Đất Nước là một đề tài muôn thuở của thơ ca và nghệ thuật. Hình hài đất nước cũng được tạc thành từ nhiều vẻ đẹp khác nhau, từ những góc nhìn khác nhau.Nguyễn Trãi tự hào về Đất Nước có truyền thống lịch sử, văn hóa qua các triều đại “Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”.Tố Hữu thấy Đất Nước trong bóng dáng người anh hùng, người Mẹ. Chế Lan Viên “tìm hình của nước” trong vị cha già Hồ Chí Minh… còn Nguyễn Khoa Điềm, một nhà thơ thời chống Mỹ lại tìm thấy vẻ đẹp của Đất Nước trong chiều sâu văn hóa mang đậm dấu ấn tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”. Vẻ đẹp ấy của hình tượng Đất Nước đã được Nguyễn Khoa Điềm tập trung thể hiện một cách tinh tế và sống động qua ….. đoạn trích Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng)
Trang 1ĐẤT NƯỚC
MỞ BÀI
1 Đất Nước là một đề tài muôn thuở của thơ ca và nghệ thuật Hình hài đất nước cũng được tạc thành từ nhiều vẻ đẹp khác nhau, từ những góc nhìn khác nhau.Nguyễn Trãi tự hào về Đất Nước có truyền thống lịch sử, văn hóa qua các triều đại “Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập”.Tố Hữu thấy Đất Nước trong bóng dáng người anh hùng, người Mẹ Chế Lan Viên “tìm hình của nước” trong vị cha già Hồ Chí Minh… còn Nguyễn Khoa Điềm, một nhà thơ thời chống Mỹ lại tìm thấy vẻ đẹp của Đất Nước trong chiều sâu văn hóa mang đậm dấu ấn tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” Vẻ đẹp ấy của hình tượng Đất Nước đã được Nguyễn Khoa Điềm tập trung thể hiện một cách tinh tế và sống động qua … đoạn trích Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng)
KẾT BÀI
Đất Nước là một đoạn trích hay nhất trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm Thi phẩm ấy không chỉ khẳng định tài năng thơ phú của nhà thơ mà còn qua đó nói lên được tiếng nói của người công dân yêu nước với tình yêu sâu nặng, mãnh liệt “như máu xương của mình” Cuộc chiến tranh chống Mỹ gian khổ
đã làm con người xích lại gần nhau, tất cả đều hướng đến nhiệm vụ chung cao cả để bảo vệ Tổ Quốc Tình yêu và trách nhiệm cao cả ấy trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng chính là quyết tâm của cả một thời đại: “Thời đại của chúng tôi là thời đại của tuổi trẻ đã xuống đường, chiếm lĩnh từng tầm cao của mái nhà, tầm cao của ngọn đồi, của nhịp cầu để đem tất cả lương tâm và nhân phẩm bắn toả lên bầu trời đầy giặc giã” (Chu Lai)
Pauxtôpxki từng nói “Niềm vui của nhà thơ chân chính là niềm vui của người mở đường đến với cái đẹp” Và phải chăng nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã tìm thấy niềm vui cho mình khi mở đường đến với Đất Nước của nhân dân
ĐỀ 1 CẢM NHẬN 9 CÂU ĐẦU
2.1.Câu thơ mở đầu được nhà thơ viết theo thể câu khẳng định về nguồn gốc lâu đời của ĐN: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”
Theo cách giải thích của Nguyễn Khoa Điềm thì “Đất nước là một giá trị lâu bền, vĩnh hằng; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khác Cho nên “khi ta lớn lên đất nước
đã có rồi!” (Nguyễn Khoa Điềm – Tác giả và Tác phẩm) Cách nói “Đất Nước đã có rồi” đã thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử Đất Nước cũng như Trời và Đất, khi ta sinh
ra Đất đã ở dưới chân, Trời đã ở trên đầu Cũng như vậy, không biết Đất Nước có tự bao giờ nhưng khi ta lớn lên
ta đã thấy Đất Nước của mình rồi, nó hiện diện quanh ta với những gì yêu thương nhất
2.2.Hai câu thơ tiếp theo nhà thơ diễn tả vẻ đẹp của Đất Nước trong chiều sâu văn hóa, phong tục Những
từ ngữ như Đất Nước “có trong”, Đất Nước “bắt đầu” là những từ ngữ diễn tả rất nhẹ nhàng về sự ra đời của Đất Nước:
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Tác giả mượn chất liệu văn học dân gian để diễn tả về Đất Nước Đối với trẻ thơ, Đất Nước thân thương qua lời kể “Ngày xửa ngày xưa” của bà của mẹ… Có nghĩa là Đất Nước đã có từ lâu đời; Đất Nước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời rồi khi những câu truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của ta, ta lại thấy Đất
Trang 2Nước hiện diện trong truyện cổ Đó là Đất Nước của một nền văn học dân gian đặc sắc với những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm bẵm cho ta cái chân thiện mĩ để lớn lên ta biết yêu thương đất nước con người Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên:
Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần
(Truyện cổ nước mình)
Không chỉ “có trong những cái ngày xửa ngày xưa”, Nguyễn Khoa Điềm còn xác định cái buổi ban đầu ấy qua một nếp sống giản dị nhưng đậm đà của những người mẹ, người bà Việt Nam Đó là phong tục ăn trầu: “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” Đất Nước lớn lao, kỳ vĩ sao lại chứa đựng trong một miếng trầu bé nhỏ? Hình thức câu thơ chứa đựng sự phi lí nhưng lại hoàn toàn hợp lí bởi tất cả những điều lớn lao đều bắt nguồn từ những điều bé nhỏ Ví không có những dòng suối nhỏ sao trở thành dòng sông, ví như không có những dòng sông sao có thể trở thành biển cả Cho nên nhắc đến “miếng trầu” chắc hẳn là nhắc đến một điều sâu thẳm Câu thơ gợi nhớ về câu truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” được xem là xưa nhất trong những câu truyện cổ Tục ăn trầu cũng từ câu truyện này mà nên Như vậy là thẩm thấu vào trong miếng trầu dung dị ấy là 4000 năm phong tục, 4000 năm dân ta gìn giữ phong tục ăn trầu Miếng trầu là biểu tượng của tình yêu, vật chứng cho lứa đôi cũng
là biểu tượng tâm linh của người Việt Từ phong tục ăn trầu, tục nhuộm răng đen cũng ra đời Hoàng Cầm trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” cũng đã từng nhắc đến nét đặc trưng ấy:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
2.3 Một Đất Nước không thể thiếu truyền thống mà một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta
là truyền thống đánh giặc giữ nước: “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
Nhà thơ lại liên tưởng song hành về sự lớn mạnh của đất nước qua ý thơ “Đất Nước lớn lên…” Chữ “lớn lên”
là để chỉ sự trưởng thành của Đất Nước Câu thơ gợi nhắc cho ta nhớ đến truyền thuyết Thánh Gióng, mới lên ba
đã biết xông pha trận mạc Đứa bé ấy đã vươn vai trở thành chàng trai Phù Đổng Thiên Vương nhổ tre làng Ngà đánh giặc Từ đó, Thánh Gióng trở thành biểu tượng khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Tố Hữu cũng đã có thơ:
Ta như thuở xưa thần Phù Đổng
Vụt lớn lên đánh đuổi giặc Ân
Sức nhân dân khoẻ như ngựa sắt
Chí căm thù ta rèn thép thành roi
Lửa chiến đấu ta phun vào mặt
Lũ sát nhân cướp nước hại nòi
Trang 3(Tố Hữu)
Truyền thống vẻ vang ấy đã theo suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc mãi đến hôm nay trong thời đại chống Mỹ bao tấm gương tuổi trẻ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ giống nòi Phải chăng, đó chính là vẻ đẹp của các chị, các anh đã tạc vào lịch sử Việt Nam dáng đứng kiêu hùng bất khuất: Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi…
Vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre Việt Nam Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong tranh đấu Tre đứng thẳng hiên ngang bất khuất cùng chia lửa với dân tộc “Một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ”, bởi:
“Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường”
2.5.Từ truyền thống đánh giặc ngoại xâm Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục khai thác thêm nhiều yếu tố mang vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của con người Việt:
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đó là vẻ đẹp giản dị của người phụ nữ Việt Nam, không ai khác là những người mẹ với phong tục “búi tóc sau đầu” (tóc cuộn thành búi sau gáy tạo cho người phụ nữ một vẻ đẹp nữ tính, thuần hậu rất riêng) Nét đẹp ấy gợi nhớ ca dao:
Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài cho rối lòng anh
Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục gắn dòng suy tưởng đến con người ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìn tôn tạo mảnh đất thân yêu Ở đó đạo lí ân nghĩa thủy chung đã trở thành truyền thống ngàn đời của dân tộc: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Ý thơ được toát lên từ những câu ca dao đẹp: “Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Hay:
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Trang 4Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”
Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời Quy luật của tự nhiên là gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn Quy luật trong tình cảm con người là con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng đong đầy Có lẽ chính vì vậy mà Đất Nước còn ghi dấu ấn của cha của mẹ bằng Hòn trống mái, núi Vọng Phu… đi vào năm tháng Từ cha mẹ thương nhau mới đi đến “Cái kèo cái cột thành tên” Câu thơ gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục làm nhà cổ của người Việt Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ Đó cũng là ngôi nhà tổ ấm cho mọi gia đình đoàn tụ bên nhau; siêng năng tích góp mỡ màu dồn thành sự sống Từ đó, tục đặt tên con cái Kèo, cái Cột cũng ra đời
Đâu chỉ có những vẻ đẹp trên, dân tộc ta còn có truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó
“Hạt gạo phải một nắng hai sương xay giã dần sàng” Câu thơ gợi nhắc bài ca dao:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần
Thành ngữ “Một nắng hai sương” gợi nên sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta những ngày long đong, lận đận trong đời sống nông nghiệp lạc hậu Đó là truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó Để làm ra hạt gạo ta ăn hàng ngày, người nông dân phải trải qua bao nắng sương vất vả gieo cấy, xay giã, giần sàng Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là mồ hôi vị mặn nhọc nhằn của giai cấp nông dân bao đời nay
2.6.Câu thơ cuối cùng khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: Đất Nước có từ ngày đó
“Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn ngày đó là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước Đúng như lời Bác dặn trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu Tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca” Dân ca, ca dao là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nước nhà Bởi văn hóa chính là Đất Nước Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơ dung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm
ĐỀ 2 Để đất nước này là đất nước của nhân dân… Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”
1 Khái quát: Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ cứu nước; thơ ông giàu chất trí tuệ, suy tư sâu lắng, cảm xúc nồng nàn “Đất nước” là đoạn thơ trích từ chương V trường ca “Mặt đường khát vọng” được hoàn thành ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1971 Trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam xuống đường tranh đấu hòa hợp với cuộc kháng chiến của dân tộc Đoạn thơ ta sắp phân tích nằm ở phần hai của chương V Nội dung bao trùm cả đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”
Ngày xưa, người ta thường quan niệm: Đất Nước là của các triều đại, của vua Trong “Nam quốc sơn hà” – Lý Thường Kiệt cũng nói “Nam quốc sơn hà nam đế cư” Trong “Bình Ngô đại cáo” – Nguyễn Trãi Viết “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập” Ngày nay trong thời đại Hồ Chí Minh, khi người ta nhìn thấy sức mạnh của nhân dân, sự đóng góp máu xương của nhân dân đã làm nên Đất Nước cho nên Đất Nước phải thuộc về nhân dân và của nhân dân
Trang 52 Nội dung cảm nhận : 2.1 Đoạn thơ mở đầu bằng một lời khẳng định, lời khẳng định ấy là cảm hứng chung cho cả đoạn thơ:
“Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
Nhà thơ khẳng định chắc nịch “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”, lời khẳng định ấy đã thể hiện một cách chân thành, mãnh liệt tình cảm của nhà thơ đối với dân tộc Hơn ai hết, nhà thơ hiểu rằng, để có được Đất Nước trường tồn, vĩnh cửu thì nhân dân hơn ai hết là những người đã đổ máu xương, đổ công sức của mình để làm nên hình hài đất nước Vì thế Đất Nước không của riêng ai mà là của chung, của nhân dân và mãi mãi thuộc
về nhân dân
Ở câu thơ thứ hai, nhà thơ lại một lần nữa khẳng định “Đất nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại” Điệp ngữ chuyển tiếp “Đất nước của nhân dân” được lặp lại như thêm một lần nữa nhấn mạnh về cái sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân đối với Đất Nước Vế thứ hai, nhà thơ nhấn mạnh “Đất Nước của ca dao thần thoại” Nhắc đến ca dao thần thoại ta lại càng nhớ đến nhân dân, vì hơn ai hết, Nhân dân lại là người tạo ra văn hóa, tạo ra ca dao thần thoại Mà đất nước của “ca dao thần thoại” nghĩa là Đất Nước tươi đẹp vô ngần như vầng trăng cổ tích, ngọt ngào như ca dao, như nguồn sữa mẹ nuôi ta lớn nên người Và không phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới hai thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian “Thần thoại” thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân Còn “ca dao” bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc một cách đậm nét nhất
2.2 Và khi nói đến “Đất nước của Nhân dân”, một cách tự nhiên, tác giả trở về với cội nguồn phong phú đẹp đẽ của văn hóa, văn học dân gian mà tiêu biểu là trong ca dao Vẻ đẹp tinh thần của nhân dân, hơn đâu hết, có thể tìm thấy ở đó trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích Ở đây tác giả chỉ chọn lọc ba câu để nói về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhân dân, dân tộc:
Dạy anh biết yêu em từ thở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu
Chức năng của ca dao, nói như Nguyễn Khoa Điềm là “dạy” Chức năng ấy cùng với ý nghĩa của nó được thể hiện qua ba phương diện Phương diện thứ nhất, Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh về tình cảm thủy chung trong tình yêu của con người Việt Nam Từ ý thơ trong ca dao “Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru” Nhà thơ đã viết nên lời chân tình của chàng trai đang yêu “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi” Tình yêu của chàng trai ấy không phải là ngọn gió thoáng qua, không phải là lời của bướm ong mà là lời nói là nghĩ suy chân thật Ý thơ đã khẳng định được một tình yêu thủy chung bền vững không gì có thể đếm đong được Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca dao ấy Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân người ta thường nghĩ đến những phẩm chất cần
cù chịu khó, bất khuất kiên cường Còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành
Ở phương diện thứ hai, Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc, ca dao đã “dạy anh biết” – Sống trên đời cần quý trọng tình nghĩa, phải “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội” Câu thơ
Trang 6ấy lấy ý từ ca dao “Cầm vàng mà lội qua sông/Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng” Nhân dân đã dạy ta rằng:
ở đời này còn có thứ quý hơn vàng bạc, châu báu ngọc ngà… Đó là tình nghĩa giữa con người với con người Bởi vậy, nghĩa với tình còn nặng hơn nhiều lần giá trị vật chất
Ở phương diện thứ ba, nhân dân đã dạy ta phải biết quyết liệt trong căm thù và chiến đấu “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu” Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến oanh liệt, trường kì của nhân dân trong biết bao cuộc chiến vệ quốc vĩ đại Từ thuở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm Sau cả nghìn năm Bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, rồi đến 100 năm đô hộ giặc Tây… thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh để đến ngày toàn thắng
2.3 Bốn câu thơ cuối: Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất Nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi…
Câu thơ gợi cho ta hình ảnh của những dòng sông, những dòng sông không biết đến từ bến bờ nào nhưng khi hòa vào đất Việt lại vang lên biết bao câu hát điệu hò Câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm làm ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, điệu ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền Trung, hay đờn ca tài tử tha thiết trên sông Tiền, sông Hậu ở miền Nam Và “dòng sông” ấy vừa có ý nghĩa là dòng sông của quê hương đất nước nhưng vừa có ý nghĩa là dòng sông Văn Hóa, dòng sông Lịch sử Dân tộc ta
có 54 dân tộc anh em, là 54 dòng chảy văn hóa đa dạng “trăm màu, trăm dáng” Và đó chính là sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam đã vun đắp phù sa qua bao năm tháng thăng trầm để làm nên một đất nước đậm
đà bản sắc dân tộc
3 Tổng kết nghệ thuật: Đoạn thơ đã để lại âm hưởng ca dao, dân ca đặc sắc nhưng không lấy lại nguyên văn mà sáng tạo làm nên một ý thơ riêng mềm mại, tài hoa và giàu tính triết lý Điệp ngữ “Đất Nước” được nhắc lại nhiều lần cùng với việc nhà thơ luôn viết hoa hai từ “Đất Nước” tạo nên một tình cảm thiêng liêng xiết bao tự hào về non sông gấm vóc Việt Nam
Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích đã thể hiện một cách rất thành công tư tưởng lớn của thời đại “Đất Nước của nhân dân” Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho ta một giọng thơ tài hoa và những câu thơ giàu tính triết lý để ta thêm hiểu, thêm yêu, thêm tin vào sức mạnh của nhân dân và tin vào tình yêu Đất Nước của chính mình:
Ôi Tổ Quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi dòng sông ( Tố Hữu)
Trang 7ĐỀ 3 Phân tích đoạn thơ Những người vợ nhớ chồng…hóa núi sông ta” Tư tưởng đất nước của nhân dân
1 Khái quát tác giả, tác phẩm:
2 Cảm nhận nội dung
a Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân” trước hết được thể hiện qua sự biết ơn sâu nặng của nhà thơ đối với nhân dân đã “góp” cuộc đời mình, tuổi tên của mình, số phận mình để hóa thân thành những địa danh, thắng cảnh Những địa danh, thắng cảnh ấy gắn với cuộc sống, số phận, tính cách của nhân dân:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình cho đất tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…”
– Trước hết, ta có thể thấy, nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật liệt kê (liệt kê những địa danh), sử dụng động từ “góp”
để diễn tả hình ảnh của nhân dân hóa thân thành những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp cho Đất Nước Các danh thắng ấy được nhà thơ liệt kê từ Bắc đến Nam, đâu đâu cũng mang bóng dáng nhân dân
+ Ở miền Bắc, danh thắng ấy hiện lên với núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho vẻ đẹp của tình yêu thủy chung bền vững Hòn Vọng Phu nay vẫn còn ở Lạng Sơn gắn liền với tích nàng Tô Thị bồng con chờ chồng hóa
đá Hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, Thanh Hóa, tương truyền do hai vợ chồng yêu nhau hóa thân thành Thời gian trôi qua, những vẻ đẹp thủy chung, nghĩa tình đã bất tử
+ Đó còn là vẻ đẹp người anh hùng làng Gióng với chứng tích “ao đầm ” hình móng chân ngựa mọc đầy quanh chân núi Sóc Sơn (Hà Nội) Đó là quần thể núi non hùng vĩ “chín mươi chín con voi” bao quanh núi Hi Cương (Phú Thọ) nơi đền thờ vua Hùng ngự trị Đó là “con cóc con gà quê hương góp cho Hạ Long thành thắng cảnh” Tất cả nhằm nhắc nhở chúng ta nhớ về truyền thống đánh giặc giữ nước, công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước của cha ông
+ Ở miền Trung, nhà thơ đưa ta về với vùng đất Quảng Ngãi để chiêm ngưỡng “núi Bút, non Nghiên” do cậu học trò nghèo dựng nên Đó là biểu tượng của truyền thống hiếu học của nhân dân đã góp cho đất nước bao tên tuổi + Ở miền Nam, danh thắng là con sông Cửu Long hiền hòa, tươi đẹp: “Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm” Là những người dân hiền lành, chăm chỉ góp nên “tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân” Đó là
“Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
b Bốn câu thơ cuối nâng ý thơ lên tầm khái quát: sự hóa thân của Nhân Dân vào bóng hình Đất Nước Nhân Dân chính là người đã tạo dựng, đã đặt tên, ghi dấu ấn cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, khắp mọi miền đất nước này:
Trang 8“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi! Đất Nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
– Hai câu đầu là khẳng định dáng hình của Nhân Dân trong không gian Đất Nước “trên khắp ruộng đồng gò bãi” Bóng hình ấy của nhân dân không chỉ làm cho đất nước thêm phần tươi đẹp mà còn mang “một ao ước, một lối sống cha ông” Nghĩa là nhân dân không chỉ góp danh lam thắng cảnh, mà còn góp vào đó những giá trị tinh thần,
là phong tục, tập quán, là truyền thống văn hóa lưu dấu tới mai sau
– Hai câu cuối, hình tượng thơ được nâng dần lên và chốt lại bằng một câu đầy trí tuệ: “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta” “Núi sông ta” sỡ dĩ có được là nhờ “những cuộc đời” đã hóa thân để góp nên Nhân Dân không chỉ góp tuổi, góp tên mà còn góp cả cuộc đời và số phận mình Ý thơ giản dị mà sâu sắc khiến ta hình dung Đất Nước thật gần gũi và thân thuộc
3 Tổng kết nghệ thuật: Đoạn thơ có kết cấu chặt chẽ, tự nhiên được viết theo thể thơ tự do Câu thơ mở rộng kéo dài, biến hóa linh hoạt tạo cho đoạn thờ giàu sức gợi cảm và khái quát cao Thủ pháp liệt kê địa danh, nhà thơ luôn viết hoa hai chữ Đất Nước thể hiện sự thành kính thiêng liêng Động từ “góp” được nhắc lại nhiều lần Tất cả làm nên đoạn thơ hay về đất nước
ĐỀ 4 Cảm nhận về hình tượng đất nước qua đoạn thơ: “Em ơi em Hãy nhìn rất xa … Nhưng họ đã làm nên Đất Nước.”
Sinh ra trong một gia đình tri thức có văn hóa cùng vốn sống phong phú, NKD sớm nhận thấy giá trị, vẻ đẹp đất nước qua nhiều khía cạnh Không chỉ vậy, cũng trên cương vị là người lính- trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến của nhân dân nên hơn ai hết, ông có tình yêu to lớn dành cho đất nước NKD cuốn hút người đọc bởi chất giọng nhẹ nhàng, sâu sắc mà triết lí trong thơ trường ca “Mặt đường khát vọng” Đoạn trích “Đất Nước” thuộc phần đầu chương 5 là đoạn thơ tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp của áng trường ca bất hủ được tác giả sáng tác tại chiến khu Trị- Thiên năm 1971 trong những tháng ngày ác liệt của cuộc chiến chống Mĩ cam go, một mất một còn Sau tất cả những lời lí giải về cội nguồn, bản chất đất nước, mạch thơ trữ tình chính luận đi đến kết luận đầy tính logic khi trả lời câu hỏi: “ Ai là người làm ra Đất Nước” trên phương diện thời gian lịch sử:
“ Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
…
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”
Mở đầu đoạn thơ, tác giả cất lên tiếng gọi vô cùng thân thương “em ơi” – phải chăng câu chuyện giữa người cách mạng với nhân dân đã được trữ tình hóa thành câu chuyện lứa đôi mang màu sắc dân gian mềm mại Tác giả gọi “em”- người đọc, độc giả bằng tình cảm chân thành nhất và hướng cái nhìn của „em” vào chiều sâu 4000 năm đất nước Năm tháng ấy là quá trình hình thành, dựng xây và bảo vệ Tổ quốc: đau thương có, gian lao có, hanh phúc có và cũng có cả những niềm vui, niềm tự hào cao cả, thiêng liêng Năm tháng dài, rộng và đáng để chiêm nghiệm Trên nền bức tranh bức tranh về hình hài đất nước là sự khắc họa hình ảnh “ người người, lớp lớp, con gái, con trai, anh, em, anh hùng, đàn bà” một đoạn thơ nhưng hình ảnh đội quân nhân dân hiện lên đông đảo, đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, giai cấp đứng lên giành độc lập cho non sông, đất nước NKD đã tinh tế và khéo léo trong
Trang 9cách nói “ bằng tuổi chúng ta” khơi gợi lên trách nhiệm, đánh thức sứ mệnh của những người con gái, con trai bấy giờ với người bằng tuổi họ ngày trước để tạo nên phép liên tưởng, đối sánh Đồng thời gọi dậy ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ miền Nam đang ngủ quên trên vận mệnh dân tộc, động viên họ xuống đường đấu tranh, hòa nhập vào cuộc kháng chiến trường kì của đất nước Ý thơ tạo nên sự đồng vọng, noi gương ý thức để đất nước này là sự nối dài của truyền thống đấu tranh tốt đẹp ngàn đời:
“ Lớp cha trước lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành.”
Trong mạch thơ, NKD tái hiện lại cuộc sống và phẩm chất của nhân dân trong hành trình sống và chiến đấu
Họ vốn là những người nông dân cần cù làm lụng, đã thân thuộc với công việc ruộng đồng mà hoàn toàn xa lạ với binh nghiệp Câu thơ “Cần cù làm lụng” 4 chữ gợi lên hình hài và phẩm chất tốt đẹp ngàn đời của những người dân Việt Nam: chăm chỉ, cần cù, chịu thương, chịu khó Thế nhưng khi có giặc ngoại xâm, họ bỗng trở thành những con người khác- những người lính nông dân NKD đã khắc họa hình ảnh họ trong những năm tháng chiến đấu cùng nhiệm vụ cách mạng:
“Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái ở nhà nuôi cái cùng con.”
Hai câu thơ khắc họa chân thực và đầy đủ nhất vai trò và nhiệm vụ cách mạng trong thời kì chiến tranh oanh liệt Nơi tiền tuyến người con trai sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc Nơi hậu phương, người con gái hay lam hay làm, hoàn thành tròn trách nhiệm là bến dựa vững chắc cho người đi chinh chiến nơi xa Cách dùng khẩu ngữ tựa như một lời kể giản đơn nhưng mang đậm giá trị hiện thực Nó làm sống dậy cả một giai đoạn lịch sử hào hùng
mà gian khổ khi cả nước ra trận Đặc biệt câu nói “ Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh” giản dị mà đầy chất thơ NKD đã sử dụng sáng tạo và nhuần nhuyễn thành ngữ dân gian “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” nhưng chỉ thêm một từ “thì” vào giữa hai vế câu khiến thanh điệu câu thơ trở nên nhẹ nhàng hơn Câu thơ nhắc ta nhớ về tinh thần chiến đấu hiên ngang bất khuất và truyền thống yêu nước quật cường của dân tộc Ý thơ khẳng định và khơi dậy biết bao niềm tự hào về lịch sử, phẩm chất cao đẹp của những người Việt Nam ta như nhớ tới hình ảnh của nhân dân trong nhưungx câu thơ bình dị mà tha thiết của Nguyễn Đình Thi:
“ Từ những năm đau thương chiến đấu
Đã ngời lên nét mặt quê hương
Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu
Đã bật lên những tiếng căm hờn.”
Cả NKD và NDT đều chứa chan niềm tự hào và tình yêu dành cho đất nước, nhân dân Và bởi thế mà “ Nhiều người đã trở thành anh hùng”- những người anh hùng vô danh, không có tuổi chẳng có tên nhưng lại tạc lên hình sông thế núi Trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” Nguyễn Đình Chiểu cũng đã từng viết về những người anh hùng- những người nông dân nghĩa sĩ bằng tất cả niềm ngưỡng mộ Đến NKD ông không gọi là anh hùng nghĩa sĩ
mà là anh hùng nhân dân Ngay cả khi là người anh hùng mà “cả anh và em hôm nay đều nhớ” ông cũng không gọi tên, không xưng danh cụ thể Dường như nhà thơ muốn tạo ra một khoảng trắng ngôn từ để người đọc có thể chiêm nghiệm Hơn nữa, chính dụng ý nghệ thuật ấy cũng đã góp phần đậm khắc tư tưởng trong quan niệm: Đất nước cuả nhân dân Ở những dòng thơ tiếp theo, tâm sự của “anh” vẫn hướng đến hình ảnh của nhân dân trong hành trình làm ra đất nước:
Trang 10“ Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
…
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”
NKD bắt đầu bằng câu thơ đậm chất trữ tình “nhưng em biết không” hình thức là một câu hỏi nhưng ý thơ lại hướng đến sự kết nối mạch cảm xúc, tâm sự và giảng giải về vai trò, cuộc sống và phẩm chất của nhân dân trong 4000 năm lịch sử đất nước Với NKD, một lần nữa nhân dân được nhắc lại trong hình ảnh “con gái, con trai” của “4000 lớp người giống ta lứa tuổi”; những người trẻ mang trong mình nhiệt huyết tuổi trẻ và tình yêu tổ quốc Thế nhưng cuộc đời họ lại được cảm nhận ở hai phương diện: cuộc sống bình dị và phẩm chất cao cả: “Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm.”
Với những người anh hùng, cuộc đời họ không phải là sự tái hiện của những chiến công, những trang vàng chói lọi ghi danh trong lịch sử Mà với họ, cuộc đời chỉ gói trọn trong hai từ “sống” và “chết” Với NKD, họ sinh ra không phải để ghi dấu tên tuổi, lưu danh ngàn đời mà giản đơn những cuộc đời ấy chỉ là hai nửa của sự sống và cái chết: bình dị, chân chất, lặng lẽ trong cuộc sống đời thường “làm lụng” và “chiến đấu” Thế nhưng, nhà thơ lại đưa ra một sự khái quát đầy chân thực và cao cả của họ: “giản dị” và “bình tâm” Hai câu thơ viết theo lối đăng đối với sự liên kết chặt chẽ về ý: sống- giản dị, chết- bình tâm Cuộc sống của họ đã được chi tiết hóa ở những dòng thơ trên và có lẽ đến đây, hai dòng thơ là sự kết luận và tổng kết lại một cách khái quát mà đầy đủ nhất cho phẩm chất và nét đẹp của những anh hùng nhân dân Khác với cái lặng lẽ của đời thường, những người con trai, con gái ấy lại đón nhận cái chết bằng tâm thế bình thản Họ tựa như những người tráng sĩ trong “Chinh phụ ngâm” coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng” hay những anh vệ quốc quân “ ra đi, ra đi thà chết không lui” Tất cả họ, những con người nhân dân ấy đều chung một tinh thần “cảm tử cho tổ quốc quyết sinh”, một tấm lòng tự nguyện hiến dâng cho Tổ quốc Họ bình thản ngay trong cả sự hi sinh vì họ hiểu cái giá của sự mất mát ấy là độc lập, tự
do cho dân tộc, cho Tổ quốc Ý thơ ngợi ca nhưng vẫn thật dung dị NKD đã làm một phép tương phản giữa sống
và chết, giữa giản dị và bình tâm để khắc đậm sự cao cả trong tầm vóc và phẩm chất của nhân dân Tác giả khép lại những câu thơ đầy ý nghĩa bằng lời luận giải:
“ Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước.”
Không một lời nhắn gửi, không một dòng địa chỉ, họ là những người anh hùng vô danh, không tên, không tuổi Họ sống lặng thầm mà lớn lao, hi sinh lặng lẽ nhưng lại bất tử Trong lòng dân tộc, họ trở thành những người anh hùng mà với NKD đó là bức tượng đài về người anh hùng nhân dân NKD không phải là người đầu tiên nói đến những người anh hùng vô danh ấy nhưng chỉ có trong “Đất Nước” cách nói ấy mới đủ trở thành quan niệm mang tính tư tưởng Trong “Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc”, Nguyễn Đình Chiểu cũng đã từng dành những lời thương tiếc, kính trọng dành cho những người anh hùng nghĩa sĩ nhân dân Cần Giuộc- những người “dẫu thất thế mà vẫn hiên ngang” Đến NKD tập thể những người anh hùng vô danh không chỉ đơn thuần là mang danh mà họ được gọi bằng cái tên chung nhất- nhân dân Những con người không chỉ hi sinh máu xương mà còn “ làm ra” đất nước, tạc lên hình sông thế núi bằng nhữn phẩm chất tốt đẹp được lưu giữu ngàn đời Bởi vậy câu thơ như một lời tổng kết đầy logic trong mạch cảm xúc bài thơ- nhân dân là người làm ra đất nước hay đất nước này là đất nước của nhân dân