việt
- Cấu trúc vần Tiếng Việt: âm đệm, âm chính, âm cuối
Trang 8- Phát triển kiến thức về ngữ âm, phát triển năng lực phân tích và tổng hợp ngữ âm để tạo ra tiếng mới, vần mới
*Các kiểu vần
+ Kiểu 1: Vần chỉ có âm chính : la + Kiểu 2: Vần có âm đệm và âm chính: loa
+ Kiểu 3: Vần có âm chính và âm cuối: lan +Kiểu 4: Vần có âm đệm, âm chính và âm cuối: loan Bài 4: Nguyên âm đôi - Các Nguyên âm đôi: iê, uô, ươ
- Cách ghi nguyên âm đôi
BÀI Luyện tập tổng hợp
1.Phần LTTH bao gồm: - Hệ thống tri thức ngữ âm và luật chính tả - Hệ thống bài đọc
2 Phần LTTH nhằm mục đích:
- Ôn tập lại kiến thức về cấu trúc ngữ âm Tiếng Việt
- Rèn các kĩ năng N-N-Đ-V (chú trọng Đ-V) cho HS
1 Bộ tài liệu Tiếng Việt 1 CGD (3 tập)
a.Cấu trúc Tập 1: Tiếng và Âm Tập 2: Vần và Nguyên âm đôi Tập 3: Tự học
b.Cách sử dụng - Dùng trên lớp trong từng tiết học - HS có thể mang về nhà để luyện tập thêm
2 Bộ tài liệu tập viết
a.Cấu trúc Gồm 3 tập: Nội dung tương ứng với SGK (trang ăn trang)
- Hướng dẫn cách nhận biết chữ in dựa trên tọa độ
- Dựa trên tọa độ của chữ in thường, in hoa để viết chữ viết thường, chữ viết hoa
b.Cách sử dụng Dùng luyện tập thêm về kỹ năng viết
+GV chủ động về thời gian và căn cứ vào tình hình của lớp mình để triển khai vở Tập viết
+Quy trình viết cụ thể của từng đã được hướng dẫn cụ thể trong thiết kế
*TÀI LIỆU CHO GV
1 Tài liệu tập huấn (Công nghệ học môn Tiếng Việt lớp 1)
+Trình bày lý luận CGD
+Nhấn mạnh kĩ thuật thực thi cho từng loại tiết học, từng mẫu (Trong mỗi phần đều có phần phân tích sư phạm)
2 Tài liệu thiết kế (3 tập):
+Mẫu thiết kế tương ứng với các mẫu trong sách giáo khoa
+Phân phối chương trình +Các tiết luyện tập
Phương pháp Mẫu: Lập mẫu, sử dụng mẫu Làm mẫu, tổ chức học sinh làm theo mẫu đã có *Hs tự làm lại theo lệnh của GV
III QUY TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT LỚP 1.CGD
Loại 1: Tiết lập mẫu
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm
1.1: Giới thiệu vật liệu mẫu
1.2: Phân tích ngữ âm
1.3: Vẽ mô hình
Việc 2: Viết
Trang 92.1: Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ in thường
2.2: Giới thiệu cách ghi âm bằng chữ viết thường
2.3: Viết tiếng có âm (vần) vừa học
2.4: Viết vở Em tập viết
Việc 3: Đọc
3.1: Đọc trên bảng
3.2: Đọc trong sách
Việc 4: Viết chính tả
4.1: Viết bảng con/Viết nháp
4.2 : Viết vào vở chính tả
Loại 2: Tiết dùng mẫu
* Quy trình: Giống quy trình của tiết lập mẫu
* Mục đích:
• Vận dụng quy trình từ tiếp Lập mẫu
• Luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết Lập mẫu
* Yêu cầu GV:
• Nắm chắc quy trình từ tiết lập mẫu
• Chủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với HS lớp mình
Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợp
• Việc 1:Ngữ âm
- Đưa ra một số tình huống về ngữ âm TV và LCT
- Vận dụng Làm một số bài tập ngữ âm và LCT
- Tổng hợp kiến thức ngữ âm theo hệ thống đã sắp xếp
• Việc 2: Đọc
Bước 1: Chuẩn bị
- Đọc nhỏ
- Đọc bằng mắt
- Đọc to
Bước 2: Đọc bài
- Đọc mẫu
- Đọc nối tiếp
- Đọc đồng thanh
Bước 3: Hỏi đáp
Việc 3: Viết
3.1.Viết bảng con
3.2.Viết vở Em Tập viết
Việc 4: Chính tả
4.1 Ôn LCT (nếu có)
Trang 104.2 Nghe – viết
IV TỔ CHỨC, KIỂM SOÁT, ĐÁNH GIÁ
• CGD đã xây dựng một quy trình lô gic, có sự kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống Việc làm- thao tác cụ thể, tường minh
• Đánh giá HS trong cả quá trình
• Có 4 mức độ đánh giá :
1.làm được
2.làm đúng
3.làm đẹp
4.làm nhanh
(Mức 1, 2 là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt cho 100% học sinh Mức 3,4 thể hiện sự phân hóa HS rõ nét trong quá trình dạy học).