1. Trang chủ
  2. » Ngoại Ngữ

XAY DUNG BAI HOCHOAT DONG DH THEO NHOMHD HSTUHOC

22 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 450,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tự đánh giá, điều chỉnh kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức, như: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu mà GV đề xuất hay các bảng kiểm; tự đánh giá, điều chỉnh; [r]

Trang 1

XÂY DỰNG BÀI HỌC VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC

I Tổ chức hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực HS

1 Các hình thức học tập và học tập theo nhóm

1.1 Hoạt động cá nhân

- Là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập/nhiệm vụ một cách độc lập Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng làm việc độc lập của học sinh Nó diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là với các bài tập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo hoặc rèn luyện đặc thù Giáo viên cần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kĩ năng sẽ không được rèn luyện một cách tập trung

- Ví dụ các hoạt động cá nhân như:

+ HS đọc thầm yêu cầu, ví dụ đọc đoạn thông tin, quan sát hình,… nêu ý chính

hay trả lời câu hỏi

+ HS thực hiện yêu cầu, HS cần ghi lại kết quả thực hiện, ví dụ ghi vào vở ý

chính của đoạn thông tin, kết quả nhận xét hình GV hướng dẫn HS biết cách ghi ngắn gọn kết quả đạt được

+ HS báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với bạn bên cạnh Sau khi

HS có kết quả làm việc, các em có thể trao đổi với bạn bên cạnh và góp ý cho nhau về kết quả hoặc cùng thống nhất kết quả Với các yêu cầu đơn giản, HS có thể tự thống nhất kết quả cuối cùng; với yêu cầu phức tạp, GV nên đề nghị một vài HS báo cáo kết quả, cho một số HS bình luận ý kiến của bạn, sau đó GV chọn ý kiến đúng của HS để chốt kết quả chung cho cả lớp, giúp các em có kết quả cuối cùng đúng GV không nên

áp đặt HS ý kiến của mình Cần luôn tạo điều kiện để các em tự tin

Lưu ý: GV phải bao quát được việc học của HS cả lớp và hỗ trợ HS kịp thời, cần ưu tiên giúp đỡ cho HS yếu, kém GV cần nói nhỏ khi hướng dẫn cho cá nhân HS

và nhẹ nhàng khi di chuyển trong lớp

1.2 Hoạt động theo cặp đôi

- Là những hoạt động nhằm giúp học sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng Thông thường, hình thức hoạt động cặp đôi được

sử dụng trong những trường hợp các bài tập/ nhiệm vụ cần sự chia sẻ, hợp tác trong nhóm nhỏ gồm 2 em Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung nào đó, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,…

- Tùy theo hoạt động học tập, có lúc học sinh sẽ làm việc theo cặp trong nhóm Giáo viên lưu ý cách chia nhóm sao cho không học sinh nào bị lẻ khi hoạt động theo cặp Nếu không, giáo viên phải cho đan chéo giữa các nhóm để đảm bảo tất cả học sinh đều được làm việc Làm việc theo cặp rất phù hợp với các công việc như: kiểm tra

Trang 2

dữ liệu, giải thích, chia sẻ thông tin; thực hành kĩ năng giao tiếp cơ bản (ví dụ như nghe, đặt câu hỏi, làm rõ một vấn đề), đóng vai Làm việc theo cặp sẽ giúp học sinh tự tin và tập trung tốt vào công việc nhóm Quy mô nhỏ này cũng là nền tảng cho sự chia

sẻ và hợp tác trong nhóm lớn hơn sau này

- GV yêu cầu 2 HS thực hiện học cặp đôi, 2 HS sẽ cùng làm việc HS cần thực hiện những việc sau:

+ HS đọc thầm yêu cầu trong chỉ dẫn của tài liệu Thường là yêu cầu cùng đọc

thông tin, cùng giải quyết bài tập,…

+ HS thực hiện yêu cầu Ví dụ: từng HS đọc thông tin, quan sát hình, sau đó cặp

đôi HS cùng trả lời, làm các bài tập Trong quá trình giải bài tập, trả lời câu hỏi, hai em bàn bạc để có chung kết quả làm việc

- HS báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với cặp bạn bên cạnh Lưu ý: Từng cặp HS đọc lời hội thoại, trao đổi với nhau cũng như GV chỉ dẫn chỉ nói đủ cho từng cặp nghe để không ảnh hưởng tới cặp bên cạnh

1.3 Hoạt động theo nhóm

- Nhóm là hình thức học tập phát huy rất tốt khả năng sáng tạo nên hình thức này dễ phù hợp với các hoạt động cần thu thập ý kiến và phát huy sự sáng tạo Điều quan trọng là học sinh cần phải biết mình làm gì và làm như thế nào khi tham gia làm việc nhóm

- Khi tổ chức cho HS học nhóm, GV cần nhận thức và hướng dẫn đúng nhiệm

vụ của các thành viên trong hoạt động nhóm và vai trò của GV đối với việc tổ chức cho HS học nhóm Để tránh việc tổ chức hoạt động nhóm mang tính hình thức Trong khi thảo luận nhóm, cần phân rõ vai trò của cá nhân, nhóm trưởng, thư kí nhóm và giáo viên Cụ thể là:

+ Cá nhân: tự đọc, suy nghĩ, giải quyết nhiệm vụ, có thể hỏi các bạn trong

nhóm về những điều mình chưa hiểu; khi các bạn cũng gặp khó khăn như mình thì yêu cầu sự trợ giúp của giáo viên; thực hiện các yêu cầu của nhóm trưởng và yêu cầu của giáo viên

+ Nhóm trưởng: thực hiện các nhiệm vụ của cá nhân như những bạn khác; bao

quát nhóm xem các bạn có khó khăn gì không; phân công các bạn giúp đỡ nhau; tổ chức cho cả nhóm thảo luận những vấn đề khó khăn; thay mặt nhóm để liên hệ với giáo viên

và xin trợ giúp; báo cáo tiến trình học tập nhóm; điều hành chốt kiến thức trong nhóm Nhóm trưởng tạo cơ hội để mọi thành viên tự giác trong tự học, tích cực tham gia các hoạt động nhóm Đối với các bạn nhút nhát thiếu tự tin, cần được khuyến khích nói nhiều, trao đổi nhiều, thể hiện nhiều trong hoạt động nhóm Không để tình trạng một số thành viên làm thay, làm hộ các thành viên khác trong nhóm Giáo viên lưu ý phân công học sinh luân phiên nhau làm nhóm trưởng

Trang 3

+ Thư kí của nhóm: thực hiện các nhiệm vụ của cá nhân như các bạn khác; là

người ghi chép hoặc vẽ lại những nội dung trao đổi hoặc kết quả công việc của nhóm Việc ghi chép này giúp nhóm tổng hợp công việc mình đã thực hiện, trao đổi với các nhóm khác hoặc chia sẻ trước cả lớp Để việc tổng hợp ý kiến, công việc của nhóm được thú vị và hấp dẫn Giáo viên có thể cùng các em sáng tạo ra nhiều hình thức trình bày như tranh hoá hoặc sơ đồ hoá Thư kí còn là người đánh dấu vào bảng tiến độ công việc

để giúp nhóm trưởng báo cáo giáo viên Giáo viên phân công học sinh luân phiên nhau làm thư kí

+ Vai trò của giáo viên trong hoạt động nhóm

Chọn luân phiên các nhóm trưởng, thư kí nhóm để giúp giáo viên triển khai các hoạt động học tập Xác định và phân công nhiệm vụ cho các nhóm một cách cụ thể và rõ ràng Đứng ở vị trí thuận lợi để dễ dàng quan sát các nhóm học sinh làm việc và có thể

hỗ trợ kịp thời cho các nhóm Không nên dành thời gian làm việc ở một nhóm quá lâu, đứng một chỗ ở khu vực bàn giáo viên

Giúp đỡ học sinh, gợi mở để học sinh phát huy tìm tòi kiến thức mới, hỗ trợ cho

cả lớp, hướng dẫn học sinh báo cáo sản phẩm Khi cần tạo tình huống để học tập, giáo viên có thể gọi học sinh còn yếu; khi cần biểu dương khích lệ học tập, giáo viên có thể gọi học sinh khá giỏi thay mặt nhóm để báo cáo; giao thêm nhiệm vụ cho những học sinh hoàn thành trước nhiệm vụ (giao thêm bài tập hoặc yêu cầu hướng dẫn các bạn khác )

Vừa hướng dẫn học tập cho một nhóm, vừa kết hợp quan sát, đánh giá và thúc đẩy các nhóm khác làm việc Việc chỉ định học sinh phát biểu, trình bày báo cáo … phải được cân nhắc phù hợp với nội dung hoạt động, đối tượng học sinh, không tập trung vào một số học sinh trong lớp, trong nhóm

- GV cần hướng dẫn thực hiện đúng tiến trình hoạt động nhóm

+ Trước khi tham gia phối hợp với bạn học trong nhóm, cá nhân luôn có một khoảng thời gian với các hoạt động để tự lĩnh hội kiến thức, chuẩn bị cho các hoạt động thảo luận trong nhóm Cá nhân làm việc độc lập trong nhóm, nhưng vẫn có thể tranh thủ hỏi hay trả lời bạn trong nhóm, vẫn thực hiện các yêu cầu của của nhóm trưởng (nếu có) để phục vụ cho các hoạt động nhóm

+ Tần suất của các hoạt động cá nhân trong nhóm rất lớn và chiếm ưu thế hơn

so với các hoạt động khác Làm việc cá nhân giúp học sinh có thời gian tập trung tự nghiên cứu, tự khám phá kiến thức, tự chuẩn bị những gì cần thiết trước khi sử dụng

nó để có những hoạt động khác cùng cả nhóm Trong quá trình làm việc cá nhân, gặp những gì không hiểu, học sinh có thể hỏi bạn ngồi cạnh hoặc nêu ra trong nhóm để các thành viên khác cùng trao đổi và nếu nhóm không giải quyết được vấn đề thì nhóm trưởng có thể nhờ giáo viên hỗ trợ

Trang 4

- Khi HS chưa quen tự động tạo nhóm, GV hướng dẫn tạo nhóm theo dãy bàn

Có thể cho HS xếp bàn trên, bàn dưới ghép với nhau để từ 4 đến 6 HS ngồi quay mặt vào nhau Không nên xếp nhóm quá dài theo chiều ngang hoặc dọc, HS sẽ khó giao tiếp với nhau Nếu nhóm làm việc ít hiệu quả, nên bố trí lại nhóm để HS có thể giao tiếp thuận lợi và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Mỗi nhóm cần bầu nhóm trưởng, thư kí, một số em có nhiệm vụ chuẩn bị nguồn tư liệu, ghi chép, theo dõi thời gian,… Các nhóm cùng đồng thời làm việc nên HS cần giữ trật tự, không nói quá to, không chạy

đi, chạy lại trong lớp khi không cần thiết (như đi lấy nguồn tài liệu, lấy thiết bị dạy học cho nhóm,…) Nhóm trưởng đề nghị một vài bạn nêu lại yêu cầu để tất cả các thành viên trong nhóm nhận biết được nhiệm vụ chung của nhóm Các việc làm cần tuần tự thực hiện:

+ HS đọc thầm yêu cầu

+ Các thành viên trong nhóm suy nghĩ cá nhân hoặc có thể chia sẻ với bạn bên

cạnh theo yêu cầu của hoạt động

+ Nhóm trưởng mời lần lượt các thành viên hoặc một vài bạn trong nhóm chia

sẻ hoặc đưa ra ý kiến GV lưu ý để nhóm trưởng dành thời gian cho các bạn giải quyết nhiệm vụ Sau khoảng thời gian nhất định, nếu bạn nào muốn trình bày, nhóm trưởng nên mời lên đầu tiên

+ Thống nhất kết quả hoạt động của nhóm Nhóm trưởng có nhiệm vụ tổ chức

tập hợp ý kiến các thành viên để có thể cử đại diện nhóm trình bày kết quả của nhóm trước lớp

+ Báo cáo kết quả với thày/cô giáo hoặc trao đổi với nhóm bạn bên cạnh GV

nên tạo điều kiện để đại diện nhóm trình bày kết quả Có thể để 1 nhóm trình bày, các nhóm khác bổ sung, bình luận GV chú ý tổng hợp kết quả của HS để cuối cùng có thể chốt lại những nội dung cơ bản của bài học GV nên yêu cầu HS nêu lại kết quả cuối cùng đó GV không nên tự chốt lại kết qủa do HS thực hiện Nếu GV thấy HS không lúng túng, thắc mắc về kết quả làm việc của nhóm thì nên để các nhóm trao đổi kết quả với nhau trước khi chọn một nhóm đại diện báo cáo mang tính chốt vấn đề được tìm hiểu, giải quyết trước lớp

Lưu ý: Vai trò của nhóm trưởng là quan trọng Vì vậy, GV cần hình thành kĩ năng điều khiển nhóm cho các em HS và tạo cơ hội để mọi HS đều có thể làm nhóm trưởng

1.4 Hoạt động cả lớp

- Khi học sinh có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh một vấn đề hoặc có những khó khăn mà nhiều học sinh không thể vượt qua, giáo viên có thể dừng công việc của các cá nhân, cặp, nhóm lại để tập trung cả lớp làm sáng tỏ các vấn đề còn băn khoăn hoặc bàn cãi (Lưu ý rằng những tình huống như vậy không xuất hiện thường xuyên trong lớp học)

Trang 5

- Hoạt động cả lớp còn được sử dụng trong tình huống GV nêu yêu cầu cho HS, hướng dẫn HS thực hiện nhiệm vụ, HS hoặc nhóm HS trình bày kết quả làm việc, GV đánh giá kết quả làm việc của HS,… Cụ thể như sau:

+ GV hướng dẫn HS thực hiện yêu cầu, có thể là đọc đoạn văn, phân tích biểu

đồ, liên hệ thực tiễn,… Từng cá nhân HS cần biết mình phải làm gì ở bước tiếp theo

+ GV dành thời gian cho HS thực hiện yêu cầu Trong lúc HS làm việc, GV

quan sát thái độ HS Nếu thấy HS còn lúng túng, GV cần hỗ trợ HS về nguồn tài liệu,

về cách xử lý thông tin, cách ghi chép kết quả,…

+ GV kiểm tra kết quả học tập của HS bằng cách yêu cầu HS trình bày trước

lớp hoặc GV quan sát kết quả làm việc của các em (bản ghi chép, vẽ, bài tập được giải quyết,….)

+ GV chính xác hóa kiến thức, chỉnh lại kĩ năng Nếu quan sát thấy HS chưa đạt

được kết quả mong muốn, GV yêu cầu một vài em trình bày kết quả GV cần nhận xét, chỉnh sửa những kết quả đó và yêu cầu các em khác so sánh với kết quả được chỉnh sửa để tự chỉnh sửa kết quả làm việc của mình

+ GV mở rộng, nâng cao (nếu thấy cần thiết)

Như vậy, việc lựa chọn hình thức làm việc nào: cá nhân, cặp đôi, nhóm hay cả lớp đều phụ thuộc vào yêu cầu của các loại hình hoạt động và luyện tập Tài liệu Hướng dẫn học chỉ là một gợi ý cho việc tổ chức các hình thức hợp tác này, giáo viên cần lưu ý là không phải luôn tuân theo một cách máy móc thiết kế có sẵn của tài liệu Tùy vào tình hình chung của cả lớp và thiết kế của cá nhân, giáo viên có sự thay đổi, ứng dụng linh động và phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả cho bài học và sự hứng thú cho học sinh

Tránh dạy học đồng loạt theo hướng định lượng thời gian, bắt học sinh theo kịp tiến độ một cách khiên cưỡng, thông báo chung hoặc ghi các nội dung trên bảng trong khi hầu hết học sinh đã hiểu và làm được; chốt kiến thức trong từng phần nhỏ; cho học sinh giơ tay phát biểu quá nhiều gây mất thời gian; thay vì dạy cả lớp như hiện hành thì lại dạy cho nhiều nhóm nên việc giảng giải lặp đi lặp lại ở các nhóm khác nhau; sử dụng câu hỏi phát vấn nhiều và vụn vặt

2 Hướng dẫn học sinh tự học

2.1 Quan niệm về tự học

Đến nay, còn có nhiều quan niệm về tự học, chẳng hạn như:

Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức thuộc một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học

Trang 6

Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ

sở giáo dục và đào tạo Cụ thể hơn, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải

sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan có ý chí tiến thủ, không ngại khó, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình

Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Hay nói cách khác, không ai học giúp cho người học được, vì thế muốn học được phải tự học Theo đó, quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Việc học chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập Tự học là một quá trình chủ thể nhận thức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo vào đối tượng học nhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho chủ thể thay đổi và phát triển

Có thể nói là con người ai cũng phải tự học, do vậy trong cuộc đời của mỗi người bao giờ cũng có hoạt động tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở mức độ nào và tự học như thế nào, hướng tới học suốt đời

Đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác và kiên trì cao, sự tích cực, độc lập và sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học Như vậy, tự

học là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt động học, quá trình tự học do người học tự thực hiện (mang sắc thái cá nhân) Tuy nhiên, cần chú ý rằng với HS phổ thông để việc tự học đạt hiệu quả thường cần phải có sự hướng dẫn, trợ giúp của GV hay người trợ giúp Theo đó, GV cần tạo ra môi trường để HS phát huy nội lực của mình trong quá trình khám phá kiến thức

Xét về có hay không có sự trợ giúp từ các yếu tố bên ngoài, tự học có hai mức độ: tự học hoàn toàn và tự học có hướng dẫn Tự học có hướng dẫn là hình thức tự học

để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng với sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của GV hay người hướng dẫn, thông qua bài giảng hoặc tài liệu hướng dẫn học

Tự học có hướng dẫn là việc học cá nhân và tự chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như GV hay người hướng dẫn hay công nghệ giáo dục hiện đại Khi

đó, người học là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của mình Người thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học trong sự hợp tác với bạn, với thầy, với học liệu,…

Trang 7

Như vậy, tự học là tự mình thực hiện việc học Tự học không thể thiếu trong hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kĩ năng và hoàn thiện nhân cách của mình dưới sự hướng dẫn của GV Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào kĩ năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ,

Xét theo con đường và không gian học tập thì tự học có thể diễn ra theo các hình thức sau:

– Tự học không theo con đường nhà trường, học thông qua thực tế, hình thức

này phổ biến ngoài đời sống xã hội, học qua giao tiếp, học qua lao động, học qua các thông tin đại chúng, Với hình thức này, việc hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ mới là do người học tự trải nghiệm, qua hoạt động thực tiễn Hình thức tự học này thường do người học tự mò mẫm, thực hiện, thử và sai, thường không có thầy hướng dẫn một cách tường minh và có chủ định, thường không có kế hoạch và mục đích định

trước Hình thức này thường mang tính tự nhiên, trong cuộc sống hằng ngày: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, học bất cứ lúc nào, ở đâu, trong lao động cũng như

vui chơi, giải trí,…

– Tự học ở trường lớp, có các hình thức: Tự học ngoài giờ trên lớp (có GV hay

tài liệu hướng dẫn, hoặc không); Tự học trên lớp (có sự trợ giúp trực tiếp của GV hay người hướng dẫn, hoặc qua tài liệu hướng dẫn) Ngoài ra, tự học ở nhà có một vai trò quan trọng đối với thành tích học tập của HS Trong quá trình tự học của mình, HS tự học từng phần của bài học, tự học cả bài hay thậm chí tự học cả chủ đề Quá trình tự học thường được diễn ra theo các giai đoạn: tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự điều chỉnh

và vận dụng Mỗi giai đoạn vừa nêu trên có các bước cơ bản để thực hiện, có thể mô tả

chúng như phần dưới đây

(1) Tự nghiên cứu

- Bước 1 Xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự học

Đây là khâu đầu tiên của quá trình học một nội dung hay một chủ đề Kết quả giai đoạn này là nhận ra các đặc điểm của từng nội dung hay chủ đề Dựa vào đó xây dựng được kế hoạch tự học

- Bước 2 Xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay chủ đề

Sau khi nhận ra nội dung, đặc điểm của từng nội dung (bước 1), HS phải tiếp tục xác định trong mỗi nội dung đó, kiến thức nào cần thu nhận? kiến thức nào là chủ yếu, cốt lõi? (tức là, nếu thiếu kiến thức này thì nội dung bị thay đổi, hoặc HS gặp khó khăn khi học tiếp)

- Bước 3 Hệ thống hoá kiến thức Xác định quan hệ giữa kiến thức, kĩ năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, kĩ năng đã có Kinh nghiệm cho thấy, trong

Trang 8

quá trình học tập, khi thu nhận được kiến thức, kĩ năng mới, người học phải tìm quan

hệ giữa các kiến thức, kĩ năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, kĩ năng đã có

Như vậy, kiến thức mới thu nhận và kiến thức đã có hợp thành một thể thống nhất biến thành vốn riêng của chủ thể, tạo thuận lợi cho việc huy động khi cần sử dụng

(2) Tự thể hiện và hợp tác

Tự học theo cách đã nêu ở giai đoạn I tuy kiến thức có hệ thống, nhưng còn mang tính chủ quan, những nhầm lẫn, thiếu sót nếu có sẽ không dễ gì được tự phát hiện ra Vì thế cần phải qua giai đoạn II, nhằm chuyển sản phẩm (kiến thức, kĩ năng,…) chủ quan thành khách quan Tức là cần phải xã hội hoá sản phẩm học tập Giai đoạn này được thực hiện qua các bước:

- Bước 4.Tự thể hiện, chỉ có thể nhận xét, đánh giá được sản phẩm học ở giai

đoạn học cá nhân, khi được HS thể hiện (diễn đạt) lại theo mức độ nắm vững kiến thức Từ sản phẩm có tính cá nhân, trong tư duy được thể hiện ra hình thức cụ thể để mỗi HS và GV có thể quan sát, phân tích từ đó bổ sung, chỉnh sửa làm cho sản phẩm được chính xác, mang tính khách quan Tuỳ theo nội dung và nhiệm vụ học tập mà HS

có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau như: tóm tắt, lập dàn ý, lập sơ đồ hệ thống,

báo cáo, bài nói, bài tập, dự án, phiếu học tập,…

- Bước 5 Thảo luận, sau khi biểu đạt như ở bước 4, dưới sự giúp đỡ của GV

hay người có hiểu biết (như ông, bà, cha, mẹ hay anh, chị,…), HS thảo luận, tranh luận

về các điều mới học được của mình Người thể hiện phải giải thích, bảo vệ sản phẩm của mình, các thành viên trong nhóm và GV (hay người trợ giúp) lắng nghe, phân tích,

bổ sung, sửa chữa nhằm hoàn thiện, làm cho sản phẩm đảm bảo độ tinh khiết, chính xác, tiệm cận tới chân lí

(3) Tự điều chỉnh

- Bước 6 Tự đánh giá Lúc này HS cần tự đánh giá việc học, dựa vào các

hướng dẫn đã có Tất nhiên việc tự đánh giá này luôn mang tính chủ quan, độ chính xác có thể chưa cao Vì thế, để hiệu quả, ban đầu GV cần hướng dẫn HS cách đánh giá, sau đó cho HS tự đánh giá, hoặc đánh giá lẫn nhau (giữa các thành viên trong nhóm) Cứ như thế, dần dần qua luyện tập mà HS biết cách tự đánh giá, sau khi tự học mỗi nội dung hay mỗi phần trong chương trình

- Bước 7: Tự điều chỉnh Sau khi tự đánh giá người học tự đối chiếu, tự nhận ra

những chỗ sai sót, xác định nguyên nhân, rồi từ đó tự sửa lại nội dung kiến thức, kĩ năng và tự điều chỉnh cách học sao cho ngày càng phù hợp

Tuy nhiên, đến đây vẫn chưa trả lời được câu hỏi: “Mục đích học để làm gì?”,

mà chỉ trả lời được khi HS sử dụng kiến thức vào các tình huống học tập và đời sống

Vì vậy, cần có thêm giai đoạn vận dụng

Trang 9

(4) Vận dụng kiến thức

- Bước 8 Vận dụng kiến thức:

Trên cơ sở đã nắm vững kiến thức, HS phải tự nhận ra được ý nghĩa, giá trị của từng kiến thức, kĩ năng đó và sử dụng được vào những tình huống khác nhau Vận dụng tốt kiến thức, kĩ năng là bước cuối cùng của quá trình học hay tự học

2.2 Vị trí, vai trò của tự học

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về

đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể, trong đó có

đề cập tới việc “phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”; trong các giải pháp có nêu “tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học”

Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Từ lâu các nhà

sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình dạy học

GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những kiến thức có sẵn, yêu cầu HS ghi nhớ,… mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các kiến thức hay các vấn đề khoa học Qua đó, giúp HS không chỉ nắm bắt được kiến thức mà còn biết cách tìm ra những kiến thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng ở trình độ cao thì tự học càng cần được coi trọng Nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Vì thế, muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì người học phải có khả năng tự phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống hay khoa học đặt ra

Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho HS trong quá trình học tập: Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là

tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phải hình thành được phẩm chất đó cho người học Khi đó giáo dục mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (có nguồn gốc từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú, người học mới có được sự tự giác, say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự

Trang 10

phối hợp giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập

Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng

định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với những biến đổi của sự phát triển kinh tế – xã hội Bằng con đường tự học mỗi người sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường, nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao, tạo đà cho tự học trong cuộc sống hay trong thực tiễn

– Các động cơ trách nhiệm trong học tập

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung hấp dẫn, mới lạ, thú vị, bất ngờ

và chứa nhiều những yếu tố kích thích, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi nguồn học liệu hay GV tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học,

Một khi đã có động cơ, hiểu nhiệm vụ và có trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý nghĩa xã hội của sự học Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè,… Từ đó, các em mới có

ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội

Cả hai loại động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác, thầm lặng, từ bên trong Do vậy nguồn học liệu hay người GV phải tuỳ theo đặc điểm môn học, tuỳ theo đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để tìm ra những biện pháp thích hợp, nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi HS Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình

Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập chính

là tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn Bởi vì, động cơ học tập đúng đắn

sẽ khiến người ta luôn tự giác, say mê học tập và học tập với những mục tiêu cụ thể rõ

Trang 11

ràng, với niềm vui sáng tạo bất tận Ngoài việc tạo động cơ cho HS, ta cần khích lệ sự

cố gắng của HS

GV hay nguồn học liệu cần chỉ ra cho HS thấy nếu các em cố gắng, quyết tâm, khắc phục khó khăn, tự mình vươn lên thì sẽ gặt hái được thành công GV nên giúp HS nhận biết cần phải tập trung học ở những phần nào, nội dung nào, môn học nào, Thông qua những tấm gương vượt khó, những ghi chép về sự tiến bộ của bản thân, HS cần phải học để thay đổi niềm tin và tập trung vào sự cố gắng của mình, nhìn thấy mối quan hệ giữa cố gắng và mức độ thành công

b) Học tập có kế hoạch

Việc học, tự học thật sự có hiệu quả khi mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch học tập được xây dựng cụ thể, rõ ràng và có tính hướng đích cao, sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cá nhân

Mục tiêu học tập là những gì người học đặt ra để phấn đấu trong học tập và có khả năng đạt được nó trong quá trình học tập của mình Để có được mục tiêu khả thi

và hữu ích, HS cần xác định mục tiêu học tập của mình theo năm yếu tố sau đây:

– Cụ thể và rõ ràng: Càng chi tiết càng dễ thực hiện

– Đo lường được: Mục tiêu có thể đo lường và đánh giá được một cách rõ ràng – Có thách thức: Mục tiêu phải cho thấy người học cần phải nỗ lực và có kỉ luật

mới có thể đạt được

– Thực tế: Có khả năng đạt được đối với HS đó

– Có thời gian để hoàn thành: Mục tiêu phải có thời hạn hoàn thành cụ thể Nếu

là mục tiêu lâu dài, cần chia mục tiêu thành nhiều mục tiêu nhỏ và xác định thời hạn hoàn thành đối với từng mục tiêu

Người có kĩ năng tự học là người xác định được kế hoạch học tập ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của mình Thậm chí, các kế hoạch phải được tạo lập theo từng môn học, từng phần trong môn học theo từng thời điểm, giai đoạn học tập cụ thể Trong lập kế hoạch phải chọn đúng vấn đề trọng tâm, cốt lõi, quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao

Sau khi đã xác định được các vấn đề trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc trong kế hoạch chung một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi Tuy nhiên, theo khoa học về nhận thức, cần lưu ý một số điểm sau đây:

Ngày đăng: 12/11/2021, 00:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w