1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp quốc hội việt nam hiện nay

83 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Trong Các Kỳ Họp Quốc Hội Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Hà Ngọc Hòa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Phong
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 778,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QH với vị trí và vai trò đặc biệt, thực hiện 3 chức năng chủ yếu, đó là: Lập pháp; Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; Giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HÀ NGỌC HÒA

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN

VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN TRONG CÁC KỲ HỌP

QUỐC HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

(Qua khảo sát Quốc hội khóa XII)

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUỐC HỘI VIỆT NAM 10

1.1 Vị trí pháp lí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, hình thức và phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam 10 1.2 Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kì họp của Quốc hội 25

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN TRONG CÁC KỲ HỌP CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII 31

2.1 Khái quát về QH khóa XII 31 2.2 Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp của QH khóa XII 34 2.3 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp của QH khóa XII 54

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN 58

3.1 Nghiên cứu và bổ sung các quy định pháp lý cho hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn 58 3.2 Nâng cao năng lực của các chủ thể tham gia trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn 66 3.3 Tăng cường cung cấp thông tin và đảm bảo các điều kiện vật chất, môi trường cho các ĐBQH 73

KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ĐBQH : Đại biểu Quốc hội

QH : Quốc hội

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức- điều này đã được ghi

nhận trong các bản Hiến pháp nước ta Trên thực tế nội dung này được biểu hiện cụ thể thông qua vị trí và vai trò của Quốc hội (QH) QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà nước ta hiện nay QH với vị trí và vai trò đặc biệt, thực hiện 3 chức năng chủ yếu, đó là: Lập pháp; Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; Giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Trong quá trình thực hiện các chức năng ấy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của QH để QH thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân có một ý nghĩa vô cùng to lớn Một trong các hoạt động thường xuyên diễn ra trong các kỳ họp QH luôn được xã hội và nhân dân quan tâm, đó là hoạt động chất vấn của các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đối với người đứng đầu các cơ quan Nhà nước và trả lời chất vấn của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước Hoạt động này như một đòi hỏi tất yếu trước yêu cầu phải không ngừng nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

QH khóa XII (2007- 2011) diễn ra trong bối cảnh xã hội phức tạp Tình hình quốc tế có nhiều biến động, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ Hoa kỳ và dần dần lan sang, ảnh hưởng đến hầu hết các nước và khu vực trên thế giới Đối với Việt Nam cuộc khủng hoảng đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế, một bộ phận lớn người lao động trong xã hội bị mất việc làm, nhiều vấn nạn xã hội nổi lên, đời sống nhân dân trở nên khó khăn hơn… mặt

Trang 5

khác, khủng hoảng cũng làm cho cơ chế quản lý, điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh tế bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém Trước tình hình ấy, đòi hỏi QH phải không ngừng cải tiến, nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm khắc phục những hạn chế trong cơ chế, chính sách, tạo động lực cho quá trình phát triển kinh tế- xã hội đất nước Để có thể thực hiện được điều này, đòi hỏi QH phải không ngừng tăng cường công tác giám sát Đây thực sự là chức năng rất quan trọng của QH Trong chức năng ấy thì hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của QH đóng vai trò rất to lớn trong toàn bộ chức năng giám sát của mình

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn như cầu nối giữa cử tri, nhân dân với Nhà nước, với những vị quản lí, lãnh đạo trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Thông qua hoạt động này, giúp những đạo luật mà QH soạn thảo, ban hành và thông qua sẽ phù hợp với đời sống xã hội Mặt khác, qua hoạt động này các ĐBQH cũng thể hiện mình là những người đại diện cho ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, giúp cho việc giải thích, giải tỏa những bức xúc của cử tri cả nước

Thực tế hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong những năm qua ngoài những mặt tích cực kết quả đạt được vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định Những hạn chế ấy đã và đang làm cho hiệu quả hoạt động giám sát của

QH chưa tương xứng với vị thế là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Những qui định liên quan đến chất vấn còn thiếu và một số qui định còn chưa hợp lý Các chủ thể tham gia vào quá trình chất vấn có sự chênh lệch về trình

độ và còn thiếu những kỹ năng cần thiết như thuyết trình, thuyết phục, phân tích, tổng hợp vấn đề, lựa chọn vấn đề chất vấn, tiếp thu, tổng hợp và lựa chọn

ý kiến từ cử tri Bên cạnh đó, điều kiện vật chất, thông tin vẫn còn hạn chế làm cho chất lượng các phiên chất vấn chưa đạt được hiệu quả tối ưu

Trang 6

Với những lý do trên, tôi chọn “Nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp Quốc hội Việt Nam hiện nay

- qua khảo sát Quốc hội khoá XII” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chính trị học

2 Tình hình nghiên cứu

Chất vấn và trả lời chất vấn của QH là một trong những hoạt động quan trọng góp phần vào việc khẳng định quyền lực của nhân dân, chính vì thế hoạt động này được nhiều nhà nghiên cứu: Chính trị học, Luật học, Xã hội học… quan tâm Trong đó, có thể kể đến một số công trình sau:

- Cuốn sách “Về quyền giám sát tối cao của QH” của Phạm Ngọc Kỳ

do Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 1996 Tác giả trình bày cơ sở lý luận, thực trạng hoạt động giám sát của QH nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN VN) và phương pháp tăng cường hiệu quả giám sát của QH Nội dung cơ bản của luật về hoạt động giám sát của QH

- Luận án Tiến sĩ : “Cơ sở lý luận của việc đổi mới cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của quốc hội ở Việt Nam hiện nay” của Lê Thanh Vân, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2003 Tác giả trình bày

lý luận cơ bản về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của QH Sự hình thành, phát triển, thực trạng cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, giải pháp đổi mới cơ cấu và hoạt động của QH Việt Nam

- Cuốn sách “Quốc hội Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, năm 2005 Trần Ngọc Đường (chủ biên) Nguyên Thành, Nguyễn Quang Minh… Trình bày lí luận chung về QH và lịch sử

QH, bàn về ĐBQH và tổ chức bộ máy QH, những nội dung cơ bản của hoạt động QH

- Công trình “Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội”, Nxb

Tư Pháp, Hà Nội, 2006 Của Văn phòng QH Tổng quan về khái niệm giám

Trang 7

sát của QH; Những hoạt động giám sát của QH Việt Nam theo quy định của pháp luật Cuốn sách còn giới thiệu các công cụ giám sát, kĩ năng thực hiện quyền giám sát của ĐBQH

- Luận án tiến sĩ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của QH Việt Nam” của tác giả Trần Tuyết

Mai, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009 Tác giả trình bày Cơ sở lý luận về

hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của QH Quy định pháp luật về hoạt động giám sát và thực trạng hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH Việt Nam hiện nay Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH Việt Nam

- Cuốn sách: “Tiếp tục đổi mới hoạt động của Quốc hội từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội khóa XII” do Tiến sĩ Đinh Xuân Thảo (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011 Cuốn sách đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức cũng như hoạt động của Quốc Hội mà cụ thể là về tổ chức và hoạt động của Quốc Hội Việt Nam khóa XII (sau gần 25 năm đổi mới), trên cơ sở đó rút ra những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa này Từ đó cuốn sách đề xuất những phương hướng, giải pháp góp phần nghiên cứu và đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội trong các nhiệm kỳ tới

Như vậy, có thể thấy nhiều công trình nghiên cứu về QH nói chung và chức năng giám sát của QH nói riêng song chưa có một đề tài, công trình khoa học nào độc lập nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp QH Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích

Từ việc nghiên cứu một số lý luận chung về hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn của QH và qua khảo sát thực tế hoạt động chất vấn tại các phiên họp

Trang 8

chất vấn của QH khóa XII, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chất vấn tại các kỳ họp của QHVN hiện nay

Nhiệm vụ

- Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của QH Việt Nam trong thực hiện quyền lập pháp, quyết định các vấn đề cơ bản của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

- Phân tích làm rõ khái khái niệm, bản chất, mục đích, thủ tục và hiệu quả pháp lý của hoạt động chất vấn

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, cũng như những vấn đề đặt ra trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của QH khoá XII

- Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả chất vấn và trả lời chất vấn của QH

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, tóm tắt luận văn gồm ba chương, tám tiết

Trang 10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUỐC HỘI VÀ

HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA QUỐC HỘI

1.1 Vị trí pháp lí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, hình thức và phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam

1.1.1 Vị trí pháp lý của Quốc hội Việt Nam

“Vị trí pháp lý” là thuật ngữ chuyên ngành của khoa học pháp lí Có nguồn gốc từ chữ Latinh “Legal status” dùng để khái quát hóa vị trí, mô hình của một cơ quan nhà nước nào đó trong hệ thống các cơ quan nhà nước thông qua các qui định pháp luật

Vị trí pháp lý của QH được tạo nên bởi sự khái quát về vị trí và mô hình của QH trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước thông qua các qui định của Hiến pháp và pháp luật Nói cách khác, thông qua các qui định Hiến pháp, pháp luật, chúng ta có thể xác định được vị trí của QH là ở chỗ nào, mô hình nó ra sao trong hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước

Ở nước ta, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai

sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa- nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, chúng ta đã tiến hành công tác chuẩn bị cho một cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu QH Như vậy, nhà nước ta ngay khi mới ra đời đã rất chú trọng đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta đã thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua bầu cử, thành lập ra cơ quan đại diện quyền lực, tiền thân của QH Việt Nam hiện nay Chỉ mấy ngày sau khi nước nhà tuyên bố độc lập, 8-9-1945 Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 14/SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu QH

và những sắc lệnh khác để xúc tiến việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử và

dự thảo Hiến pháp

Trang 11

Ngày 6-1-1946 cuộc Tổng tuyển cử lần đầu tiên trong cả nước được tiến hành Tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam

nữ, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo đã tự do lựa chọn người đại diện cho mình

để bầu vào QH Ngày 9-11-1946 QH đã biểu quyết thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là những sự kiện quan trọng của QH nước ta

Đến nay, vai trò, vị trí của QH vẫn không ngừng được xác lập và củng

cố Trong bộ máy nhà nước Việt Nam vị trí quan trọng đó được xác định trên

cơ sở quy định của Hiến pháp Với vị trí là cơ quan quyền lực cao nhất trong

hệ thống các cơ quan của Nhà nước ở nước ta, QH được Hiến pháp giành vị trí trang trọng nhất, cơ quan đầu tiên trong toàn bộ hệ thống các cơ quan nhà nước: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan

quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN” [28, tr.225- 226] QH

có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân QH thông qua Hiến pháp, các đạo luật QH quyết định những chính sách

cơ bản về đối nội, đối ngoại, mục tiêu phát triển kinh tế,văn hóa xã hội, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước QH bầu miễn nhiệm, bãi nhiệm những viên chức cao cấp nhất của bộ máy Nhà nước, giám sát tối cao hoạt động của các cơ quan nhà nước; QH biểu hiện tập trung ý chí và quyền lực của nhân dân

QH là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất được nhân dân trực tiếp bầu ra Ở chế độ Xã hội chủ nghĩa quyền lực tập trung vào đông đảo nhân dân Trong hệ thống các cơ quan nhà nước, chính việc QH do

cử tri toàn quốc bầu ra từ những đại diện của mọi thành phần trong xã hội, từ mọi địa phương trên cả nước đã tạo ra cho QH ưu thế đặc biệt, hơn hẳn các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước

Trang 12

Như vậy, QH chiếm vị trí cao nhất trong toàn bộ bộ máy nhà nước CHXHCNVN, không một cơ quan nhà nước nào trong bộ máy các cơ quan nhà nước của ta có được một vị trí tương tự

1.1.2 Chức năng của QHVN

Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN, cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín,

QH nước ta có ba chức năng chính: Chức năng lập pháp; Chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

- Chức năng lập Hiến và lập pháp

Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và nhân dân thể hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện là QH và Hội đồng nhân dân các cấp

Nhìn lại lịch sử, nước ta cách đây 67 năm, trong không khí vô cùng phấn khởi sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù chúng

ta đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, những thành quả của cách mạng

có thể bị đánh mất bất cứ lúc nào nhưng dưới sự lãnh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng sự đoàn kết thống nhất ý chí của nhân dân cả nước, chúng ta đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ĐBQH khoá I (06/01/1946) Sau khi được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc làm cần thiết nhất của QH là phải xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 9/11/1946 QH khóa I đã thông qua Hiến Pháp đầu tiên của nước ta với 240/242 phiếu thuận Và trong bản Hiến pháp đầu tiên ấy, QH đã được Hiến pháp quy định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có quyền Lập hiến, sau này qua các Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992, quyền đó vẫn được giữ nguyên Như vậy,

Trang 13

QH là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến QH xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp Việc soạn thảo, thông qua, công bố, sửa đổi và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do QH quy định Căn cứ vào Hiến pháp, QH ban hành luật, nghị quyết Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của QH, Uỷ ban thường vụ QH ban hành pháp lệnh, nghị quyết

Quyền lập hiến và lập pháp của QH xuất phát từ vị trí và tính chất của

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Chỉ có QH mới có quyền định ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội Các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước khác ban hành phải cụ thể hóa Hiến pháp và luật, không được trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và luật Hiến pháp và luật là hai loại pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định các hoạt động quan trọng của xã hội Chỉ có QH với tư cách là

cơ quan quyền lực nhà nước tối cao mới có quyền thông qua những loại văn bản này Ngược lại cũng chính việc QH, cơ quan duy nhất được quyền thông qua các loại văn bản này mới chứng tỏ là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao

Là cơ quan duy nhất được trao quyền Lập hiến và sửa đổi Hiến pháp nhưng đây không phải là nhiệm vụ thường xuyên của QH Một chức năng quan trọng khác và diễn ra thường xuyên tại các kỳ họp QH, đó là chức năng lập pháp hay chính là việc xây dựng và ban hành các đạo luật Các đạo luật là

cơ sở, căn cứ để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội Các đạo luật này không được trái với tinh thần của Hiến pháp Đây là một chức năng quan trọng, bởi vì xã hội luôn vận động và phát triển không ngừng Do vậy, những quy định của pháp luật do QH ban hành cũng phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm xã hội Nên QH phải không ngừng nghiên cứu và xem xét để sửa đổi, bổ sung và xây mới các bộ luật

Quy trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật của QH bao gồm các giai đoạn :

Trang 14

+ Xây dựng và thông qua chương trình xây dựng văn bản pháp luật + Soạn thảo

+ Thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban

+ Xem xét tại Uỷ ban thường vụ QH

+ Thảo luận tại các kỳ họp của QH

+ Thông qua tại QH

- Chức năng giám sát

QH nước ta có hoạt động hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào chức năng giám sát của mình Chức năng giám sát của QH là một bộ phận của quyền lực nhà nước, là những hoạt động nhằm theo dõi, xem xét, kiểm tra đối với các hoạt động của các chủ thể nhà nước thuộc đối tượng giám sát của QH Chức năng này nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung của Nhà nước

Đề cập đến chức năng giám sát, các bản Hiến pháp của nước ta trước đây và hiện nay Hiến pháp năm 1992 đều quy định chức năng này là giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước từ Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp ở trung ương đến các cơ quan nhà nước ở địa phương, thậm chí cho đến tận các hành vi của mọi công dân Mục tiêu của công tác giám sát của QH là đảm bảo “Hiến pháp, luật, nghị quyết của QH, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [23, tr.7]

QH thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước nhằm đảm bảo cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất, bộ máy nhà nước hoạt động đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả, đạt tới sự nhất quán của hệ thống pháp luật và tuân thủ hệ thống cấp bậc của luật pháp Thông qua việc thực hiện chức năng này cho phép QH thể hiện mình là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Theo quy định tại Ðiều 84 Hiến pháp 1992, QH thực hiện quyền giám sát tối cao việc

Trang 15

tuân thủ theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của QH: xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ QH, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Chức năng giám sát của QH được thực hiện thông qua các hoạt động giám sát của các cơ quan của QH như Uỷ ban thường vụ QH, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của QH và ĐBQH

QH thực hiện chức năng giám sát bằng các hình thức sau: Nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước tại các kỳ họp; Các đại biểu có thể thực hiện quyền chất vấn của mình tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp; Các ĐBQH thực hiện chức năng giám sát bằng các đoàn kiểm tra, thường là các đoàn kiểm tra của các Ủy ban và Hội đồng dân tộc của QH

Hiện nay, nước ta đang trong qúa trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Để hoàn thành thắng lợi mục tiêu này, vai trò giám sát của QH phải không ngừng được nâng cao Thông qua giám sát hiệu quả, QH sẽ kiểm soát được quá trình thực thi pháp luật của các cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị, đảm bảo việc thi hành nghiêm minh các điều luật do QH ban hành trên thực tế

- Chức năng quyết định các vấn đề quan trọng

Đây là chức năng rất quan trọng của QH nước ta Theo Hiến pháp 1992 quy định (tại Điều 2): “Mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” [28, tr.199] Do vậy, có thể khẳng định chủ quyền quốc gia là thuộc về nhân dân, những quyết định ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân thì phải do nhân dân quyết định (thông qua các cơ quan đại diện của nhân dân- QH và Hội đồng nhân dân các cấp) Hằng năm, QH nước ta đều phải xem xét và thông qua những nhiệm vụ, những chính sách quan trọng liên quan đến vận mệnh, sự phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực… Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại diện và thay mặt cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, QH quyết định những vấn đề quan trọng sau: chính sách cơ bản về đối

Trang 16

nội và đối ngoại; Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; Quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước; Phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách Nhà nước; Quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế…

QH quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

QH quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia

QH quyết định đại xá, quyết định trưng cầu ý dân

Trong lĩnh vực đối ngoại, QH quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; Phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước

Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển không ngừng của QH nước

ta, trải qua gần 70 năm hoạt động với biết bao thăng trầm, biến thiên của thực tại xã hội Cùng với quá trình đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, QH đã thực hiện tốt những nhiệm vụ được Hiến pháp và pháp luật quy định trong mỗi thời kỳ, trong đó đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần đem lại những thành tựu to lớn của cả nước trong những năm qua Những năm gần đây, QH đã và đang tiếp tục đổi mới, không ngừng nâng cao chất lượng các quyết định phù hợp ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng, tạo thành sức mạnh chung của cả nước và là cơ sở để thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng

1.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của QH Việt Nam

Nhiệm vụ và quyền hạn của QH đóng một vai trò rất quan trọng, xuất phát từ vị trí là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Do vậy, nhiệm vụ và

Trang 17

quyền hạn của QH được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất của Nhà nước, đó là Hiến pháp

Nhiệm vụ, quyền hạn của QH được Hiến pháp mới sửa đổi và bổ sung năm 2001 qui định tại Điều 84 gồm 14 điểm [28, tr.226]:

- Làm HP và sửa đổi HP; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương

trình xây dựng luật, pháp lệnh;

- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc việc tuân thủ HP, luật, nghị quyết của QH, xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ QH, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của đất nước;

- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước; chính sách tôn giáo của nhà nước;

- Qui định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chủ tịch QH, các Phó chủ tịch QH, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về thành lập Hội đồng quốc phòng và

an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách

Trang 18

thành viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn;

- Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt;

- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ QH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của QH;

- Quyết định đại xá;

- Qui định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân; hàm cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; qui định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

- Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; qui định về tình trạng khẩn cấp; các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;

- Quyết định việc trưng cầu ý dân;

Qua những qui định trên, có thể nhận thấy vị trí và vai trò của QH là rất lớn, có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng nhất của quốc gia mà không

có cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền cao hơn QH là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập pháp, ban hành các qui phạm pháp luật chuẩn mực cho mọi hoạt động của xã hội Từ cơ quan cao nhất ở trung ương đến các công

Trang 19

dân bình thường nhất của đất nước đều phải chấp hành các qui định khi QH thông qua

Như chúng ta biết, Hiến pháp là đạo luật cao nhất và cơ bản nhất đối với mỗi một quốc gia Nó có hiệu lực pháp lí tối cao qui định việc tổ chức quyền lực Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ xã hội, các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước… Và chỉ có QH là cơ quan duy nhất

có quyền thông qua Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp

Sau Hiến pháp là các đạo luật để điều chỉnh các qui phạm xã hội nhằm

cụ thể hóa các chế định trong Hiến pháp Những đạo luật này không thể thuộc thẩm quyền của một cơ quan nào khác ngoài QH, chỉ có QH mới có quyền thông qua

QH còn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn khác rất quan trọng, đó là quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại của nhà nước bằng việc thông qua các đạo luật QH quyết định những nguyên tắc, tổ chức

và cách thức hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua các đạo luật được QH phê chuẩn về qui định nhiệm vụ, quyền hạn, cách thức thành lập và kể cả qui định về trình tự hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước Về đối ngoại, QH quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, phê chuẩn và bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước

Với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, QH thể hiện ý chí

và nguyện vọng của nhân dân Do vậy, những vấn đề quan trọng thuộc về sinh mệnh của đất nước thì QH phải thay mặt nhân dân để quyết định Đó là vấn đề liên quan đến chiến tranh, hòa bình, quốc phòng và an ninh quốc gia… Ngoài ra, QH còn quyết định con đường phát triển của đất nước, thông qua việc quyết định kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, dự toán ngân sách tài chính, tiền tệ quốc gia

Trang 20

QH với vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất còn được thể hiện ở việc QH thực hiện quyền giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân có liên quan Quyền giám sát này được Hiến pháp quy định trong Điều 83, gọi là quyền giám sát tối cao QH có quyền giám sát đối với hoạt động của nguyên thủ quốc gia- Chủ tịch nước CHXHCNVN, hoạt động của các cơ quan tư pháp và cả các hoạt động của mọi công dân

Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật là việc rất quan trọng, giúp tạo nên sự ổn định, an toàn và kỷ cương cho xã hội QH tập trung giám sát hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và các Nghị quyết của QH đới với các cơ quan Nhà nước trung ương: Chủ tịch nước, ủy ban Thường vụ QH, Chính phủ, Chánh án Toàn án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

1.1.4 Hình thức và phương thức hoạt động của QH Việt Nam

- Hình thức hoạt động:

Hình thức hoạt động là những biểu hiện bên ngoài các phương diện thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một cơ quan nhất định Tùy thuộc vào nguồn gốc hình thành mà các cơ quan nhà nước có cơ cấu, tổ chức khác nhau

Hiện nay, trên thế giới hình thức tổ chức Nghị viện rất đa dạng và phong phú Nó tùy thuộc vào thể chế chính trị tại các quốc gia do điều kiện về hoàn cảnh đất nước có sự khác nhau mà dẫn đến có sự lựa chọn khác nhau đó

QH nước ta được tổ chức theo cơ cấu một viện, bởi vì nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân Việc QH tổ chức theo cơ cấu một viện giúp đảm bảo QH là nơi tập trung, thống nhất ý chí, không chia cắt và là nơi thể hiện nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân

Trang 21

Khác với nhiều nước trên thế giới, QH nước ta được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Với cách tổ chức như vậy, QH Việt Nam thể hiện mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân QH là nơi thể hiện

ý chí tập trung, đoàn kết thống nhất mọi dân tộc, tôn giáo và mọi thành phần giai cấp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Về cơ cấu trong thành phần các ĐBQH, bao gồm đại diện của các giai cấp, các dân tộc thiểu số, đại diện của các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương)…

Chính tính chất đại diện cho cơ cấu xã hội đa dạng là cơ sở để thể hiện

QH là cơ quan đại diện cho ý chí của nhân dân, như vậy QH trở thành cơ

quan cao nhất, đứng đầu bộ máy nhà nước Việt Nam

- Phương thức hoạt động:

Phương thức hoạt động có thể hiểu là hệ thống các hình thức, biện pháp mà chủ thể và các bộ phận cấu thành chủ thể đó sử dụng để tác động vào quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình nhằm đạt được mục tiêu, nội dung đã đề ra

Cũng như các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật Quốc hội phải có các phương thức hoạt động cho phù hợp với vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình Phương thức hoạt động của QH bao hàm các nguyên tắc, yêu cầu, đồng thời có những hình thức, biện pháp thể hiện cụ thể, phù hợp với từng lĩnh vực, bộ phận trong toàn bộ cơ cấu tổ chức của QH Phương thức hoạt động của QH được thể hiện qua việc thực hiện các chức năng chủ yếu là lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Các hình thức, biện pháp mà QH sử dụng để thực hiện phương thức hoạt động của mình bao gồm: Kỳ họp, phiên họp của QH; Hoạt động của Ban lãnh đạo

QH, các cơ quan khác của QH, các nhóm (đoàn) đại biểu QH, …

Trang 22

QH là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phương thức hoạt động của QH có những đặc trưng gắn với chủ thể là nhân dân QH hoạt động theo một qui định, thủ tục pháp lí khi tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình Hay nói cách khác, đó là cách thức sắp xếp, tổ chức các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH làm cơ sở cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động của QH Theo các hình thức hoạt động, qui trình, thủ tục hoạt động của

QH gồm có: Kì họp của QH; Các phiên họp tổ và Đoàn đại biểu QH; Hoạt động của từng đại biểu QH;

QH là cơ quan hoạt động tập thể bao gồm các đại biểu QH là người đại diện cho nhân dân, do nhân dân thực hiện quyền bầu cử ra Các vị ĐBQH có quyền hạn và trách nhiệm như nhau Cũng giống như Nghị viện của các nước trên thế giới, hoạt động theo chế độ hội nghị, thảo luận tập thể và quyết định theo đa số, QH Việt Nam cũng vậy, hình thức hoạt động quan trọng nhất là các kỳ họp, phiên họp Ngoài ra, phương thức hoạt động của QH còn được thể hiện qua hình thức hoạt động của các cơ quan khác, như thông qua hoạt động của Ban lãnh đạo QH, các Ủy ban của QH, các nhóm (đoàn) đại biểu

QH, các đại biểu QH và kể cả hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc cho QH Mọi quyết định của QH phải được đa số các đại biểu biểu quyết thông qua thì mới có hiệu lực pháp lí

Các kì họp của QH (hội nghị toàn thể, hội nghị thường kỳ) được tổ chức theo qui định của Hiến pháp mỗi năm hai lần Những kì họp thường kỳ thường được tổ chức vào giữa năm (tháng 6 hoặc tháng 7) và vào cuối năm (tháng 11 hoặc tháng 12) và được diễn ra theo kế hoạch đã định sẵn của QH hoặc của Ủy ban Thường vụ QH So với các hình thức tổ chức hoạt động khác của QH, kì họp có ưu thế là sẽ thông qua được quyết định chính thức của

Trang 23

mình - các văn bản luật kể cả Hiến pháp và các Nghị quyết khác Nhiều vấn

đề mâu thuẫn phát sinh giữa các cơ quan trung ương không thể giải quyết được ngoài kì họp của QH Vì vậy, kì họp là một hình thức hoạt động cơ bản

và rất quan trọng của QH Thông qua các kì họp quyền lực của QH mới được thể hiện một cách rõ nét, đầy đủ nhất Để đảm bảo cho kì họp có hiệu quả thực sự thì mọi hoạt động của kì họp phải được tiến hành theo một trình tự bắt buộc nhất định Được qui định tại một số điểm chính của Hiến pháp và Luật

tổ chức của QH Những qui định này được chi tiết hóa ở Nội qui kì họp của

QH Theo Điều 53 Luật Tổ chức QH, kì họp QH do Ủy ban Thường vụ QH triệu tập Kì họp thường lệ phải được triệu tập chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc Kì họp bất thường phải được triệu tập chậm nhất là 7 ngày

Ngoài kì họp thường kỳ tổ chức hai lần trong năm ra thì QH có thể tổ chức các kì họp bất thường nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách, mới phát sinh Theo qui định của Luật tổ chức QH, các kì họp bất thường của QH được

tổ chức theo đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ QH hoặc của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu QH yêu cầu (Điều 53)

Nội dung, chương trình mỗi kì họp do QH quyết định Các đại biểu QH gửi trước các dự án, chương trình kì họp Các ĐBQH có quyền quyết định sửa đổi, bổ sung chương trình kì họp đã được thông qua (nhưng phải được quá nửa tổng số ĐBQH biểu quyết tán thành) Kì họp được mở đầu bằng phiên khai mạc, là phiên mà nội dung chương trình sẽ được thông qua Và kết thúc

kì họp bằng một phiên bế mạc, thường là phiên họp thông qua các quyết định của kì họp Các phiên họp toàn thể của QH phải do Chủ tịch QH điều khiển Trong trường hợp thật cần thiết, Phó Chủ tịch QH có thể giúp Chủ tịch QH điều khiển Trước đây, các kì họp QH thường diễn ra từ 5 đến 7 ngày, nhưng trong thời gian gần đây các kì họp QH diễn ra dài hơn, từ 20 đến 25 ngày

Trang 24

Theo thông lệ, mỗi kì họp QH thường được tiếp diễn bằng nhiều phiên họp toàn thể nối tiếp nhau để giải quyết một loạt các vấn đề Giữa các phiên họp toàn thể, còn có thể có các phiên họp của các đoàn, tổ đại biểu QH để giải quyết những vấn đề thuộc chương trình kì họp Ngoài ra còn có các phiên họp các Trưởng đoàn đại biểu QH để bàn bạc, thống nhất trước những vấn đề quan trọng có nhiều ý kiến khác nhau thuộc nội dung chương trình kì họp Mặc dù được tổ chức ngay trong thời gian tiến trình của kì họp, nhưng những phiên họp kể trên vẫn là hình thức hoạt động thứ yếu

Trình tự tiến hành kì họp được quy định trong Nội qui kì họp QH Các

dự án kế hoạch nhà nước, dự toán ngân sách nhà nước, dự án luật, các báo cáo

và các dự án phải được gửi về Văn phòng QH để Văn phòng gửi trước cho các đại biểu QH Nếu những vấn đề cần có sự thẩm tra của các Ủy ban thì tài liệu phải được gửi đến cho các Ủy ban nghiên cứu Các dự án luật, dự án phát triển kinh tế- xã hội, dự toán ngân sách nhà nước thường được QH thảo luận

và biểu quyết theo trình tự được Nội qui kì họp qui định

Kì họp QH thường có hai chức năng chính: nghi lễ và tranh luận Kỳ họp nghi lễ nhằm động viên, khích lệ, hun đúc tinh thần dân tộc Kỳ họp tranh luận để giải quyết những vấn đề còn tranh cãi tìm những giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt Trừ những phiên họp đặc biệt có liên quan đến bí mật quốc gia, còn lại tất cả các phiên họp của QH đều được tiến hành công khai Nội dung chương trình, quyết định của các kì họp, phiên họp đều được công

bố trên các phương tiện truyền thông

Các hình thức hoạt động khác như các Ủy ban, Ủy ban Thường vụ QH, Hội đồng Dân tộc, các đoàn, tổ đại biểu chỉ là hoạt động trợ giúp cho QH để trên kì họp QH sẽ thực hiện được chính xác nhiệm vụ, quyền hạn của QH

Như vậy, thông qua hình thức hoạt động của QH nước ta, có thể khái quát một số đặc điểm về phương thức hoạt động của QH như sau:

Trang 25

+ Phương thức hoạt động của QH nước ta dựa trên nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

+ Phương thức hoạt động của QH dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ một cách xuyên suốt

1.2 Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kì họp của Quốc hội

1.2.1 Khái niệm chất vấn, trả lời chất vấn

- Khái niệm chất vấn

Theo định nghĩa của từ điển Webster’s 1993 Dictionary, chất vấn là hành

động yêu cầu quan chức giải thích hoạt động, hành động của mình; là những câu hỏi buộc phải trả lời; là vấn đề nổi lên trong khi tranh luận

Theo từ điển mạng WordNet Dictionary thì chất vấn là qui trình trong

Nghị viện nhiều nước, nhằm yêu cầu chính phủ giải thích một động thái hoặc chính sách của mình Đó là yêu cầu bằng văn bản của cả viện hoặc một nhóm

nghị sỹ đối với Chính phủ hoặc Bộ trưởng giải trình về một vấn đề chính trị lớn, hoặc đường lối chính trị chung của Chính phủ

Theo Đại từ điển tiếng Việt, chất vấn là “hỏi và đề nghị giải thích rõ về điều gì, việc gì”[8, Tr.14]

Để làm rõ hơn về chất vấn chúng ta cần nhận thức rõ bản chất và tính chất của hoạt động này Chất vấn trước hết là câu hỏi được phát ra từ người có quyền theo dõi, giám sát đến chủ thể khác có trách nhiệm phải giải trình về vấn đề thuộc quyền hạn của mình Chất vấn của ĐBQH cũng có nội dung tương tự, nhưng ở hình thức rộng hơn, nó không đơn thuần là một chất vấn bình thường, mà được phát ra từ người đại diện của nhân dân, được nhân dân ủy thác, chất vấn những người có chức trách trong việc giải quyết công việc thuộc thẩm quyền phải giải quyết của họ Vì vậy, chất vấn không đơn

Trang 26

thuần là hỏi để biết, để lấy thông tin, mà để quy kết trách nhiệm cho người được chất vấn…

Vấn đề đặt ra là tại sao chất vấn được coi là một phương thức của giám sát của QH? Bởi vì khi các ĐBQH hỏi những vị trưởng ngành nào đó theo qui định của pháp luật về thủ tục chất vấn, thì một loạt vấn đề được làm rõ: Người được chất vấn có biết về việc đó không? Tại sao lại để nó xảy ra? Đã có hướng xử lý nào chưa? Cần phải rút kinh nghiệm như thế nào?

Như đã nói ở trên, một trong những chức năng quan trọng nhất của QH

là giám sát (xem xét báo cáo, chất vấn và đi giám sát thực tế), chức năng này thường xuyên được các ĐBQH thực hiện thông qua hoạt động chất vấn Có thể khẳng định, chất vấn và trả lời chất vấn là hình thức biểu hiện tập trung nhất hoạt động giám sát của QH Là công cụ hiệu quả nhất của giám sát QH ở nước ta Với các phiên chất vấn công khai, nó sẽ phát huy được công luận thông qua các phương tiện truyền thông, từ đó sẽ gây áp lực lớn đến sự chuyển biến của bộ máy hành pháp Bởi vì đối tượng chất vấn của đại biểu

QH là những người đứng đầu các cơ quan chịu sự giám sát của QH, đó là Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác trong Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trong Hiến pháp 1992 đã ghi nhận tại Điều 98, qui định đối tượng chất vấn, hình thức chất vấn, thời gian để chất vấn và trả lời chất vấn, cách thức trả lời chất vấn, địa điểm chất vấn và trả lời chất vấn như sau:

“Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 27

Người bị chất vấn phải trả lời chất vấn trước kì họp Quốc hội tại kì họp; Trong trường hợp cần điều tra, thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội hoặc trả lời bằng văn bản” [28, tr.234]

Còn trong Luật hoạt động giám sát của QH năm 2003 cũng quy định:

“Chất vấn là một hoạt động giám sát, trong đó ĐBQH nêu lên những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và yêu cầu những

người này trả lời” (Khoản 2, Điều 2) [23, tr.8]

Như vậy, theo tinh thần của Hiến pháp, ĐBQH có thể chất vấn bất cứ vấn đề gì thuộc thẩm quyền của QH, không phụ thuộc vào việc vấn đề đó có hay không nêu ra trong nội dung chương trình của kì họp

Ngoài việc qui định đại biểu có quyền chất vấn trong thời gian tiến hành kỳ họp, Hiến pháp và Luật Tổ chức QH còn cho phép đại biểu chất vấn ngoài kì họp Nếu như chất vấn trong thời gian tiến hành kì họp được chuyển đến Chủ tịch QH để ấn định thời gian trả lời trong kì họp, thì ngoài thời gian

kì họp chất vấn được gửi đến Ủy ban Thường vụ QH để Ủy ban Thường vụ

QH chuyển đến cho cơ quan hoặc người bị chất vấn Ủy ban Thường vụ QH

có trách nhiệm định thời gian để cơ quan nhà nước hoặc người bị chất vấn trả lời chất vấn của đại biểu Theo thông lệ, thời gian trả lời chất vấn trong kì họp thường được QH ấn định vào một phiên họp nhất định trong thời gian tiến hành kì họp

Nếu đại biểu không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch QH đưa vấn đề ra thảo luận trước QH hoặc trước Ủy ban Thường vụ

QH Trong những trường hợp này, QH hoặc Ủy ban Thường vụ QH có thể ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn

Trang 28

- Khái niệm trả lời chất vấn

Trả lời chất vấn là việc cá nhân, tổ chức bị chất vấn đưa ra những thông tin liên quan đến những vấn đề người chất vấn hỏi, phải giải trình, báo cáo những nội dung bị chất vấn một cách cụ thể…

Tại các phiên họp toàn thể của QH, người bị chất vấn phải trả lời một cách trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà ĐBQH đã chất vấn và xác định

rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục ĐBQH có thể nêu câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn để người bị chất vấn trả lời Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu ĐBQH không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của

QH hoặc kiến nghị QH xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn QH ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi

xét thấy cần thiết (Điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Điều 25

Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội)

Về thời gian hỏi và trả lời chất vấn: (Theo Điều 43 Nội quy kỳ họp Quốc

hội) “Người bị chất vấn trả lời trực tiếp từng vấn đề thuộc nội dung chất vấn,

mỗi vấn đề không quá mười lăm phút Thời gian nêu câu hỏi chất vấn không quá ba phút Các phiên họp chất vấn trong kỳ họp Quốc hội được truyền hình, phát thanh trực tiếp” [20, tr.41]

1.2.2 Vai trò của hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn

Một trong những chức năng quan trọng của QH là hoạt động giám sát Điều 83 Hiến pháp 1992 qui định Quyền của QH là quyền giám sát tối cao Trong chức năng giám sát này, hoạt động chất vấn các cơ quan và người đứng đầu các cơ quan nhà nước trung ương giữ một vai trò hết sức quan trọng Thể hiện được vị thế, vai trò của cơ quan nhà nước cao nhất Có thể nói, chất vấn

là một trong những hình thức giám sát hiệu quả của QH đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước Thông qua hoạt động chất vấn, ĐBQH thể

Trang 29

hiện trách nhiệm là người đại diện cho lợi ích, ý chí và nguyện vọng của nhân dân trước những bức xúc của cử tri, nhất là cuộc sống của cử tri nơi đại biểu ứng cử Đồng thời, có thể theo dõi, xem xét các hoạt động công quyền của các

cơ quan nhà nước có thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình không Nói cách khác, QH là cầu nối của nhân dân tới các cơ quan công quyền QH chuyển những bức xúc, băn khoăn, lo lắng, quan tâm của cử tri đến các cơ quan quyền lực nhà nước thông qua nghị trường ĐBQH thay mặt cử tri chất vấn, phê bình hoặc đánh giá hoạt động của Chính phủ và tác động đến những người điều hành trong Chính phủ Vai trò cầu nối của QH được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động chất vấn tại QH, nó có tác động tích cực đến lòng tin

và sự ủng hộ của người dân đối với Chính phủ Việc đưa tiếng nói của cử tri, nhân dân cả nước đến các cơ quan công quyền giúp các quyết sách sẽ được lòng dân hơn, người dân có thông tin nhiều hơn về quyết sách nên quyết sách

ấy sẽ dễ đi vào cuộc sống hơn

Việc chất vấn của ĐBQH là một hình thức giám sát rất hiệu quả đối với hoạt động của bộ máy nhà nước Bởi ĐBQH thay mặt cử tri của mình để phán ánh những bức xúc, những ý kiến, nguyện vọng… Những ý kiến chất vấn của ĐBQH được hình thành từ các nguồn thông tin nắm bắt được qua hoạt động tiếp xúc cử tri, giám sát giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân Đồng thời nội dung các ý kiến chất vấn được hình thành thông qua nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội và những vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân, vấn

đề thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan và cán bộ công chức nhà nước Trong sự phong phú, đa dạng của đời sống xã hội, các đại biểu nghiên cứu chọn lọc những vấn đề nổi cộm, bức xúc, được nhiều người quan tâm để hình thành ý kiến chất vấn của mình về các vấn đề bức xúc của xã hội nảy sinh

Thông qua những câu hỏi chất vấn của ĐBQH, các vị lãnh đạo, quản lí của các cơ quan trung ương thấy rõ được những bức xúc, những quan tâm của

Trang 30

cử tri cả nước, thấy được những hạn chế, những khuyết điểm cần khắc phục Mặt khác, hoạt động chất vấn tạo nên một luồng dư luận, công luận hình thành một sức ép áp đặt trách nhiệm lên những người trả lời chất vấn Những câu hỏi chất vấn liên quan đến những vấn đề nóng bỏng của nền kinh tế, chính trị xã hội của đất nước mà cử tri hết sức quan tâm Thông qua hoạt động chất vấn của QH, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề bức xúc mà thực tiễn đòi hỏi, những bất cập tồn tại trong một số qui định của pháp luật, những mặt được và chưa được trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức Đồng thời, qua đó giúp các cơ quan quản lý nhà nước có những điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành, khắc phục những hạn chế, bất cập, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Trong nhà nước dân chủ, ý chí của người dân chủ yếu được thể hiện thông qua cơ quan đại diện của mình là QH Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác chịu trách nhiệm trước QH và phải được QH tín nhiệm, hoạt động chất vấn của các ĐBQH để đảm bảo rằng các cơ quan trong hệ thống tổ chức nhà nước nói chung hành động vì lợi ích của nhân dân Mặt khác, đảm bảo hoạt động của các cơ quan nhà nước tuân thủ và hoạt động theo những nguyên tắc, những quy định pháp luật do QH đề ra

Như vậy, hoạt động chất vấn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các quyết định của QH được thực thi phù hợp với các mục tiêu đề ra, chống lại sự độc đoán, chuyên quyền và không công bằng trong quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các nguyên tắc pháp quyền và các quy trình, thủ tục đề ra được tuân thủ Hoạt động này còn chống lại sự lãng phí, sự gian dối và bảo đảm tính hiệu quả trong quá trình thực thi các chính sách, chương trình, dự án Hoạt động này góp phần xây dựng, bảo vệ, duy trì chế độ XNCN của dân, do dân, vì dân

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN TRONG CÁC KỲ HỌP CỦA QUỐC HỘI

KHÓA XII

2.1 Khái quát về QH khóa XII

Cuộc bầu cử QH khóa XII diễn ra ngày 20/ 5/ 2007 nhằm bầu ra những ĐBQH đại diện cho nhân dân cả nước, nắm giữ trọng trách quan trọng của quốc gia nhiệm lỳ 2007- 2011 Dưới đây là thống kê về cuộc bầu cử QH khóa XII của Uỷ ban bầu cử QH của các tỉnh trong cuộc bầu cử QH khóa XII:

- Tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu: 56.252.543;

- Tỷ lệ cử tri đã tham gia bỏ phiếu so với tổng số cử tri: 99,64%;

- Số phiếu hợp lệ và tỷ lệ % so với tổng số phiếu bầu: 55.802.444 (99,20%);

- Số phiếu không hợp lệ và tỷ lệ % so với tổng số phiếu bầu: 450.099 (0,80%);

- Có 493 người trúng cử ĐBQH;

- ĐBQH cao tuổi nhất: 80 tuổi; ĐBQH ít tuổi nhất: 24 tuổi;

- Có 473 đại biểu có trình độ từ đại học trở lên (chiếm 95,94%), trong

đó có 164 đại biểu có trình độ trên đại học (chiếm 33,27%) và 309 đại biểu có

trình độ đại học (62,68%);

Trang 32

- Đại biểu là phụ nữ: 127 người (25,76%);

- Đại biểu là người ngoài Đảng: 43 người (8,72%);

- Đại biểu là người dân tộc thiểu số: 87 người (chiếm 31,03%);

- Đại biểu dưới 29 tuổi: 10 người (chiếm 2,03%); Đại biểu từ 30- 49 tuổi:

195 người (chiếm 39,55 %); Đại biểu trên 50 tuổi: 288 (chiếm 58,42 %)

- Trong số đại biểu trúng cử có 345 người tham gia QH lần đầu Và chỉ

có một người tự ứng cử là bác sĩ Nguyễn Minh Hồng (Nguồn: Văn phòng Quốc hội)

Dự kiến QH khoá XII có 500 đại biểu Thực tế bầu được 493 đại biểu (thiếu 7 đại biểu) Theo đề nghị của Uỷ ban bầu cử các tỉnh, thành phố nói trên, ngày 23/5/2007, Hội đồng bầu cử đã họp xem xét, phân tích, cân nhắc nhiều mặt và quyết định không tổ chức bầu thêm ở các đơn vị còn thiếu đại biểu

Nhìn vào những con số thống kê trên về cuộc bầu cử QH khóa XII có thể thấy cơ cấu ĐBQH rất được chú trọng và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật bầu cử ĐBQH năm 1997 (sửa đổi bổ sung năm 2001) quy định các nguyên tắc làm căn cứ để phân bổ ĐBQH như sau:

“Tổng số đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không quá năm trăm người”

“Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương”

“Số đại biểu tiếp theo được tính theo số dân và đặc điểm của mỗi địa phương” (Trích: Điều 8 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (sử đổi, bổ sung năm 2001))

Tại điều 45 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007) có quy định: “Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu hoạt

Trang 33

động chuyên trách và có những đại biểu hoạt động không chuyên trách Số lượng đại biểu QH hoạt động chuyên trách có ít nhất là hai mươi lăm phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội” Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để cuộc bầu cử QH khóa XII thực hiện

QH khóa XII khai mạc ngày 19/7/2007, đồng thời đây cũng là kỳ họp thứ nhất của QH QH khóa XII diễn ra trong bối cảnh sau hơn mấy chục năm tiến hành đổi mới đất nước Sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đã đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài nhiều năm, tạo nền tảng đẩy mạnh một bước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Tình hình kinh tế, chính trị,

xã hội ổn định; Uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng lên, hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt chúng ta đã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là

Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Trong mấy chực năm đổi mới thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được củng cố và hoàn thiện; Các lĩnh vực văn hóa, xã hội đạt được nhiều thành tựu; Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước; Công tác xóa đói giảm nghèo có bước tiến vượt bậc, được thế giới ghi nhận, đánh giá cao; Nhà nước pháp quyền XHCN được phát triển theo hướng từng bước thực sự của dân, do dân và vì dân; Quốc phòng an ninh được củng cố, tăng cường; Trật tự, an toàn xã hội được giữ vững…

Bên cạnh những thuận lợi, nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, đó là trình độ phát triển kinh tế còn thấp; Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; Cơ sở vật chất, kỹ thuật còn yếu kém và tồn tại nhiều bất cập; Chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém,

cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; Cơ chế, chính sách về văn hóa- xã hội chậm

Trang 34

đổi mới; Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng; Thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh xảy ra nhiều nơi; Trình độ người lao động chưa cao; Nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu có chiều hướng gia tăng

Về tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ và suy giảm kinh tế thế giới đã tác động bất lợi đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta Hòa bình, hợp tác

và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột

vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố có nguy cơ gia tăng Nguy cơ gây mất ổn định liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên… vẫn còn tiềm

ẩn Biến đổi khí hậu, đói nghèo, thiên tai, dịch bệnh vẫn còn là vấn đề rất đáng quan tâm Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, vấn đề dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ của ta

Mặc dù QH khóa XII diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động phức tạp, song dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng

sự quyết tâm của cả Hệ thống chính trị và toàn dân, QH khóa XII đã không ngừng được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình, đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của xã hội

2.2 Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp của

QH khóa XII

2.2.1 Những ưu điểm

Theo thông lệ, tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa, QH quyết định bộ máy nhà nước (cơ cấu tổ chức của QH; cơ cấu tổ chức các Bộ, cơ quan ngang Bộ…) Trên cơ sở đó, QH bầu và phê chuẩn các chức danh theo quy định của pháp luật Trong nhiệm kỳ khóa XII, QH đã thông qua danh sách các thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ đề xuất như sau:

Trang 35

Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011)

đến 8-2011) Phó Thủ tướng Thường trực Ông Nguyễn Sinh Hùng

Phó Thủ tướng

Ông Trương Vĩnh Trọng Ông Phạm Gia Khiêm (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao)

Ông Hoàng Trung Hải Ông Nguyễn Thiện Nhân

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ông Phùng Quang Thanh

Bộ trưởng Bộ Công an Ông Lê Hồng Anh

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ông Phạm Gia Khiêm

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ông Hà Hùng Cường

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ông Vũ Văn Ninh

Bộ trưởng Bộ Công Thương Ông Vũ Huy Hoàng

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh

Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Ông Hồ Nghĩa Dũng

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Ông Nguyễn Hồng Quân

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Ông Lê Doãn Hợp

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Ông Nguyễn Thiện Nhân (đến tháng 6/2010)

Ông Phạm Vũ Luận ( từ ngày 30/6/2010 đến nay)

Trang 36

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Ông Võ Hồng Phúc

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ông Trần Văn Tuấn

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Ông Hoàng Văn Phong

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ông Phạm Khôi Nguyên

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính

Tổng Thanh tra Chính phủ Ông Trần Văn Truyền

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Ông Giàng Seo Phử

Trong nhiệm kỳ của mình, QH khóa XII đã diễn ra tất cả 9 kỳ họp toàn thể Tại các kỳ họp ấy, QH đều thực hiện theo đúng những qui định của pháp luật, theo đúng nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn Hiến pháp và pháp luật cho phép Từ việc xem xét, thông qua luật, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quyết định về tổ chức bộ máy nhà nước, về nhân sự cấp cao cho đến việc quyết định các công trình, dự án trọng điểm quốc gia…đều được thực hiện đúng Trong đó hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được chú trọng và thực hiện một cách hiệu quả và nghiêm túc Hoạt động này của QH

Trang 37

tập trung chủ yếu trong các kỳ họp từ kỳ họpthứ 2 đến kỳ họp thứ 9 Tại các

kỳ họp này, ĐBQH đã nêu ra nhiều vấn đề liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và liên quan đến trách nhiệm quản lý của các

cơ quan quản lý nhà nước

Kỳ họp thứ nhất (19/07/2012- 04/08/2012)

Được khai mạc vào ngày 19/7/2007 tại Hội trường Ba Đình- Hà Nội

Chủ tịch QH khóa XI Nguyễn Phú Trọng đọc lời khai mạc kỳ họp và điều khiển phiên họp cho tới khi QH bầu được Chủ tịch QH khóa XII diễn ra ngày 23/7/2007 Bắt đầu từ kỳ họp thứ 2, QH diễn ra các phiên chất vấn liên quan đến việc chất vấn nhiều thành viên của Chính phủ về nhiều vấn đề khác nhau thuộc phạm vi quản lí của bộ mình, các câu hỏi chất vấn của ĐBQH còn tập trung vào những bức xúc, dư luận xã hội mà cử tri và người dân quan tâm

Dưới đây là bảng thống kê số lượng chất vấn, số ĐBQH chất vấn và số đoàn có ĐBQH chất vấn tại các phiên họp chất vấn của QH khóa XII như sau:

Kỳ họp Số lượng chất

vấn

Số ĐBQH chất vấn

Số Đoàn có ĐBQH chất vấn

Nguồn: Văn Phòng Quốc Hội

Số lượng chất vấn bằng văn bản tại các kỳ họp Quốc hội khoá XII (Số liệu

tính đến ngày kết thúc phiên họp chất vấn)

Trang 38

Kỳ họp thứ 2 QH khóa XII (22/10/2007- 21/11/2007)

Phiên họp nàylà phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn đầu tiên của QH khóa XII Các chất vấn của kỳ họp này tập trung chủ yếu vào Bộ Công thương, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ y tế… Bộ Công thương đã nhận được chất vấn của 12 vị ĐBQH và 1 đoàn ĐBQH về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực công nghiệp và thương mại, cụ thể như tình hình nhập siêu năm 2007, tình hình đầu tư ngành điện, đánh giá thực hiện chiến lược, quy hoạch ngành công nghiệp ô tô, tiến độ thực hiện dự án nhà máy đạm Cà Mau, chất lượng xăng dầu Bộ Công Thương đã có văn bản trả lời kịp thời gửi tới các vị ĐBQH, Trưởng đoàn ĐBQH có liên quan

Bộ Nội vụ nhận được các nội dung chất vấn tập trung vào các vấn đề: việc triển khai thực hiện thành lập, bãi bỏ một số Bộ theo Nghị quyết của QH; Tình hình sắp xếp các đầu mối và tổ chức bộ máy của các Bộ mới được sáp nhập; Việc sắp xếp kiện toàn các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; chính sách tinh giảm biên chế; Việc triển khai sửa đổi Nghị định số 121 về chế độ chính sách đối với cán bộ xã, phường; giải pháp sắp xếp cán bộ không đủ tiêu chuẩn trong tình hình hiện nay; Vấn đề bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức cấp xã

Kỳ họp chất vấn thứ 3 QH khóa XII (06/5/2008- 03/6/2008)

ĐBQH đưa ra nhiều chất vấn đối với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, bộ đã nhận được chất vấn của 9 ĐBQH và kiến nghị của 01 Đoàn ĐBQH Các ĐBQH quan tâm nhiều đến lĩnh vực dạy nghề, việc làm; Người có công; Chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội; An sinh xã hội, giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có văn bản trả lời các vị ĐBQH Riêng vấn đề nợ đọng bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiên mục tiêu nhà ở cho công nhân lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Trang 39

đã có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ giao cho các cơ quan có thẩm quyền báo cáo và trả lời ĐBQH bằng văn bản

Trong Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại kì họp thứ 3 này có đoạn: “Nhiều vị đại biểu Quốc hội đã phân tích sâu sắc thêm thực trạng tình hình và nguyên nhân, chỉ rõ thêm nhiệm vụ và nêu thêm những biện pháp cụ thể Một số ý kiến đề nghị làm rõ trách nhiệm của từng thành viên Chính phủ trong quản lý điều hành; yêu cầu Chính phủ trình bày rõ thêm cơ sở của việc điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng và lạm phát; tiết kiệm chi tiêu ngân sách, cắt giảm đầu tư công, nâng cao hiệu quả đầu tư; giảm nhập siêu; chính sách tiền tệ và quản lý ngân hàng thương mại; làm rõ việc các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước đầu tư kinh doanh ngoài chức năng chính; việc bảo đảm an ninh lương thực và cải thiện đời sống nông dân; điều hành giá cả các mặt hàng thiết yếu; việc bảo đảm tốt hơn an sinh xã hội cho người nghèo, người lao động và cán bộ, nhân viên có thu nhập thấp;

cải cách hành chính và chống tham nhũng ” (41), điều này đã cho thấy quan

tâm của ĐBQH trong rất nhiều vấn đề Tại kỳ họp này đã có 132 ĐBQH gửi

297 chất vấn đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nhiều thành viên Chính phủ Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các thành viên Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao trả lời bằng văn bản tất cả các chất vấn và gần 2 ngày qua đã có 5 vị Bộ trưởng trực tiếp trả lời chất vấn của các vị ĐBQH tại hội trường Trong đó, Bộ tài chính đã nhận được 31 câu hỏi chất vấn của ĐBQH, trong đó có 12 câu do Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền; có 5 câu không thuộc chức năng nhiệm vụ của Bộ Tài chính, bộ đã báo cáo Thủ tưởng Chính phủ chuyển đến các bộ liên quan để trả lời Đại biểu

Bộ Công thương đã nhận được chất vấn của 18 vị ĐBQH và 1 đoàn Đại

biểu QH về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực công nghiệp và thương mại như tình hình nhập siêu năm 2008, tình hình cung ứng ngành điện mùa khô

Trang 40

2008, tình hình sử dụng vốn đầu tư của các tập đoàn … Ngân hàng Nhà nước

đã nhận được chất vấn của 9 ĐBQH thuộc Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố: Hải Dương, Kiên Giang, Bình Dương, Bến Tre, Đồng Tháp, Hà Nội, Nghệ

An, Gia Lai, Yên Bái và một số ý kiến của cử tri cả nước do Ban Dân nguyện Quốc hội tổng hợp Nội dung chất vấn của các vị Đại biểu tập trung vào vấn

đề điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, ngoại tệ, lãi suất và việc cấp giấy phép thành lập tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước…

Tại kỳ họp thứ 4 QH khóa XII (16/10/2008- 15/11/2008)

QH dành nhiều thời gian cho hoạt động chất vấn Nhiều câu hỏi của ĐBQH có chiều sâu, có chất lượng hơn Hầu hết đều tập trung vào những vấn

đề cử tri cả nước quan tâm, những vấn đề dư luận đang bàn tán… Cụ thể như:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận được chất vấn của 25 ĐBQH với 31 câu hỏi chất vấn liên quan đến việc: Sản xuất và tiêu thụ lúa gạo; Quản

lý nuôi trồng thủy sản; Bảo vệ, phát triển rừng; Quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp (phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, bảo vệ thực vật ); Thuỷ lợi phí, xây dựng công trình thủy lợi, phòng chống thiên tai; Phát triển nông thôn… ĐBQH còn yêu cầu làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của cơ quan quản lí để xảy ra vấn đề ấy

Về phía người trả lời chất vấn, đa số các vị Bộ trưởng đều tập trung trả lời chất vấn của các ĐBQH một cách có trọng tâm, trọng điểm Đồng thời cũng nêu ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến tình trạng nhiều vấn đề làm cử tri bức xúc và mong các ĐBQH và cử tri cả nước thông cảm

Tại kỳ họp này, lần đầu tiên QH đã ban hành Nghị quyết về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn Nghị quyết đã đánh giá sơ bộ về phiên chất vấn, nhắc nhở người được chất vấn phải thực hiện trách nhiệm của mình và giao

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Đăng Dung (1992), Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Những khía cạnh pháp lý theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội năm 1992), Nxb. Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Những khía cạnh pháp lý theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội năm 1992)
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb. Pháp lý
Năm: 1992
3. Nguyễn Đăng Dung (2007), Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2007
4. Nguyễn Sĩ Dũng (2006), chủ biên, Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội, Nxb.Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Sĩ Dũng (2006), chủ biên, "Thường thức về hoạt động giám sát của Quốc hội
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng
Nhà XB: Nxb.Tư pháp
Năm: 2006
5. Trần Ngọc Đường (2005), chủ biên, Quốc Hội Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc Hội Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2005
6. Trương Thị Hồng Hà (2009): Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
7. Nguyễn Mạnh Hùng: “Nâng cao hiệu quả tiếp công dân của đại biểu Quốc hội”, Người đại biểu nhân dân, số 217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả tiếp công dân của đại biểu Quốc hội”", Người đại biểu nhân dân
8. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1999
9. Phạm Ngọc Kỳ (1996), Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Tác giả: Phạm Ngọc Kỳ
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Lê Tư Lành (1956): Sơ lược về quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nxb. Minh Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược về quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Tác giả: Lê Tư Lành
Nhà XB: Nxb. Minh Đức
Năm: 1956
11. Mai Thúc Lân: “Quốc hội nên tăng cường chức năng giám sát”, Tạp chí Hiến kế lập pháp, số 13/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nên tăng cường chức năng giám sát
Tác giả: Mai Thúc Lân
Nhà XB: Tạp chí Hiến kế lập pháp
Năm: 2006
12. Đặng Đình Luyến: “Một số yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội”, Tạp chí Nghiên cứu pháp luật, số 3/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội
Tác giả: Đặng Đình Luyến
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu pháp luật
Năm: 2002
13. Phan Trung Lý (2010), Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi mới
Tác giả: Phan Trung Lý
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
14. Trần Tuyết Mai (2009), “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam”
Tác giả: Trần Tuyết Mai
Năm: 2009
15. Ngô Đức Mạnh (2003), “Đại biểu Quốc hội chuyên trách: Một số suy nghĩ tăng cường năng lực hoạt động”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (11), tr.34-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại biểu Quốc hội chuyên trách: Một số suy nghĩ tăng cường năng lực hoạt động
Tác giả: Ngô Đức Mạnh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2003
16. Trần Hoàng Minh (2006), “Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội - một số vấn đề cần quan tâm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội - một số vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Trần Hoàng Minh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2006
17. Đỗ Mười (1992): Phát huy vai trò của quốc hội xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò của quốc hội xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
Tác giả: Đỗ Mười
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1992
21. Nguyễn Đình Quyền (2008), “Một số giải pháp hoàn thiện về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp hoàn thiện về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Quyền
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2008
22. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Hiến pháp 1980, 1992, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 1980, 1992
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
23. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003,Nxb. Chính trị Quốc gia, HN, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hoạt động giám sát của Quốc hội 2003
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
24. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Luật tổ chức Quốc hội 2001 (sửa đổi bổ sung 2007). Nxb. Chính trị Quốc gia, HN, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Quốc hội 2001 (sửa đổi bổ sung 2007)
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dưới đây là bảng thống kê số lượng chất vấn, số ĐBQH chất vấn và số đoàn có ĐBQH chất vấn tại các phiên họp chất vấn của QH khóa XII như sau:   - Nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp quốc hội việt nam hiện nay
i đây là bảng thống kê số lượng chất vấn, số ĐBQH chất vấn và số đoàn có ĐBQH chất vấn tại các phiên họp chất vấn của QH khóa XII như sau: (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w