1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã ở huyện can lộc, tỉnh hà tĩnh hiện nay

130 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống chính trị HTCT ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của ảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết

Trang 2

CHỦ TỊCH H NG

PGS.TS Nguyễn Xuân Phong

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn "Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay" là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Vũ Thị Như Hoa

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực về số liệu cũng như các nội dung khác trong luận văn của mình không trùng lặp với các đề tài khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Nương

Trang 4

CNH- : Công nghiệp hóa, hiện đại hoá

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

hương 1: M T S VẤN Ề LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HO T NG CỦA H TH NG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ 10

1.1 Hệ thống chính trị cấp xã- khái niệm và đặc điểm 10

1.2 Chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã 22

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã 30

hương 2: THỰC TR NG CHẤT LƯỢNG HO T NG CỦA H TH NG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ HUY N CAN L C, TỈN TĨN 35

2.1 Khái quát hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 35 2.2 Thực trạng chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh hiện nay 46

2.3 Những vấn đề đặt ra 69

hương 3: QU N ỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HO T NG CỦA H TH NG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ HUY N CAN L C, TỈN TĨN 77

3.1 Quan điểm chung 77

3.2 Giải pháp 83

KẾT LUẬN 93

TÀI LI U THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 101

Trang 6

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương ảng (khóa IX) năm 2002 khẳng định: " ác cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống Hệ thống chính trị (HTCT) ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của ảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư"

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về “Đổi

mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, trên các lĩnh vực tổ chức và hoạt động của HTCT ở xã, phường, thị

trấn đã đạt được một số kết quả quan trọng Theo kết quả đánh giá hoạt động của N cấp xã nhiệm kỳ 2006-2011, hầu hết các xã, phường, thị trấn đều đảm bảo đúng luật, chất lượng hoạt động được nâng lên so với các nhiệm kỳ trước oạt động của U N đã phát huy hiệu quả công tác quản lý, điều hành

Trang 7

theo pháp luật ông tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đạt tỷ lệ cao MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của nhân dân

ên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua, trong hoạt động của HTCT cấp xã cũng bộc lộ nhiều yếu kém hức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong HTCT chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ ràng; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới và chưa đồng bộ, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Một số nơi, sự phối hợp giữa các tổ chức trong HTCT chưa chặt chẽ, hiệu quả hoạt động chưa cao.; trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức cấp xã, nhất là các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ông tác kiểm tra nắm tình hình cơ sở ở một số địa bàn chưa thường xuyên, sâu sát, dẫn đến việc phát hiện và xử lý các vấn đề nảy sinh ở cơ sở còn bị động Một bộ phận cán bộ, đảng viên ở cơ sở suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, nói không đi đôi với làm Các cấp, các ngành chưa sát nhân dân, không kịp thời bàn định các chủ trương, chính sách để củng cố, tăng cường các tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở

à Tĩnh là mảnh đất địa linh nhân kiệt, luôn giữ ngọn lửa truyền thống

Xô Viết- Nghệ Tĩnh, đặc biệt là huyện Can Lộc với nhiều chiến tích được ghi danh lịch sử trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc, dưới sự lãnh đạo của ảng và Nhà nước Vẫn giữ vững truyền thống đó, những năm qua, trên địa bàn tỉnh à Tĩnh nói chung và huyện Can Lộc nói riêng, cấp ủy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động HTCT cơ sở Do vậy, hoạt động của HTCT cơ sở ngày càng được củng cố, chất lượng hoạt động có nhiều chuyển biến tích cực Song song với những thành tựu về kinh tế - xã hội đã đạt được,

Trang 8

hiện nay, ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh nẩy sinh nhiều vấn đề bức xúc, thiếu sót trong hoạt động lãnh đạo, quản lý việc phát triển kinh tế - xã hội theo cơ chế mới Công tác quy hoạch kinh tế- xã hội, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, di dời, giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình trọng điểm của tỉnh

và quốc gia Các tệ nạn xã hội, tội phạm và các hoạt động của các phần tử xấu gây xáo trộn lòng dân, làm mất an ninh trật tự ở nông thôn, thiếu chuyên nghiệp, linh động trong giải quyết công việc của các ban, ngành thuộc HTCT cấp xã Một số cán bộ lãnh đạo không còn giữ vững được truyền thống xưa, áp đặt quan điểm cá nhân trong công việc, giải quyết công việc không triệt để Trước tình hình đó, yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT cần giải quyết, khắc phục và phải nâng cao một cách có hiệu quả, nhất từ cơ sở

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay"

làm luận văn thạc sĩ Chính trị học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề HTCT có tầm quan trọng rất lớn đối với công cuộc phát triển đất nước hiện nay; vì vậy, vấn đề đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa học nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau

2.1 Những công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị nước ta nói chung

Tiêu biểu như: ề tài KX10.02, Các quan điểm và nguyên tắc đổi mới

HTCT nước ta ở giai đoạn 2005-2020, tác giả Trần ình oan làm chủ nhiệm

đã được nghiệm thu cấp nhà nước ề tài bước đầu phân tích và đánh giá tương quan giữa cải cách kinh tế và đổi mới HTCT ở nước ta trong giai đoạn qua; Phân tích sự cần thiết khách quan phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện HTCT ở nước ta trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước; Xác định rõ các mục tiêu cơ bản cần hướng tới, bảo đảm định hướng đúng đắn cho quá

Trang 9

trình đổi mới, hoàn thiện HTCT; Xây dựng và xác định được một hệ thống các quan điểm và nguyên tác đổi mới T T nước ta trong tình hình mới; Xác định được phương hướng, giải phát chủ yếu để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện HTCT ở nước ta trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước Làm rõ thêm quan điểm của ại hội IX, xem công tác xây dựng chỉnh đốn ảng là nhiệm vụ then chốt; Xác định những phương hướng cơ bản nhằm xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước

2.2 Dưới góc độ nghiên cứu về hệ thống chính trị cấp cơ sở

Cuốn sách do tác giả Nguyễn Văn Sáu và tác giả Hồ Văn Thông đồng

chủ biên (2001), Cộng đồng làng Việt Nam hiện nay Cuốn sách có sự đầu tư

nghiên cứu trên nhiều tỉnh thành trong cả nước đã làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách, giải pháp của ảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông thôn hiện nay nói chung và về hệ thống chính trị cấp cơ sở nông thôn nói riêng Luận văn đã kế thừa, phát triển thêm những nội dung về HTCT cấp cơ sở và các quan điểm, chủ trương, chính sách , giải pháp của ảng và Nhà nước ta của hai tác giả

Cuốn sách của tác giả Hoàng Chí Bảo (2005), Hệ thống chính trị ở cơ

sở nông thôn nước ta hiện nay ây là công trình khoa học đầu tiên nghiên

cứu về hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta hiện nay với tính chất và quy mô một đề tài khoa học cấp Nhà nước Công trình nghiên cứu đã luận chứng khoa học về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị ở cơ sở; lịch sử và lý luận về cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta; thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay; phương hướng, quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Kết quả đề tài đã làm sáng

tỏ và góp phần đưa nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về " ổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở xã, phường, thị trấn" vào cuộc sống ây là cuốn sách mà luận văn đã kế thừa về nội dung HTCT cấp

Trang 10

cơ sở chung từ đó tác giả phát triển thêm để phân tích thực trạng chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã tại một địa phương cụ thể là huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh

Ngoài ra có một số bài luận văn, luận án và tạp chí chuyên ngành bước đầu tìm hiểu về đặc điểm HTCT cấp cơ sở, đồng thời đề xuất ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện HTCT cấp cơ sở

Một số luận văn, luận án: Lưu Minh Trị- Luận án Triết học (1993) " Đổi

mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ngoại thành Hà Nội ( cấp xã) trong giai đoạn hiện nay"; oàng ức Sơn- Luận văn Chính trị học (

2000),"Những đặc điểm cơ bản của hệ thống chính trị đảm bảo tốt dân chủ cơ

sở ( nghiên cứu từ thực tiễn xã An Đông- huyện Quỳnh phụ- Thái Bình)"

Một số bài viết tiêu biểu trên các tạp chí: "Quan điểm và giải pháp để

củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay", Hoàng

Chí Bảo- Tạp chí Dân vận số xuân 2002; "Đổi mới phương thức lãnh đạo của

Đảng và sự quản lý của chính quyền cơ sở", Lê Hữu Nghĩa- Tạp chí Cộng

sản, số 19-2001 ; "Củng cố kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn trong

thời kỳ phát triển mới của đất nước", ương Xuân Ngọc- Tạp chí Thông tin

lý luận, 11-1998; "Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở- Vấn đề đặt ra

và giải pháp", ương Xuân Ngọc- Tạp chí Thông tin lý luận, 9- 2000; "Một

số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở xã", ương Xuân

Ngọc- Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 8-2001; "Những nội dung chính trong đổi

mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta" P S, TS oàn Thế Hanh- Tạp

chí Cộng sản, số 7- 2015

2.3 Công trình nghiên cứu Hệ thống chính trị cấp xã ở tỉnh Hà Tĩnh

Thái Thị Hiền - luận văn Chính trị học, (2012) “Hệ thống chính trị cơ

sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp” Luận văn đã

phân tích các quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị nói chung và HTCT

Trang 11

cơ sở nói riêng; đi sâu phân tích vai trò của T T cơ sở ở nước ta hiện nay

ặc biệt, đã tiến hành điều tra về thực trạng tổ chức và hoạt động của từng thành tố trong HTCT tại chín xã của huyện Can Lộc Từ đó phân tích, tổng hợp số liệu và tình trạng hoạt động, làm cơ sở đánh giá ưu điểm; phân tích tồn tại, hạn chế; nguyên nhân hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm phát huy vai trò của T T cơ sở trong thực hiện nhiệm vụ ở địa phương

Ngoài ra, một số công trình, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng bàn về vấn đề này với những hình thức và mức

độ khác nhau như: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân ”

của Văn phòng Quốc hội (Nghiên cứu lập pháp, số 8/2001); “Hệ thống chính

trị cơ sở vùng sâu, vùng xa và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết” của

ồ Minh ức ( ân vận, số 1 và 2/2002); Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay”

của Nguyễn Thị Kiều Oanh (Nxb Lý luận hính trị, .2005);“Tồn tại và

không nên tồn tại Hội đồng nhân dân cấp nào?” của Trần ữu Trí ( ại

đoàn kết, số 139/2007); “Giải pháp nâng cao chất lượng của Hệ thống

chính trị cấp xã, phường, thị trấn ở Đồng Nai hiện nay” của Nguyễn

Khánh Mậu (Khoa học chính trị, số 2/2007); “Đổi mới Hệ thống chính trị

để phát huy dân chủ” của oàn Minh uệ (Triết học, số 9/2007); "Xây dựng và phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân

tộc thiểu số" của Trần ức Quang (Tạp chí ộng sản số 64/2012), cũng

đã làm sáng tỏ về những vấn đề đang đặt ra của hệ thống chính trị cơ sở ở

nước ta hiện nay

Nhìn chung, các công trình khoa học đã công bố đã bàn và đánh giá vị trí, vai trò cũng như chất lượng hoạt động của HTCT cấp cơ sở trong đó có xấp xã vẫn luôn là vấn đề được quan tâm thường xuyên, do ảng ta luôn mong muốn tìm ra một giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng hành

Trang 12

chính 4 cấp của nước ta Từ các công trình khoa học trên tác giả nhận thấy chưa có công trình nào tổng kết vấn đề này Vì thế mà tác giả mạnh dạn nghiên cứu để rút ra những cái được cũng như những mặt hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện Nghị quyết, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của HTCT cấp xã trong thời gian tới ây cũng chính là điểm mới của luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ lý luận chung về chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã; luận văn phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ khái niệm HTCT, chất lượng, các yếu tố tạo nên chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã

- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã

ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh từ năm 2010 - 2015

- ề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã

- Về không gian: Các xã ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh

Trang 13

- Về thời gian: ề tài khảo sát thực trạng hoạt động của HTCT cấp xã ở

huyện Can Lộc từ năm 2010 - 2015 và đề ra giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện từ năm 2016 trở đi

5 ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về HTCT và chất lượng hoạt động của HTCT, quan điểm của ảng và chính sách của Nhà nước về chất lượng hoạt động của HTCT nói chung và chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã nói riêng Dựa trên quan điểm của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về đổi mới

và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng Phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch

sử Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp các phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, thống kê và so sánh, kết hợp với phương phát điều tra xã hội học; đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn, đánh giá hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh thời gian gần đây

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa và phân tích làm rõ những vấn đề cơ bản về HTCT, chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã và những nhân tố tác động đến chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã

6.2 Về mặt thực tiễn

- Luận văn đề xuất những quan điểm mang tính định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc hiện nay

Trang 14

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo chuyên ngành Chính trị học cho những đối tượng quan tâm vấn đề HTCT cấp xã; phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 15

hương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG

CỦA H THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ 1.1 Hệ thống chính trị cấp xã- khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị

Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội ó là lĩnh vực quan hệ giữa các tập đoàn xã hội (các giai cấp, các dân tộc, các nhóm lợi ích xã hội…) xung quanh việc giành, giữ và thực hiện quyền lực chính trị để giải quyết lợi ích của các tập đoàn xã hội ấy ó cũng là lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù - những hoạt động liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước Các quan hệ chính trị và hoạt động chính trị được thể hiện tập trung cơ cấu tổ chức

và cơ chế vận hành đời sống chính trị của xã hội ó là hệ thống chính trị

ối với khoa học chính trị hiện đại, T T là một khái niệm quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị ơn nữa, những vấn đề đó không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét trong một chỉnh thể có tính hệ thống, có quá trình phát sinh, phát triển, có chủ thể, đối tượng, với các mối quan hệ chức năng, theo những vị trí, vai trò nhất định; có "đầu vào" và "đầu ra"; có nội dung và hình thức, có hiện tượng

và bản chất Vì vậy, hiện nay, quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh hướng, trường phái chính trị học khác nhau

Ở phương Tây, có hai cách tiếp cận cơ bản về hệ thống chính trị:

- Thứ nhất, cách tiếp cận thể chế: coi HT T là tập hợp các thể chế

chính trị (gồm thể chế đảng chính trị, thể chế nhà nước và các thể chế chính

trị - xã hội trong xã hội dân sự) và những mối quan hệ qua lại giữa chúng

- Thứ hai, cách tiếp cận hệ thống: coi T T không chỉ bao gồm cấu

trúc thể chế và các quan hệ giữa chúng, mà còn là những chuẩn mực chính trị,

Trang 16

vai trò chính trị, hành vi chính trị Từ hai cách tiếp cận cơ bản này, phát triển nên một số quan điểm khác nhau về T T, như: Nhà chính trị học Mỹ

D.Easton, cho rằng: " T T giống như một bộ máy tự phát triển, tự điều tiết

và phản ứng với những tác động từ bên ngoài ệ thống đó có "đầu vào", đó

là nơi thu nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ của môi trường xã hội và văn hóa xã hội quanh nó òn "đầu ra" là những quyết định chính trị và hành

động chính trị để thực hiện các quyết định đó" [ 51, tr.33-34]

ách tiếp cận khác, nhà hính trị học Mỹ lmold cho rằng: " ệ

thống chính trị đó là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị, của các tổ chức nhà nước cũng như phi nhà nước ác kiểu hành vi đó được chia ra hai cấp độ

là: thể chế và định hướng" [ 51, tr.34-35]

Tổng hợp các quan điểm của các nhà chính trị học phương Tây và Nga, các tác giả cuốn sách “ hính trị học đại cương và ứng dụng” (Trường ại học tổng hợp Xã hội quốc gia Matxcơva) chia cấu trúc HTCT thành các phân hệ: thể chế, chuẩn mực, chức năng, giao tiếp, văn hoá Trong đó, phân hệ thể chế được tạo thành từ các thể chế chính trị, mà mỗi thể chế đó lại là một hệ thống được tạo thành từ các phân hệ riêng ó là thể chế nhà nước, đảng chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội; phân hệ chuẩn mực được tạo bởi đủ mọi chuẩn mực, trong đó các chuẩn mực pháp luật chiếm vị trí đặc biệt, bên cạnh các chuẩn mực truyền thống chính trị, đạo đức, luân lý của đời sống chính trị; phân hệ chức năng được biểu hiện trong các hình thức và phương hướng hoạt động chính trị, trong các phương thức và phương pháp thực hiện quyền lực…trong chế độ chính trị; phân hệ giao tiếp gồm những hình thức và những nguyên tắc khác nhau của sự tác động tương hỗ cả bên trong HTCT (giữa các phân hệ), cả giữa T T nước này với T T của nước khác T T bao gồm

cả văn hoá chính trị - đó là tổng thể các giá trị và hình mẫu hành vi, thích ứng với yêu cầu phát triển của một kiểu T T, đòi hỏi có sự tham gia của các công

Trang 17

dân trong việc quản lý xã hội và chính trị, sự đồng tình và ủng hộ của họ đối

với các hình thức và hoạt động chính trị, khẳng định trật tự xã hội [45, tr.263]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị và T T là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định Khi nghiên cứu về thiết chế chính trị và cách thức tổ chức của một xã hội, Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp cận khái niệm T T như một chế độ chính trị theo tính hệ thống của nó và sử dụng những thuật ngữ tương đương như: "hệ thống cai trị", "cơ cấu chính trị", "hình thức chính trị",

"thiết chế xã hội và chính trị", "cơ cấu chính quyền" vv

Trên thực tế, Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không đề cập trực tiếp đến khái niệm T T, nhưng khi nghiên cứu về quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; đặc biệt là Lênin, ông không sử dụng khái niệm " T T" trong các bài nói, bài viết của mình, mà dùng khái niệm "chuyên chính vô sản" để nghiên cứu về thiết chế chính trị của xã hội Hệ thống chuyên chính vô sản theo quan niệm của Lênin bao gồm: nhà nước của giai cấp công nhân, ảng ộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và các tổ chức quần chúng, tiêu biểu là công đoàn Như vậy, nếu xét theo nội hàm những thuật ngữ mà Mác và Ph.Ăngghen đưa ra và được V Lênin kế thừa, phát triển với thuật ngữ T T hiện đại có liên quan chặt chẽ với nhau và được hiểu là tương đồng

Ở Việt Nam, cách tiếp cận khái niệm HTCT là mô tả các yếu tố thực thể cơ bản cấu thành và phản ánh chức năng tổng quát của HTCT Từ đó, có

thể đưa ra định nghĩa chung nhất về T T như sau:

Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các

tổ chức, như đảng chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các thành tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các

Trang 18

quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng

cầm quyền, sự ổn định và phát triển xã hội

ối với nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực ho nên, T T Việt Nam là cơ chế, công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của ảng ộng sản T T ở nước ta hiện nay về mặt thành tố bao gồm: ảng ộng sản Việt Nam, Nhà nước ộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ác bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù Trong đó, ảng ộng sản Việt Nam là hạt nhân của T T, giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội Nhà nước ộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cột trụ, là trung tâm của T T MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã hội Về mặt tổ chức bộ máy, T T nước ta được tổ chức thành 4 cấp gắn liền với nền hành chính quốc gia: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp huyện, quận, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn

1.1.1.2 Khái niệm hệ thống chính trị cấp xã

Cấu trúc của HTCT không chỉ là hệ thống các tổ chức và các quan hệ

về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống

Có các cấp độ của từng tổ chức ( ảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể) quy định vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền của các cấp, của cấp trên với cấp dưới trong phạm vi một tổ chức với sự tác động của bộ máy tương ứng với từng cấp T T được cấu thành bởi các tổ chức nêu trên cũng

có các cấp độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương và cơ sở

Trang 19

iữa các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệ thống và trong từng cấp độ ụ thể, ở cấp trung ương là quan hệ giữa an hấp hành Trung ương ảng với Quốc hội, hính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ( an hấp hành Trung ương oàn Thanh niên ộng sản ồ hí Minh, an hấp hành Trung ương ội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, an hấp hành Trung ương ội Nông dân, an hấp hành Trung ương ội ựu chiến binh, ông đoàn Việt Nam) Ở cấp tỉnh là quan hệ giữa ảng bộ tỉnh với chính quyền ( N , U N ) tỉnh, Mặt trận với các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh Ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là quan hệ giữa ảng bộ xã với chính quyền ( N , U N ), Mặt trận với các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã Khi nghiên cứu về T T cơ sở có nhiều

cách tiếp cận khác nhau Cách tiếp cận thứ nhất, xem xét T T cơ sở như

một hệ thống về mặt tổ chức và chức năng của các bộ phận hợp thành: tổ chức ảng, chính quyền ( N và UBND), MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ( ội Nông dân, oàn Thanh niên, ội Phụ nữ, ội ựu chiến binh) ở xã, phường, thị trấn Mỗi bộ phận hợp thành T T cơ sở có vị trí, vai

trò và chức năng khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể:

Đảng bộ cơ sở, mà nòng cốt là an hấp hành ảng bộ là hạt nhân

chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc triển khai, đề ra các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng việc giới thiệu đảng viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các đoàn thể nhân dân; bằng công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của ảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên

Trang 20

Chính quyền là cột trụ của T T cơ sở, có vai trò quản lý, điều hành

toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo iến pháp và pháp luật Trong chính quyền cơ sở, N là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên địa bàn theo quy định của pháp luật UBND là cơ quan chấp hành của N , là cơ quan hành chính nhà nước ở

cơ sở, thực hiện nhiệm vụ theo nghị quyết của N , nhiệm vụ do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản của địa phương

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có chức năng

tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối của ảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, của chính quyền cơ sở; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện Quy chế dân chủ ở

cơ sở; chăm lo lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên, đoàn viên ồng thời, thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối với hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở; tham gia một số hoạt động quản lý xã hội ở cơ sở, thôn xóm

ên cạnh đó, cấp cơ sở hiện nay còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn do nhân dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức tự quản và tuân thủ pháp luật, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, liên kết cộng đồng, cùng nhau tổ chức đời sống trong cộng đồng, góp phần tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận trong xã hội Những tổ chức này tuy không phải là bộ phận hợp thành T T cơ sở nhưng có mối quan hệ mật thiết với hệ thống này Vì vậy, nếu T T cơ sở biết tạo điều kiện, phát huy ưu thế của các tổ chức này, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, hợp tác, sáng tạo trong cộng đồng xã hội ở cơ sở sẽ được nhân lên gấp bội, đem lại sự ổn định ở cơ sở, tạo ra sức bật lớn cho cơ sở phát triển, làm cho nền tảng xã hội của ảng, Nhà nước và của cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở

Trang 21

Xét về phương diện cơ cấu tổ chức, T T cơ sở có khá nhiều tổ chức hợp thành với vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền khác nhau ủng cố, nâng cao chất lượng T T cơ sở phải củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của từng tổ chức này, cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống theo tư tưởng: nâng cao vai trò lãnh đạo của ảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Cách tiếp cận thứ hai, không chỉ về mặt tổ chức pháp lý mà còn bao gồm

cả các yếu tố thể hiện bản chất của T T nói chung và những điều kiện đảm bảo cho các bộ phận của hệ thống đó vận hành Ở nghĩa này, T T cơ sở được hiểu theo tính chất của việc thực hiện dân chủ cơ sở, thể hiện quyền lực của nhân dân ách tiếp cận này đòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề như: quyền dân chủ trong bầu cử, chất vấn đại biểu ội đồng nhân dân, những việc dân được biết, được bàn và thực hiện kiểm tra; tổ chức và hoạt động của N , đại biểu

N ; vai trò của tổ chức ảng, Mặt trận và các đoàn thể trong việc phát huy quyền dân chủ của người dân; trách nhiệm của UBND trong việc đảm bảo và thực hiện quyền dân chủ của dân

Việc nghiên cứu về T T cơ sở theo nội dung dân chủ cho thấy mối liên hệ bên trong của hệ thống, từ đó đi đến nhận thức: củng cố, nâng cao chất lượng T T cơ sở xã, phường, thị trấn không chỉ là vấn đề về tổ chức pháp

lý, mà còn là vấn đề cơ chế thực hiện dân chủ ó như vậy mới tạo ra động lực thực sự thúc đẩy sự phát triển của cơ sở

húng tôi đồng ý với quan điểm:

"Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức

Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội được

tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát

huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở" [52, tr.10] Như vậy, hệ thống

chính trị ở xã (cơ sở ở nông thôn) bao gồm các bộ phận cấu thành: ảng,

Trang 22

chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã Mỗi bộ phận tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ

thống, quản lý và điều hành mọi hoạt động ở xã về các lĩnh vực của đời sống

1.1.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị cấp xã

T T cơ sở là một bộ phận cấu thành T T Việt Nam xã hội chủ

nghĩa, nên nó mang đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế, T T cơ sở

có những đặc trưng riêng như:

Thứ nhất, là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, gần với

cộng đồng dân cư nhất, do vậy tổ chức và hoạt động đan xen giữa tính quản lý

và tính tự quản

Trong hệ thống tổ chức bộ máy (4 cấp), T T cấp xã (phường, thị

trấn) là cấp thấp nhất xét theo quan hệ quản lý nhà nước T T cấp xã là một

cấp độ trong chỉnh thể T T của cả nước, nằm trong mối quan hệ gắn kết với các cấp độ khác của toàn bộ T T Nhưng "cơ sở lại là hình ảnh thu nhỏ của

xã hội, là cái mang theo nội dung, tính chất của cái vĩ mô" [2, tr28] Vì vậy là

cấp thấp nhất, nhưng cơ sở lại là tầng sâu nhất, là địa chỉ quan trọng nhất mà toàn bộ T T phải đến, mặc dù về hình thức, T T cấp cơ sở chỉ có quan hệ trực tiếp với T T cấp huyện, quận, thị xã

Vấn đề nổi bật ở cơ sở cả về vai trò, đặc điểm và tính chất của nó là trên địa bàn cơ sở cả về vai trò, đặc điểm và tính chất của nó là trên địa bàn xã

không chỉ diễn ra hoạt động quản lý mà đồng thời có cả hoạt động tự quản

của dân, tự quản của từng hộ gia đình, của các đoàn thể tự nguyện đến cả cộng đồng, tập trung tiêu biểu nhất là ở thôn, làng, ấp, bản với vai trò của trưởng thôn, trưởng bản do dân bầu trực tiếp

Tự quản là nét đặc thù ở cơ sở Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phải phát huy được sức mạnh, năng lực tự quản này của dân để qua đó, dân tham gia quản lý, xây dựng và phát triển cuộc sống cộng đồng

Trang 23

ơ sở là nơi T T thực hiện trực tiếp nhất việc phát huy khả năng sáng tạo của dân, khai thác và phát triển những khả năng đó tại chỗ để giải quyết tại chỗ những yêu cầu phát triển cuộc sống cộng đồng, đáp ứng kịp thời những nhu cầu hợp lý, chính đáng của dân, chăm lo thiết thực nhất đời sống vật chất, tinh thần của dân Hồ hí Minh cũng đã khẳng định: cách tốt nhất là dựa vào dân, đem tài dân, sức dân mà làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân [32, tr.65] Như vậy, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT nhằm hướng tới một HTCT dân chủ, lành mạnh, đảm bảo tốt nhất vai trò chủ thể hoạt động của dân và phục vụ có hiệu quả nhất cuộc sống của dân

Chính vì vậy, thôn là một cộng đồng tự quản; trưởng thôn vừa được chính quyền xã ủy nhiệm giải quyết một số việc có tính hạn chế của quản lý

và đại diện cho dân làng tự quản Song nếu xã thoái thác chức trách quản lý, đùn đẩy cho thôn và trưởng thôn giải quyết thì một mặt, thôn không làm được, sinh ra bê trễ; mặt khác, tình trạng này lại là kẽ hở cho trưởng thôn lộng quyền, lạm quyền ể đảm bảo tính ổn định của vấn đề quản lý và tự quản, ảng, Nhà nước, Chính phủ cấp trung ương, cấp địa phương phải cùng hỗ trợ, phối hợp, cộng đồng trách nhiệm, phân cấp, phân quyền mới giải quyết được

Thứ hai, cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối

của ảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, thành hiện thực

đời sống nhân dân

Trong hệ thống tổ chức 4 cấp của T T thì xã, phường, thị trấn (cấp xã) không phải là cấp hoạch định đường lối, chính sách, mà là cấp hành động,

tổ chức thực hiện đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống, thành hành động đời sống nhân dân Như vậy, hoạt động của HTCT ở xã, phường, thị trấn tạo

ra quá trình vật chất hóa tư tưởng, thực tiễn hóa lý luận, hiện thực hóa đường lối, chính sách từ Trung ương và địa phương thành cuộc sống của dân, đời

Trang 24

sống xã hội o đó, tuy xã, phường, thị trấn nằm ở tầng sâu nhất của hệ thống quản lý nhà nước, nhưng sự vận hành của toàn bộ thể chế chính trị từ Trung ương đến các cấp địa phương phải tác động tới ường lối, chính sách chỉ đi vào cuộc sống thực sự khi dân hiểu rõ và tin tưởng, dân được tổ chức hành động trong những phong trào rộng khắp Tác dụng, hiệu quả của đường lối, chính sách phải được chứng thực bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin

và hành động thực tế của quần chúng Vì vậy, xã, phường, thị trấn là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách từ cấp vĩ mô; là cấp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của ảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X khẳng định: “HTCT ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của ảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của

cộng đồng dân cư” [9, tr.166]

Thứ ba, T T cấp xã có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế

được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất, có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít tính chuyên nghiệp nhất, trực tiếp quan hệ với nhân dân

Là cấp thấp nhất nên tổ chức bộ máy đơn giản nhất và biên chế được hưởng sinh hoạt phí ít nhất Theo các quy định hiện hành, T T cấp xã được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người Phần lớn đội ngũ cán

bộ, nhất là cán bộ chủ chốt không phải được tuyển dụng biên chế cố định, mà

họ được giữ các vị trí đó thông qua lá phiếu bầu cử của nhân dân ho nên, nếu có năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ, được nhân dân tín nhiệm thì sẽ có

cơ hội tái cử ở nhiệm kỳ tiếp theo; ngược lại, khi hết nhiệm kỳ, nhân dân sẽ bầu người khác thay thế Tâm lý không ổn định cũng chính là nguyên nhân dẫn đến đội ngũ cán bộ cơ sở biến động thường xuyên và ít được chuyên môn hóa, ít được đào tạo cơ bản và bản thân họ cũng có tâm lý ngại học tập, nâng

Trang 25

cao trình độ theo xu hướng "quan nhất thời, dân vạn đại" Phần lớn những người được đào tạo bài bản cả về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị

lại muốn tìm cách thoát ly khỏi cơ sở

Thứ tư, có bộ máy đơn giản nhất nhưng không phải là đơn giản nhất

trong vận hành bộ máy, bởi vì, đây là cấp mà các mối quan hệ về dòng họ, văn hóa làng xã có thể tác động mạnh nhất, ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của T T cấp xã

Ở cấp xã đã có và hiện cũng chưa hết tình trạng "chi bộ họ ta" Tình trạng thành viên cấp ủy được phân bổ theo dòng họ, theo cánh, theo làng vẫn còn Quan hệ anh em, họ hàng, chú bác trong ảng ủy, giữa các cán bộ xã không phải hiếm Mặt khác, lại bị chi phối, ràng buộc bởi truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã iều đó ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ trong nội bộ tổ chức ó khi vì quan hệ họ hàng, thân tộc mà nể nang, e dè, né tránh đấu tranh Ngược lại, có khi vì quan hệ dòng họ mà đấu tranh phe cánh kịch liệt, vượt quá mức cần thiết làm ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở o đó, phải hết sức chú ý khắc phục tư tưởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu "một người làm quan

cả họ được nhờ"

Thứ năm, cơ sở là cấp đầu tiên đối mặt với những tâm tư, nguyện vọng,

những yêu cầu bức xúc của dân chúng; với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư

Về thực chất, T T là cơ cấu tổ chức quyền lực chính trị của một xã hội

Ở nước ta, khi quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động; chủ thể quyền lực chính trị là nhân dân, thì “Thực chất của việc đổi mới và kiện toàn T T nước

ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Dân chủ là quy luật hình thành,

phát triển và tự hoàn thiện của T T xã hội chủ nghĩa…” [8, tr.125]

Trang 26

Từ thực tế đó, mối quan hệ sâu xa, rộng lớn quyết định sức sống, tác

dụng và hiệu quả hoạt động của T T là mối quan hệ gữa HTCT với dân,

giữa dân với HTCT Vì vậy, quan hệ với dân là quan hệ nền tảng, sâu xa nhất,

bản chất nhất, quy định và chi phối mọi quan hệ khác của T T, cả về xác định cơ cấu tổ chức, cả về cơ chế vận hành cũng như những điều kiện đảm bảo hiệu quả hoạt động của T T [2,tr.15] ởi vì, như hỉ tịch ồ hí Minh đã khẳng định một cách cô đọng mà đầy đủ, sâu sắc nhất bản chất của chế độ dân chủ hướng tới dân, khẳng định vai trò và sức mạnh của dân với tư cách là chủ

thể quyền lực chính trị: “Nước ta là nước dân chủ ao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… hính quyền từ xã đến hính phủ Trung ương do dân cử ra oàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói

tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [31, tr.698]

Từ tiếp cận phân tích HTCT trong mối quan hệ với dân cho thấy HTCT

cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) là cấp độ gần dân nhất, là cấp độ có quan hệ

trực tiếp với dân, tác động trực tiếp đến hoạt động và cuộc sống của dân,

đồng thời chịu sự giám sát trực tiếp của dân

ơ sở là nơi nảy sinh từ thực tế biết bao kinh nghiệm có thể tổng kết để

khái quát thành lý luận, để điều chỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chính sách do thường xuyên phải giải quyết những tình huống của cuộc sống đặt ra Quần chúng từ chính đời sống hằng ngày đòi hỏi, với kinh nghiệm và sự nhạy bén thực tiễn đã tự phát lộ không ít những sáng kiến, những cách làm hay, gợi

mở nhiều ý tưởng cho đổi mới cơ sở và từ cơ sở quần chúng đã nhanh chóng nhập cuộc với đổi mới, hành động theo đường lối đổi mới của ảng, bởi đổi mới là hợp với quy luật phát triển và thuận với lòng dân

Tóm lại, những đặc điểm trên của HTCT cơ sở phản ánh một mặt sự thống nhất của cả HTCT được tổ chức, hoạt động theo tính thống nhất về mục tiêu và nguyên tắc Mặt khác, cũng phản ánh nhiều mâu thuẫn, có loại mâu thuẫn

Trang 27

biện chứng của sự phát triển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt tiêu sự phát triển

Vì vậy, cần phải phát hiện mâu thuẫn, có những giải pháp cụ thể để xử lý mâu thuẫn một cách hợp lý, cụ thể nhằm đổi mới và hoàn thiện HTCT cơ sở, đáp ứng

vị trí, vai trò quan trọng cần phải có của nó trong giai đoạn hiện nay

1.2 Chất lƣợng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã

1.2.1 Khái niệm

Chất lượng là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau

ó rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng iện nay, có một số định nghĩa

về chất lượng như sau: theo Lehtinen (1982), chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ,theo Gronroos (1984), cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là chất lượng kĩ thuật và chất lượng chức năng, nói lên chúng phục vụ như thế nào, theo Juran - iáo sư người Mỹ, chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu hay iáo

sư Crosby cho rằng: chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định, theo Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO)- SO 9000: 2000 "chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu" [55, tr8]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “ hất lượng” được dùng theo 2 nghĩa: 1 ái

tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc (đánh giá

chất lượng sản phẩm Nâng cao chất lượng giảng dạy) 2 (chuẩn mực, id)

như chất (ng.3) [44, tr.144].

Chất lượng ở đây được dùng theo nghĩa thứ nhất, chứ không phải là

“chất” theo nghĩa triết học: là tổng thể nói chung những tính chất, thuộc tính

cơ bản của sự vật; cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác; phân biệt với “lượng”

Chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã là cái tạo nên giá trị của HTCT cấp xã trong hoạt động, như chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

Trang 28

Tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động đã là một vấn đề cực kì khó, đánh giá chất lượng hoạt động của HTCT lại còn khó hơn nữa Dựa vào quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau, tác giả mạnh dạn đưa ra một số tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã như sau:

Thứ nhất, sự ổn định về tổ chức và hiệu quả hoạt động của toàn bộ

HTCT, của từng thành tố trong HTCT

Thứ hai, sự hài lòng, thể hiện sự tin cậy của nhân dân trên địa bàn đối với

HTCT; sự ủng hộ, tham gia của quần chúng trong các hoạt động của HTCT

Thứ ba, sự tin tưởng của HTCT cấp trên, của lãnh đạo cấp trên (trực

tiếp là cấp huyện) đối với HTCT cấp xã

Thứ tư, kết quả thực hiện các nhiệm vụ chính trị của HTCT cấp xã: Sự

ổn định chính trị - xã hội; sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững anh ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội…

1.2.2 Các yếu tố cấu thành chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã

1.2.2.1 Chất lượng hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở

Tổ chức Đảng ở cơ sở ( ảng bộ, chi bộ cơ sở) đóng vai trò hạt nhân

chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong HTCT, phản ánh và giải đáp mọi tâm tư nguyện vọng của dân, khơi dậy trí tuệ và nguồn lực của dân ảng viên ở cơ

sở phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, gắn bó với nhân dân, thực sự tiêu biểu cho lực lượng tiến bộ nhất ở cơ sở; là người lao động giỏi, người công dân mẫu mực

Chất lượng hoạt động của tổ chức ảng ở cơ sở thể hiện tập trung ở các

phương thức lãnh đạo cơ bản của tổ chức ảng cơ sở: Thứ nhất, nghị quyết của ảng bộ, chi bộ, của các cấp uỷ ảng đề ra chủ trương và các giải pháp

có tính định hướng; phải đánh giá đúng tình hình thực tế của địa phương để

Trang 29

ban hành nghị quyết, khi nghị quyết đi vào cuộc sống, được cuộc sống chấp nhận và nhân dân hết lòng ủng hộ; phân công, giao trách nhiệm cho các tổ chức trong T T đề ra biện pháp và tổ chức thực hiện Nghị quyết của tổ chức ảng không “lấn sân” quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức khác ể đảm bảo cấp uỷ ảng quán xuyến được các mặt công tác, các hoạt động của

HTCT, cần xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa í thư cấp uỷ với

Chủ tịch N , hủ tịch UBND, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận và những người đứng đầu các đoàn thể chính trị - xã hội để bàn và giải quyết kịp thời những

vấn đề quan trọng và bức xúc trên địa bàn cơ sở (xã, phường, thị trấn) Thứ

hai, tổ chức ảng ở cơ sở phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trong HTCT

ở cơ sở, từ đội ngũ đảng viên và những người có đức, có tài trong dân Dựa vào dân và thông qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồi dư-ỡng, kiểm tra cán bộ của T T áng chú ý là Nghị quyết chủ trương “Thực hiện nghiêm túc việc thăm dò, lắng nghe ý kiến nhân dân trước khi bầu cử cấp

uỷ Thứ ba, tổ chức ảng và cấp uỷ tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành

nghị quyết của ảng bộ (chi bộ cơ sở), của cấp uỷ Nghị quyết nêu rõ: chú trọng

tìm hiểu, lắng nghe ý kiến nhận xét, đánh giá của quần chúng đối với đảng viên

và tổ chức đảng àng năm, í thư cấp uỷ, Chủ tịch N và hủ tịch UBND

tự phê bình trước đại diện của nhân dân [10, tr.171] Thứ tư, kịp thời triển trai

công tác cán bộ, công tác tư tưởng tới đảng viên và quần chúng

Trên cơ sở vị trí, vai trò và chức năng của cấp ủy ảng, chất lượng hoạt động của cấp ủy ảng ở cơ sở được biểu hiện như sau:

Một là, cấp ủy ảng phải nắm chắc lý luận và thực tiễn, đó là xuất phát

điểm, là cơ sở để đánh giá hiện trạng, phân tích nguyên nhân và các giải pháp hoạt động của HTCT cấp xã ây chính là tiền đề nhận thức của đổi mới kinh

tế, đổi mới chính trị cũng như đổi mới xã hội gắn liền với cuộc vận động dân chủ hóa toàn diện các lĩnh vực của đời sống

Trang 30

Hai là, cấp ủy ảng đánh giá đúng tình hình thực tế của địa phương,

cụ thể hóa những chủ trương, chính sách, giải pháp của cấp trên đề ra một cách đúng đắn, sáng tạo và tích cực nỗ lực chỉ đạo tổ chức hoạt động để đưa chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống, được cuộc sống chấp nhận, được nhân dân hết lòng ủng hộ

1.2.2.2 Chất lượng hoạt động của chính quyền

ối với chính quyền cơ sở, trước hết xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cơ sở là tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của

ảng và Nhà nước, các mục tiêu kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng

ở cơ sở; thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn theo thẩm

quyền được giao; hướng dẫn và giám sát các hoạt động tự quản của dân, tạo

thuận lợi cho dân và doanh nghiệp làm ăn theo pháp luật ặc biệt, đề cao vai trò của thôn, làng, ấp, bản, sóc,… như là những địa bàn quan trọng để phát huy các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư

Nâng cao chất lượng và hiệu quả của chính quyền cơ sở, trước hết

N xã, phường, thị trấn phát huy vai trò cơ quan quyền lực, đại diện ý chí

của nhân dân ở cơ sở trong quyết định mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng tại cơ sở, những việc cấp cơ sở được phân cấp và những việc đáp ứng yêu cầu tự quản của cộng đồng dân cư ở cơ sở; bầu và phê chuẩn các chức danh hành chính theo luật định; giám sát hoạt động của UBND và những việc

do cấp trên thực hiện trên địa bàn (nhất là việc sử dụng đất đai, quỹ công, tài sản công, kể cả các quỹ do dân đóng góp) ổi mới cơ chế bầu cử N , nâng cao chất lượng các kỳ họp N , phát huy vai trò các đại biểu N trong kỳ họp và các hoạt động thường xuyên gắn bó với dân

Nâng cao hiệu lực của cơ quan hành chính, đề cao trách nhiệm và thẩm

quyền của UBND xã, phường, thị trấn: tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, công

việc được phân cấp; tổ chức thực hiện những công việc được cấp trên uỷ

Trang 31

quyền; hướng dẫn, hỗ trợ và giám sát việc tuân thủ pháp luật đối với công việc tự quản của thôn và các tổ chức tự quản khác, đề cao trách nhiệm giải quyết khiếu kiện của dân theo thẩm quyền Về tổ chức, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, Chủ tịch và các thành viên trong UBND, kiện toàn bộ máy giúp việc gồm văn phòng và ba khối (kinh tế - tài chính, văn hoá - xã hội và nội chính) ể đảm bảo hoạt động, chính quyền cơ sở được tạo điều kiện chủ động về ngân sách, mở rộng các khoản thu; thực hiện định kỳ kiểm toán nhà nước, công khai thu, chi ngân sách cho dân biết Xây dựng trụ

sở làm việc phục vụ cho các cơ quan trong T T ở cơ sở; trang bị các phương tiện làm việc cần thiết theo yêu cầu tin học hoá, bảo đảm hệ thống truyền thanh, nhà bưu điện - văn hoá … ở cơ sở

Sau khi xác định rõ chức năng, nhiệm vụ trên, chất lượng hoạt động của chính quyền là làm tốt vai trò quản lý, điều hành thể hiện thông qua:

Một là, đưa đường lối, chủ trương và chính sách của ảng và Nhà nước

đi vào cuộc sống của nhân dân, thực hiện đúng hướng, đúng trọng tâm và đúng tinh thần của nó Chính quyền giữ vai trò cột trụ trong HTCT, Tổ chức đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với HTCT và với xã hội chủ yếu bằng chủ trương, nghị quyết Mức độ thành công trong việc thực hiện chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng luôn tùy thuộc phần lớn vào năng lực của

bộ máy chính quyền Sức mạnh hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền là

ở nơi dân, việc quy tụ được lòng dân, là phát huy tình đoàn kết, truyền thống, tinh thần làm chủ của nhân dân

Hai là, đảm bảo tổ chức đời sống mọi mặt ở địa phương, phát huy mọi

tiềm năng nhân tài, vật lực ở địa phương phục vụ sự phát triển kinh tế- xã hội Chính quyền quan tâm đến đời sống của nhân dân và công tác vận động nhân dân, kinh tế xã hội của địa phương sẽ phát triển, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể thuận lợi,

Trang 32

có hiệu quả, tạo được nhiều phong trào quần chúng thi đua yêu nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngược lại, nếu chính quyền hoạt động kém chất lượng đó là thiếu sự quan tấm, phối hợp và hỗ trợ , kinh tế xã hội trì trệ, hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể gặp khó khăn và hiệu quả thấp

Ba là, thể hiện vai trò đại diện pháp lý cho toàn bộ dân cư trên địa bàn

Chất lượng hoạt động của chính quyền ở đây được thể hiện qua N và

U N N là cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân ở đơn vị hành chính cơ sở Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp

và thông quan các cơ quan đại diện, trong đó cơ bản và trực tiếp nhất là thông qua N , được đảm bảo bằng hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính là U N Nhân dân tin tưởng cán bộ, tệ nạn xã hội hạn chế hơn và trình độ dân trí ngày càng cao cho thấy chính quyền hoạt động rất hiệu quả Ngược lại, nhân dân trong xã không quan tâm về tình hình chính trị trong

và ngoài xã, mất niềm tin vào cán bộ, vào chế độ, tệ nạn xã hội ngày càng tăng, đơn khiếu kiện của nhân dân ngày một nhiều điều này chứng tỏ hoạt động của chính quyền còn hạn chế và kém hiệu quả

1.2.2.3 Chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội phát huy nòng cốt xây dựng

khối đại đoàn kết toàn dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở o đó, phải đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể sát hợp với nhu cầu và lợi ích của hội viên, đoàn viên; tuyên truyền chủ trương, chính sách, vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, văn hoá, an ninh, quốc phòng; tổ chức có hiệu quả các cuộc vận động và phong trào quần chúng ở cơ sở; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phản ánh ý kiến của quần chúng xây dựng ảng và chính quyền, phát giác hành vi tham

Trang 33

nhũng, lãng phí, vi phạm dân chủ; tham gia hoà giải các mâu thuẫn trong nội

bộ nhân dân, bày tỏ thái độ đối với những khiếu kiện của dân, góp phần giải quyết từ gốc a dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng, coi trọng và mở rộng các tổ chức và hoạt động tự quản của dân ể đảm bảo hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể ở cơ sở, trong việc tạo nguồn và sử dụng kinh phí, ngoài một phần kinh phí do Nhà nước cấp, tạo điều kiện để các đoàn thể gây quỹ theo đúng pháp luật N ở cơ sở giao khoán phần kinh phí do Nhà nước cấp để Mặt trận và từng đoàn thể chủ động quyết định việc chi tiêu

Thực hiện những chức năng trên, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội được thể hiện như sau:

Một là, đoàn kết nhân dân, chăm lo lợi ích của thành viên, thực hiện

dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ của công dân, thắt chặt mối quan hệ giữa ảng bộ xã, chính quyền và nhân dân MTTQ và các đoàn thể phát động phong trào tích cực sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn, tích cực phối với ảng ủy và chính quyền cơ sở, giải quyết những vấn đề cụ thể để phát triển kinh tế- xã hội trong toàn xã, như chuyển đổi kinh

tế, vấn đề vay vốn, giống và áp dụng khoa học- kĩ thuật, bảo vệ môi trường, tiêu thụ sản phẩm,

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội luôn đi đầu trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, phát luật trong nhân dân;

là trung tâm hòa giải các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở thông qua việc lựa chọn đại biểu của nhân dân ở cơ sở

Hai là, lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần

chúng tham gia bảo vệ trật tự an ninh, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội có những hoạt động góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật, cây trồng vật nuôi, kế hoạch hóa gia đình, tiêm chủng mở rộng,

Trang 34

phòng chống tệ nạn, xây dựng văn hóa, thể thao ngày càng phát triển Các mâu thuẫn cần hòa giải ngày càng giảm Các hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa ngày càng thu hút được đông đảo đồng bào, đoàn viên, hội viên tham gia

1.2.2.4 Chất lượng phối hợp hoạt động của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

Ngoài mối quan hệ khăng khít giữa ảng và chính quyền, giữa ảng và các đoàn thể chính trị - xã hội, quan hệ giữa chính quyền (cụ thể là N , UBND) với các đoàn thể nhân dân là rất quan trọng, đặc biệt là với MTTQ Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây

dựng ảng, Nhà nước” [23, tr.14] MTTQ và chính quyền xã có mối quan hệ

cộng tác, phối hợp Hai bên có quyền kiến nghị với nhau MTTQ và các đoàn

thể chính trị - xã hội có trách nhiệm tập hợp, động viên các giới, các tầng lớp nhân dân thực hiện pháp luật và quy định của chính quyền, giúp chính quyền hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình Ngược lại, chính quyền phải tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội hoàn thành chức trách của mình ảng lãnh đạo, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng tác động vào đối tượng nhân dân nhưng theo các phương thức khác nhau,

có tác động hỗ trợ cho nhau ưới sự lãnh đạo của ảng ủy, chính quyền hoạt động theo phương thức dựa vào luật pháp, sử dụng biện pháp hành chính, còn MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội chủ yếu dựa vào tính tự nguyện của đoàn viên, tổ chức thuyết phục, động viên các đối tượng thi hành chính sách

Chất lượng phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong HTCT cấp xã thể hiện ở sự lãnh đạo của ảng ủy, sự quản lý của chính quyền và vai trò tham chính, tham nghị, giám sát của MTTQ và các đoàn thể chính trị- xã hội luôn khăng khít

Trang 35

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã

1.3.1 Các nhân tố khách quan

1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội

HTCT cấp xã là cấp tổ chức thực hiện các hoạt động của HTCT, là cầu nối trực tiếp của toàn bộ HTCT với dân, là nơi mọi vận động của HTCT diễn

ra trong hoạt động và cuộc sống của dân, mà tất cả các cấp tổ chức HTCT phải hướng tới Vì vậy, những điều kiện về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nhất là đặc điểm dân cư, trình độ dân trí, cũng như tình hình chung về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng đều có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã

Nếu địa phương có điều kiện tốt về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trình độ dân cư thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao cả về mặt vật chất và tinh thần; ở đó, hoạt động của HTCT cấp xã thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động của HTCT có chất lượng hơn so với các địa phương khác ên cạnh đó, T T cấp xã là cấp gần dân nhất; vì vậy, yếu tố văn hóa truyền thống, mối quan hệ họ hàng, nội tộc, dòng họ có tác động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã

1.3.1.2 Cơ chế của hệ thống chính trị, trực tiếp là cấp huyện

HTCT ở nước ta bao gồm các bộ phận cấu thành: ảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; mỗi bộ phận tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống thống nhất

Trong hệ thống tổ chức 4 cấp của HTCT, mỗi cấp không thể tồn tại biệt lập; mỗi cấp đều có vai trò và tầm quan trọng của mình trong mối quan hệ với các cấp khác Vai trò và tầm quan trọng của mỗi cấp do vị trí, chức năng của

nó, do đòi hỏi khách quan của đời sống hiện thực, của sự phát triển xã hội quy định o đó, dù có vai trò rất quan trọng, HTCT cấp xã không thể và không

Trang 36

phải giải quyết được mọi vấn đề mà cuộc sống và sự phát triển của xã hội đặt

ra Có rất nhiều vấn đề thuộc thẩm quyền và chỉ có cấp trên cơ sở, thậm chí phải ở tầm chiến lược quốc gia, mới giải quyết được Chính vì vậy, trong tổ chức hoạt động của toàn bộ HTCT cần thiết và tất yếu phải có sự phân cấp, phân quyền để mỗi cấp có thể làm đúng chức năng và do đó phát huy được vai trò của mình ặt không đúng vị trí, thực hiện không đúng chức năng, nhiệm vụ, không đủ thẩm quyền pháp lý và không đủ điều kiện đảm bảo, sẽ làm cho HTCT mỗi cấp (trong đó có cấp xã) không mạnh lên mà lại yếu đi, làm suy giảm vai trò thực sự của nó Chỉ khi HTCT ở xã, phường, thị trấn làm tốt chức năng tổ chức thực hiện, tập hợp lực lượng quần chúng và tổ chức các hoạt động của quần chúng, khai thác và phát huy mọi nguồn lực từ dân để đáp ứng lợi ích thiết thực, cụ thể của dân thì mới được dân tin và xây dựng, biến đường lối, chính sách của các cấp trong HTCT từ Trung ương thành hiện thực của đời sống xã hội Và khi đó, T T ở xã, phường, thị trấn mới thực sự có

vai trò là cơ sở của toàn bộ HTCT

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

1.3.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở xã

Về mặt tổ chức, HTCT ở xã bao gồm: tổ chức ảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ( oàn Thanh niên, ội phụ nữ, ông đoàn, ội Nông dân và Hội Cựu chiến binh)

Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong T T, đồng thời xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở ảng; thực hành dân chủ thực sự trong nội bộ các tổ chức của HTCT

ở cơ sở theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của dân

Triển khai thực hiện Nghị quyết ại hội X của ảng, ội nghị Trung ương 5 (khóa X) đã có Nghị quyết về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của ảng đối với hoạt động của T T và Nghị quyết về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, trong

Trang 37

đó có những chủ trương mới, mang tính “đột phá" Một trong những yêu cầu của của cách cách hành chính là “Xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ

quan, giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông

thôn, giữa tập thể và người đứng đầu cơ quan hành chính…” [9, tr.159]

(chúng tôi nhấn mạnh) Trong chủ trương và giải pháp, Nghị quyết Trung ương có những quyết định rất đáng chú ý, đặc biệt là chủ trương “Tổ chức

hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính

quyền nông thôn và chính quyền đô thị”

1.3.2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở xã

Chất lượng đội ngũ cán bộ là nhân tố tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động của HTCT Chất lượng đội ngũ cán bộ của HTCT cấp xã bao gồm

đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và nhất là chất lượng của từng cán bộ, thể hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ, năng lực được đào tạo, năng lực hoạt động thực tiễn ội ngũ cán bộ ở cơ sở phải có năng lực tổ chức và vận động nhân dân, công tâm, thạo việc, tận tuỵ với dân, biết phát huy sức dân không tham nhũng, không ức hiếp dân, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và giải quyết hợp lý, đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở

HTCT ở cấp xã có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách

Cán bộ chuyên trách (gồm cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử, cán bộ chuyên

môn được UBND tuyển chọn) có chế độ làm việc và được hưởng chính sách

về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước; có đủ điều kiện được thi tuyển

vào ngạch công chức ở cấp trên Cán bộ không chuyên trách do UBND tỉnh

quy định khung về số lượng và mức phụ cấp Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở phải tích cực trẻ hóa và từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở; đổi mới căn bản chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy đối với cán bộ cơ sở theo hướng đào tạo cơ bản, bồi dưỡng theo chức danh, bảo đảm tính thiết thực; tạo nguồn cán bộ cho cơ sở từ việc nâng

Trang 38

cao mặt bằng dân trí, có chính sách thu hút những người được đào tạo chuyên môn (nhất là tốt nghiệp đại học và cao đẳng), thực hiện luân chuyển cán bộ ở huyện, tỉnh và công tác ở cơ sở

1.3.2.3 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện và nguồn tài chính đảm bảo đáp ứng các hoạt động của HTCT cấp xã

ác điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo hay không đảm bảo về số lượng, về chất lượng cũng như phương tiện, trang thiết bị có hiện đại cùng với nguồn tài chính đảm bảo mới tạo điều kiện cho hoạt động của HTCT cấp xã

Vì vậy, chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã bị tác động, ảnh hưởng bởi các điều kiện sau:

Thứ nhất, trụ sở làm việc, vị trí làm, khung cảnh nơi làm việc của cán

bộ công chức bao gồm các yếu tố nghỉ ngơi, giải trí, làm việc, ảnh hưởng đến tâm lý, thể trạng, thể lực và năng suất lao động của cán bộ công chức Nếu bố trí nơi làm việc của cán bộ công chức không hợp lý thì năng suất lao động của

tổ chức sẽ bị hạn chế, ngược lại nếu nơi làm việc của công chức, nhân viên nhà nước được bố trí hợp lý thì sẽ kích thích tinh thần và thái độ làm việc của cán bộ công chức Làm cho công chức gắn bó với công sở

Thứ hai, trang thiết bị, phương tiện làm việc, đây là khái niệm chỉ tất cả

các yếu tố vật chất, trang thiết bị làm việc, phương tiện làm việc để trợ giúp hoặc thay thế cho lao động thủ công của nguồn nhân lự trong công sở yếu tố này tạo ra môi trường làm việc văn hóa hiệu quả Các thiết bị phục vụ chính cho tổ chức và hoạt động công sở hiện nay là các thiết bị soạn thảo văn bản; các thiết bị nhân bản hàng loạt; các thiết bị bảo quản và tìm kiếm văn bản Ngày nay cùng với sự phát triển của nhân loại, đặc biệt là sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật đã cho ra đời nhiều máy móc như: máy đánh chứ, máy vi tính, máy sao chụp, máy điện tử, fax, máy photocopy, máy in để phục vụ cho việc giải quyết công việc của con người được nhanh chóng, chính xác, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Như vậy phương tiện làm việc là yếu tố

Trang 39

quan trọng giúp nhà lãnh đạo, quản lý hoàn thành tốt công tác quản lý; giúp cán bộ công chức nâng cao năng suất lao động, hoàn thành yêu cầu công việc được giao; giúp cán bộ công chức giữ gìn sức khỏe, chống lại sự mệt mỏi trong công việc hằng ngày; giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian, giảm hao tổn sức lực trong lao động; tạo ra sự linh hoạt hơn trong công việc, trong sử dụng thiết bị; chống lại sự ỷ lại, khuyến khích người cán bộ công chức hăng say lao động, sáng tạo trong công việc

Thứ ba, nguồn tài chính, phải tăng cường đầu tư chi phí theo yêu cầu

của từng nội dung hoạt động Nếu có đầu tư thỏa đáng sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT cấp xã Tuy nhiên đầu tư chi phí cho hoạt động của HTCT cấp xã phải tối ưu Nghĩa là chỉ đủ mức cần thiết và triệt

để tiết kiệm, chống lãng phí Nhiều khi chỉ với mức kinh phí hạn hẹp nhưng

tổ chức thực hiện tốt, tìm ra hình thức và phương pháp thích hợp thì hiệu quả đem lại vẫn cao

Tiểu kết chương 1

HTCT cấp xã là cấp thấp nhất trong 4 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã) ở nước ta Là cấp thấp nhất, nhưng T T cấp xã có vai trò quan trọng trong việc đưa chủ trương, đường lối của ảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân Nội dung chương 1 đã làm rõ các khái niệm (HTCT, HTCT cấp xã, chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã); trình bày các yếu tố tạo nên chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã, như chất lượng hoạt động và

sự phối hợp hoạt động của các tổ chức đảng bộ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã; cơ cấu tổ chức bộ máy, sự tác động, ảnh hưởng của cơ cấu tổ chức bộ máy HTCT và chất lượng đội ngũ cán bộ ở xã đến chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã làm bộ "khung”, "xương sống” cho phần nghiên cứu, phân tích thực trạng chất lượng hoạt động của HTCT cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh à Tĩnh ở chương 2

Trang 40

hương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA H THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ HUY N CAN LỘC, TỈN TĨN

2.1 Khái quát hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

2.1.1 Khái quát đặc điểm chung về huyện Can Lộc

an Lộc là huyện bán sơn địa, nằm ở phía ắc tỉnh à Tĩnh; phía ắc giáp với huyện Nghi Xuân và thị xã ồng Lĩnh; phía Nam giáp huyện Thạch Hà; phía Tây giáp với huyện ức Thọ và ương Khê; phía ông giáp với huyện Lộc à iện tích tự nhiên của huyện là 30.128,33 ha, chiếm 5,04% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, xếp thứ 7 trong tổng số 12 huyện, thị, thành phố (xem hình 6.1)

Huyện có 23 đơn vị hành chính (01 thị trấn và 22 xã) Bao gồm: Thị trấn Nghèn, xã Thiên Lộc, Thuần Thiện, Kim Lộc, Vượng Lộc, Thanh Lộc, Song Lộc, Thường Nga, Trường Lộc, Tùng Lộc, Yên Lộc, Phú Lộc, Khánh Lộc, ia anh, Vĩnh Lộc, Tiến Lộc, Trung Lộc, Xuân Lộc, Thượng Lộc, Quang Lộc, ồng Lộc, Mỹ Lộc, Sơn Lộc Huyện nằm ở vị trí các đầu mối giao thông quan trọng, như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 15, tỉnh lộ 12, tỉnh lộ 6, tỉnh

lộ 7 nối liền với các huyện thị trong tỉnh ây là điều kiện thuận lợi để giao lưu và phát triển kinh tế, văn hóa, tiêu thụ sản phẩm của toàn huyện

ất đai ở huyện an Lộc nhìn chung không được màu mỡ, chủ yếu là

đất đồi núi, được chia thành 3 vùng chính: Vùng đất địa thành: thuận lợi cho phát triển kinh tế vườn đồi và trồng cây ăn quả Vùng đất bán thủy thành:

phân bố ở các vùng tiếp giáp chân núi, vùng này tầng đất khá dày, có khả

năng trồng cây ăn quả, trồng màu, sản xuất lúa Vùng đất thủy thành: được

hình thành từ phù sa các con sông, là nhóm đất có diện tích tương đối lớn tập trung ở các vùng trung, hạ an, ở vùng này địa hình tương đối bằng phẳng, chất đất khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; đây là diện tích đất canh tác chính của huyện

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1 (Nguồn: tại website www.timdiachi.vn, Tích hợp bản đồ Can Lộc,  à Tĩnh) - Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã ở huyện can lộc, tỉnh hà tĩnh hiện nay
Hình 6.1 (Nguồn: tại website www.timdiachi.vn, Tích hợp bản đồ Can Lộc, à Tĩnh) (Trang 130)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w