Trong công tác tư tưởng ở cấp cơ sở thì công tác tuyên truyền đưa lý luận vào thực tiễn, biến lý luận thành sức mạnh vật chất, vận động quần chúng nhân dân tin tưởng và thực hiện là khâu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ THỊ HOA
NÂNG CAO NĂNG LỰC CHO ĐỘI NGŨ
TUYÊN TRUYỀN VIÊN Ở ĐẢNG BỘ QUẬN
GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG 8
1.1 NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC CỦA TTV 8
1.2 ĐẶC TRƯNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG LỰC CỦA TUYÊN TRUYỀN VIÊN 18
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG LỰC CỦA TUYÊN TRUYỀN VIÊN 35
Chương 2: NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG Ở QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 41
2.1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG Ở QUẬN GÒ VẤP HIỆN NAY 41
2.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN Ở ĐẢNG BỘ QUẬN GÒ VẤP HIỆN NAY 49
2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG Ở QUẬN GÒ VẤP HIỆN NAY 62
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG Ở QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 71
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG Ở Ở QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 71
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ TUYÊN TRUYỀN VIÊN CỦA ĐẢNG Ở QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 87
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
MỞ ĐẦU
Trang 31 Lý do chọn đề tài
Đảng ta định hướng phát triển đất nước theo con đường XHCN, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh làm nền tảng tư tưởng Chính vì vậy công tác tư tưởng có vai trò, nhiệm vụ vô cùng quan trọng Trong công tác tư tưởng ở cấp cơ sở thì công tác tuyên truyền đưa lý luận vào thực tiễn, biến lý luận thành sức mạnh vật chất, vận động quần chúng nhân dân tin
tưởng và thực hiện là khâu quan trọng nhất, như Mác đã khẳng định: “Cố
nhiên vũ khí phê phán không thể thay bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất mà thôi, nhưng lý luận có thể biến thành sức mạnh vật chất một khi nó thâm nhập được vào quần chúng”
Đội ngũ tuyên truyền viên là lực lượng nòng cốt góp phần đắc lực trong việc tuyên truyền, giáo dục đường lối chính sách của Đảng và nhà nước cho cán bộ đảng viên và nhân dân, hướng dẫn họ suy nghĩ và hành động theo đường lối, chính sách đó Muốn vậy đội ngũ nµy phải giỏi, có năng lực tốt mới khơi dậy được phong trào cách mạng quần chúng rộng lớn
Gò Vấp là quận vùng ven của Thành phố Hồ Chí Minh đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, dân số cơ học tăng ở mức cao, dân cư có nguồn gốc
từ nhiều tỉnh thành do đó thành phần phong phú đa dạng, tư tưởng không thuần nhất và không ổn định Đây còn là địa bàn có nhiều nhà thờ thiên chúa giáo, nhiều đình, chùa, miếu, dân theo đạo gốc thiên chúa toàn tòng nhiều, số phật tử đông nên việc tuyên truyền vận động đến từng nhóm, đối tượng dân
cư với các đặc điểm khác nhau đặt ra thách thức lớn cho ĐNBCV và TTV của Quận Mặt khác trong thời gian này nhiều dự án lớn đang được triển khai trên địa bàn Quận ảnh hưởng đến hàng ngàn hộ dân cũng đặt ra thách thức không nhỏ với công tác tư tưởng
Trong những năm qua, công tác tư tưởng của Đảng bộ QuËn Gß VÊp có nhiều khó khăn yếu kém, nhÊt lµ khi Đảng bộ xảy ra vụ án Gò Môn (2005),
Trang 4mét sè cán bộ chủ chốt của Quận bị xử lý hình sự do vi phạm nghiêm trọng
về lối sống đạo đức, tham nhũng hối lộ, làm thất thoát tiền của nhà nước làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, gây hoang mang mất đoàn kết trong nội bộ Đảng Trên địa bàn quận có nhiều đối tượng chống đối chính trị đội lốt tôn giáo luôn tìm mọi cách kích động quần chúng, tung tin bịa đặt nói xấu đảng và chính quyền, gây mất ANTT
§ội ngũ tuyên truyền viên của Quận tuy có nhiều cố gắng song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới Yêu cầu đặt ra
lµ đội ngũ tuyên truyền viên phải được nâng cao năng lực ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
ViÖc nghiên cứu một cách có hệ thống, đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nh÷ng giải pháp có tính khả thi để góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tuyên truyền, làm cho đội ngũ này đủ mạnh về số lượng và nâng cao
về chất lượng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Quận trong tình hình
mới lµ yªu cÇu cÊp thiÕt §ã lµ lý do t¸c gi¶ chän vµ thực hiện đề tài: Nâng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bộ chính trị và các cấp ủy đảng có nhiều chỉ thị về tăng cường củng cố công tác tuyên truyền như: Ngày 7/6/1997 Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Thông báo số 71-TB/TW “Về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng” Chỉ thị 17-CT/TW ngày 15/10/2007 của Ban Bí thư (khóa X) về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới Thông báo 225-TB/TW ngày 03/3/2009 Thông báo Kết luận của Ban Bí thư về cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình tuyên truyền…
Trang 5Các cơ quan nghiên cứu, các chuyên gia lý luận, các nhµ khoa häc, nghiên cứu sinh cũng có nhiều công trình và bài viết về nâng cao năng lực của cán bộ tuyên truyền ë các góc độ khác nhau, được đăng tải trên các sách, báo,
tạp chí… tiêu biểu như: Hà Học Hợi và Ngô Văn Thạo: “Đổi mới và nâng cao
chất lượng, hiệu qủa công tác tư tưởng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002; Đào Duy Quát: “Về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam”,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Lương Khắc Hiếu (Chủ nhiệm đề tài):
“Nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ báo viên ở Hà Nội hiện
nay”, Ngô Văn Thạo: “Đổi mới công tác tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên trong tình hình mới”, tạp chí Tư Tưởng – Văn hóa, số 7/2002,
“Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay” do tiến sĩ Nguyễn Duy Hùng chủ biên, năm 2008, “Mấy suy nghĩ về công tác tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay” của thạc sĩ
Nguyễn Huy Ngọc đăng trên tạp chí cộng sản tháng 3 năm 2011, “Các tuyên
truyền viên là cầu nối giữa đảng, nhà nước và nhân dân” của Minh Thư trên
tạp chí cộng sản tháng 3 năm 2011 Có nhiều luận án Tiến sĩ và luận văn
Thạc sĩ đi sâu nghiên cứu vấn đề năng lực cán bộ như: Luận án “Nâng cao
năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay” của
Hồ Bá Thâm, năm 1994; Luận án “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay” của Phạm
Công Khâm, năm 2000…; Luận văn Thạc sĩ ChÝnh trÞ häc: “Nâng cao năng
lực của cán bộ chủ chốt cấp xã vùng Đồng bằng Bắc bộ nước ta hiện nay”
của Mai Đức Ngọc, năm 2002; Luận văn thạc sĩ “Nâng cao năng lực đội ngũ
Ph¹m TuyÕt LÖ, 2011; “Năng lực tham m-u cña c¸n bé tuyªn gi¸o tỉnh Ninh
Trang 6Các công trình trên cho thấy, hầu hết các tác giả đi sâu phân tích ở các góc độ, tâm lý học, triết học, xây dựng Đảng và nâng cao năng lực tư duy lý luận, năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Một số công trình
có đề cập đến năng lực hoạt động thực tiễn của ĐNTTV nhưng đó mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu làm cơ sở cho việc nghiên cứu cơ bản, toàn diện
về đề tài “Nâng cao năng lực đội ngũ tuyên truyền viªn ở Đảng bộ Quận
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về năng lực của ĐNTTV
- Khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực của ĐNTTV cña Đảng ở Quận
Gò Vấp - Thµnh phè Hå ChÝ Minh hiện nay
- Đề xuất phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực ĐNTTV cña Đảng ở Quận Gò Vấp - Thµnh phè Hå ChÝ Minh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc nâng cao năng lực tư duy và năng lực hoạt động thực tiễn ĐNTTV của cấp ủy phường và TTV các tổ chức đoàn thể ở quận Gò Vấp - Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 7Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu năng lực ĐNTTV của cấp ủy trên địa bàn Quận Gò Vấp từ khi có Thông báo số 71 – TB/TW ngày 7/6/1997 của Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) “Về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng” đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về năng lực của ĐNTTV
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, logic, lịch
sử, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh và nghiên cứu tài liệu…
6 Cái mới của luận văn
Với việc nghiên cứu một cách toàn diện về năng lực của ĐNTTV của Đảng ở Quận Gò Vấp, luận văn đã nêu ra được yêu cầu cấp bách và sự cần thiết của việc nâng cao năng lực cho ĐNTTV trong điều kiện hiện nay Luận văn cũng đã chỉ ra được thực trạng và những hạn chế của ĐNTTV hiện nay Đề ra được các giải pháp để nâng cao năng lực cho ĐNTTV, góp phần xây dựng đội ngũ TTV của Đảng bộ đông về số lượng, mạnh về chất lượng Cùng với các binh chủng của công tác tư tưởng hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền của Đảng
Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn có thể cung cấp cơ sở khoa học phục vụ cho việc củng cố, xây dựng ĐNTTV của quận Gò Vấp
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu cho những ai quan tâm đến đề tài này
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chương, 8 tiết, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo
và phụ lục
Trang 8Chương 1 Một số vấn đề Lí LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ
TUYấN TRUYỀN VIấN CỦA ĐẢNG
1.1 NĂNG LỰC VÀ NĂNG LỰC CỦA TTV
1.1.1 Khỏi niệm về năng lực
Khỏi niệm “năng lực” đó được nhiều ngành khoa học tiếp cận với những cấp độ và khớa cạnh khỏc nhau
Theo nghĩa thụng thường, năng lực là khả năng thực tế mà mỗi con người cú được thụng qua trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tớch lũy kinh nghiệm, tự giỏo dục và tự đào tạo để đỏp ứng một nhu cầu nào đú của cụng việc được giao nhằm giải quyết những nhiệm vụ hay xử lý những tỡnh huống đặt ra trong cụng tỏc, trong đời sống hàng ngày
Năng lực được hiểu là những đặc trưng của cỏ nhõn, biểu hiện ở mức
độ hoàn thành nhiệm vụ được giao trong những điều kiện và phạm vi nhất định Năng lực phải được hỡnh dung một cỏch cụ thể ở những con người cụ thể Khụng cú thứ năng lực chung chung, trừu tượng hoặc hiếm cú năng lực phi điều kiện và trong mọi lĩnh vực hoạt động Tựy thuộc vào nghề nghiệp, vị thế xó hội, chức trỏch, bổn phận và những sắc thỏi riờng của từng cỏ nhõn trong từng quan hệ xỏc định mà năng lực mỗi người cú những hỡnh thỏi (hỡnh thức, dạng, kiểu, loại) biểu hiện thành những khả năng khỏc nhau một cỏch sinh động, tinh tế, đa dạng, phức tạp
Theo từ điển tiếng Việt thỡ năng lực là phẩm chất sinh lý và tõm lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đú với chất lượng cao
Núi đến năng lực, là núi đến khả năng đạt được kết quả trong hoạt động nào đú Muốn hoạt động cú kết quả thỡ cỏ nhõn phải cú những phẩm chất tõm
Trang 9lý nhất định phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó Nếu những thuộc tính tâm
lý không phù hợp với yêu cầu của hoạt động thì coi như không có năng lực Đối với những người có những phẩm chất, năng lực hơn người họ sẽ trở thành tài năng đặc biệt và thiên tài, năng lực của họ phát triển tới mức kỳ diệu, khiến họ đạt đến đỉnh cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau
Tiếp cận theo góc độ triết học có hai nghĩa:
Nghĩa rộng: “ Năng lực là những đặc tính tâm lý của cá thể điều tiết
hành vi của cá thể và là điều kiện hoạt động sống của cá thể”
Nghĩa hẹp: “ Năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người
khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định
đã hình thành trong lịch sử” [49, tr.378,379]
Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Năng lực vùa là cái „tự nhiên” có sẵn, vừa
là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người
“Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có” [26, tr.280] Có thể nói rằng, năng lực không phải là tư chất bẩm sinh thuần túy vốn có của con người, đảm bảo cho con người đạt kết quả trong hoạt động nào đó mà nó là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh vốn có với sự rèn luyện, tu dưỡng, học tập thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Tiếp cận từ góc độ tâm sinh lý: Theo A.G.Côvaliốp, nhà tâm lý học người Nga thì: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của
cá nhân con người, đáp ứng nhu cầu của hoạt động và bảo đảm cho hoạt động
có hiệu quả cao” [4, tr.90]
Như vậy năng lực không phỉ là một thuộc tính tâm sinh lý riêng lẻ nào
đó của con người mà là sự tổng hợp những thuộc tính đáp ứng yêu cầu nhất định của việc cải tạo thực hiện Điều này cũng có nghĩa là nói tới năng lực là
Trang 10nói đến sự tổng hợp của trình độ hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo… để thực hiện có kết quả một hoạt động nào đó
Khoa học đã thừa nhận rằng ngay từ lúc sinh ra, mỗi người có sự khác nhau về cấu tạo bộ não, về hệ thần kinh, khác nhau về các cơ quan cảm giác
và vận động Sự khác nhau về sinh lý, khác nhau về tư chất làm cho sự phát triển khác nhau về năng lực ở mỗi người Song cũng không thể suy ra một cách trực tiếp rằng: năng lực khác nhau là do tư chất quyết định Bởi lẽ tư chất chỉ là điều kiện vật chất – một điều kiện trong rất nhiều điều kiện khác nhau của sự phát triển năng lực
Từ các cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau về năng lực như trên, ta có thể hiểu khái niệm cơ bản về năng lực như sau:
Năng lực là tổng hợp những phẩm chất, thuộc tính tâm - sinh lý phù hợp với một hoạt động nhất định, giúp cho con người có khả năng hoàn thành các hoạt động rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập, hoạt động thực tiễn với chất lượng cao
1.1.2 Khái niệm về năng lực đội ngũ tuyên truyền viên
1.1.2.1 Khái niệm về tuyên truyền
Theo nghĩa rộng: Tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật, nhằm biến quan điểm,
tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng
Theo khái niệm trên thì công tác tuyên truyền, giáo dục của Đảng ta bao gồm những họat động truyền bá những tri thức lý luận chính trị, những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu lý luận và giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cho quần chúng Công tác truyền bá hết sức quan trọng, bởi
vì một chủ thuyết chỉ có thể thấm vào quần chúng thông qua khâu truyền bá Công tác đó của đảng ta gồm các lĩnh vực: truyền bá lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; truyền bá các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng
Trang 11và Nhà nước; thông tin có định hướng các lĩnh vực khoa học và công nghệ, kinh tế, các thành tựu của khoa học xã hội và nhân văn, các thông tin chính trị,
xã hội và văn hoá Những người thực hiện nhiệm vụ truyền bá những nội dung trên là đội ngũ những cán bộ báo cáo viên và tuyên truyền viên
1.1.2.2 Khái niệm tuyên truyền viên
Theo quan điểm của Đảng ta, TTV là lực lượng tuyên truyền miệng có
tổ chức của Đảng ở cấp cơ sở,và chi bộ đảng, có nhiệm vụ tuyên truyền những nghị quyết, những chủ trương của đảng bộ cơ sở và chi bộ, hướng dẫn
sự suy nghĩ và hành động hang ngày của quần chúng ở bên cạnh mình, thu thập những nguyện vọng, tâm tư, sáng kiến của quần chúng để báo cáo với chi bộ, giải đáp theo chủ trương của chi bộ những vấn đề mà quần chúng quan tâm Góp phần thúc đẩy quần chúng tự giác, thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ tuyên truyền đề ra
Như vậy tuyên truyền viên là những người thực hiện nhiệm vụ phân tích, giải thích, nói về một chủ trương, đường lối, chính sách hoặc một nhiệm
vụ cấp bách của Đảng, Nhà nước, của một ngành, một địa phương, một đoàn thể, một giới trong từng giai đoạn, từng thời kỳ cách mạng nhất định đến quần chúng để cổ vũ và hướng dẫn hành động cách mạng của quần chúng
TTV và BCV cùng thực hiện công tác tuyên truyền miệng có những điểm giống và khác nhau
Báo cáo viên là những người nòng cốt, chủ lực trong đội ngũ tuyên truyền miệng, được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhất định, được cấp ủy ra quyết định công nhận, do Ban Tuyên giáo trực tiếp quản lý
* Giống nhau:
BCV và TTV đều có chức năng, nhiệm vụ giống nhau đó là: Phổ biến,
cung cấp thông tin; phân tích bình luận thông tin; động viên cổ vũ mọi người hăng hái thi đua lao động sản xuất và đóng góp xây dựng xã hội
Trang 12BCV và TTV đều có chung đối tượng tuyên truyền
BCV và TTV cùng sử dụng công cụ chính để tuyên truyền là ngôn ngữ nói( tuyên truyền miệng)
* Khác nhau:
Tuyên truyền viên tuy giống báo cáo viên ở chức năng, nhiệm vụ, song
về quy mô, hình thức và phương thức tổ chức hoạt động thì khác
Phương thức hoạt động của BCV chủ yếu là giảng bài, báo cáo chuyên
đề, giới thiệu nghị quyết, nói chuyện thời sự chính sách, diễn thuyết trước một nhóm người nghe trong hội nghị, các buổi sinh hoạt đảng, trong các câu lạc
bộ, các cuộc mít tinh, nơi tập trung đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, dưới hình thức trao đổi tranh luận hội đàm, hỏi đáp
Về tổ chức thì BCV được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ ở các cấp từ trung ương đến phường xã, thị trấn, Đảng bộ cơ sở, các ngành, các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang Được cấp ủy ra quyết định công nhận và Ban tuyên giáo trực tiếp quản lý
Phương thức hoạt động của TTV chủ yếu là dùng lời nói và việc làm cụ thể để giải thích, thuyết phục nêu gương động viên cổ vũ quần chúng hành động trong mọi thời gian và hoàn cảnh TTV có thể chỉ tuyên truyền cho một đám đông, hoặc một nhóm người kể cả từng đối tượng riêng lẻ trong sinh hoạt lao động, công tác hàng ngày với quần chúng Dựa trên những nội dung đã được chi bộ truyền đạt hoặc được BCV thông tin, TTV sẽ cụ thể hóa thành những nội dung và sử dụng các phương pháp hình thức thích hợp với từng đối tượng TTV có thể tuyên truyền một, hoặc nhiều chủ đề từ người này sang người khác (Tuyên truyền rỉ tai) Hoạt động tuyên truyền diễn ra như một cuộc trò chuyện, tâm sự trong bất cứ thời gian, địa điểm nào khi thuận tiện Đây là ưu thế của TTV so với BCV
Về tổ chức: TTV chỉ tổ chức ở cấp cơ sở không có hệ thống dọc từ trung ương xuống Tuyên truyền viên không nhất thiết phải là đảng viên, còn
Trang 13BCV phải là cán bộ đảng viên Các tổ chức Đảng cơ sở có thể lựa chọn những cán bộ đảng viên có phẩm chất và năng lực tuyên truyền, uy tín trong chi bộ, các tổ chức đoàn thể trong khu dân cư cử làm TTV và trực tiếp lãnh đạo, quản
lý hoạt động của họ
1.1.2.3 Khái niệm về năng lực đội ngũ tuyên truyền viên
Năng lực đội ngũ TTV thể hiện qua năng lực của các TTV hay nói cách khác năng lực ĐNTTV là tổng hợp năng lực của cả ĐNTTV
Cán bộ làm công tác tư tưởng của Đảng nói chung, ĐNTTV nói riêng đều phải có năng lực nhất định Trong đó năng lực tư duy và năng lực hoạt động thực tiễn là hai nhân tố quan trọng nhất tạo nên tài năng của mỗi người Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau, cái này
hỗ trợ cái kia phát triển Không có năng lực tư duy thì không thể nào có khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo Trái lại, chỉ có năng lực tư duy mà không
có năng lực hoạt động thực tiễn thì năng lực tư duy dẫn đến bị xơ cứng, giáo điều, thoát ly thực tiễn, thoát ly cuộc sống, dễ rơi vào chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí
Tuyên truyền viên là người trực tiếp cụ thể hóa và triển khai những nội dung cần tuyên truyền đến với đối tượng cần tuyên truyền Cung cấp những kiến thức, những giá trị tinh thần nhất định phù hợp với yêu cầu của đối tượng; tác động đến ý thức của đối tượng bằng lượng thông tin được phổ biến Nếu như những kiến thức mới, những giá trị tinh thần mới là kết quả trực tiếp của khoa học, của hệ tư tưởng, của nghệ thuật, thì việc hình thành một trạng thái ý thức nhất định, hình thành thế giới quan, những định hướng có giá trị, tạo niềm tin cho đối tượng và kích thích họ có những hành động phù hợp với kết quả truyền bá của TTV đặt ra Do vậy, người TTV phải có năng lực toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu
Trang 14Hồ Chí Minh đã nói về năng lực của cán bộ tuyên truyền rằng: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại.” [23, tr 167]
Từ sự phân tích trên có thể hiểu, năng lực của ĐNTTV là tổng hợp các
khả năng lĩnh hội, xử lý thông tin và truyền bá thông tin bằng lời nói của những TTV đến đối tượng với chất lượng và hiệu quả cao
1.1.3 Các nhiệm vụ chủ yếu của tuyên truyền viên
Một là, nhiệm vụ Một là, nhiệm vụ tuyên truyền các nghị quyết những
chủ trương của đảng bộ cơ sở và chi bộ Thông qua các nội dung của nghị
quyết được chi bộ cung cấp TTV tuyên truyền đến các quần chúng nhân dân trong khu phố về các chủ trương, chương trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương Giúp quần chúng nhân dân hiểu biết đầy đủ về những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của địa phương
Hai là, hướng dẫn sự suy nghĩ và hành động hàng ngày của quần
chúng nhân dân bên cạnh mình Đây là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động
của TTV Tuyên truyền viên không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho đối tượng một khối lượng thông tin nhất định về các lĩnh vực trong nghị quyết của cấp ủy đảng cơ sở và chi bộ mà quan trọng hơn là định hướng được suy nghĩ của quần chúng theo định hướng của cấp ủy đảng cơ sở và thúc đẩy họ hành động theo định hướng đó
Ba là, nhiệm vụ nắm tình hình tư tưởng, tâm tư nguyện vọng, sáng kiến
của quần chúng nhân dân để báo cáo với chi bộ Thông qua hoạt động tuyên
truyền của mình ĐNTTV thực hiện thông tin hai chiều, “chiều xuống và
chiều lên” Qua việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, thông tin đến được các đối tượng và nhờ thông tin phản hồi từ phía đối tượng, TTV có thể nắm bắt được nhận thức, thái độ, tình hình tâm trạng, tư tưởng của họ đối với đường lối, chủ trương của cấp ủy đảng cơ sở, nắm được tâm tư nguyện vọng, nhu
Trang 15cầu, lợi ích của người nghe Đồng thời với phương thức hoạt động tuyên truyền theo cách rỉ tai của mình, ĐNTTV giải đápp thắc mắc của đối tương theo chủ trương của chi bộ, góp phần hình thành các luồng dư luận xã hội tích cực theo định hướng của chi bộ Mức độ phổ biến, tính bền vững của các khuôn mẫu tư duy xã hội phản ánh qua dư luận xã hội là cơ sở để dự đoán mức độ đồng tình hoặc phản đối của dư luận xã hội đối với các chủ trương chính sách của cấp ủy đảng Trên cơ sở thông tin phản hồi này, cấp ủy đảng
cơ sở và chi bộ kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách sao cho chúng vừa phù hợp nghị quyết của đảng cấp trên vừa phù hợp với thực tiễn địa phương, vừa phù hợp với lòng dân
Bốn là, TTV làm nhiệm vụ giáo dục, giúp đỡ một số đối tượng cá biệt
ĐNTTV đóng vai trò như là phụ trách, một người bạn
Năm là, TTV là kênh thông tin huyết mạch, là cầu nối giữa Đảng và
nhân dân ĐNTTV đóng vai trò như là sợi dây bền chặt nối liền Đảng với
quần chúng; Nhà nước với công dân; trung ương, địa phương với cơ sở, góp phần tăng cường liên minh công nhân, nông dân và tri thức trong tiến trình cách mạng, khắc phục tệ nạn quan liêu, xa rời quần chúng Mọi chủ trương đúng đắn của Đảng phải đi vào cuộc sống của người dân, phải được nhân dân đồng tình ủng hộ và thực hiện Những phản hồi thông tin của quần chúng nhân dân thông qua ĐNTTV sẽ là cơ sở để Đảng ra những chủ trương nghị quyết đúng đắn hơn
1.1.4 Vai trò của TTV trong công tác tuyên truyền miệng
1.1.4.1 Vai trò của TTV đối với yêu cầu thông tin xã hội nói chung
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh
tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng rộng và sâu, quần
Trang 16chúng nhân dân được tiếp cận các nguồn thông tin vô cùng phong phú của thế giới trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Trong đó nhiều tầng, nấc thông tin, nhiều luồng thông tin đòi hỏi phải có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn mới hiểu đúng bản chất của sự kiện, thông tin Nhu cầu giao lưu hội nhập thế giới trong các lĩnh vực trong nhân dân cũng ngày càng cao
Do đó đòi hỏi ĐNTTV, nếu không nâng cao năng lực tư duy nhạy bén, vốn kiến thức thực tiễn phong phú thì không thể đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng cao và đa dạng, tầm hiểu biết phát triển không ngừng của quần chúng nhân dân Nếu không nâng cao năng lực thì TTV chỉ là những chiếc máy phát thanh đơn điệu, trống rỗng và nhàm chán
1.1.4.2 Vai trò của TTV đối với yêu cầu công tác tuyên truyền của Đảng
Tuyên truyền miệng thông qua hoạt động của ĐNTTV đóng vai trò to lớn
và là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất của công tác tư tưởng
Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức quan trọng, tạo ra một diện mạo mới rất tốt đẹp của đất nước, được nhân dân cả nước hoan nghênh và bầu bạn quốc tế thán phục Uy thế của nước Việt Nam đổi mới được đánh giá cao trên chính trường quốc tế, đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt
Tuy nhiên, cùng với thành tựu mọi mặt, sự chống phá của các thế lực thù địch cũng gia tăng Họ tìm cách bôi nhọ lãnh đạo, bóp méo sự thật, tiến hành nhiều phương thức đẩy mạnh sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Một số cán bộ, đảng viên đã tỏ ra rúng động trước
sự tấn công của các thế lực thù địch, dẫn đến tình trạng mơ hồ địch ta, mất phương hướng phấn đấu, giảm sút niềm tin vào Đảng và chế độ, không còn nói và làm theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng mà quay lưng lại với quá khứ hào hùng của dân tộc, phản bội truyền thống cách mạng quý báu, tự huyễn hoặc rằng đó mới là “thức thời”, “đổi mới tư duy”
Trang 17Bên cạnh đó, có tình trạng một số cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ được giao, vi phạm những điều đảng viên không được làm, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, gây mất niềm tin đối với nhân dân
Trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới, nhất là trước sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và một số nước Đông Âu, một số người, đặc biệt là những người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm và sự từng trải về chính trị đã tỏ ra giao động, giảm sút niềm tin, có nhận thức mơ hồ đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội, đối với đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Đó đây cũng đã xuất hiện một số khuynh hướng tư tưởng chính trị sai trái, mà biểu hiện của nó là tập trung tán dương sự tồn tại vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản, bác bỏ tính hợp quy luật, tiến bộ của chủ nghĩa xã hội hiện thực, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng đối với nhân dân, gieo rắc rối lối tư duy phi lịch sử, phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc, phủ nhận những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân ta giành được Trước tình hình đó công tác tư tưởng của Đảng ta phải không ngừng được chú trọng và tăng cường, đổi mới Điều quyết định hiệu quả công tác tư tưởng trong điều kiện mới hiện nay là đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, trong đó đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền miệng là vô cùng quan trọng
Tuyên truyền viên là chiến sĩ xung kích, là một trong những vũ khí sắc bén, kịp thời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động Hoạt động của đội ngũ tuyên truyền viên có ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng rất lớn vì đây là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, trực tiếp truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến, giáo dục, quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các vấn đề thời sự quan
Trang 18trọng trong nước và quốc tế; góp phần tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng
Tuyên truyền viên có khả năng đưa được những thông tin nội bộ, những thông tin mà về lý do nào đó không đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng được
Để đáp ứng yêu cầu mới hiện nay ĐNTTV phải không ngừng nâng cao năng lực
Ngày 3/8/1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 14-CT/TW
“Về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên của Đảng” Chỉ thị nêu rõ: tuyên truyền viên có nhiệm vụ tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách quan trọng và những quan điểm của Đảng ta đối với những vấn đề thời sự lớn cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên của các đoàn thể quần chúng; giải đáp theo quan điểm của Đảng những vấn đề mà quần chúng quan tâm; báo cáo lại cho cấp ủy Đảng những nguyện vọng, tâm tư, sáng kiến của quần chúng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Khóa
V (6/1983), Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Thông báo 71-TB/TW ngày 7/6/1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII), Nghị quyết Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (Khóa IX) “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” và nhiều văn kiện khác của Đảng đều khẳng định sự cần thiết của công tác tuyên truyền miệng và vai trò quan trọng của việc xây dựng ĐNTTV ở cơ sở
1.2 ĐẶC TRƯNG VÀ CẤU TRÚC NĂNG LỰC CỦA TUYÊN TRUYỀN VIÊN
1.2.1 Đặc trưng hoạt động của tuyên truyền viên
Hoạt động của người TTV là một dạng lao động xã hội đặc biệt có những đặc điểm riêng Tìm hiểu đặc trưng của hoạt động xã hội này có ý nghĩa lớn đối với việc nhận thức về các yếu tố cầu thành năng lực tư duy và
Trang 19năng lực hoạt động thực tiễn cũng như đối với việc tu dưỡng rèn luyện về mặt năng lực tư duy và năng lực thực tiễn của người TTV Để nhận biết đặc trưng của một hoạt động nghề nghiệp nào đó, người ta có thể nhìn từ nhiều góc độ khác nhau: Đối tượng hoạt động, công cụ của hoạt động, tính chất của hoạt động Từ quan niệm như vậy có thể nêu một số đặc trưng cơ bản trong hoạt động của người TTV như sau:
1.2.1.1 Đặc trưng về đối tượng hoạt động
Hoạt động của TTV có đối tượng quan hệ trực tiếp là con người Ở đây hoạt động của TTV thoạt nhìn có nét gần gũi với hoạt động của BCV và nhà sư phạm, nhà giáo dục Song, phân tích cụ thể hơn sẽ thấy những nét khác biệt, đặc trưng riêng, thể hiện ở chỗ: Đối tượng hoạt động của TTV với tư cách là một cộng đồng hoặc 1 nhóm người và một cá nhân riêng lẻ vừa có tính chất nhất thời (tập trung lại trong một lần nghe nói chuyện, dự mit tinh hoặc một buổi tuyên truyền…), vừa có tính không đồng nhất hoặc ít đồng nhất về các nhu cầu, lợi ích, tâm trạng, về các đặc điểm xã hội: giai cấp, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, tâm lý, trình độ học vấn, khả năng nhận thức phong cách tư duy Hiệu quả của hoạt động này đòi hỏi người TTV không chỉ có tri thức về lĩnh vực chính trị - xã hội mà đòi hỏi một phạm vi rộng rãi, tổng hợp các lĩnh vực kiến thức và phương pháp truyền đạt, sự gần gũi, hiểu biết sâu sắc về đối tượng Đồng thời đòi hỏi người TTV phải có uy tín đối với đối tượng
1.2.1.2 Đặc trưng về công cụ hoạt động
Công cụ hoạt động chủ yếu của người TTV là ngôn ngữ Người TTV thực hiện sự thông tin, thuyết phục, cảm hóa đối tượng qua ngôn ngữ Bằng công cụ chủ yếu là ngôn ngữ người TTV thực hiện quá trình chuyển tải thông tin đến đối tượng nhằm mục đích đã định ra Do đó, TTV cần thường xuyên mài sắc công cụ hoạt động của mình bằng cách tích lũy vốn từ, nắm vững các quy luật của ngôn ngữ, đặc điểm văn phong mình định tuyên truyền cho đối
Trang 20tượng cụ thể TTV phải biết tận dụng và phát huy tối đa ưu thế công cụ hoạt động của mình là ngôn ngữ nói và giao tiếp trực tiếp
TTV bằng việc làm cụ thể của mình hằng ngày trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương, gương mẫu tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương để tuyên truyền thuyết phục quần chúng noi theo
1.2.1.3 Đặc trưng về tính chất hoạt động
Tuyên truyền miệng là một khoa học và là một nghệ thuật Do đó hoạt động của TTV là hoạt động nghệ thuật, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật giao tiếp và nói chung là nghệ thuật diễn thuyết
Hoạt động nghề nghiệp của người TTV có đặc trưng nổi bật là sự độc lập và sáng tạo Tuy nhiên, sự sáng tạo của TTV có những đặc trưng riêng Nhà báo, biên tập viên phát thanh và truyền hình sáng tạo trong bài viết, phát thanh viên sáng tạo trong khi trình bày bài nói Sự sáng tạo của nhà báo và sự sáng tạo của phát thanh viên là hai quá trình khác nhau diễn ra ở hai con đường riêng biệt Báo cáo viên thì thực hiện cả hai quá trình sáng tạo: sáng tạo ra nội dung tuyên truyền của mình và trình bày sáng tạo đó trước đối tượng tuyên truyền Nhưng đối với TTV thì phải thực hiện nhiều lần sáng tạo sáng tạo trong nội dung để phù hợp với nhiều nhóm đối tượng khác nhau và trình bày sự sáng tạo đó trước nhiều nhóm công chúng khác nhau và ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm Vì vậy TTV phải cực kỳ linh họat sáng tạo đáp ứng mọi yêu cầu, điều kiện khác nhau khi tuyên truyền
Hoạt động của TTV vừa mang tính chất của nhà giáo dục vừa mang tính chất của nghệ sĩ vừa là nhà diễn thuyết, vừa là người bạn Trước khi tiến hành tuyên truyền, TTV phải xử lý thông tin đã được cung cấp thành các nội dung cụ thể để tuyên truyền cho các đối tượng cụ thể khác nhau Tùy vào đối tượng và không gian địa điểm cần phải tuyên truyền mà TTV biên tập thành
Trang 21các nội dung cụ thể và các phương pháp tuyên truyền cho phù hợp TTV có khi thực hiện tuyên truyền giống như buổi tâm tình của một người bạn với đối tượng Qua buổi nói chuyện TTV khéo léo đưa nội dung thông tin và định hướng cho đối tượng
Đây là những yếu tố khách quan qui định đặc trưng hoạt động của người TTV thực hiện nhiều lần sáng tạo trong một hoạt động
Nếu hoạt động của TTV là hoạt động nghệ thuật thì hoạt động đó không chỉ đòi hỏi sự sáng tạo, sự rèn luyện nghiêm túc, công phu mà còn đòi hỏi có năng khiếu vì muốn sáng tạo nhiều, ngoài kiến thức, kỹ năng không thể không có năng khiếu nghề nghiệp Hoạt động của TTV đòi hỏi năng khiếu giao tiếp, năng khiếu nói, sự nhạy cảm về chính trị - xã hội Nhanh nhạy trong việc nắm bắt tâm lý đối tượng Vì vậy, việc lựa chọn để đào tạo, sử dụng cần lấy những năng khiếu trên
1.2.1.4 Đặc trưng về phương thức hoạt động
Nếu hoạt động của BCV là sáng tạo ra các bài phát biểu, bài giảng để tiến hành tuyên truyền trước một số lượng đối tượng trong hội nghị hoặc trong lớp học, trong cuộc mít tinh Các hoạt động này được chuẩn bị trước công phu về mọi mặt BCV cũng có tâm thế chuẩn bị tích cực cho buổi tuyên truyền, điều này giúp BCV nắm phần chủ động trong họat động của mình, vì vậy dù muốn hoặc không muốn đối tượng vẫn phải nghe
TTV thì tiến hành hoạt động của mình trong mọi tình huống với các nhóm đối tượng khác nhau Hình thức họat động thì linh họat phù hợp với các đối tượng cụ thể Đôi khi TTV ở vào thế không chủ động Ví dụ như xảy ra sự kiện đột xuất như các phần tử quá khích tập trung khiếu kiện, hoặc đập phá tài sản ở các khu công cộng, công sở TTV không có thời gian chuẩn bị phải nhạy bén linh họat đối phó với tình hình Điều này đòi hỏi TTV phải cực kỳ nhanh nhạy trong nắm bắt tình hình và tâm lý đói tượng Mặt khác TTV có
Trang 22khi chỉ tuyên truyền trực tiếp cho các nhóm nhỏ nên có sự gần gũi hiểu biết lẫn nhau rất mật thiết, nếu TTV không có những phẩm chất đạo đức, năng lực về TT thì rất khó thuyết phục người nghe
1.2.2 Cấu trúc năng lực của tuyªn truyÒn viên
1.2.2.1 Năng lực tư duy của tuyên truyền viên
Tư duy hiểu theo khái niệm triết học thì tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não người Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận
Trên những phương diện đó dưới góc độ mang tính khái quát, có thể
coi: Năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất tâm – sinh lý của con người, nhằm đáp ứng yêu cầu nhận thức và cải tạo thế giới trong mỗi giai đoạn phát triển lịch sử - xã hội nhất định
Năng lực tư duy là một hệ thống chỉnh thể các yếu tố cao thấp khác nhau rất phong phú, đa dạng và phức tạp Trong tổng thể những yếu tố cấu thành năng lực tư duy, có thể coi trừu tượng hóa, khái quát hóa là những năng lực cơ bản, đặc trưng tư duy của TTV, bởi vì chính năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa tư duy nắm được bản chất qua hiện tượng, cái chung trong những cái riêng và từ đó đi đến hình thành những khái niệm
Như vậy, năng lực tư duy của tuyên truyền viên là khả năng lụa chọn, sắp xếp, kết hợp các phương pháp, hình thức tư duy và khả năng sử dụng thành thạo nhuần nhuyễn các phương pháp, hình thức đó theo những cách thức, tác dụng riêng cho phù hợp với các đối tượng
Trình độ tổ chức cao hay thấp, vốn hiểu biết nhiều hay ít ở mỗi TTV là
do năng lực tư duy cao hay thấp mà có, nhưng đồng thời đến lượt nó, trình độ tri thức càng cao, vốn hiểu biết phong phú là nguyên nhân, là điểu kiện quan trọng bậc nhất để TTV nâng cao năng lực tư duy của mình Thiếu vốn hiểu biết phong phú của cuộc sống, thiếu và yếu về tri thức khoa học, tri thức lý
Trang 23luận, TTV không thể nâng cao được năng lực tư duy của mình Do nội dung tri thức không tách rời phương pháp của nó, nên năng lực tư duy luôn gắn chặt với phương pháp tư duy Tư duy là một quá trình trong đó TTV tiến hành hàng loạt các thao tác trí tuệ theo một logic nhất định Phương pháp tư duy là công cụ giúp năng lực tư duy biểu đạt sức mạnh của mình Năng lực tư duy không chỉ thể hiện tập trung ở phương pháp tư duy mà còn thể hiện ở trình độ hiểu biết về phương pháp, khả năng xác định, xây dựng và vận dụng, phương pháp Đứng trước đối tượng cần truyển đạt, chủ thể tư duy cần sử dụng các thao tác tư duy nhuần nhuyễn nhạy bén đồng thời phải quyết định lựa chọn phương pháp nào, một hay nhiều loại phương pháp, phương pháp nào là chủ yếu cũng như cách thức phối hợp giữa chúng ra sao để đạt được kết quả
Năng lực tư duy có nhiều cấp độ phát triển, nhiều loại hình khác nhau
Ở mỗi TTV lại mạnh về một loại hình tư duy riêng, với cấp độ phát triển cao thấp khác nhau; năng lực tư duy không chỉ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện chung mà còn do yếu tố chủ quan của mỗi TTV chi phối
Hoạt động của ĐNTTV do bản chất và yêu cầu của nó đòi hỏi người TTV phải có năng lực tư duy tốt Năng lực tư duy tốt sẽ tạo điều kiện để nâng cao năng lực trong việc thực hiện các kỹ năng tuyên truyền Đối với ĐNTTV, yêu cầu cần có những năng lực tư duy cơ bản như sau:
Năng lực tư duy logic
Tư duy logic là một trong những loại hình hoạt động đặc biệt của bộ óc con người trong quá trình nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan Tư duy
là sự phản ánh của thế giới khách quan, nhưng tư duy có lôgic của thế giới khách quan Lôgíc là sự nối tiếp nhất định của các tư tưởng, là mối liên hệ tất yếu nhất định của các khái niệm, phán đoán phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người Nói cách khác, lôgic là tổng thể những quy luật của tư duy mà trên cơ sở đó thể hiện sự phản ánh phù hợp với thế giới khách quan
Trang 24được thực hiện trong một hệ thống những cái trừu tượng có liên hệ biện chứng với nhau Lôgíc là sự biểu hiện khái quát, trừu tượng trong tư duy các khách thể của thế giới bên ngoài, các thuộc tính là quan hệ của chúng dưới hình thức hệ thống các khái niệm, phạm trù có quy luật của khoa học
Trong quá trình chuẩn bị nội dung tuyên truyền của TTV đòi hỏi phải theo một trình tự Lôgíc từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chưa biết hoặc biết chưa đầy đủ đến biết đầy đủ, sâu sắc hơn, từ gần đến xa, từ cụ thể đến trừu tượng, TTV cần trình bày một cách có hệ thống chặt chẽ những quan điểm lý luận hoặc những sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật (tùy theo chủ đề, nội dung tuyên truyền), kết hợp nêu ra những trích dẫn tài liệu, văn bản hoặc dẫn chứng thực tế làm sáng tỏ các quan điểm cơ bản mà mình cần thông tin
Với những đặc trưng đó, quá trình hoạt động của tư duy Lôgíc phải dựa trên những phương pháp và hình thức khác nhau và phải theo một trật tự Lôgíc nhất định Những phương pháp đó là phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa Trong quá trình hoạt động của tư duy, những phương pháp ấy không nhất thiết phải được kết hợp với nhau một cách tuần
tự, mà có thể chúng đồng thời được tiến hành trong sự tương hỗ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp Tuy nhiên, mỗi phương pháp khi được tiến hành theo những cách thức đặc trưng của nó thì cũng được xem là một thao tác của quy trình tư duy Như vậy quá trình tư duy được tiến hành trong sự huy động sức mạnh của mỗi phương pháp tư duy và sự kết hợp các phương pháp ấy theo một trật tự lôgic phù hợp với tính lôgic vốn có của đối tượng nghiên cứu Chính vì thế, năng lực tư duy lôgic còn thể hiện ở năng lực lựa chọn các vấn
đề có liên quan để liên kết các hình thức tìm ra các kết luận nhất định
Năng lực tư duy độc lập, sáng tạo
Năng lực tư duy độc lập: là khả năng tư duy chủ động trong công việc
cụ thể của mình, có thể tự hoạch định chương trình và trù tính kế hoạch hoạt
Trang 25động cho mình để thực hiện một nội dung tuyên truyền đã định mà không trông chờ hay nhờ vào sự “chỉ bảo” hay sự “viện trợ” của người khác; biết tìm cho mình con đường riêng với những phương thức hành động đặc thù trong tính phổ biến; tránh sáo mòn, dẫm lại những lối mòn của TTV khác một cách không cần thiết Để có khả năng làm việc độc lập, TTV không chỉ phải lao động bền bỉ, cần mẫn tìm tòi học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao, có kỷ luật
tự giác mà còn là lòng say mê, ham thích công việc với một sự năng nổ và tháo vát trong hoạt động tuyên truyền miệng Năng lực này vô cùng quan trọng và cần thiết đối với TTV vì nó phù hợp với đặc điểm và phưong thức họat động của TTV
Năng lực sáng tạo: theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
thì sáng tạo là quá trình họat động của con người, trên cơ sở nhận thức được các quy luật của thế giới khách quan tạo nên những giá trị tinh thần và vật chất mới về chất, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của xã hội Nó có các biểu hiện sau:
Khả năng di chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống mới, tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, đặc biệt là tìm ra con đường mới, cách giải quyết vấn đề mới trong những tình huống luôn luôn biến đổi mà không gò bó, không phụ thuộc vào cái đã có Phát hiện vấn đề mới trong điều kiện quen biết, đúng quy cách
Xã hội luôn phát triển không ngừng, qua mỗi giai đọan phát triển là
để lại cả kho tàng tri thức, kinh nghiệm cho thế hệ sau Điều này giúp cho con người có thể thích nghi và hòa nhập nhanh với điều kiện sống Tuy nhiên nếu cứ duy trì mãi những tri thức đã có sẵn thì trở nên mòn mỏi, nhàm chán và giới hạn nhận thức và họat động của con người Năng lực sáng tạo sẽ không cam chịu dừng lại ở những cái đã có, trên cơ sở những tri thức đã có thúc đẩy việc tìm kiếm phát hiện cái mới và những giải pháp
Trang 26thay đổi Việc phát hiện khiếm khuyết của những cái đã có hoặc nêu vấn đề trong những điều kiện quen thuộc để tiếp tục hoàn thiện là đặc trưng quan trọng của hoạt động sáng tạo
Khả năng luôn tìm tòi bản chất cốt lõi bên trong của sự vật luôn phát hiện cái mới trên cơ sở kế thừa những cái đã có Năng lực đó cần thiết trong quá trình diễn thuyết, thông tin thời sự, các sự kiện văn hóa xã hội của TTV
Đó cũng là khả năng lựa chọn phương pháp phù hợp để tuyên truyền trong từng giai đọan, điều kiện, hoàn cảnh, đối tượng khác nhau Đây cũng là năng lực truyền đạt, cổ vũ mọi đối tượng đi đến hành động thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong cuộc sống Đó là khả năng tìm ra “lối đi” mới trên con đường đã quen thuộc, phát hiện ra cách làm năng động Khả năng này vô cùng quan trọng và cần thiết đối với TTV
Năng lực tư duy chính trị nhạy bén
Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm của những quan hệ và lợi ích của các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, giữa công dân và nhà nước, giữa người và người Nếu tư duy văn hóa hướng tới cái đẹp, nhạy cảm với cái đẹp, cái xấu; còn tư duy kinh tế là nhạy càm với quan hệ lợi ích kinh tế thì năng lực tư duy chính trị, là nhạy cảm với quyền và số phận con người, số phận của giai cấp, số phận của nhân dân Ở đây chúng ta nói tư duy chính trị là tư duy
sứ mệnh của Đảng, sứ mệnh của Nhà nước, số phận của chế độ
Chính trị là biểu hiện tập trung của các quan hệ kinh tế, lợi ích và quyền lực kinh tế Tư duy chính trị là tư duy về quyền lực chính trị và năng lực điều khiển, bảo vệ quyền lực ấy Đối với nước ta gắn liền với sự lạnh đạo của Đảng
Năng lực tư duy chính trị nhạy bén là khả năng phát hiện, nắm bắt, dự báo và xử lý những vấn đề mới phát sinh trong đời sống chính trị có cơ sở từ mức độ thấu hiểu những quan hệ chính trị, các quá trình chính trị và những
Trang 27quy luật của đời sống chính trị cũng như bề dày kinh nghiệm chính trị của mỗi TTV Hiểu sâu sắc tri thức chính trị nhất là tri thức ở trình độ lý luận, bám sát thực tiễn chính trị trong nước và quốc tế, tích cực tham gia vào phong trào chính trị của quần chúng, hòa mình vào đời sống chính trị của đất nước là một trong những con đường đạt tới bản lĩnh chính trị và sự nhạy bén chính trị ở mỗi TTV
Tình hình thế giới và trong nước đang diễn biến rất nhanh với rất nhiều
sự kiện, đòi hỏi phải thông tin, giải thích cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhanh chóng, kịp thời Nếu không sẽ mất tính nhạy bén và mất hiệu lực
Trong điều kiện hiện nay, tính nhạy bén phải được đề cao, vì rất nhiều nguồn thông tin của các thế lực thù địch xâm nhập vào nước ta, luôn có ý đồ xuyên tạc đường lối, chính sách cùa Đảng và Nhà nước ta, đòi hỏi TTV giải thích đúng đắn, nhạy bén các sự kiện diễn ra trên lập trường quan điểm của Đảng Công tác tuyên truyền phải đáp ứng tính thời sự, đòi hỏi TTV hướng vào những vấn đề nóng hổi, những vấn đề đang kích thích sự chú ý của cán
bộ, đảng viên và nhân dân Chính nhờ năng lực tư duy chính trị nhạy bén của TTV làm tăng lượng thông tin, cổ vũ mọi người thực hiện mục tiêu đã đề ra
1.2.2.2 Năng lực họat động thực tiễn của tuyên truyền viên
Năng lực hoạt động thực tiễn chính là tổng hợp các thuộc tính sinh lý
và tâm lý của con người có khả năng đáp ứng những yêu cầu của hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học có kết quả cao
Năng lực hoạt động thực tiễn của TTV do nội dung yêu cầu, đặc điểm của hoạt động tuyên truyền qui định.Vì vậy, TTV cần có một số năng lực hoạt động thực tiễn chủ yếu sau đây:
Năng lực nắm bắt đặc điểm đối tượng
Đây là yếu tố đầu tiên quyết định thành công hay thất bại của TTV và cũng là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong nghệ thuật tuyên
Trang 28truyền miệng Tuyên truyền miệng là quá trình tác động hai chiều: TTV – đối tượng – TTV Hoạt động tuyên truyền miệng của người TTV chỉ đạt hiệu quả cao khi quá trình đó là một quá trình điều khiển được Hiểu rõ đối tượng là căn cứ để người TTV tổ chức và điều khiển quá trình trao đổi thông tin có hiệu quả Vì vậy năng lực nắm bắt đặc điểm đối tượng được coi là chỉ số cơ bản đầu tiên trong năng lực của TTV Các Mác cho rằng: để hành động có khả năng đạt kết quả phải hiểu đối tượng mình tác động Vì vậy, muốn cho buổi tuyên truyền thành công, TTV phải tìm hiểu đặc điểm người nghe, phải biết rõ mình nói cho ai nghe
Năng lực nắm bắt đặc điểm đối tượng là năng lực hiểu biết tường tận về thói quen, sở thích, ưu điểm, hạn chế của đối tượng, là năng lực quan sát tinh
tế những biến đổi tâm lý của người nghe trong quá trình người TTV tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng Mỗi đối tượng trong từng thời điểm khác nhau lại có nhưng nhu cầu cảm thụ không giống nhau Phải nghiêm cứu để nắm vững được các hiện tượng tâm lý của tập thể người nghe, biểu hiện trên các
dư luận, nhu cầu, tâm trạng, truyền thống và mối quan hệ nhân cách trong tập thể, qua đó mới tiến hành có hiệu quả hoạt động tuyên truyền đúng tâm lý và sát từng loại đối tượng
Những đặc điểm đó đang đặt ra những yêu cầu rất nghiêm ngặt và sâu sắc đối với những người làm công tác TTV Ngày nay, trình độ dân trí đã nâng lên nhiều, TTV phải biết rõ mình đang nói chuyện với ai, chính kiến và thái độ của họ như thế nào Bằng phương pháp tổng hôp và phân loại, kết hợp với tìm hiểu thực tế, TTV sẽ xác định đúng nội dung cần nói và lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp với đối tượng
Để có năng lực này người TTV cần am hiểu các vấn đề của tâm lý học
sư phạm, tâm lý học tuyên truyền và có một số phẩm chất tâm lý cần thiết như
sự “tinh ý”, óc quan sát và khả năng tưởng tượng, khả năng phân tích, tổng hợp
Trang 29Năng lực tổ chức buổi tuyên truyền
Trước buổi nói chuyện, TTV cần nắm vững đặc điểm đối tượng, địa điểm, thời gian sẽ tuyên truyền Chuẩn bị kỹ trang phục phù hợp với đối tượng tuyên truyền Có thể với đối tượng này cần sang trọng, đối tượng khác cần giản dị Nguyên tắc chung là vừa thể hiện sự tôn trọng người nghe, vừa dễ hòa đồng với đối tượng
Xác định thời gian tổ chức truyên truyền tốt nhất Phải nắm bắt được lúc xuất hiện tâm thế của đối tượng tuyên truyền Tùy từng nhóm đối tượng hoặc đối tượng riêng lẻ và nội dung cần thông tin mà TTV biết cách chọn cho phù hợp với từng lọai đối tựong
Việc chọn địa điểm hợp lý cũng tạo ra chất lượng cho buổi nói chuyện Bắt đầu buổi nói chuyện như thế nào cũng là một nghệ thuật Không thể cung cấp những thông tin quan trọng cấp thiết trong buổi đi tập thể dục hay họp nhóm mà phải tổ chức trong một buổi họp khu phố, tổ dân phố hoặc của các
tổ chức đòan thể trong hội trường, phòng họp đàng hòang Ngược lại những nội dung cần thông tin thường xuyên liên tục, những thông tin có tính chất thời sự về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng thì có thể tuyên truyền theo cách rỉ tai, trong các buổu sinh hoạt câu lạc bộ, trong buổi tập thể dục ở công viên
Đối với các buổi tuyên truyền tập trung đông người ở hội trường TTV
có thể áp dụng phương pháp, kỹ năng về chuẩn bị bài nói cũng như thủ thuật nói chuyện trên lớp như báo cáo viên
Đối với nhóm đối tượng riêng lẻ TTV phải tạo được sự gần gũi tin
cậy Tôn trọng người nghe và đôi khi phải kiên nhẫn lắng nghe những đối thọai trình bày ý kiến phản hồi của người nghe Nắm cho được nhu cầu thông tin của đối tượng và nắm bắt tâm lý đối tượng qua giao tiếp
Trang 30Năng lực triển khai thực hiện
Đặc điểm họat động của TTV là tuyên truyền những nội dung cụ thể cho những nhóm đối tượng cụ thể khác nhau ở mọi lúc mọi nơi, bất cứ thời điểm nào Người TTV không có các phương tiện hỗ trợ và tâm thế chủ động như họat động của BCV BCV có thể điều kiện chuẩn bị sọan thành đề cương bài nói với các lọai tài liệu, sách vở, hội trường, lớp học Nhưng TTV thì phải triển khai, biên tập thành nhiều nội dung khác nhau cho phù hợp với các nhóm đối tượng và thời điểm, không gian nói chuyện Chính vì vậy trong
việc triển khai thực hiện TTV cần phải có kỹ năng:
Kỹ năng xử lý các nội dung phù hợp từ nguồn thông tin được cung cấp
Thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi người TTV phải có vốn liếng trí tuệ của học thức để TTV hiểu biết, khám phá xử lý các nội dung tuyên truyền khác nhau từ nguồn tài liệu được cung cấp Trong điều kiện hiện nay, tầm hiểu biết của đối tượng ngày càng cao, nhu cầu hiểu biết của đối tượng càng rộng Điều đó đòi hỏi người TTV phải đủ tầm hiểu biết mới thuyết phục được đối tượng
Các lĩnh vực tri thức mà người TTV cần truyền đạt cho đối tượng (nghị quyết của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình thời sự trong nước và quốc tế ) thường vừa rộng, vừa sâu Người TTV phải chọn lọc các thông tin chính ngắn gọn nhưng đầy đủ, dễ thuộc dễ nhớ “biết mười nói một” thì mới được người nghe “tâm phục, khẩu phục” Tri thức, tầm hiểu biết rộng, vốn thực tiễn phong phú giúp cho TTV hiểu thấu đáo nội dung cần truyền đạt
và biết truyền đạt nội dung đó một cách phổ thông, dễ hiểu, khoa học và chính xác Tri thức và kinh nghiệm thực tiễn góp phần tạo ra uy tín cho TTV - một nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền
Năng lực xử lý tài liệu là làm cho chúng phù hợp với đặc điểm đối tượng, với trình độ nhận thức, tư duy và kinh nghiệm xã hội của người nghe
Trang 31Sự sáng tạo khi xử lý tài liệu đòi hỏi người TTV phải sắp xếp, trình bày tài liệu theo suy nghĩ và lập luận của mình trên cơ sở nắm vững đặc điểm về trình độ nhận thức, tư duy của đối tượng và những hiểu biết về các quy luật trong giáo dục, tâm lý học truyên truyền, lôgic
Năng lực định hướng thông tin
Trong các nhu cầu của con người thì nhu cầu về nhận thức, về thông tin luôn luôn là nhu cầu bậc cao đóng vai trò hàng đầu đối với con người Tính đúng đắn của chân lý trong nội dung thông tin là thỏa mãn những nhu cầu bức xúc mà người nghe đang quan tâm, làm cho nội dung tuyên truyền trở nên phong phú hấp dẫn, đầy sức thuyết phục, làm cho người nghe luôn luôn ở trong trạng thái hưng phấn có khả năng tiếp thu cao nhất và dễ tạo được sự tin tưởng theo định hướng của TTV nhất
Trong điều kiện bùng nổ thông tin toàn cầu và mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại trong khu vực và thế giới hiện nay, nhất thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng trong mỗi giai đoạn nhất định Nhiều vấn đề mới, quan trọng về chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, quan hệ quốc tế cần được giải thích để nâng cao trình độ hiểu biết đồng thời có những vấn đề cần được phân tích bình luận và định hướng kịp thời cho cán bộ, đảng viên, và nhân dân trong thông tin nội bộ Khả năng này phụ thuộc vào tầm nhìn, sức khái quát, vào sự chính xác của sự dự báo xu hướng diễn biến của các sự kiện khác nhau trong đời sống chính trị - xã hội TTV phải thông hiểu tình hình đang diễn ra, những vấn đề đang cần được phổ biến, giải thích Đặc biệt TTV phải nắm được nhu cầu thông tin của đối tượng đang cần gì, còn băn khoăn chưa đồng tình hoặc phản đối để có hướng tác động định hướng cho phù hợp Nói một cách khái quát hơn, đó là năng lực phát hiện các mâu thuẫn sâu xa nội tại của những diễn biến phong phú và phức tạp ở bên ngoài đưa đến tình huống ấy Để làm được điều đó, đòi hỏi TTV phải có khả năng phân tích và
Trang 32tổng hợp các sự kiện khác nhau, biết sàng lọc thông tin cần thiết nhất và khéo léo định hướng cho đối tượng theo mục đích đã đặt ra
Năng lực truyền đạt diễn thuyết trước công chúng
Muốn truyền đạt diễn thuyết tốt trước đối tượng tuyên truyền thì người TTV phải có năng lực sử dụng ngôn ngữ nói hay nói một cách khác phải có năng khiếu bẩm sinh về “nghề nói” Đây là năng lực quan trọng và quyết định
sự thành công của TTV Tuy nhiên để có năng lực này chỉ có năng khiếu chưa đủ mà còn phải rèn luyện, mài dũa Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới lọt tai quần chúng” Tục ngữ có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói, khô khan cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực [26, tr.301] Theo Bác Hồ, nhân dân là người thầy, những ai muốn nói giỏi, nói hay, nói “lọt tai quần chúng” thì phải tìm đến quần chúng nhân dân mà học
Lời nói có vai trò vô cùng quan trọng trong giao tiếp hàng ngày, cũng như để thực hiện chức năng xã hội, như giáo dục, thông tin, tuyên truyền Nếu
là chính khách, nhà ngoại giao, nhà bình luận, TTV thì năng khiếu nói lại càng vô cùng quan trọng Nhưng để làm tốt “nghề nói” thì phải khổ công rèn luyện Với bản lĩnh và kinh nghiệm nghề nghiệp, TTV có thể nói những điều
bí mật với đối tượng này mà không nói với đối tượng khác Có thể đi sâu phân tích những vấn đề mà trên văn bản không thể đọc thấy, để người nghe hiểu rõ các sự kiện đang diễn ra trong nước và trên thế giới Qua đó, thống nhất được nhận thức, củng cố được niềm tin vào tiền đồ, mục tiêu con đường
đi của Đảng và của dân tộc ta
Trang 33Muốn nói tốt, nói hay, cái cần trước hết là phải có nội dung để nói Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn” [26, tr.302]
Cử tọa có thể rộng lượng đối với những hạn chế về khả năng diễn đạt, nhưng thường có đòi hỏi cao về nội dung, khó bỏ qua những lỗi lầm nếu người nói không nắm được những kiến thức phổ thông, cơ bản Do vậy, tốt hơn hết là cái gì nắm chưa rõ, TTV chớ nên nói
Như vậy, năng lực sử dụng ngôn ngữ nói là năng lực sử dụng từ ngữ để biểu đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, tư tưởng và tình cảm trong quá trình diễn thuyết tuyên truyền Đây là một trong những năng lực rất quan trọng của TTV Bởi vì, ngôn ngữ là công cụ chủ yếu để người TTV thực hiện chức năng của nhà tư tưởng Bằng ngôn ngữ người TTV truyền đạt thông tin, thúc đẩy
sự chú ý, kích thích tư duy sáng tạo và điều khiển, điều chỉnh hoạt động nhận thức, góp phần hình thành niềm tin, cổ vũ tích cực của người nghe
Cùng với việc rèn luyện sử dụng ngôn ngữ nói người TTV phải biết tìm tòi những phương pháp tiếp cận trình bày mới, độc đáo, hấp dẫn, hiệu quả Người TTV phải nhạy cảm với những cái mới trong tài liệu đã có và giàu cảm hứng sáng tạo thì mới hình thành được ở mình năng lực truyền cảm hứng và thông tin đến đối tượng Cùng một tài liệu như nhau nhưng ai nhạy cảm trong việc phát hiện cái mới của tài liệu và giàu sáng tạo sẽ có cách tuyên truyền thu hút, thuyết phục người nghe
Năng lực xử lý tình huống tuyên truyền
Trong tất cả các lọai hình hình tuyên truyền đều có tình huống có thể xảy ra đòi hỏi người thực hiện phải có năng lực xủ lý Nhưng riêng với TTV thì năng lực xử lý tình huống tuyên truyền là vô cùng quan trọng do tính chất họat động của mình là tuyên truyền ở mọi lúc mọi nơi từ người này sang người khác, từng nhóm nhỏ và trên tất cả các lĩnh vực Do đó rất dễ xảy ra các
Trang 34tình huống tuyên truyền như: Sự phản ứng của đối tượng do bị kích động, sự ảnh hưởng về quyền lợi của đối tượng, các quan điểm sai trái, chống đối của đối tượng, chưa kể đến sự phát sinh các “điểm nóng” mà TTV không được chuẩn bị trước Nếu TTV không có bản lĩnh, năng lực xử lý thì buổi tuyên truyền không những không thành công mà còn có tác dụng ngược lại Muốn nâng cao năng lực này TTV phải rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống, luôn luôn tạo thế chủ động trong tiếp cận nguồn thông tin và đối tượng Biết tận dụng tất cả các mối quan hệ hiểu biết để tiếp cận đối tượng tuyên truyền và tạo môi trường tuyên truyền thuận lợi, nhất là các tình huống phức tạp nhạy
cảm về chính trị hoặc các vấn đề lien quan đến quyền, lợi ích của nhân dân
Năng lực khích lệ tạo niềm tin cho đối tượng tuyên truyền
Tuyên truyền viên thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin, các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế chính trị văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng cho các đối tượng Nhưng nếu chỉ thực hiện việc cung cấp thông tin đơn thuần thì tác dụng hiệu quả chưa cao, chưa đạt mục đích của tuyên truyền, TTV phải làm sao mà qua việc tuyên truyền cung cấp thông tin đó phải tác động mạnh đến đông đảo quần chung nhân dân nhằm chia sẻ trao đổi thông tin, kiến thức, tác động mạnh vào tình cảm tạo được niềm tin cho đối tượng Chia sẻ kỹ năng kinh nghiệm trên các lĩnh vực khác nhau trong đời sống TTV phải lôi kéo và tập hợp được lực lượng, thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân ủng hộ và tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đã và đang đặt ra Phải tạo được những làn dư luận xã hội tích cực có tác dụng động viên cổ vũ mọi người hành động vì lợi ích chung của cộng đồng dưới sự lãnh đạo của Đảng TTV phải làm sao cho sức mạnh tinh thần thấm vào quần chúng nhân dân biến thành sức mạnh vật chất to lớn Quần chúng nhân dân một khi đã thống nhất về nhận thức đã đồng tâm đồng lòng thì chính họ sẽ trở thành khối sức mạnh vật chất khổng lồ, có thể làm
Trang 35nên mọi chuyện Do đó TTV phải có năng lực tạo niềm tin khích lệ cổ vũ quần chúng hành động chứ không phải cung cấp thông tin thông thường, hay thông tin khách quan thuần túy Muốn đạt được điều này TTV phải có năng lực sáng tạo trong nội dung thông tin phải dễ nhớ, dễ hiểu dễ làm theo TTV phải có năng lực sử dụng ngôn từ và giọng điệu truyền cảm Như lời kêu gọi tòan quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch đã tác động đến hang triệu con tim khối
óc của nhân dân cùng nhất tề đứng lên kháng chiến cứu nước Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vì có lòng tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ mà nhân dân cả nước triệu người như một không tiếc tiền của công sức, xương máu sẵn sàng hy sinh để giành độc lập Công tác tuyên truyền của ta đã đạt mục đích, biền niềm tin thành hành động cách mạng
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA TUYÊN TRUYỀN VIÊN
1.3.1 Những nhân tố khách quan tác động đến việc nâng cao năng lực tuyên truyền viên
1.3.1.1 Năng khiếu bẩm sinh
Theo từ điển Tiếng Việt thì năng khiếu là tổng thể nói chung những phẩm chất sẵn có giúp con người có thể hoàn thành tốt một lọai họat động
ngay khi chưa được học tập và rèn luyện hoạt động đó Như vậy năng khiếu là
những tố chất sẵn có, bẩm sinh bên trong con người và những tố chất này giúp họ hòan thành tốt họat động với chất lượng và hiệu quả cao Đây là yếu
tố rất quan trọng Làm nghề gì cũng có năng khiếu thì chắc chắn là tốt Năng khiếu là chất bôi trơn giúp người ta giải quyết công việc nhẹ nhõm, thanh thoát nhưng có hiệu quả hơn Không thể đào tạo một người không có năng khiếu nói thành một nhà diễn thuyết hay Đối với TTV năng khiếu là cơ chế khởi động là tín hiệu khả năng trở thành một TTV hấp dẫn, xây dựng được niềm tin và cổ vũ, khích lệ quần chúng hành động theo niềm tin ấy
Trang 36Về vấn đề này đã từng có nhiều ý kiến khác nhau, các nhà nghiên cứu
tư sản khẳng định những đặc điểm bẩm sinh di truyền ở mỗi cá nhân là điều kiện quyết định sự hình thành và phát triển năng lực hoạt động của con người
Quan điểm Mác xít không phủ nhận vai trò của các yếu tố bẩm sinh di truyền nhưng chỉ xem đó là tiền đề vật chất, tiền đề tự nhiên của sự hình thành và phát triển năng lực của TTV Có những người có những phẩm chất năng lực trội về một lĩnh vực nào đó nếu gặp môi trường thuận lợi và có sự say mê, quá trình rèn luyện nghiêm túc họ sẽ trở nên tài năng xuất chúng, thậm chí thiên tài Chứng minh vấn đề này Ma-ka-ren-kô nhà giáo dục học
Xô viết đã nói: Thiên tài là do 99% khổ luyện và chỉ 1% bẩm sinh Nhưng quan trọng là nếu không có dù chỉ 1% bẩm sinh đó thì 99% kia khó thành hiện thực và ngược lại dù hơn 1% bẩm sinh nhưng không có 99% khổ luyện thì cũng không thành hoặc sớm tàn lụi, cho nên nghị lực và ý chí là yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọng làm cho năng khiếu phát triển bền vững
Năng khiếu bẩm sinh của người TTV là khả năng đặc biệt về ngôn ngữ
và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong quá trình học tập rèn luyện, là khả năng truyền đạt lôi cuốn hấp dẫn, tạo được niềm tin và cổ vũ ngừoi nghe hành động Vì vậy không lấy làm lạ rằng có nhiều người làm lãnh đạo có tài, giỏi
về nhiều lĩnh vực, cũng như các nguyên thủ quốc gia rất nhiều người giỏi nhưng không phải ai cũng có nghệ thuật diễn thuyết trước công chúng, truyền được niềm đam mê nhiệt huyết, lôi cuốn cổ vũ hàng triệu con tim và khối óc của quần chúng tin theo và biến niềm tin đó thành hành động Hồ Chí Minh là một thiên tài tuyệt vời, là bậc thầy về tuyên truyền và sử dụng ngôn ngữ
1.3.1.2 Nhu cầu xã hội
Năng lực của con người nói chung, năng lực của TTV nói riêng được hình thành và phát triển trong sự tác động phức tạp của các yếu tố tự nhiên và
xã hội Nhu cầu phát triển luôn là nhu cầu thiết yếu của bất cứ một xã hội
Trang 37nào Phát triển ở đây được hiểu là năng lực chinh phục cải tạo tư nhiên và xã hội để tiến tới bước cao hơn Sự phát triển xã hội cũng chính là quá trình biến đổi năng lực của con người Quá trình đó đặt con người trước những nhiệm
vụ cần giải quyết mà đáp án của nó không hề có sẵn trong trong lý luận cũng như thực tiễn Con người phải dựa trên cơ sở kinh nghiêm tri thức cũ để tìm kiếm các phương thức mới để giải quyết Kết quả là năng lực của con người phát triển ngày càng đa dạng phong phú, chuyên sâu Do đó nhu cầu xã hội đóng vai trò động lực to lớn trong sự phát triển xã hội và nâng cao năng lực của con người như Ph.Ăngghen đã từng cho rằng một nhu cầu nảy sinh từ thực tiễn còn quan trọng hơn cả chục trường đại học
Sự phát triển về năng lực của TTV phụ thuộc vào môi trường kinh tế - xã hội mà TTV sống và hoạt động Đó là toàn bộ những điều kiện, hoàn cảnh khách quan liên quan đến đời sống, đến quá trình học tập, rèn luyện và công tác của TTV
Năng lực của TTV đặc biệt phụ thuộc vào nền tảng văn hóa khoa học
mà xã hội đạt được, đồng thời chịu sự chi phối chặt chẽ bởi sự phát triển của bản thân khoa học và trình độ văn hóa xã hội nền tảng văn hóa với sức mạnh cuốn hút của chân, thiện, mỹ, có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển phát triển của tư chất đặc thù của TTV; mở rộng khơi sâu thêm nền tảng tâm sinh
lý, khơi dậy mọi năng lực tiềm ẩn của con người Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự nâng cao trình độ văn hóa, khoa học,
sự phát triển nhanh chóng các phương tiện thông tin hiện đại, nên việc nâng cao năng lực TTV càng gắn liền với sự phát triển của khoa học
1.3.2 Những nhân tố chủ quan tác động đến việc nâng cao năng lực của tuyên truyền viên
1.3.2.1 Quá trình học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn
Các quá trình giáo dục, đào tạo, quá trình học tập, rèn luyện một cách chủ động, tự giác để nâng cao trình độ tri thức, trí tuệ có ảnh hưởng trực tiếp
Trang 38mạnh mẽ đến năng lực của TTV Nếu năng khiếu được bộc lộ, tài năng được phát hiện sớm thì đòi hỏi phải có sự trau dồi, rèn luyện nghiêm túc, sự đào tạo, quan tâm chăm sóc chu đáo từ bản thân và cơ quan đồng ngiệp, môi trường họat động thì mới tạo ra năng lực thật sự
Năng lực phụ thuộc trực tiếp vào khả năng tiếp thu các tri thức khoa học một cách tự giác của TTV thông qua họat động giáo dục đào tạo và thực tiễn cuộc sống Đây là chìa khóa giúp cho mỗi người vươn lên làm chủ tri thức, nâng cao năng lực về mọi mặt Họat động thực tiễn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành năng lực của TTV Thực tiễn là nguồn gốc sâu xa của mọi năng lực và là chân lý của mọi vấn đề Hoạt động thực tiễn là yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực của TTV Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn mà con người có được những hiểu biết, những tri thức về hiện thực khách quan và phát triển những năng lực của mình Mọi tri thức, năng lực của TTV xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn Hơn nữa, sự phát triển liên tục, không ngừng của thực tiễn luôn đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi TTV phải luôn suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện quy luật vận động, hình thành nội dung, phương pháp trong năng lực hướng về việc phát triển và giải quyết các vấn đề theo yêu cầu của thực tiễn Vậy chỉ có thông qua quá trình hoạt động thực tiễn năng lực của TTV mới được hình thành và cũng thông qua thực tiễn của những họat động ấy năng lực ấy mới được trau dồi, phát triển
Cuối cùng, nhân tố có ý ngĩa quyết định đối với sự hình thành và phát triển năng lực của con người là hoạt động của cá nhân Chỉ tham gia hoạt động một cách thực sự thì TTV mới có thể tìm tòi, thu nhận những kiến thức cần thiết tìm kiếm phương thức hoạt động phù hợp với mỗi tình huống cụ thể Qua đó, những kiến thức, kỹ năng tiếp thu được nhờ quá trình giáo dục mới thực sự trở thành tài sản của bản thân Trong quá trình đó TTV lại tiếp tực nghiên cứu, rút kinh nghiệm để tìm kiếm những tri thức và phương thức hoạt động mới hoàn hảo hơn Bên cạnh đó nhu cầu và lợi ích cũng có ảnh hưởng
Trang 39trực tiếp đến động cơ họat động và hình thành năng lực của TTV Vì nhu cầu lợi ích là động lực bên trong của năng lực
Do nhận thức được ý nghĩa của hoạt động cải tạo hiện thực đối với bản thân và xã hội nên mục đích cải tạo hiện thực trở nên có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với mọi hoạt động của con người Nó trở thành mục đích, lý tưởng, trở thành động lực sống và hoạt động của mỗi người Khi thiếu nó, người ta cảm thấy cuộc đời vô vị và mất phương hướng Khi có lý tưởng, con người nỗ lực, huy động mọi khả năng, tìm năng để vươn tới Có thể nói, lý tưởng là sự thống nhất hài hòa giữa nhận thức sâu sắc với tình cảm nồng cháy và ý chí kiên cường Đặc điểm trên khiến cho lý tưởng có tác dụng như một động lực thúc đẩy con người vượt qua khó khăn, trở ngại để vươn tới đỉnh cao Dù là hoạt động sáng tạo nghệ thuật hay sáng tạo khoa học, sáng tạo tinh thần hay sáng tạo vật chất, kết quả đạt được cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm của chủ thể sáng tạo đối với đối tượng Một đặc trựng cơ bản của người sáng tạo là khả năng cảm nhận những hiện tượng của thực tế với một sức mạnh và một chiều sâu nào đó ở một mức độ rất cao Trong quá trình sáng tạo, ở chủ thể xuất hiện sự rung động Đó là trạng thái cảm xúc chủ quan của người sáng tạo, nó nảy sinh trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xung quanh và trong quá trình thỏa mãn các nhu cầu của bản thân Những xúc cảm đó là xuất hiện ở chủ thể sáng tạo sự quan tâm và muốn chiếm lĩnh đối tượng tới mức cuốn hút đến say mê Tình cảm cuốn hút nảy sinh từ nhu cầu của cá nhân và xã hội, tức là một sự đòi hỏi, thôi thúc từ bên trong Nhu cầu càng cao thì độ cuốn hút càng lớn và chỉ khi chủ thể tìm ra
Trang 40được các phương tiện thỏa mãn nhu cầu, tức là đáp ứng được lợi ích thì khi
đó, chủ thể sáng tạo mới có thể huy động ý chí cao độ để chiếm lĩnh đối tượng; đồng thời cái mới trog sáng tạo mới được nảy sinh
Người TTV trước hết phải thấm nhuần mục tiêu lý tưởng của Đảng, các chính sách của nhà nước, mục tiêu phát triển của đất nước, của địa phương Trên cơ sở đó bản thân người TTV thấy trách nhiệm xã hội của mình, mà trước hết là trách nhiệm chính trị, vì sự hưng thịnh, lợi ích của đất nước, của địa phương của nhân dân Từ trách nhiệm đó TTV có mong ước có nhiều người cùng chia sẻ và mong muốn đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp chung Bản thân người TTV phải khao khát mãnh liệt mình phải đạt được thành tựu lớn trong công việc của mình Từ đó TTV mới nghiên cứu tìm
ra các phương pháp, cách thức tiếp cận các nhóm đối tượng tuyên truyền sao cho đạt hiệu quả cao nhất Nếu TTV không cầu tiến, kết quả sao cũng được, chỉ thực hiện thuần túy như công việc phải làm cho xong thì rõ ràng không thể nâng cao được năng lực bản thân
Tiểu kết chương 1
Năng lực tư duy và năng lực hoạt động thực tiễn sẽ giúp cho ĐNTTV khả năng tiếp nhận, xử lý, truyền đạt thông tin, nhanh nhạy trong việc nắm bắt tâm lý đối tượng, sử dụng ngôn ngữ nói, giao tiếp, đối thoại một cách có hệ thống, hấp dẫn, thuyết phục người nghe Trong xu thế vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam hiện nay thì việc nâng cao năng lực của ĐNTTV là một tất yếu khách quan và yêu cầu vô cùng quan trọng ,cấp thiết nhằm đáp ứng được yêu cầu công tác tuyên truyền miệng ngày càng cao, phục vụ cuộc đổi mới đất nước