Trong đó có thể kể tới các công trình tiêu biểu sau: Cuốn sách "Mối quan hệ giữa Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay", tác giả Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Hữu Cát NXB Chính trị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 2Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS LƯU VĂN AN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Đề tài được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Hồ Việt Hạnh Tài liệu; số liệu trích dẫn trong đề tài là hoàn toàn trung thực và đáng tin cậy Luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 45
2.1 Hoạt động thực tiễn thể hiện mối quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay 45
2.2 Đánh giá mối quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay 62
CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 68
3.1 Dự báo tình hình thế giới và khu vực trong thời gian tới 68
3.2 Xu hướng phát triển quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga trong những năm tới 70
3.3 Kiến nghị 77
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
TÓM TẮT LUẬN VĂN 92
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu
ADMM Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN COC Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông
DOC Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông
FTA Hiệp định thương mại tự do
FDI Tổng vốn đầu tư trực tiếp
GDP Tổng sản phẩm kinh tế quốc nội
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
SNG
TPP
Cộng đồng các quốc gia độc lập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế quan trọng bậc nhất của thế giới Với sự gia tăng ảnh hưởng chính trị, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, vượt xa mức trung bình toàn cầu, với vai trò hàng đầu trong sự liên kết lực lượng mới đang nổi lên, khiến Đông Nam Á trở thành “vùng đệm” vô cùng quan trọng trong chiến lược kiềm chế lẫn nhau của các nước lớn Do vậy, sự trở lại Đông Nam Á của Liên bang Nga là một tất yếu chiến lược, có tác động
đa chiều và trực tiếp tới cục diện khu vực
Sau khi lên nắm quyền Tổng thống Nga (7/5/2000), ông V.Putin đã đẩy mạnh chính sách đối ngoại hướng sang phía Đông, nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế với các nước Châu Á - Thái Bình Dương Dựa trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam với Liên Xô cũ trước đây, Nga muốn sử dụng Việt Nam như một cầu nối để thâm nhập sâu vào ASEAN Nga ngày càng nhận thức rõ hơn rằng việc nâng tầm quan hệ với Việt Nam là đáp ứng các lợi ích nhiều mặt của Nga không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Đông Nam
Á và châu Á - Thái Bình Dương, bởi vai trò, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng và Việt Nam là một trong không nhiều những đối tác thủy chung và tin cậy nhất của Nga Hai nước đã sớm vượt qua thời kỳ khó khăn nhất nhờ xác lập được khung khổ quan hệ kiểu mới trên cơ sở tôn trọng và kế thừa những giá trị quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống tốt đẹp vốn có
Trong khi đó, đường lối đối ngoại của Việt Nam ngày càng rộng mở, quan hệ chính trị với Liên bang Nga ngày càng được củng cố và tăng cường
"Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn củng cố, thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga, coi Nga là một trong những đối tác quan trọng, tin cậy hàng đầu của Việt Nam" Quan hệ với Nga được
Trang 7coi là có tầm quan trọng hàng đầu, góp phần quan trọng trong việc nâng cao sức mạnh tổng hợp cũng như làm gia tăng vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt Nam và Nga tiếp tục tạo dựng và liên tục phát triển cơ chế đối thoại ở nhiều cấp trong các hoạt động ngoại giao chính trị và các lĩnh vực khác Đồng thời các hoạt động giao lưu hợp tác giữa các ngành, địa phương và các tổ chức kinh tế - xã hội cũng không ngừng được
mở rộng Nhờ đó, các mối quan hệ hợp tác ở mọi lĩnh vực giữa hai nước ngày càng phát triển mạnh hơn Giữa hai nước đã hình thành cơ chế đối thoại thường kỳ trên mọi lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là trên lĩnh vực chính trị
Nhân dịp kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trên cơ sở kế thừa và phát triển quan hệ Việt - Xô, tác giả cũng muốn đóng góp công trình nghiên cứu của mình với mục đích thắt chặt hơn nữa quan hệ
tốt đẹp giữa hai nước Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài "Quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay" làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga là một phần không thể thiếu trong mối quan hệ toàn diện giữa hai nước Vấn đề này, đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, được đăng tải trên các tạp chí,
ấn phẩm, các bài báo cáo khoa học, sách nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga Trong đó có thể kể tới các công trình tiêu biểu sau:
Cuốn sách "Mối quan hệ giữa Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay", tác giả Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Hữu Cát (NXB Chính trị
quốc gia, 1997) được coi là những nỗ lực đầu tiên nhằm phác họa các bước vận động không ít phức tạp và triển vọng của quan hệ giữa hai nước
Trang 8Đề tài "Sự chuyển hướng chính sách đối ngoại của Liên bang Nga ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Nguyên nhân và triển vọng", Luận án
Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Rân bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh năm 1999, đã phân tích những nguyên nhân, mục đích, những hướng ưu tiên của sự chuyển hướng chính sách đối ngoại của Liên bang Nga hướng về châu Á - Thái Bình Dương; làm rõ quá trình chuyển hướng, biện pháp triển khai, các tác động tích cực cũng như tiêu cực của sự chuyển hướng này đến quan hệ quốc tế ở khu vực trong đó có quan hệ với Việt Nam
Nhân kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên
bang Nga (1950 - 2000), tác giả Bùi Khắc Bút đã viết bài "Quan hệ Nga - Việt: 50 năm một chặng đường lớn" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số
5 năm 2000 đã đề cập và làm nổi bật mối quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây, Việt Nam và Liên bang Nga giai đoạn 1950 - 2000 Sau khi Liêng bang Xô viết sụp đổ, mối quan hệ Việt Nam
- Liên bang Nga bị ảnh hưởng do sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Moscow trong những năm đầu thập niên 90 Tuy nhiên, mối quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống này đã được cải thiện vào những năm cuối của thập kỷ này, khi lãnh đạo hai nước cam kết sẽ đưa quan hệ Việt - Nga trở lại quỹ đạo của thời kỳ trước đây Sự phát triển của mối quan hệ Việt - Nga trong giai đoạn này chính là nền tảng, cơ sở quan trọng để hình thành nên mối quan hệ
"đối tác chiến lược toàn diện" Việt - Nga trong những năm đầu thế kỷ XXI
Cũng trên Tạp chí này số 36 xuất bản năm 2000, tác giả Bùi Thanh Vạn
đã có bài viết "Bước phát triển mới trong quan hệ Việt - Nga" Bài viết đã chỉ
ra ý nghĩa chiến lược của việc tiếp xúc cấp cao giữa hai nhà nước qua chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Thủ tướng Phan Văn Khải đã đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ Việt - Nga, đồng thời đưa ra những nhận định về triển vọng quan hệ hai nước
Trang 9"Quan hệ của Liên bang Nga với các nước Đông Nam Á từ sau khi Liên
Xô tan rã đến nay" Luận án tiến sĩ năm 2000 của tác giả Nguyễn Tất Giáp, đã
nghiên cứu tương đối hệ thống quan hệ của Liên bang Nga với các nước Đông Nam Á kể từ sau khi Liên Xô tan rã đến nay; bước đầu làm rõ mối quan hệ này trong chính sách châu Á - Thái Bình Dương của Nga hiện nay; đồng thời góp phần luận giải và làm sáng tỏ thêm chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước là tiếp tục củng cố, phát triển quan hệ trên nhiều mặt với Liên bang Nga
và đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường quan hệ Việt - Nga
Bài viết "Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga từ năm 1991 đến nay và triển vọng" của tác giả Nguyễn Thế Lực và Nguyễn Thị Thủy được đăng tải
trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, số 1 năm 2004 Đây là bài viết đánh giá quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga từ năm 1991 đến nay qua từng giai đoạn với những nét đặc trưng riêng biệt đã đạt được những thành tựu to lớn, song cũng còn không ít những khó khăn và thách thức Tác giả cũng đưa ra những nhận định về triển vọng của mối quan hệ Việt - Nga trong tương lai
"Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI" là cuốn sách của tác giả Nguyễn Xuân Sơn và
Nguyễn Văn Du, (NXB Chính trị quốc gia, 2006) tập trung nghiên cứu chiến lược đối ngoại của sáu nước lớn (Mỹ, Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản và Ấn Độ) trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI Tác giả đưa ra những dự báo chiến lược đối ngoại của các nước lớn, những nhận định, đánh giá làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; quan hệ của Việt Nam với các nước lớn trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI
"Hợp tác chiến lược Việt - Nga những quan điểm, thực trạng và triển vọng", cuốn sách do tác giả Vũ Đình Hòe và Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ
biên (NXB Chính trị Quốc gia, 2008) Trong đó, các tác giả tập trung phân tích các quan điểm, quan niệm đối tác chiến lược, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ hai nước ở tầm chiến lược, thực trạng của
Trang 10mối quan hệ Việt – Nga Đồng thời, các tác giả cũng bước đầu đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển hợp tác chiến lược Việt – Nga trong một số lĩnh vực
Trong bài viết "Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga (từ tháng 3/2001 đến nay)" (2010), Đinh Công Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu
châu Âu, số 3; tác giả đã làm nổi bật mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn 2001 - 2010 Trên cơ sở của quan hệ "đối tác chiến lược", hai nước đã có sự hợp tác sâu rộng trên các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Hà Nội và Moscow đã triển khai các hình thức hợp tác mới, thong qua các Hiệp định đã được kí kết giữa lãnh đạo hai bên như: Hợp tác phát triển năng lượng hạt nhân, nghiên cứu khoa học, hợp tác kinh tế - quốc phòng (sản xuất vũ khí, đóng tàu, xây dựng các cảng và sân bay quân sự) sự hợp tác kinh tế sâu rộng trên đã đưa quan hệ hai nước trở nên thực chất hơn Trong những năm tới đây, trên cơ sở của mối quan hệ kinh tế ngày càng phát triển tốt đẹp, quan hệ chính trị hai nước sẽ là đòn bẩy và động lực quyết định
sự phát triển của mối quan hệ hai nước trong bối cảnh mới
Nhân kỷ niệm 65 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước
Việt Nam - Liên bang Nga (30/1/1950-30/1/2015), bài viết "Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt - Nga: 65 năm một chặng đường" của Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, được đăng tải trên cổng thông tin điện tử Chính phủ đã nhấn mạnh những thành tựu của mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Liên bang Nga trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, khoa học, an ninh quốc phòng… kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay
Ngoài ra còn có một số cuốn sách, công trình nghiên cứu, bài báo khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao nghiên cứu về mối quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga được đăng tải trên các bài báo, tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí nghiên cứu châu Á -Thái Bình Dương, mạng Internet, các báo Dân trí, báo Nhân dân, báo Tuổi trẻ…
Trang 11Bên cạnh đó, tác giả cũng khai thác được nguồn tư liệu quan trọng thể hiện mối quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga qua các bản thông báo, văn bản ký kết và phát biểu chính thức cả lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai quốc gia qua các chuyến thăm chính thức lẫn nhau
Như vậy, đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga nhưng có thể do nhu cầu nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến giai đoạn này hay giai đoạn khác, khía cạnh này hay khía cạnh khác của mối quan hệ mà chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và
toàn diện về "Quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay" Trên cơ sở kế thừa, tổng hợp có chọn lọc các kết quả nghiên cứu
đã công bố trước đây để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, góp phần làm phong phú hơn cho các công trình nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga của nước nhà
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, làm rõ thực chất quá trình vận động và phát triển của mối quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay; tác giả luận văn dự báo xu hướng phát triển của quan hệ này trong thời gian tới và đưa ra một số kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước ta
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, luận văn nêu và giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga
- Đánh giá thực trạng quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay
- Dự báo xu hướng phát triển của quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga trong thời gian tới và đề xuất một số kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước ta
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga được
nghiên cứu từ năm 2000 đến nay
Về mặt nội dung: Những vấn đề lý luận, thực tiễn, thực trạng của quan
hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga dưới góc nhìn từ phía Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các quan điểm của Đảng ta về quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại Đồng thời tác giả đề tài còn vận dụng một số lý thuyết đối ngoại, quan hệ chính trị để nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể là logic - lịch sử, tổng hợp - phân tích Đồng thời, tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây: Nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn, bình luận, thống kê, so sánh, thu thập thông tin…
6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Trong khi các công trình nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trên mọi lĩnh vực, thì luận văn tập trung vào nghiên cứu quan hệ chính trị giữa hai nước là khá mới mẻ Nhận thấy tầm quan trọng của lĩnh vực chính trị, ngoại giao trong việc thúc đẩy quan hệ quốc tế, nhất là trong quan hệ với
Trang 13các nước lớn, luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga riêng trên lĩnh vực chính trị
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận, củng cố
lập trường tư tưởng, niềm tin khoa học về đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta
Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu, giảng dạy về quan hệ quốc tế hiện đại, đồng thời có thể góp phần cung cấp tư liệu cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 03 chương, 07 tiết
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 1.1 Cơ sở lý luận về quan hệ chính trị giữa hai quốc gia
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
là hình thức biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp nhằm đạt tới sự thống trị giai cấp, giành lấy quyền lực nhà nước Một cách khái quát, từ điển bách khoa Triết học (Liên Xô) đã xác định: "Chính trị là phạm vi hoạt động gắn với quan
hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, và các nhóm lợi ích xã hội khác, mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước" [39, tr.25]
Trang 15Để nhận thức đúng đắn và đầy đủ về chính trị, đòi hỏi phải tiếp cận nó
từ hai phương diện cơ bản: Một mặt, chính trị là một hệ thống quan hệ xã hội đặc biệt, phản ánh những lợi ích cơ bản của các tập đoàn xã hội, trước hết là các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái,… xung quanh vấn đề giành, giữ và
sử dụng quyền lực nhà nước; mặt khác, chính trị là một lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù trong thực tiễn đời sống xã hội, liên quan đến sự tồn tại, tổ chức
và hoạt động của chính quyền nhà nước Tổng hợp cả hai phương diện đó, có thể hiểu: Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt của đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các nhóm lợi ích xã hội
về nhà nước; là sự tham gia vào công việc nhà nước; là sự phản ánh tổng hợp các lợi ích cơ bản của giai cấp, thể hiện thành phương hướng, mục tiêu và hoạt động thực tiễn của nhà nước, của các đảng phái, các tổ chức đoàn thể,… trong việc thực hiện đường lối nhằm đạt mục tiêu đó
* Khái niệm quan hệ chính trị quốc tế
Quan hệ chính trị quốc tế là phạm trù lịch sử, là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội loài người Khi giai cấp, dân tộc xuất hiện, chính trị (mà biểu hiện tập trung ở nhà nước) hình thành và từng bước khẳng định vai trò to lớn của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị, thông qua chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước khẳng định vai trò của mình, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng vượt khỏi phạm vi quốc gia Qua đó quan hệ chính trị quốc tế từng bước được xác lập, phát triển và biến đổi Ở mỗi thời kỳ lịch sử nhất định, quan hệ chính trị quốc
tế có những đặc trưng khác nhau, song xuyên suốt vẫn là quan hệ chịu sự chi phối bởi các nước lớn
Quan hệ chính trị quốc tế là quan hệ được nảy sinh, hình thành và phát triển do sự tác động qua lại giữa các chủ thể chính trị quốc tế, trước hết và quan trọng nhất là các quốc gia và các tổ chức quốc tế, trong quá trình tham
Trang 16gia vào đời sống chính trị quốc tế vì mục đích, lợi ích quốc gia, khu vực và quốc tế [38, tr.14]
* Quốc gia là chủ thể chủ yếu của chính trị quốc tế: Quốc gia là thực
thể nằm trong biên giới địa lý do chính quyền trung ương quản lý Chính quyền của quốc gia có khả năng làm luật, đặt ra các quy tắc, các quy định trong phạm vi biên giới của mình, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ quốc tế của mình Quốc gia là một thực thể pháp lý được pháp luật quốc tế công nhận và quốc gia tự quyết định chính sách của mình Có nhiều hình thức
về tên gọi của quốc gia (Liên bang, Vương quốc, nước…)
Quốc gia là chủ thể chủ yếu trong quan hệ chính trị quốc tế, bởi vì nó tham gia có mục đích, có khả năng thực hiện và có ảnh hưởng đối với quan hệ chính trị quốc tế Bởi vì mọi hoạt động quốc tế cơ bản vẫn bắt nguồn từ các nhu cầu quốc gia, từ việc xác định lợi ích quốc gia trong từng thời kỳ, từng vụ việc cụ thể, từ các biện pháp thực hiện lợi ích quốc gia thông qua chính sách đối ngoại Trong quốc gia, nhà nước là chủ thể trung tâm chi phối Các chủ thể khác như đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội… phải dựa vào nhà nước để hoạt động và chịu sự tác động của nhà nước, thông qua hệ thống thuế, luật pháp Trong thế giới hiện đại, vai trò của các tổ chức này ngày càng tăng song không thể tách rời chính sách đối ngoại của nhà nước, và về cơ bản là công cụ
để phục vụ lợi ích quốc gia Vai trò chủ thể quan hệ chính trị quốc tế của quốc gia lớn hơn và quan trọng hơn hẳn so với các chủ thể phi quốc gia
* Sự vận động mang tính quy luật của chính trị quốc tế
Lợi ích quốc gia quyết định các quan hệ chính trị - quốc tế: Lợi ích
quốc gia là tổng thể các lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ… của một quốc gia đặt trong mối quan hệ với các quốc gia và chủ thể quan hệ quốc tế khác Nó phản ánh nhu cầu và mục tiêu tồn tại và phát triển quốc gia trong quan hệ quốc tế
Trang 17Trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia là một bộ phận của nền chính trị thế giới và có mối liên hệ ngày càng chặt chẽ với nhau Cùng với
sự phát triển của xã hội, sự phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích giữa các quốc gia ngày càng cao và xuất hiện lợi ích chung cho toàn nhân loại Sự gia tăng các vấn đề toàn cầu như: Chiến tranh hạt nhân, ô nhiễm môi trường, bệnh tật hiểm nghèo, gia tăng dân số, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố quốc tế… cùng những thách thức an ninh phi truyền thống làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích giữa các quốc gia ngày càng lớn hơn và buộc họ phải chú ý đến lợi ích chung của toàn nhân loại Lợi ích quốc gia không tách rời khỏi lợi ích giai cấp, dân tộc và bị chi phối bởi lợi ích giai cấp Lợi ích của giai cấp tiến bộ phù hợp với lợi ích nhân loại
Sức mạnh quốc gia chi phối đời sống chính trị quốc tế: Sức mạnh quốc
gia là sức mạnh tổng hợp của quốc gia, vô hình và hữu hình, bao gồm những nhân tố tự nhiên và nhân tố xã hội, tác động và ảnh hưởng ra bên ngoài nhằm thực hiện các lợi ích quốc gia Đó là tổng hợp các khả năng quân sự, kinh tế, chính trị, công nghệ, văn hóa, tư tưởng và việc vận dụng các khả năng đó trong quan hệ quốc tế Sức mạnh quốc gia bao hàm cả khả năng hiện tại và khả năng tiềm tàng
Chính trị quốc tế ngày càng đa dạng và phức tạp
Sự đa dạng về chủ thể chính trị quốc tế: Trong thời hiện đại, Quốc gia không còn được coi là chủ thể duy nhất trong chủ thể chính trị quốc tế, bên cạnh quốc gia còn có hàng loạt các chủ thể phi quốc gia khác như công ty xuyên quốc gia (TNC), tổ chức quốc tế phi chính phủ (INGO), các tổ chức tôn giáo… và thậm chí là cả các cá nhân Trong đó, quốc gia vẫn là chủ thể cơ bản trong quan hệ quốc tế Sự xuất hiện các chủ thể phi quốc gia này là sản phẩm của thời hiện đại và đang làm thay đổi quan hệ quốc tế Sự nổi lên của chúng với vai trò ngày càng tăng, vừa bổ sung cho quốc gia, vừa làm xói mòn
Trang 18chủ quyền quốc gia Chủ thể quốc tế có 4 đặc trưng chính: 1) Có mục đích khi tham gia quan hệ quốc tế 2) Có tham gia vào quan hệ quốc tế 3) Có khả năng thực hiện quan hệ quốc tế 4) Hành vi và quyết định có ảnh hưởng nhất định đến quan hệ quốc tế
- Các quan hệ lợi ích đan xen dẫn đến các chủ thể vừa hợp tác vừa đấu tranh: Toàn cầu hóa đang tác động đến tất cả các chủ thể quan hệ quốc tế,
trong đó, hợp tác trở thành một xu thế tất yếu vì những lợi ích chung của mỗi quốc gia và vì lợi ích chung của toàn nhân loại trong quan hệ quốc tế hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh hợp tác thì đấu tranh cũng là một trong hai mặt cùng tồn tại trong quan hệ quốc tế Đây là một tất yếu khách quan Nó đòi hỏi phải được nhận thức đúng và có sự kết hợp hài hòa khi xem xét đến các quyền lợi của mỗi quốc gia và cả cộng đồng Tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia đều có thể dẫn đến đổ vỡ trong quan hệ giữa các quốc gia cũng như giữa quốc gia với cộng đồng quốc tế trong quá trình xem xét xuất phát từ nguyên tắc hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác chặt chẽ hơn, bền vững hơn
1.1.2 Một số vấn đề lý luận về quan hệ song phương
Với tư cách là một lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị được thể hiện
ở hoạt động và quan hệ của các giai cấp, các đảng phái, các tổ chức chính trị -
xã hội xoay quanh việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Khi vượt khỏi phạm vi quốc gia, chính trị được thể hiện trước hết ở các mối quan hệ giữa các quốc gia, mà tập trung là các nhà nước, vì quyền lợi và lợi ích của quốc gia, trong quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào đời sống chính trị quốc
tế Từ đó, nền chính trị quốc tế hình thành và quan hệ quốc tế diễn ra Chính trị quốc tế là nền chính trị được diễn ra trên quy mô toàn thế giới Nó là sản phẩm của sự tương tác qua lại giữa các chủ thể chính trị quốc tế trong hoạt động vì các mục tiêu quốc gia, khu vực và quốc tế Cũng chính trong quá trình hoạt động thực hiện các mục tiêu theo đuổi, lợi ích cục bộ và toàn cục
Trang 19của các chủ thể này mà đời sống chính trị - xã hội quốc tế được thiết lập Quốc gia có chủ quyền là chủ thể quan trọng nhất trong quan hệ chính trị quốc tế, là chủ thể mang tính chính trị - pháp lý xác định vị thế của mình trên trường quốc tế Quốc gia là một tổ chức quyền lực có chủ quyền và thể hiện chủ quyền ấy qua tính độc lập, quyền tự quyết vận mệnh dân tộc mình; trên các mặt đời sống chính trị - xã hội của đất nước, nó không thể bị chi phối, can thiệp bởi bất kỳ thế lực nào bên ngoài
Quan hệ chính trị giữa hai quốc gia là mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau trên cơ sở lợi ích quốc gia, thể hiện trước hết tập trung và thông qua nhà
nước Về nội dung, quan hệ chính trị giữa hai quốc gia gồm: Một là, những
hoạt động thúc đẩy sự hợp tác về chính trị giữa hai nước, tăng cường mối quan hệ hòa hảo giữa hai dân tộc, quốc gia, tạo điều kiện vững chắc cho sự phát triển quan hệ hai nước trên các lĩnh vực khác; là tiền đề để hai bên tiếp tục củng cố và phát triển các mối quan hệ về kinh tế, văn hóa, giáo dục, an ninh - quốc phòng,… Hai là, quan hệ chính trị hai quốc gia góp phần đẩy mạnh quá trình hội nhập và tham gia vào đời sống quốc tế của mỗi nước vì mục tiêu chung giữ gìn và bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới, nâng cao vị thế mỗi dân tộc trên trường quốc tế, củng cố sức mạnh của mỗi quốc
gia trong quan hệ quốc tế Về phương thức, quan hệ chính trị giữa hai quốc
gia được thực hiện trong sự đa dạng quan hệ giữa các chủ thể chính trị của hai quốc gia gồm: Một là, mối quan hệ hợp tác giữa hai Nhà nước; Hai là, mối quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản và các đảng chính trị còn lại; Ba là, mối quan hệ giữa các tổ chức chính trị - xã hội của hai nước
1.1.3 Nội dung và phương thức quan hệ chính trị giữa hai quốc gia
1.1.3.1 Nội dung mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia
Thứ nhất, quan hệ trong giải quyết vấn đề phát triển của mỗi quốc gia
Vấn đề phát triển trong nội bộ quốc gia được thể hiện ở ba khía cạnh,
đó là: Mỗi quốc gia đều cần thực hiện chức năng đối nội của quyền lực nhà
Trang 20nước; tăng cường củng cố thể chế chính trị, hệ thống chính trị nhằm mục đích giữ vững sự ổn định chính trị và nâng cao vị thế, uy tín của lực lượng cầm quyền (đảng cầm quyền, chính phủ…) đối với nhân dân
Sự ra đời và tồn tại Nhà nước là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội có đối kháng giai cấp Nhà nước khác với các tổ chức xã hội khác ở chỗ, Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt, có bộ máy cưỡng chế để đảm bảo thực thi quyền lực đó Khi có nhà nước, giai cấp thống trị thông qua chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước củng cố, mở rộng
sự thống trị của mình Đây là quyền lực chỉ riêng nhà nước mới có và nhờ quyền lực này, cho phép nhà nước thâu tóm quản lý hầu hết các nguồn nhân lực, tài lực của một quốc gia Cùng với đó, quyền lực nhà nước luôn gắn với chủ quyền quốc gia, được biểu hiện thông qua những định chế Nhà nước - pháp luật và được thể hiện cụ thể ở hệ thống các cơ quan, các tổ chức của Nhà nước, các quy định pháp luật và những nguyên tắc vận hành của hệ thống đó, tạo nên cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước Trong xã hội hiện đại, quyền lực nhà nước bao gồm ba nhánh quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Như vậy, tầm quan trọng của quyền lực Nhà nước trong việc điều khiển một đất nước đi theo đường lối đã đề ra cùng với việc đảm bảo điều kiện sống của mọi tầng lớp nhân dân vừa ổn định về an ninh quốc phòng, vừa đảm bảo về đời sống tinh thần và đặc biệt là phát triển kinh tế
Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác hiện có trong xã hội Để thực hiện được nhiệm
vụ này, nhà nước tất nhiên phải tự mình phối hợp nhiều biện pháp, nhiều cơ quan ban ngành trong cấu trúc của mình, song cũng phải tranh thủ được mối quan hệ với các nhà nước khác, hay còn gọi là quan hệ chính trị quốc tế để thực hiện nhanh chóng hơn nhiệm vụ này Những lợi ích song phương của hai
Trang 21bên hợp tác là động lực tăng cường mối quan hệ chính trị của hai nước, ngược lại mối quan hệ này như một điều kiện để đảm bảo cho sự hợp tác được ổn định, duy trì môi trường tốt đẹp cho các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của hai bên cùng nhau hoạt động trên lãnh thổ của nhau Các nước có chế độ chính trị khác nhau, có điểm xuất phát từ kinh tế, chính trị, xã hội không giống nhau thậm chí mục tiêu tiến lên khác nhau vẫn có thể tìm thấy tiếng nói chung trên nhiều vấn đề mà mỗi nước quan tâm
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân
và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việc tăng cường củng cố thể chế chính trị, giữ vững sự ổn định chính trị là nhiệm vụ quan trọng của mỗi nhà nước trong hoạt động nội bộ cũng như trong quan hệ với các nhà nước khác Trong mối quan hệ này, mỗi nhà nước phải tự mình điều hành hoạt động của hệ thống chính trị, dựa vào quan hệ với nhà nước khác để nắm vững thực quyền của mình nhưng cũng không để cho nhà nước khác được quyết định các vấn đề then chốt hay ảnh hưởng lớn đến quyết định của mình
Trong hệ thống chính trị của mỗi nước, trong từng giai đoạn sẽ có đảng cầm quyền, lãnh đạo, dẫn dắt đất nước theo cương lĩnh của đảng Đảng cầm quyền theo nghĩa chung là một khái niệm dùng trong khoa học chính trị, chỉ đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính
Trang 22quyền điều hành và quản lý đất nước nhằm thực hiện lợi ích của giai cấp mình Xây dựng tính chính đáng trong vai trò cầm quyền, thực hiện quyền lực chính trị là vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực thực thi quyền lực chính trị nói chung, cũng như hiệu lực thực hiện ý chí, sức mạnh thể hiện lợi ích của một chủ thể cầm quyền Việc cầm quyền, thực hiện quyền lực chính trị một cách chính đáng là một trong những nhân tố quan trọng nhất thắt chặt mối quan hệ giữa các chủ thể và khách thể thực hiện quyền lực, thúc đẩy các hành vi chính trị của quần chúng lên tầm tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, qua đó tạo nên sức mạnh, hiệu quả cao trong vai trò cầm quyền Uy tín và vị thế của đảng cầm quyền không chỉ thể hiện bằng khả năng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo đất nước mà còn thể hiện ở vị thế trong mối quan hệ với đảng cầm quyền của các nước khác Khi nhiệm vụ hàng đầu là phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện ngày càng hiệu quả, uy tín và vị thế của đảng cầm quyền ngày càng được nâng cao và vững chắc trong lòng quần chúng nhân dân trong nước, đồng thời nâng cao uy tín và vị thế của đảng trong quan hệ quốc tế, tạo điều kiện cho mối quan hệ giữa các đảng cầm quyền càng thêm sâu sắc và đi vào thực chất
Thứ hai, quan hệ hai nước trong giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực
Ngày nay toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn càng nhiều nước tham gia, đây là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia Với xu thế này, không một quốc gia nào có thể đứng một mình mà phải luôn đặt mình trong mối quan hệ song phương và đa phương
Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nhà nước khác vì lợi ích của giai cấp thống trị cũng như lợi ích quốc gia, khi lợi ích quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị, đặc biệt trong xu
Trang 23thế hội nhập khu vực và quốc tế việc mở rộng chức năng đối ngoại của nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt Trên thực tế cả hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị, chúng là hai mặt của một thể thống nhất Tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất chức năng đối ngoại của nhà nước; ngược lại tính chất và những nhu cầu của chức năng đối ngoại có tác động mạnh mẽ trở lại chức năng đối nội
Trong giai đoạn hiện nay, khi mối quan hệ của các quốc gia với nhau ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp do nhu cầu của việc phát triển kinh tế của mỗi nước, không nước nào dù là cường quốc thế giới có thể chỉ dựa vào thị trường nội địa Các quốc gia đang phát triển luôn muốn đẩy nhanh quá trình điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế và rút ngắn thời gian của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mối quan hệ chính trị của các nhà nước do đó phải trên tinh thần phối hợp, hợp tác, ủng hộ lẫn nhau trên chính trường quốc
tế và khu vực Song song với thúc đẩy các hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục - đào tạo, an ninh quốc phòng, ứng phó với biến đổi khí hậu; các quốc gia ủng hộ nhau trong việc tham gia các tổ chức lớn đã hình thành của thế giới vì những mục tiêu chung
Một lý do lớn để các quốc gia phải mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhau chính là để cùng nhau tham gia giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột Trong quan hệ quốc tế, cục diện đa cực với sự chi phối của các nước lớn ngày càng thể hiện rõ thay thế cho cục diện hai cực trước đây Quan
hệ quốc gia, dân tộc và giữa các bộ phận, các nhóm dân cư… có nhiều điểm mới Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn Mặc dù thế giới đang ở trong xu thế chung là hòa bình, ổn định song những tranh chấp, xung đột cục bộ vẫn đang diễn ra hoặc âm thầm hoặc công khai Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tranh chấp, xung đột trên Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ giữa các quốc
Trang 24gia Đây là dạng xung đột quốc tế rất phức tạp khi có nhiều đối tượng tranh chấp, với sự tham gia của nhiều bên, lại diễn ra trong một khu vực có vị trí địa
lý chiến lược Trong các tranh chấp dù là giữa hai nước có thực lực tương đương hay có sự chênh lệch thì cũng luôn cần có sự quan tâm của các quốc gia khác trên chính trường quốc tế để tránh những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của sự xung đột mang lại Việc lên tiếng của các quốc gia khi có vấn
đề mâu thuẫn sẽ giảm thiểu những biện pháp đối đầu vũ lực để thay bằng các biện pháp đối thoại hòa bình, điều mà cả thế giới đang hướng tới, tránh đến mức tối đa khả năng diễn ra một cuộc chiến tranh thế giới mới
1.1.3.2 Phương thức biểu hiện mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia Thứ nhất, quan hệ giữa hai nhà nước
Quan hệ chính trị giữa hai quốc gia thể hiện trước hết và nổi bật nhất là quan hệ giữa hai Nhà nước Nhà nước là đại diện pháp lý cao nhất của một quốc gia, thể hiện ý chí và lợi ích chung của dân tộc; là sự phản ánh tập trung quan hệ và tương quan giữa các giai cấp trong một đất nước
Quan hệ giữa hai Nhà nước được thể hiện và biểu hiện trong quan hệ giữa các chủ thể trong cơ cấu quyền lực nhà nước: quan hệ giữa hai chính phủ, quan hệ giữa quốc hội hai nước, quan hệ giữa cơ quan tư pháp của hai nhà nước; quan hệ giữa hai Nhà nước còn thể hiện thông qua quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương của hai nước
Quan hệ giữa hai Nhà nước thể hiện ở quan hệ giữa hai chính phủ
Chính phủ là chủ thể quyền hành pháp trong cấu trúc quyền lực nhà nước, có vai trò nổi bật thể hiện sức mạnh quyền lực nhà nước Quan hệ giữa hai Nhà nước thể hiện trước hết là quan hệ giữa hai chính phủ Ở mỗi quốc gia, do những đặc điểm của thể chế chính trị, chính phủ có cơ cấu tổ chức, vị trí, vai trò và nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhưng đều có chức năng cơ bản là thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước hính phủ thực hiện quản lý nhà
Trang 25nước ở mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, bằng các chương trình,
kế hoạch, chính sách, bằng hệ thống hành chính nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đảm bảo an ninh trật tự xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc Một trong các nhiệm vụ của chính phủ là thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; tham gia, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân ở nước ngoài
Để tăng cường mối quan hệ giữa chính phủ các quốc gia, những nhân vật đứng đầu chính phủ thường có các cuộc viếng thăm, hội đàm lẫn nhau Đây là một hình thức biểu hiện mối quan hệ tốt đẹp của các nước và định hướng để cùng nhau giải quyết các vấn đề của mỗi nước hay các vấn đề quốc
tế và khu vực Trong quan hệ chính trị Việt Nam - Liên bang Nga từ năm
2000 đến nay, hàng năm, hai nước đều có các cuộc gặp cấp cao; qua đó, hai bên đã tạo dựng được cơ chế đối thoại ở nhiều cấp Ngoài đối thoại chính trị, ngoại giao, hai bên cũng đã xây dựng được cơ chế đối thoại ở các lĩnh vực kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - giáo dục…
Quan hệ giữa hai nhà nước thể hiện ở quan hệ giữa hai Quốc hội (Nghị viện)
Ngoại giao nghị viện là hình thức hoạt động đối ngoại của Nghị viện (Quốc hội) hay của nghị sỹ, có tác dụng hỗ trợ hoạt động ngoại giao nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu đường lối, chính sách đối ngoại của quốc gia Bên cạnh việc tác động trực tiếp vào quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của quốc gia, các nghị sỹ, với tư cách là những người được nhân dân trực tiếp bầu ra, đóng vai trò cầu nối giữa cử tri nước mình với
dư luận thế giới Thông qua những hoạt động đó, tại các diễn đàn song phương và đa phương, các nghị viện, nghị sỹ có những đóng góp hiệu quả vào
Trang 26việc hình thành, phát triển các tổ chức liên nghị viện quốc tế và khu vực, góp phần vào việc dân chủ hóa quan hệ quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới Đặc thù của ngoại giao nghị viện thể hiện ở chính bản chất của nghị viện/quốc hội Là cơ quan đại diện cho nhân dân thay mặt nhân dân quyết định các vấn đề chung của đất nước, nghị viện đóng vai trò rất lớn, rất quan trọng trong xã hội dân chủ Sự tham gia của nghị viện vào quan hệ đối ngoại của quốc gia thể hiện ở cả ba chức năng của nghị viện: lập pháp, đại diện và giám sát Nếu như ngoại giao đảng mang nặng tính chính trị, hệ tư tưởng thì ngoại giao nhân dân là kênh trao đổi thông tin, giao lưu trực tiếp giữa nhân dân các nước, ít mang mầu sắc chính trị nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Do đó, ngoại giao nghị viện vừa mang tính chính trị, tính đảng lại vừa thể hiện ý chí của người dân Khi nói về nét đặc trưng của ngoại giao nghị viện, ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam khóa XI nhấn mạnh: "Nền ngoại giao nghị viện vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất nhân dân Bởi vì,
nó vừa thể hiện ý nguyện của nhân dân, trực tiếp thông qua các nghị sỹ" [50]
Ngoại giao nghị viện có những nét riêng Ngoại giao nghị viện là một loại hình ngoại giao, bổ sung, hỗ trợ cho ngoại giao nhà nước và các loại hình ngoại giao khác trong việc thực hiện mục tiêu chính sách đối ngoại của quốc gia
Hoạt động ngoại giao nghị viện có hai hình thức cơ bản: Song phương
và đa phương Hợp tác song phương giữa các nghị viện là hình thức hợp tác truyền thống, phổ biến của hoạt động ngoại giao nghị viện Đây là hình thức hợp tác rất hiệu quả, diễn ra khi hai bên có cùng lợi ích và có cùng những mối quan tâm chung Hợp tác song phương giữa các nghị viện thường được thực hiện theo cách thông thường là trao đổi các đoàn các cấp từ cấp chủ tịch nghị viện, chủ tịch hạ viện, thượng viện, cấp phó chủ tịch đến các cấp lãnh đạo ủy ban thường trực, nhằm trao đổi thông tin, trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề
Trang 27cùng quan tâm Ngoài ra, trên cơ sở quan hệ giữa hai nghị viện, còn diễn ra những cuộc trao đổi, tiếp xúc trực tiếp giữa cá nhân các nghị sỹ của hai nước
Quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương của hai quốc gia
Trong mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia, quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương được đánh giá là rất cần thiết và cần phải được thực hiện một cách hiệu quả Hoạt động và lợi ích của các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với lợi ích của địa phương Mỗi địa phương là một
bộ phận cấu thành của quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các tổ chức kinh tế, cũng là nơi diễn ra hoạt động chính trị xã hội Quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương của hai nước phải tuân theo đường lối giữa đối ngoại của quốc gia và khuôn khổ ngoại giao chung đã được ký kết giữa hai nhà nước, nhưng cũng cần phù hợp với đặc điểm về kinh tế, xã hội riêng của từng địa phương
Thứ hai, quan hệ giữa các đảng chính trị của hai quốc gia
Đảng phái chính trị (thường gọi tắt là đảng) là một tổ chức chính trị tự nguyện với mục tiêu được một quyền lực chính trị nhất định trong chính quyền, thường là bằng cách tham gia các chiến dịch bầu cử Các đảng thường
có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ Các đảng thường có mục tiêu thực hiện một nhiệm vụ, lý tưởng của một tầng lớp, giai cấp, quốc gia để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp, giai cấp hay quốc gia đó Một quốc gia có thể có đa đảng hoặc đơn đảng
Đảng chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị của các quốc gia Nó có vai trò là một trong những thành phần cơ bản của chế độ chính trị, của xã hội công dân hiện đại, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, từ cơ cấu tổ chức đến sự vận hành của hệ thống chính trị Đây là một tổ chức chính trị phản ánh lợi ích của giai cấp, của tầng lớp xã hội, nó
Trang 28liên kết, lãnh đạo những người đại diện tích cực nhất của tầng lớp hay xã hội
đó để cùng thực hiện đạt những mục tiêu và lý tưởng nhất định
Quan hệ giữa hai đảng cầm quyền
Đảng cầm quyền bao giờ cũng giữ vai trò lãnh đạo, chi phối toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt và trực tiếp nhất là nhà nước; bằng nhà nước và thông qua nhà nước để thực hiện mục tiêu, chiến lược của mình Giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước là một hoạt động cơ bản của các đảng chính trị Tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của từng nước cũng như mục tiêu theo đuổi mà mỗi đảng cầm quyền có những phương thức tổ chức và hoạt động khác nhau, song đều nhằm tới một hướng đích là giành, giữ, thực thi và chi phối quyền lực nhà nước, từ đó chi phối và thực thi quyền lực của đảng mình đối với các đảng khác và với toàn xã hội
Quan hệ giữa hai đảng cầm quyền của hai nước là nhằm mục đích giải quyết những vấn đề quyền lợi quốc gia, lợi ích dân tộc và cùng nhau giải quyết các vấn đề trong khu vực và trên trường quốc tế Thường xuyên trao đổi đoàn các cấp giữa hai quốc gia cũng như trong các diễn đàn khu vực và quốc
tế nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa hai quốc gia
Quan hệ giữa đảng cầm quyền với các đảng chính trị khác
Bên cạnh việc thiết lập mối quan hệ giữa hai đảng cầm quyền thì việc duy trì và giữ vững mối quan hệ giữa đảng cầm quyền với các đảng phái chính trị khác cũng hết sức quan trọng Các đảng chính trị này tuy không cầm quyền nhưng có vị trí, vai trò nhất định trong đời sống của mỗi quốc gia Trong tương lai, các đảng chính trị này đều tiềm ẩn khả năng trở thành đảng cầm quyền Do đó, đảng cầm quyền luôn giữ mối quan hệ hữu hảo với các đảng chính trị khác, trao đổi kinh nghiệm quản lý đất nước, quản lý kinh tế -
xã hội; chủ động đối thoại về các vấn đề đặt ra trong quan hệ của nước ta với các nước này; tăng cường quan hệ về mặt nhà nước, thúc đẩy hình thành
Trang 29khuôn khổ quan hệ ổn định lâu dài, hợp tác nhiều mặt, bình đẳng, cùng có lợi để tạo thêm cơ sở vững chắc cho mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và các đảng chính trị khác cũng như quan hệ giữa hai quốc gia
Quan hệ giữa hai đảng cộng sản của hai quốc gia
Hai đảng cộng sản giữa hai quốc gia luôn tìm thấy nhiều điểm tương đồng trong quan điểm về các vấn đề thời đại, các vấn đề quốc tế Bởi hai đảng cộng sản luôn có quan hệ gắn bó với nhau, ít nhiều hai đảng đều có chung hệ
tư tưởng, có cùng xuất phát điểm Quan hệ giữa các đảng dựa trên nguyên tắc độc lập tự chủ; bình đẳng; tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội
bộ của nhau; cùng nhau thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội Các đảng thường xuyên trao đổi các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đảng, các vấn đề lớn của thế giới ngày nay; tham gia các diễn đàn, hội thảo khu vực và quốc tế của các đảng; đoàn kết và hợp tác bằng các hình thức phù hợp; tích cực góp phần vào sự hồi phục và đi lên của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế… tham gia các diễn đàn đa phương chính đảng như cuộc gặp quốc tế hàng năm của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới (IMCWP), Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP), Diễn đàn Sao Paulo của các đảng cánh tả… Đặc biệt là thông qua Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng có thể trao đổi thông tin về tình hình và biện pháp tăng cường quan hệ hợp tác song phương
Trong tình hình thế giới có nhiều biến động lớn như hiện nay, công tác đối ngoại của đảng và việc quản lý, điều hành công tác đối ngoại các cấp đứng trước yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu; góp phần thực hiện tốt nhất lợi ích quốc gia và bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền; giữ vững môi trường hòa bình; tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, sự ủng hộ và hậu thuẫn chính trị quốc tế rộng
Trang 30rãi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế Đồng thời, góp phần vào sự phục hồi, đoàn kết và đổi mới phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đóng góp tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội
Thứ ba, hoạt động đối ngoại nhân dân giữa hai quốc gia
Nếu như ngoại giao đảng mang nặng tính chính trị, hệ tư tưởng thì ngoại giao nhân dân là kênh trao đổi thông tin, giao lưu trực tiếp giữa nhân dân các nước, ít mang mầu sắc chính trị nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Ngoại giao nhân dân là hình thức ngoại giao do các tổ chức, đoàn thể quần chúng và các tổ chức kinh tế - xã hội tiến hành Mọi tổ chức và
cá nhân đều có thể là chủ thể của ngoại giao nhân dân
Hiệu quả hoạt động đối ngoại của các đoàn thể và tổ chức nhân dân được nâng cao trong các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, chống diễn biến hòa bình; bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ môi trường hòa bình để xây dựng đất nước; hỗ trợ và phối hợp với đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước với phương châm "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" Ngoại giao nhân dân được đảm bảo bằng ngoại giao nhà nước và đối ngoại đảng, dựa trên đường lối chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, song nó cũng là nền tảng để ngoại giao nhà nước và đối ngoại đảng hoạt động và phát triển Công tác ngoại giao nhân dân ngày càng có vai trò quan trọng trong mặt trận ngoại giao nói riêng
và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung
Để phục vụ cho quan hệ chính trị, các quốc gia luôn tích cực đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân Hàng năm, hai nước tổ chức nhiều hoạt động giao lưu nhân dân giữa các tổ chức của hai nước nhằm tăng cường hiểu biết giữa nhân dân hai nước, đồng thời góp phần thúc đẩy ngoại giao nhà nước và đối ngoại đảng
Trang 31Xu thế hòa bình hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo trong
quan hệ quốc tế hiện nay Nó đã thay thế cho xu thế "đối đầu" trong thời kỳ
"Chiến tranh lạnh" và trở thành xu thế chính chi phối đời sống chính trị trên thế giới
Quá trình toàn cầu hóa – quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ trở thành xu thế
khách quan bao trùm, lôi cuốn các nước Nó vừa thúc đẩy hợp tác vừa làm tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế Tuy nhiên, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp tác, vừa đấu tranh Nó tạo cơ hội cho các quốc gia có thể rút ngắn khoảng cách phát triển, tăng cường sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc, các nền văn hóa khác nhau Toàn cầu hóa giúp các nước phát triển mở rộng thị trường sang các nước khác Ngược lại các nước đang phát triển tranh thủ được những điều kiện thuận lợi, tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến và áp dụng vào sự nghiệp phát triển đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn không chỉ thuần túy là một quá trình kinh tế - kỹ thuật, mà còn là cuộc đấu tranh kinh tế
- xã hội, kinh tế - chính trị và văn hóa - tư tưởng rất gay gắt với thời cơ và thách thức đan xen lẫn nhau đối với nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Toàn cầu hóa lôi cuốn tất cả các nước tham gia và mỗi nước cần xác định cho mình đường lối hội nhập toàn cầu hóa một cách thích hợp
Trang 32Trước sự phát triển mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam và Liên Bang Nga đều đã chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ cơ hội tìm kiếm vị trí có lợi nhất cho mình, đồng thời hạn chế thấp nhất những nguy cơ, thách thức Phát triển quan hệ đối tác chiến lược Việt - Nga giúp hai nước có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình tham gia toàn cầu hóa
Quá trình hội nhập liên kết quốc tế và khu vực diễn ra mạnh mẽ trong
những năm vừa qua Quá trình này được thể hiện rõ nét thông qua sự hình thành của nhiều tổ chức chính trị quốc tế và khu vực như: Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), ASEAN, APEC, ASEM, SAARC…
Các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia (TNCs) ngày càng có vai trò quan
trọng trong quan hệ kinh tế, chính trị quốc tế Các TNCs làm động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Nhiều TNCs có tiềm lực tài chính khổng lồ, lớn hơn nhiều quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới, có thể kể đến như: City Group (Mỹ); Gazprom (Liên Bang Nga)…
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục có bước tiến nhảy vọt
tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế Đây là một đặc điểm quan trọng của tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã giúp cho loài người đạt được nhiều thành tựu to lớn trong các lĩnh vực: Điện tử, tin học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ sinh học, tự động hóa, công nghệ Nano… Nó làm thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy; đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đổi theo chiều sâu các lĩnh vực của đời sống
xã hội Tuy nhiên, những tiến bộ của cách mạng khoa học công nghệ lại chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn rộng khắp hành tinh Các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, do hạn chế về nhiều mặt nên
Trang 33không dễ dàng có thể tiếp cận những thành tự khoa học, công nghệ tiên tiến, thậm chí đứng trước nguy cơ trở thành nơi thu nhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từ các nước phát triển
Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, xu thế phát triển kinh tế tri thức đang ngày càng lôi cuốn và tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc tạo
ra những thay đổi căn bản không chỉ trong đời sống kinh tế - xã hội, mà cả trong so sánh lực lượng cũng như vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế cũng như mức độ phát triển của mỗi quốc gia hiện nay
Trong những năm vừa qua, Việt Nam quyết tâm thực hiện "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đất nước, nhằm mục tiêu rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Để thực hiện nhiệm vụ này, việc phát triển quan hệ với Liên bang Nga có vị trí khá quan trọng, bởi tiềm năng to lớn của nước Nga về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại
Một đặc điểm nổi bật nữa của tình hình thế giới thế kỷ XXI là sự nổi lên mạnh mẽ của các hoạt động khủng bố, ly khai, tôn giáo cực đoan… đang
là mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền hòa bình an ninh thế giới như: Phong trào ly khai Dung Ngô Nhĩ ở Tân Cương (Trung Quốc), lực lượng ly khai Mijahidin ở Kasmir (Ấn Độ), lực lượng quân giải phóng Kosovo (KLA) ở Serbia, đặc biệt mạng lưới khủng bố AlQueda BinLaden, đã gây ra vụ khủng
bố ngày 11/9/2001 ở New York Mỹ…
Sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã góp phần làm thay đổi bản đồ chính trị quốc tế Đây là một sự kiện có tác động
hết sức to lớn trong bức tranh chính trị thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Những biến động chính trị do sự kiện này mang lại đã tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ Việt - Nga Ngay sau khi ra đời, nước Nga rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài Đến tháng 3/2000 khi Putin lên nắm quyền Tổng thống nước Nga, ông đưa ra một loạt các chính sách giúp nền
Trang 34kinh tế, chính trị Moscow đi vào ổn định, vị thế quốc tế được nâng cao và có những điều chỉnh lớn trong chính sách đối ngoại làm cho quan hệ hai nước có thêm xung lực mới để phát triển
Tuy không còn có được vị thế siêu cường như Liên Xô trước đây, nhưng Liên bang Nga với tư cách là quốc gia có diện tích lớn bậc nhất thế giới (17.098.246 km2), cường quốc hàng đầu thế giới về vũ khí hạt nhân, có nguồn tài nguyên khoáng sản lớn Nước Nga vẫn duy trì được vị trí, tầm ảnh hưởng lớn trên chính trường quốc tế, đặc biệt là với các quốc gia thuộc không gian hậu Xô Viết, SNG Bởi vậy, xây dựng quan hệ với Liên bang Nga là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong hiện tại và tương lai
Các vấn đề mang tính toàn cầu về môi trường, dịch bệnh, bùng nổ dân
số, năng lượng, đói nghèo, tội phạm quốc tế… buộc các quốc gia phải cùng hợp tác giải quyết
* Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương:
Châu Á –Thái Bình Dương đã và đang là khu vực phát triển năng động,
có hiệu quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tạo ra tiềm lực kinh tế ngày càng mạnh Sức mạnh của các nước trong khu vực không ngừng tăng lên làm xuất
hiện "thời kỳ châu Á”
Việt Nam và Nga cùng nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi có nhiều tổ chức kinh tế, chính trị lớn mà hai nước đều là thành viên Việt
Nam và Liên bang Nga cùng là thành viên Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thành Bình Dương (APEC), Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), ASEAN+8, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Liên Minh thuế quan Liên bang Nga, Kazakhstan, Belarus (Việt Nam
là đối tác đầu tiên)… Trong đó Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) là tổ chức hợp tác chính trị, kinh tế khu vực lớp bậc nhất thế
Trang 35giới hiện nay Với việc cùng là thành viên của các tổ chức kinh tế, chính trị trên cơ hội hết sức thuận lợi để hai bên có thể xác lập mối quan hệ hữu nghị bền chặt hơn
Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Á (ASEAN) (28/7/1995), trong khi Liên bang Nga là một đối tác quan trọng của tổ chức này Trong chiến lược đối ngoại mới của nước Nga dưới thời Tổng thống
Putin, Moscow coi quốc gia ASEAN là khu vực châu Á - Thái Bình Dương
có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược hướng Đông và phát triển vùng Viễn Đông, Siberia của nước Nga và xa hơn là đưa Liên bang Nga trở thành siêu cường như thời Xô Viết Việt Nam chính là quốc gia cầu nối để Liên bang Nga hội nhập sâu vào ASEAN và châu Á - Thái Bình Dương, củng cố quan hệ với Việt Nam cũng chính là giúp quan hệ Liên bang Nga - ASEAN phát triển ngày càng thuận lợi Ngoài việc tăng cường quá trình hợp tác, liên kết nội khối, ASEAN còn mở rộng liên kết ra bên ngoài theo các mô hình khác nhau Ví dụ ASEAN hợp tác Liên bang Nga và Ấn độ theo mô hình ASEAN+8
Liên bang Nga và Việt Nam đều là thành viên của APEC (từ
14/11/1998), đây là một động lực rất tích cực để tạo nên một môi trường hợp tác giữa hai nước APEC được thành lập với tầm nhìn dài hạn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sự thịnh vượng cho khu vực và thắt chặt quan hệ trong cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương Cùng là thành viên của APEC, cả Liên bang Nga và Việt Nam có thể hợp tác lẫn nhau cũng như cạnh tranh về thu hút đầu
tư nước ngoài từ những nền kinh tế như Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc, ASEAN …
Trong những năm gần đây, mối quan hệ Liên bang Nga - ASEAN không ngừng được củng cố và đạt được những bước tiến quan trọng: Tháng 12/2005, Tổng thống Nga V.Putin đã ký với những người đứng đầu nhà nước
Trang 36và Chính phủ các nước ASEAN "Tuyên bố chung về sự hợp tác phát triển toàn diện và Chương trình hành động tổng thể phát triển hợp tác giữa Nga và ASEAN giai đoạn 2005 - 2015” Tại Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN và Nga (PMC+1) tại Phnom Penh tháng 6/2003 hai bên đã ký tuyên
bố chung về "Đối tác vì hòa bình và an ninh, phồn vinh và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, tháng 11/2004 Liên bang Nga ký cam kết tham gia Hiệp định hữu nghị và hợp tác (TAC) Đặc biệt Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên ASEAN - Liên bang Nga diễn ra như một phần của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tại Malaysia (12/2005) và việc ký kết "Hiệp định về hợp tác kinh tế và phát triển" đã mở ra giai đoạn mới về chất lượng cho tiến trình phát triển quan hệ Liên bang Nga - ASEAN
Với sự ủng hộ của Việt Nam, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 33 tại Hà Nội (2010), Liên bang Nga đã trở thành một đối tác đầy đủ trong ASEAN+8 đồng thời cũng là thành viên sáng lập của cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) Đây là điều kiện thuận lợi
để đẩy mạnh quan hệ hai nước khi Việt Nam là một thành viên tích cực của ASEAN còn Nga là một đối tác quan trọng của tổ chức
Sự phát triển của mối quan hệ hữu nghị, hợp tác ở khu vực châu Á -
Thái Bình Dương và châu Á hiện nay có sự đóng góp của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) thành lập năm 2001 với 6 thành viên chính thức: Trung
Quốc, Liên bang Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan, với
6 nước quan sát viên: Mông Cổ, Pakistan, Iran, Afghanistan, Belarus và Ấn
Độ Từ khi thành lập SCO luôn coi chống khủng bố và an ninh là chủ đề quan trọng hàng đầu, hợp tác quân sự là sự thể hiện tấn công tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa khủng bố Có thể nói đây là tổ chức an ninh, chính trị khu vực nhưng đang dần trở thành tổ chức kinh tế khu vực
Trang 37Sự sụp đổ của trật tự hai cực Xô - Mỹ và các nước chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và Đông Âu đã dẫn đến hậu quả là bản đồ chính trị, đường biên giới của nhiều quốc gia châu Âu có sự thay đổi Liên Xô từ một quốc gia thống
nhất trở thành 15 quốc gia độc lập Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ có tác động mạnh mẽ đến Việt Nam do các quốc gia trên là thị trường truyền thống của Việt Nam Sự sụp đổ trên dẫn đến Việt Nam mất đi một đối tác thương mại quan trọng và gây ảnh hưởng xấu đến quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, đặc biệt ảnh hưởng đến cộng động người gốc Việt sinh sống ở các quốc gia này
Sự ra đời của khối Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) tháng 12/1991 có tác động mạnh đến Liên bang Nga và Việt Nam, bởi tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát triển những mối liên hệ lịch sử của nước Nga với các nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây
1.2.2 Những yếu tố chính tác động đến quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga
Bước vào thế kỷ XXI, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xuất phát từ
Mỹ đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế thế giới Cho đến nay, Mỹ và các nước châu Âu đã trải qua gần nửa thập kỷ mất mát Kinh tế Mỹ vẫn hồi phục yếu ớt, các nước châu Âu đang đối mặt với khủng hoảng nợ công nặng nề hơn, trong khi các nước mới nổi như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ kinh tế có suy giảm nhưng tăng trưởng vẫn ở mức khá, đã thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển Trung Quốc đang nổi lên mạnh mẽ về mọi mặt, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới, tác động đến mối quan
hệ quốc tế và sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nước lớn như Mỹ
và Nga Mỹ vẫn tuyên bố duy trì và tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu
Á trong thời gian tới Những chiến lược của các nước lớn đều ảnh hưởng đến mối quan hệ quốc tế, trong đó có quan hệ Việt – Nga
Trang 38Thứ nhất, yếu tố Mỹ trong quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga
Nhận thấy tầm quan trọng của khu vực tây Thái Bình Dương và Ấn
Độ Dương, Mỹ đã chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á – một động thái được coi là đối trọng với sức mạnh quân sự, kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc Theo các nhà phân tích, Mỹ đang thực hiện chính sách mà Ngoại trưởng Hillary gọi là ngoại giao "tiến công" Điều đó có nghĩa là Mỹ triển khai các công cụ ngoại giao, bao gồm các chuyến thăm của quan chức cấp cao nhất, các chuyên gia phát triển, các phái đoàn liên ngành tới tất cả
các nước Một mặt, Mỹ tăng cường củng cố các mối quan hệ đồng minh
truyền thống với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Thái Lan, Philippines; đưa ra các sách lược liên kết linh hoạt và có tính thích nghi để đối phó với những thách thức mới cũng như tận dụng cơ hội mới; bảo đảm an ninh và
hạ tầng thông tin để có thể ngân ngừa bất cứ sự khiêu khích nào Mặt khác,
Mỹ cũng tăng cường quan hệ với các quốc gia mới nổi như Trung Quốc,
Ấn độ, Indonesia, Singapore, New Zealand, Malaysia, Mông Cổ, Việt Nam
và các quốc đảo tại Thái Bình Dương Ngoài ra mỹ tăng cường tham gia vào các thể chế khu vực nhằm đối phó với các thách thức xuyên quốc gia, thông qua các cấu trúc khu vực để tăng cường cơ chế pháp quyền, bảo vệ
và đảm bảo quyền tự do hàng hải
Về kinh tế, Mỹ đã mở rộng quan hệ thương mại đầu tư với khu vực
Mỹ đã thông qua FTA với Hàn Quốc, tham gia đàm phán Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) Bên cạnh đó, Mỹ tiếp tục dùng APEC, G20 và các quan hệ song phương để thúc đẩy tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường, giảm rào cản thương mại, tăng cường minh bạch và thực hiện cam kết thương mại công bằng
Trong bối cảnh đó, TPP không chỉ là một hiệp định thương mại tự do
mà còn giúp Mỹ củng cố sự hiện diện ở khu vực, vai trò địa chính trị đối với
Trang 39các nước châu Á - Thái Bình Dương, khẳng định cam kết bảo đảm thịnh vượng, hoà bình, ổn định ở khu vực Hiệp định TPP cũng sẽ giúp chính quyền tương lai của Mỹ tìm ra những cách thức tiếp cận mới với Trung Quốc, Ấn
Độ, Indonesia
Về an ninh, Mỹ tăng cường hiện diện quân sự tại khu vực: Một mặt,
Mỹ tiến hành hiện đại hóa các mối quan hệ quân sự với đồng minh tại Đông Bắc Á; mặt khác, Mỹ tìm cách tăng cường hiện diện tại Đông Nam Á
và Ấn Độ Dương Mỹ đang tìm cách tăng cường tiếp cận chiến thuật tại Đông Nam Á và Ấn Độ Dương Đầu tháng 6/2012, tại Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tuyên bố sẽ tăng lực lượng hải quân
Mỹ ở Thái Bình Dương từ mức 50% hiện nay lên 60% vào năm 2020, và củng cố liên minh quân sự với các nước châu Á, nhất là những nước Đông Nam Á có liên quan đến tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Đông Ông Panetta đã nhấn mạnh việc tăng cường cộng tác quân sự với 6 quốc gia châu Á – Thái Bình Dương mà Mỹ đã có các hiệp định quốc phòng là Australia, Nhật Bản, New Zeland, Philippines, Hàn Quốc và Thái Lan, cũng như mở rộng và tăng cường các quan hệ đối tác hiện có với các nước như Singapore, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Ấn Độ [48]
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang trở thành khu vực ngày càng năng động, thu hút sự quan tâm của nhiều nước lớn Khi Mỹ tập trung nhiều hơn vào khu vực châu Á, Nga không thể để mất các đối tác châu Á của mình cho Mỹ Điều này vừa ảnh hưởng đến kinh tế (sự mở rộng thị trường của Nga), vừa ảnh hưởng đến an ninh của Nga khi Mỹ đã kẹp chặt
cả Đông và Tây của nước này Chính vì thế, Nga cũng đang cho thấy lực lượng hải quân Nga sẽ trở lại Thái Bình Dương mạnh hơn trong tương lai
và khẳng định vị thế của mình Trong bối cảnh mới của khu vực đang diễn
ra hiện nay, Nga càng cần thiết phải mở rộng quan hệ của mình với khu
Trang 40vực Việc duy trì chính sách cân bằng Đông – Tây đã được khẳng định ngay từ nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Putin sẽ tiếp tục được thực hiện
Mỹ gia tăng sự hiện diện ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng nhằm khẳng định sức mạnh siêu cường cũng như kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ các lợi ích của Mỹ Còn Nga vừa tăng cường hợp tác về kinh tế, vừa thận trọng trong hợp tác quốc phòng cũng như các vấn đề nhạy cảm trong khu vực Với những chiến lược như vậy cả Nga và
Mỹ đều có động thái gia tăng quan hệ với Việt Nam và ASEAN Trong bối cảnh và những yếu tố tác động như vậy, quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga có cả cơ hội và thách thức
Thứ hai, yếu tố Trung Quốc trong quan hệ chính trị Việt Nam – Liên bang Nga
Trong bối cảnh mới của quốc tế và khu vực, đặc biệt với sự tăng cường hiện diện của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc đang nổi lên như một cường quốc khu vực và thế giới chắc chắn sẽ
có những tác động đến quan hệ quốc tế trong khu vực trong đó có quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga
Trung Quốc có tham vọng vươn lên trở thành cường quốc biển toàn cầu
và đang tìm cách lấn lướt để từng bước thực hiện mưu đồ khống chế Biển Đông Việc làm này của Trung Quốc, không riêng gì Việt Nam bị đe dọa, mà hầu hết các nước ở khu vực Đông Nam Á, từ Philippines, Indonesia, Malaysia đến Brunei đều bị ảnh hưởng, bị đe dọa
Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nga và Trung Quốc đang liên kết mạnh hơn, nâng tầm quan hệ hợp tác để đối trọng lại với Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế, bằng chứng là các cuộc viếng thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo cao cấp và nhiều cuộc tập trận quân đội hai nước đã được diễn ra trong thời gian gần đây Ngoài ra, những diễn biến tại Ai Cập, Libi, Iran, Xyri và các