1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỉnh ủy cao bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay

105 27 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 850,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khái niệm “lãnh đạo”, “xóa đói, giảm nghèo” và “ công tác xóa đói, giảm nghèo” nêu trên, có thể quan niệm: Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo là toàn bộ hoạt động của các cấp

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYấN TRUYỀN

DƯƠNG VĂN TƯỜNG

tỉnh ủy cao bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo

trong giai đoạn hiện nay

Ngành: Xõy dựng Đảng và Chớnh quyền nhà nước

Mó số : 60 31 02 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS, TS Dương Xuõn Ngọc

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày … tháng 11 năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Lưu Văn An

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Dương Văn Tường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH ỦY CAO BẰNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO 9

1.1 Đói nghèo và chính sách xóa đói giảm nghèo 91.2 Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo - quan niệm, nội dung, phương thức và quy trình lãnh đạo 181.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng 24

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH ỦY CAO BẰNG ĐỐI VỚI XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO 30

2.1 Khái lược về tỉnh Cao Bằng 302.2 Thực trạng, nguyên nhân đói nghèo ở tỉnh Cao Bằng 332.3 Thực trạng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Tỉnh ủy Cao Bằng 43

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH ỦY CAO BẰNG ĐẾN NĂM 2020 60

3.1 Mục tiêu và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với công tác xóa đói giảm nghèo đến năm 2020 603.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng đối với công tác xóa đói giảm nghèo 70

KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghèo đói là hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan, nó xuất hiện cùng với sự phát triển của loài người và tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển của tất cả các nền kinh tế Đói nghèo đã và đang làm cho hàng triệu người không có cơ hội được hưởng thành quả văn minh tiến bộ của loài người, tạo những bất công, cản trở sự phát triển nhân loại Hiện nay trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người đang phải sống trong cảnh đói nghèo, kể cả nước

có thu nhập nhất thế giới vẫn có một tỷ lệ dân sống trong tình trạng nghèo nàn

cả về vật chất và tinh thần Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước khác nhau, đối với những nước phát triển thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lớn hơn rất nhiều Trong xu thế hợp tác và toàn cầu hóa hiện nay thì vấn đề xóa đói, giảm nghèo không còn là trách nhiệm của một quốc gia mà đã trở thành mục tiêu thiên niên kỷ XXI được cả cộng đồng quốc tế quan tâm cùng giải quyết

Cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và Nhà nước

ta luôn luôn đặt con người là vị trí trung tâm của sự phát triển, coi xóa đói, giảm nghèo là một trong những mục tiêu cơ bản, chiến lược và được hiện thực bằng những chủ trương chính sách trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng (năm 1996), Đảng ta đã khẳng định: “Thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” [20, tr.115] Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) tiếp tục khẳng định: “Phấn đấu đến năm 2010, về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo” [21, tr.221]

Quá trình thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói, giảm nghèo ở nước ta thời gian qua đã đạt được một số thành tựu nhất định như số hộ nghèo

Trang 6

theo chuẩn cũ giảm cả tuyệt đối và tương đối, số hộ nghèo vươn lên làm giàu ngày một nhiều hơn, Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là nước có thành tích vượt trội trong xóa đói, giảm nghèo Tuy nhiên, kết quả xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian qua chưa vững chắc, số hộ nghèo theo chuẩn mới còn cao Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ lần thứ X nhận định:

“Thành tựu xóa đói, giảm nghèo chưa thật vững chắc Số hộ nghèo và tái nghèo ở một số vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn cao Đời sống nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn gặp nhiều khó khăn, nhiều vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn so với bình quân

cả nước” [22, tr.173] Thực trạng đó đòi hỏi nước ta cần nỗ lực hơn nữa trong tìm tòi giải pháp hiệu quả để tiếp tục tổ chức thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo ở tầm cao hơn

Cao Bằng là một tỉnh miền núi - biên giới phía Bắc nước ta, là tỉnh còn

có nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội, có tới 95% đồng bào

là dân tộc thiểu số và hơn 70% số xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn, trình

độ dân trí thấp và chưa đồng đều giữa các dân tộc, nền kinh tế chủ yếu là nông lâm nghiệp Là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ đói, nghèo cao, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn còn thấp kém GDP bình quân đầu người chỉ đạt 602 USD/người/năm (vào năm 2010) Thực tế, Cao Bằng hiện đang là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước (tỷ lệ nghèo hiện nay đang ở mức cao 28,22% - năm 2012)

Việc tiếp tục quán triệt tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, Tỉnh ủy Cao Bằng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, với tinh thần nỗ lực, trách nhiệm cao của cả hệ thống chính trị, sự đồng tình hưởng ứng của đông đảo nhân dân các dân tộc trong tỉnh, Cao Bằng đã đạt được những thành tựu lớn

Trang 7

trong công tác xóa đói giảm nghèo: tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 47,82% đã giảm xuống còn 28,22% vào năm 2012 Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo cao, đặc biệt ở vùng người dân tộc thiểu số Công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn cả về khách quan và chủ quan, những nguồn lực sẵn có chưa phát huy hết hiệu quả nên thành tựu đạt được còn khá khiêm tốn so với khả năng hiện có của tỉnh Thực tế đó đặt cho Tỉnh ủy Cao Bằng nhiệm vụ tiếp tục tăng cường lãnh đạo chỉ đạo và đẩy mạnh nâng cao chất lượng thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo trong thời gian tới

Vì những lý do đó, đề tài “Tỉnh ủy Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa

đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay” được chọn nghiên cứu trong

luận văn

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xóa đói giảm nghèo, các công trình ấy ít nhiều đã tổng hợp, phân tích và làm rõ về các quan niệm, các yếu tố dẫn đến đói nghèo Mặt khác đã đưa ra những giải pháp về xóa đói giảm nghèo được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau cả về giác độ xã hội, giác độ kinh tế, giác độ khoa học chính trị Đáng chú ý là một

số công trình sau đây:

2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đói nghèo

2.1.1 Các công trình nghiên cứu do Bộ, Ngành chủ biên

Công trình do Bộ Lao đông – Thương binh và Xã hội như: Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993); Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993); Xóa đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996), Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997) Các công trình nghiên cứu này đã tập trung

làm rõ các vấn đề lý luận về đói nghèo và phân tích rõ về các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo ở nước ta, từ đó đưa những giải pháp nhằm xóa đói

giảm nghèo nói chung

Trang 8

2.1.2 Các công trình nghiên cứu phù hợp cho các địa phương thuộc khu vực miền núi

- Hà Quế Lâm: Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

hiện nay – thực trạng và giải pháp, ( Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002)

Cuốn sách đã cho người đọc thấy được tình trạng đói nghèo ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta Đồng thời tác giả còn nêu ra những nguyên nhân cơ bản về tình trạng đói nghèo và đưa ra những khuyến nghị về định hướng và

một số giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số ở nước ta

- Hoàng Văn Cường: Xóa đói giảm nghèo ở huyện Từ Liêm (Nxb Nông

nghiệp, Hà Nội, 2004) Cuốn sách chuyên khảo chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng đói nghèo ở riêng một địa phương này đã nêu rõ đặc trưng về tình hình đói nghèo ở huyện Từ Liêm nói riêng Qua đó cũng nêu giải pháp và kiến nghị nhằm xóa đói giảm nghèo ngay tại huyện Từ Liêm Đây là sách để các tỉnh lân cận khu vực ngoại thành Hà Nội và các tỉnh miền bắc nói chung có

thể nghiên cứu, tham khảo trong việc xóa đói giảm nghèo cho người dân

- Một số công trình nghiên cứu khác cũng đưa ra những cách thức,

phương pháp để người dân có thể tham khảo, vận dụng, tự xóa đói giảm nghèo và tự thoát nghèo bằng nhiều cách khác nhau, đó là: “Làm ăn có kế hoạch để xóa đói giảm nghèo” của nhóm tác giả Vi Hồng Nhân – Ngô Quang Hưng – Trịnh Thị Thủy (Nxb Văn hóa dân tộc, 2007), “Những điển hình tiên tiến trong xóa đói giảm nghèo” của nhóm tác giả Đinh Viết Vinh – Phạm Văn Khánh – Viết Hồng (Nxb Lao động xã hội, 2006), tài liệu của nhóm tác giả Trần Văn Ơn – Tô Xuân Phúc – Nguyễn Tất Cảnh,”Thương mại hóa sản phẩm bản địa: hướng đi mới nhằm xóa đói giảm nghèo cho miền núi Việt Nam” (Nxb Nông nghiệp, 2008) Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này

là tài liệu tham khảo phù hợp cho các địa phương thuộc khu vực miền núi và vùng dân tộc thiểu số ở nước ta Các bài viết công bố trên các tạp chí cũng đã

đề cập tới việc thực hiện xóa đói giảm nghèo

Trang 9

2.1.3 Một số bài viết, công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn

đề xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Nguyễn Thị Nương: Cao Bằng tập trung nguồn lực đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Tạp chí Cộng Sản số 812 (2010) Tác giả đã

cho thấy được tình hình đói nghèo ở tỉnh Cao Bằng nói riêng và qua đó cho thấy hiệu quả công tác dân tộc và chính sách dân tộc đã góp phần tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc thiểu số ở Cao Bằng Đồng thời, đưa ra một số chủ trương lớn để tập trung nguồn lực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn tiếp theo

- Bằng Giang: Trợ giá, trợ cước ở Cao Bằng: Tiếp sức cho xoá đói giảm nghèo”, Báo Dân tộc & Phát triển - Số 45/2009 Bài viết đã cho thấy

thực tế về cuộc sống thiếu thốn của người dân tại Cao Bằng, đồng thời bài viết cũng cho thấy rõ một số giải pháp được tỉnh đề ra để nhằm giúp đỡ cuộc sống của người dân địa phương

- Nông Văn Dũng (2011) : “An sinh xã hội đối với nông dân tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ CNXHKH, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn tập trung

nghiên cứu những vấn đề an sinh xã hội đối với nông dân tỉnh Cao Bằng từ năm 2011 đến nay, luận văn đi sâu nghiên cứu về thực trạng và giải pháp thực hiện bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, xóa đói giảm nghèo và vấn đề giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người nông dân tỉnh Cao Bằng

- Mạc Thị Lệ (2014) : “Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng”, Luận văn thạc sỹ CNXHKH, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đói

nghèo, chính sách xóa đói giảm nghèo và việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhàm nâng cao việc xóa đói giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong những năm tiếp theo

Trang 10

2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác xóa đói, giảm nghèo

- Th.s Đặng Thị Lương (cùng tập thể tác giả), “Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận với công tác vận động đồng bào dân tộc Chăm xóa đói, giảm nghèo theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay” - Tổng quan

đề tài khoa học, H, 2009 Đề tài khoa học cấp cơ sở do ThS Đặng Thị Lương

- Chủ nhiệm đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác vận động đồng bào dân tộc Chăm xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận

- Nông Công Hiếu (2006), Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo thực hiện

chương trình xóa đói, giảm nghèo từ 1996 đến 2005, Luận văn cao cấp, Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia, Hà Nội Luận văn đã tập trung nghiên

cứu và làm rõ một số vấn đề sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn từ 1996 đến 2005, từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác xóa đói

giảm nghèo

- Hoàng Thị Ngọc Hà (2012) : “Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công

tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến 2010”, Luận văn thạc sỹ lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội.Luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo

công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao bằng trên địa bàn của tỉnh, từ đó đưa ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề xóa đói, giảm nghèo Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở nước ta là rất phong phú Thành quả của những công trình đã cung cấp những luận cứ khoa học, cơ sở cho việc xây dựng, triển khai công tác xóa đói, giảm nghèo trên toàn quốc và từng địa phương Tuy nhiên, vấn đề xóa đói, giảm nghèo được nghiên cứu dưới góc độ xây dựng Đảng là sự lãnh đạo, chỉ đạo, vận động nhân dân chung sức thực

Trang 11

hiện xóa đói giảm nghèo chưa thực sự nhiều, đặc biệt là đi sâu vào nghiên cứu

ở tỉnh Cao Bằng còn rất ít Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần luận giải rõ vấn

đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực trạng sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng trong công tác xóa đói giảm nghèo, luận văn đề xuất mục tiêu, phương hướng, giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Tỉnh ủy trong công tác xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng trong công tác xóa đói, giảm nghèo từ 2006 đến nay: Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường sự lãnh

đạo của Tỉnh ủy trong xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về không gian của đề tài: các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, tập trung nghiên cứu các huyện nghèo thuộc diện thụ hưởng chính sách giảm nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của

Chính phủ: Hà Quảng, Bảo Lạc, Bảo Lâm, Thông Nông và Hạ Lang

Phạm vi về thời gian: từ năm 2006 đến nay

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn vận dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng, Tỉnh ủy Cao Bằng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo làm nền tảng khoa học

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trên cơ sở thực tiễn của luận văn là tình hình đói, nghèo và thực trạng

sự lãnh đạo của Tỉnh ủy trong công tác xóa đói, giảm nghèo đối từ năm

2006 đến nay Tác giả tuân thủ phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra, khảo sát thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và đóng góp mới của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận, khoa học

Luận văn đóng góp một phần cho việc làm rõ thêm cơ sở lý luận về Đói nghèo, chính sách xóa đói giảm nghèo và sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Cao Bằng đối với công tác xóa đói giảm nghèo

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những nội dung của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu cho các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền địa phương trong thực hiện lãnh đạo, chỉ đạo công tác lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo Điều quan trọng là trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tự rút ra được cho mình những bài học quý

giá, tạo tiền đề cho quá trình tác nghiệp sau này của mình

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA TỈNH ỦY CAO BẰNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC

XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

1.1 Đói nghèo và chính sách xóa đói giảm nghèo

1.1.1 Khái niệm đói, nghèo và tiêu chí đói, nghèo

Khái niệm đói, nghèo

* Theo quan niệm của quốc tế

- Theo Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): Nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Khái niệm nghèo đói có thể chia theo hai cách khác nhau: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối

Nghèo tương đối là sự thỏa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của

con người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa khang trang hay nói cách khác, là có sự so sánh về thõa mãn các nhu cầu cuộc sống giữa người này với người khác, vùng này với vùng khác

Hộ nghèo tương đối không phải là đối tượng chủ yếu của chương trình

Để giải quyết nghèo tương đối có chương trình, giải pháp khác tác động đến như: Chương trình cho vay vốn giải quyết việc làm, phát triển kinh tế trang trại, cho vay của ngân hàng chính sách, ngân hàng Nông nghiệp

Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó

Trang 14

Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng

Nghèo tuyệt đối là sự không thõa mãn những nhu cầu tối thiểu của con

người để duy trì cuộc sống như: Cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc, nhà cửa không bảo đảm chống được mưa nắng, thiên tai bão lũ không so sánh với ai khác nhưng bản thân họ không đủ lượng calo cần thiết để duy trì cuộc sống

Hộ nghèo tuyệt đối là đối tượng chủ yếu của chương trình, mục tiêu xóa đói giảm nghèo phải tác động Để xem xét mức độ nghèo đói chúng ta cần thước đo gọi là chuẩn nghèo

- Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối Định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong t́nh trạng

bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta

Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình Vì thế

từ năm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh Châu Âu những người được coi là nghèo khi có ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế

Trang 15

cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người Những ai hiện tại có ít hơn 50% của thu nhập trung bình thì cũng vẫn có ít hơn 50% của trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo tương đối Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong một nước Ngược lại, nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo

có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo với vấn đề phân bố thu nhập Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo

và giàu trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối

Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới nghèo tuyệt đối đã đứng vững Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể tham gia vào cuộc sống xã hội

Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước Việc chọn lựa một con số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định một giỏ hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do

Vì thế mà chúng được quyết định qua những quá trình chính trị

* Quan niệm đói nghèo của Việt Nam (theo Chương trình Quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 và phương hướng từ năm 2006 -2010 của Thủ tướng Chính phủ năm 2000)

- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương diện

- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

Trang 16

- Xóa đói giảm nghèo là một chiến lược của Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam Đói nghèo là vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm nhất Không thể lãng quên nhóm cộng đồng yếu thế, ít cơ hội theo kịp tiến trình phát triển mà Chính phủ với việc cải cách, sửa đổi những khiếm khuyết của thể chế kinh tế để nhóm nghèo đói tự vươn lên xóa đói giảm nghèo

Tiêu chí đói, nghèo

Có ba căn cứ quan trọng để xác định tiêu chí nghèo đói:

- Căn cứ vào nhu cầu tối thiểu, nhu cầu này được lượng hóa bằng mức chi tiêu về lương thực,thực phẩm thiết yếu để duy trì cuộc sống với nhiệt lượng tiêu dùng từ 2.100-2.300 Kcal/người/ngày

- Căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng Trong đó đặc biệt quan tâm đến thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm có thu nhập thấp (20% số hộ)

- Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia, của từng địa phương đã được cụ thể hóa bằng mục tiêu chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo và chương trình của từng địa phương để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo

Từ ba căn cứ trên có thể cho thấy:

+ Xác định tiêu chí nghèo đói phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng quốc gia, từng địa phương, song trong đó có một phần yếu tố chủ quan của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách

+ Tiêu chí nghèo phụ thuộc vào yếu tố khách quan trong đó có một phần yếu tố chủ quan

* Tiêu chí nghèo đói giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2010

Giai đoạn 2001-2005:

Nông thôn miền núi, hải đảo: thu nhập bình quân 80.000 đ/người/tháng, hay 960.000đồng/người/năm được coi là nghèo

Trang 17

Nông thôn đồng bằng: Thu nhập bình quân 100.000đồng/người/tháng, hay 1.200.000đồng/người/năm được coi là nghèo

Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 150.000đồng/người/tháng, hay 1.800.000đồng/người/năm được coi là nghèo

Giai đoạn 2006 - 2010:

Tiêu chí nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là:

Khu vực Nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồng/người/tháng, được coi là nghèo

Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 260.000đồng/người/tháng, được coi là nghèo

1.1.2 Nội dung chính sách xóa đói giảm nghèo

Xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách lớn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Ngay từ khi nước ta mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định nghèo đói cũng là một thứ “giặc” như giặc dốt, giặc ngoại xâm nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu làm sao để nhân dân thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, đời sống hạnh phúc

“Làm cho người nghèo thì đủ ăn,

Người đủ ăn thì khá, giàu

Người khá, giàu thì giàu thêm”

Thực hiện tư tưởng đó của Người, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người nghèo và xóa đói giảm nghèo

đã trở thành một trong những chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện trên phạm vi cả nước

Các tỉnh, xã, miền núi, vùng cao, vùng sâu, và vùng xa là nơi có tỉ lệ

hộ nghèo đói cao nhất Một trong các nguyên tắc đầu tư của Nhà nước về xóa đói giảm nghèo là tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm Chính vì vậy, khu vực các tỉnh miền núi trong đó có các xã đặc biệt khó khăn, vùng

Trang 18

đồng bào dân tộc miền núi và biên giới, vùng sâu, vùng xa được xác định là một trọng tâm của xóa đói giảm nghèo Đây cũng là khu vực có rất nhiều khó khăn khi thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo nhưng còn có ý nghĩa rất lớn về an ninh, chính trị và quốc phòng Chính phủ đã quyết định một chương trình riêng về xóa đói giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn trong khu vực này là chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135)

* Các hoạt động của chương trình xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh miền núi: Ngày 23/7/1998, Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo thời kì 1998 - 2000 Từ đó tới nay có nhiều chính sách và

dự án được thực hiện trong phạm vi cả nước có liên quan, tác động tới các tỉnh miền núi như:

- Chính sách hỗ trợ về y tế

- Chính sách hỗ trợ về giáo dục

- Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn

- Chính sách an sinh xã hội, trợ giúp các đối tượng yếu thế

- Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở

- Chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp

- Dự án hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở các xã nghèo

- Dự án tín dụng ưu đãi hộ nghèo

- Dự án định canh định cư và xây dựng các vùng kinh tế mới

- Dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư

- Dự án đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và cán bộ các

xã nghèo

- Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề

Trang 19

* Một số kết quả đáng ghi nhận ở các tỉnh miền núi:

Khi nói tới đói nghèo, người ta thường nghĩ tới mức thu nhập thấp Nhưng thực tế đói nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn là

sự thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, công trình thủy lợi Vì vậy, trong 5 năm (1996 - 2000) Nhà nước đã chú trọng đầu tư 6500 công trình cơ

sở hạ tầng ở các xã nghèo Tính tới cuối năm 2000, ở khu vực miền núi đã có trên 90% xã có đường ô tô tới trung tâm xã, trên 90% xã có trường tiểu học, trên 70% có trường trung học cơ sở, 98% xã có trạm xá, 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ, 70% xã có tỉ lệ hộ được sử dụng nước sạch trên 50%, 75% xã có nguồn điện sinh hoạt tới trung tâm xã, 70% xã có chợ hoặc chợ trung tâm cụm

xã được xây dựng Ngoài ra còn mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo; thực hiện miễn giảm học phí, miễn giảm các khoản đóng góp, cấp sách giáo khoa cho học sinh nghèo

Một trong những khó khăn xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi là tình trạng du canh du cư Đến cuối năm 2000, các chương trình đã hỗ trợ đời sống cho 20.000 hộ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, hỗ trợ định canh định

cư cho trên 118.000 hộ và sắp xếp ổn định cuộc sống cho 23.543 hộ di dân tự do

Cái gốc để xóa đói giảm nghèo chính là phát triển sản xuất, tạo nên việc làm và tăng thu nhập cho các hộ gia đình Đối với miền núi, khó khăn nhất chính

là xóa bỏ tập quán canh tác cũ, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn và tổ chức tốt công tác khuyến nông thông qua các mô hình trình diễn theo phương thức

“cầm tay chỉ việc” Các dự án khuyến nông, khuyến lâm với vai trò tích cực của các tổ chức đoàn thể (Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh…) đã góp phần giúp hộ nghèo làm quen dần với phương thức canh tác mới, sử dụng giống cây, con mới, tạo điều kiện để họ sử dụng vốn vay ưu đãi có hiệu quả hơn

Kết quả tổng hợp của các chính sách dự án là tỉ lệ hộ đói nghèo giảm khá nhanh trong 5 năm từ 1996 - 2000 trung bình mỗi năm là 2%, hầu hết các tỉnh miền núi có tỉ lệ hộ nghèo đói giảm bình quân hàng năm cao hơn trung bình cả nước

Trang 20

Trên đây là những kết quả lớn thể hiện quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước trong công cuộc chiến đấu - tấn công đói nghèo Song, đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại, kết quả đạt được còn mong manh chưa bền vững Theo thống kê thì chương trình xóa đói giảm nghèo tiến triển chậm, chưa đạt kết quả mong muốn so với hệ thống chính sách đã có và lượng vốn đã bỏ ra Chẳng hạn, chủ trương bình quân đề ra mỗi năm giảm 300.000 hộ đói nghèo nhưng trong 5 năm qua bình quân mỗi năm mới giảm được 240.000 hộ (đạt 80% so với chỉ tiêu so với đề ra) Về hệ thống cơ sở hạ tầng tuy đã được cải thiện song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hóa và nâng cao đời sống nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Đường giao thông còn kém, đặc biệt đi lại khó khăn trong mùa mưa, hệ thống thủy lợi phần lớn là công trình tạm và trên thực tế mới đáp ứng được một phần yêu cầu sản xuất lúa, các cây trồng khác chủ yếu là nhờ nước trời Số trạm y tế đạt tiêu chuẩn chỉ đạt 46%

Cơ sở trường lớp tuy được tăng cường nhưng vẫn nghèo nàn, thiếu… (một thực trạng đáng lo ngại là nhiều nơi chỉ chạy theo thành tích số lượng các công trình mà quên mất chỉ tiêu chất lượng của chúng) Và nhìn chung, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp tự túc, manh mún, nhỏ lẻ, phương thức canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp Tình trạng phá rừng làm nương rẫy vẫn xảy ra rất nghiêm trọng, gây tác hại lớn về môi trường sinh thái

Trong những năm qua, được sự chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền

và sự hỗ trợ của các đoàn thể, phong trào xóa đói, giảm nghèo phát triển sâu rộng, động viên được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, đã giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo, một số vươn lên khá giả Từ thực tiễn phong trào xóa đói, giảm nghèo, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII) đã nêu lên một nhiệm vụ có ý nghĩa kinh tế - chính trị, xã hội to lớn: “Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở các vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng” [ 20, tr.150 ] Thực hiện các chủ trương của Đảng và Chính phủ, phong trào xóa

Trang 21

đói, giảm nghèo đang trở thành cuộc vận động lớn, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ nghèo đói, giúp cho các hộ còn nghèo, đói giảm bớt được khó khăn

Tuy nhiên, đến nay cả nước vẫn còn trên 20% số hộ nghèo đói, nhiều vùng còn nghèo, 90% hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn Sự phân hóa giàu nghèo vẫn đang có xu hướng tăng lên giữa các tầng lớp dân cư và các vùng của đất nước Ngoài nguyên nhân khách quan do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu việc làm, v.v còn có các nguyên nhân chủ quan như năng lực sản xuất kinh doanh thấp, đông con; có nơi, có lúc các ngành, các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, tổ chức khám chữa bệnh, tạo điều kiện học hành cho người nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người

Để xây dựng một đất nước giàu mạnh, Đại hội X của Đảng đã xác định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần: “kinh tế nhà nước, kinh

tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [ 13, tr.83] và trong Nghị quyết số 21-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (ngày 30-1-2008) đã ghi: Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên trong xã hội đều có cuộc sống

ấm no, hạnh phúc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường

Trang 22

1.2 Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo - quan niệm, nội dung, phương thức và quy trình lãnh đạo

1.2.1 Quan niệm về Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo

“Lãnh đạo” là khái niệm được sử dụng rất rộng rãi ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và ở nước ta, nhất là khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng nước ta Nó đã trở thành thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn kiện Đảng, hoạt động của Đảng, các cấp ủy, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên Song, như thế không có nghĩa là khái niệm “lãnh đạo” đã được mọi người hiểu sâu sắc và thống nhất

Theo Đại Từ điển tiếng Việt “lãnh đạo” là “dẫn dắt, tổ chức phong trào theo đường lối cụ thể” [55, tr 458]

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng là người lãnh đạo tức là Đảng phải

tổ chức, tập hợp, giáo dục nhân dân, đưa nhân dân vào các phong trào hành động cách mạng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng; quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, vì thắng lợi của cách mạng Người quan niệm: người lãnh đạo cách mạng, như người cầm lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua phong ba, bão tố, thác ghềnh đi theo con đường xác định (con đường cách mạng) đến thắng lợi Để làm tròn nhiệm vụ

đó, Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tri thức mọi mặt cao, bình tĩnh sáng suốt, làm chủ trong mọi tình huống, đưa con thuyền cách mạng đi theo đúng đường hướng đã được xác định đến mục tiêu cuối cùng

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn luận bàn về khái niệm “lãnh đạo đúng” của Đảng Người viết: “Lãnh đạo đúng nghĩa là phải quyết định mọi vấn đề một cách đúng đắn, phải tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổ chức kiểm soát” [32, tr 285] Đây là ba yếu tố cơ bản tạo nên sự lãnh đạo đúng của Đảng; thứ tự đề cập các yếu tố trong ý kiến nêu trên của Người chính là quy trình lãnh đạo đúng của Đảng Với tư cách là khâu thứ ba trong quy trình lãnh đạo đúng của Đảng,

Trang 23

việc kiểm soát, bao gồm cả kiểm tra và giám sát, được tiến hành ngay từ khâu đầu tiên của quy trình lãnh đạo (ra quyết định), thậm chí cả trong quá trình chuẩn bị ra quyết định

Từ khái niệm “lãnh đạo”, “xóa đói, giảm nghèo” và “ công tác xóa đói,

giảm nghèo” nêu trên, có thể quan niệm: Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng nhằm đề ra những quyết định đúng đắn về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn, tổ chức thực hiện các quyết định đồng thời kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động đó, nhằm đảm bảo làm cho số người nghèo, hộ nghèo hiện tại, theo chuẩn nghèo đã được xác định, góp phần vào thành tựu công tác xóa đói, giảm nghèo của cả nước

Các yếu tố tạo nên sự lãnh đạo đúng của Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo quan hệ mật thiết với nhau Quyết định đúng là tiền đề, là cơ sở

để tổ chức thực hiện đúng và đạt kết quả Việc tổ chức thực hiện cũng có vai trò rất to lớn, đảm bảo cho các quyết định đúng về giảm nghèo của cấp ủy được thực hiện Nếu tổ chức thực hiện các quyết định đó không tốt thì các quyết định đúng không thành hiện thực, gây hậu quả nhiều mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu không tổ chức thực hiện tốt quyết định của Đảng thì hóa ra lời nói suông mà còn ảnh hưởng đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng” [32, tr 249-250]

Kiểm tra, giám sát là công việc không kém phần quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa đói giảm nghèo Qua kiểm tra, giám sát sẽ phát hiện và khẳng định nhân tố mới, điển hình tiên tiến về giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng của nhân dân trên địa bàn, tạo điều kiện cho nó phát triển, hoàn chỉnh, nhân ra diện rộng; phát hiện những lệch lạc để uốn nắn kịp thời và hoàn chỉnh quy trình lãnh đạo, bổ sung, sửa đổi để quyết định về xóa đói giảm nghèo của Đảng được đúng đắn, hoàn thiện hơn

Chủ thể lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo ở là các cấp ủy, với sự giúp đỡ của các ban, ngành, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh và các cơ quan đơn vị các cấp

Trang 24

Cấp ủy lãnh đạo chính quyền huyện xây dựng chương trình, kế hoạch

và tổ chức thực hiện quyết định về xóa đói, giảm nghèo; lãnh đạo của các cấp

ủy Đảng là tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và các tổ chức khác trên địa bàn tham gia xây dựng và thực hiện các quyết định của cấp ủy về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn

1.2.2 Nội dung và phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng

1.2.2.1 Nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng

Nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng gồm những điểm chủ yếu sau:

Trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, của các cấp ủy cụ thể hóa thành các chủ trương, xác định mục tiêu, giải pháp, chương trình, kế hoạch thực hiện xóa đói giảm nghèo cho từng thời kỳ, lãnh đạo việc tổ chức thực hiện các quyết định, nghị quyết đó trong các tổ chức Đảng và các tổ chức của hệ thống chính trị và nhân dân

Đảng lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xây dựng chương trình, kế hoạch, các dự án, đề án cụ thể để thực hiện xóa đói, giảm nghèo một cách cụ thể trong từng khoảng thời gian nhất định và tổ chức kiểm tra, giám sát Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội huyện xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện các nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức Lãnh đạo các tổ chức

đó về tuyên truyền, giáo dục, động viên đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo và thực hiện xóa đói, giảm nghèo ngay trong đoàn viên, hội viên của từng tổ chức, đoàn thể

Trang 25

Cấp ủy cấp trên lãnh đạo cấp ủy cấp dưới xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các quyết định, nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo ngay trên địa bàn tổ chức Đảng phụ trách Chỉ đạo, giúp đỡ các cấp ủy cấp dưới lãnh đạo chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện nghị quyết của Đảng, chương trình, kế hoạch xóa đói, giảm nghèo của cấp ủy cấp trên

Đảng lãnh đạo khai thác nguồn lực địa phương, phát huy nội lực, tranh thủ các nguồn hỗ trợ từ tỉnh và bên ngoài, sử dụng theo kế hoạch và có hiệu quả các nguồn đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác xóa đói, giảm nghèo

Đảng lãnh đạo đổi mới các hình thức, phương pháp công tác xóa đói, giảm nghèo, lựa chọn điểm, tập trung chỉ đạo; lãnh đạo xây dựng các điển hình tiên tiến về xóa đói, giảm nghèo, chỉ đạo sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng trên địa bàn

Đảng lãnh đạo kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công tác xóa đói giảm nghèo của địa phương

Đảng lãnh đạo sự phối hợp các tổ chức trong hệ thống chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện quyết định, nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

Đảng lãnh đạo, chỉ đạo sơ kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm công tác xóa đói, giảm nghèo, khen thưởng kịp thời đơn vị, cá nhân thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, động viên kịp thời những người, gia đình vượt nghèo

có hiệu quả; đồng thời phê bình nghiêm khắc những tổ chức và cán bộ, đảng viên lơ là, xem nhẹ, không quan tâm đến công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng; xử lý kịp thời và nghiêm minh những tổ chức, cán bộ, đảng viên có tiêu cực trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, thậm chí đề nghị

cơ quan chức năng truy tố những cán bộ vi phạm pháp luật trong thực thi nhiệm vụ liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo của địa phương

Trang 26

1.2.2.2 Phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng

Phương thức lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng là hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp, quy trình… mà Đảng sử dụng để tác động vào công tác xóa đói, giảm nghèo, thông qua các tổ chức, các lực lượng có liên quan nhằm làm cho số người nghèo, hộ nghèo của huyện theo chuẩn nghèo của địa phương ngày càng giảm

Phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo có quan hệ mật thiết với nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng và chịu sự quy định, chi phối, ràng buộc bởi nội dung lãnh đạo, là một yếu tố đặc biệt quan trọng để nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của các cấp ủy được thực hiện

Phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực lãnh đạo công tác này của các cấp, các ngành, trong đó quan trọng hơn là năng lực, trình độ lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh hoạt động của các cấp ủy và tình hình mọi mặt của địa phương; phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy của các đơn vị trực tiếp hoạt động liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo và trình độ năng lực của nguồn nhân lực hoạt động liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo Bởi vậy, chọn lựa phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của địa phương không thể tùy tiện mà phải xuất phát từ những điều đã nêu trên

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (sửa đổi, bổ sung năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ phương thức lãnh đạo của Đảng:

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ

Trang 27

chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của Đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực

và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các

tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị [28, tr 88-89]

Đảng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo bằng phương thức:

- Đề ra chủ trương, quyết định, nghị quyết, chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo Quyết định các nhiệm vụ trọng tâm và những vấn đề lớn

về công tác xóa đói, giảm nghèo, về xử lý những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo

- Tiến hành công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra mọi hoạt động diễn ra trong quá trình tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo; thông qua hành động gương mẫu của đảng viên trong việc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo

- Lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa quyết định, nghị quyết của cấp ủy, xây dựng và thông qua nghị quyết, chương trình, kế hoạch của chính quyền để thực hiện các đề án xóa đói giảm nghèo

- Phát huy vai trò của các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo, nhất là những tổ chức đảng và đảng viên có nhiệm vụ trực tiếp tiến hành công tác xóa đói, giảm nghèo, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức này

- Lãnh đạo phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia công tác xóa đói giảm nghèo

- Tiến hành kiểm tra hoạt động của chính quyền, các đoàn thể nhân dân, của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong công tác xóa đói giảm nghèo;

Trang 28

sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, xây dựng các điển hình tiên tiến, lựa chọn và chỉ đạo điểm về xóa đói giảm nghèo

1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng

1.3.1 Tác động của đói, nghèo và sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo

Vấn đề nghèo đói không chỉ gây ra những hậu quả cho bản thân người nghèo mà còn gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển chung của toàn

xã hội Ta có thể thấy được tác động của nghèo đói đến bản thân người nghèo

và ảnh hưởng đến toàn xã hội thông qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Ảnh hưởng của nghèo đói đến đời sống xã hội

Nghèo đói dẫn đến

Nghèo đói

Cản trở sự tăng trưởng kinh tế Kìm hãm sự phát triển con người

Bất bình đẳng xã hội Phá huỷ môi trường

Như vậy, muốn kinh tế phát triển được thì phải giải quyết được vấn đề nghèo đói

Xóa đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướng vào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để cho người nghèo

có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi nghèo đói

Trang 29

Nhìn nhận thực tế những tổn thất mà nghèo đói gây ra đối với Việt Nam nói chung và địa phương nói riêng, chúng ta có thể khẳng định tầm quan trọng của công tác xóa đói giảm nghèo Một quy luật tất yếu đó là khi vấn đề nghèo đói được giải quyết thì đời sống của nhân dân nói riêng và nền kinh tế nói chung đều tăng lên Nếu như không còn nghèo đói thì xã hội sẽ bền vững phát triển

Tỉnh Cao Bằng cũng không nằm ngoài quy luật đó Nạn đói nghèo làm cho đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.Thực tế cho thấy khi người dân không có đủ điều kiện tối thiểu cho cuộc sống thì đời sống hàng ngày của họ

vô cùng khó khăn Họ chỉ có một mục đích duy nhất là duy trì cuộc sống ngoài ra không có mục đích nào khác Như vậy, họ không quan tâm đến đời sống kinh tế xã hội xung quanh thay đổi như thế nào Điều đó gây ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát của nền kinh tế địa phương nói riêng và của huyện và tỉnh nói chung

Nghèo đói không chỉ là vấn đề cấp bách cần giải quyết của địa phương nói riêng mà nó còn là mục tiêu hàng đầu của đất nước ta Trong suốt những thập kỷ qua, tình trạng nghèo đói kèo dài làm cho cuộc sống nhân dân gặp vô vàn khó khăn Nó gây ra những tệ nạn xã hội, những thách thức đối với toàn thể xã hội, nó tác động xấu đến nhận thức của con người Nhìn chung nó kìm hãm sự phát triển của con người về mọi mặt Từ đó nó làm cho nền kinh tế xã hội càng trở nên trì truệ hơn Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo rất cần thiết

và đòi hỏi phải duy trì trong suốt thời gian dài, không thể ngày một ngày hai

Xóa đói giảm nghèo là chương trình quốc gia và được triển khai đến tất cả các địa phương trong nước Mục đích lớn nhất của chương trình đó là giải quyết mọi vấn đề để đưa cuộc sống nhân dân lên bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình Hiện nay chương trình đã thực hiện ở tất cả các địa phương đặc biệt khố khăn trong các huyện nghèo của tỉnh Tuy nhiên, bước đầu của chương trình mới chỉ thu được kết quả là không còn xóa đói mà chỉ còn nhiệm vụ là giảm nghèo

Trang 30

Đây cũng có thể coi là thành công bước đầu của chương trình Song không vì vậy mà sự cần thiết của nhiệm vụ giảm nghèo lại giảm đi Nếu nghèo không giảm thì những hộ thuộc diện hộ nghèo rất có thể trở thành hộ đói, như vậy thì

sự nỗ lực của cán bộ và nhân dân xem như đổ xuống sông xuống biển Chính vì vậy, phải luôn thấy được sự cần thiết của công tác xóa đói giảm nghèo Nó không chỉ mang lại cho người nghèo một cuộc sống tốt đẹp hơn, bên cạnh đó nó

có tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống xã hội

Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng công tác xóa đói giảm nghèo có vai trò quan trọng và thực sự cần thiết Sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế cũng như toàn bộ đời sống của nhân dân phụ thuộc vào hiệu quả của chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo Nhìn chung, trong những năm vừa qua đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện Điều này càng làm cho vai trò của xóa đói giảm nghèo trong huyện quan trọng hơn về mọi mặt

1.3.2 Yêu cầu tất yếu phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh

ủy Cao Bằng với công tác xóa đói giảm nghèo

* Đảng với công tác xóa đói giảm nghèo

Trong những năm qua, được sự chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền và

sự hỗ trợ của các đoàn thể, phong trào xóa đói, giảm nghèo phát triển sâu rộng, động viên được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, đã giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo, một số vươn lên khá giả Từ thực tiễn phong trào xóa đói, giảm nghèo, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII) đã nêu lên một nhiệm vụ có

ý nghĩa kinh tế - chính trị, xã hội to lớn: “Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xóa đói, giảm nghèo, nhất là ở các vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng” [ 20, Tr 150] Thực hiện các chủ trương của Đảng và Chính phủ, phong trào xóa đói, giảm nghèo đang trở thành cuộc vận động lớn, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ nghèo đói, giúp cho các hộ còn nghèo, đói giảm bớt được khó khăn

Trang 31

Tuy nhiên, đến nay cả nước vẫn còn trên 20% số hộ nghèo đói, nhiều vùng còn nghèo, 90% hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn Sự phân hóa giàu nghèo vẫn đang có xu hướng tăng lên giữa các tầng lớp dân cư và các vùng của đất nước Ngoài nguyên nhân khách quan do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu việc làm, v.v còn có các nguyên nhân chủ quan như năng lực sản xuất kinh doanh thấp, đông con; có nơi, có lúc các ngành, các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, tổ chức khám chữa bệnh, tạo điều kiện học hành cho người nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người

Để xây dựng một đất nước giàu mạnh, Đại hội X của Đảng đã xác định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần: “kinh tế nhà nước, kinh

tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [ 13, tr 83]và trong Nghị quyết số 21-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (ngày 30-1-2008) đã ghi: Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên trong xã hội đều có cuộc sống

ấm no, hạnh phúc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường , giải quyết tốt các vấn đề xã hội

vì mục tiêu phát triển con người

* Tỉnh ủy Cao Bằng với công tác xóa đói giảm nghèo

Bên cạnh những thành công đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng, vẫn tồn tại những hạn chế nhất định

Trang 32

Những hạn chế chính là do tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở vùng miền núi còn chậm, chưa hình thành rõ nét các mô hình sản xuất: trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng Khả năng tái nghèo là rất lớn đối với vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Một số công trình đầu tư ở các huyện miền núi hiệu quả thấp sau khi đưa vào khai thác sử dụng; cơ cấu đầu tư thiếu đồng bộ Giáo dục và y tế miền núi chưa đáp ứng yêu cầu nhất là xây dựng, nâng cao năng lực cho con người tại chỗ Đến nay, địa bàn các huyện miền núi tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, chênh lệch lớn so với vùng đồng bằng Diện hộ dân tộc thiểu số còn nhà tạm bợ còn lớn, trong vài năm nữa, số đã xóa nhà tạm có thể rơi vào diện nhà tạm vì nhà xuống cấp do thời gian sử dụng và sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên tác động Cơ sở hạ tầng tuyến cơ sở dù đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đồng bộ, còn yếu kém Đội ngũ cán bộ ở xã, thôn phần lớn chưa đạt chuẩn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Chất lượng học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp so với mặt bằng tri thức chung Một số địa bàn xuất hiện tình hình phức tạp về an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội (khai thác vàng, ma túy) và hoạt động truyền đạo trái phép Có những phức tạp trong thực hiện chính sách tái định cư ở một số công trình xây dựng

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu

Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độ nghèo khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ gia

Trang 33

đình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc,

ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành

Nhận thức đúng đắn về vấn đề đói nghèo và chính sách xóa đói giảm nghèo có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở phương pháp luận để xác định nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng ta trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo quyết tâm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết vấn đề đói nghèo trên phạm vi cả nước, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Xóa đói giảm nghèo là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội Chủ nghĩa xã hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội Từ thực tiễn sinh động, đói nghèo đã và đang tác động không nhỏ đến các mặt của đời sống xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết cho cấp ủy và chính quyền các cấp cần phải chú trọng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh ủy Cao Bằng với công tác xóa đói giảm nghèo,nhằm tạo điều kiện phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số, đưa vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nước

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH ỦY CAO BẰNG

ĐỐI VỚI XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

2.1 Khái lược về tỉnh Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc)

Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Hai mặt bắc và đông bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333.403 km Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12” - 22°21'21” vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm) Theo chiều đông - tây là 170 km, từ 105°16'15” - 106°50'25” kinh đông (tính

từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang)

Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên

đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 - 1.300 m so với mặt nước biển Núi non trùng điệp Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh Từ đó hình thành nên ba vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm

Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác như sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến

Đa số diện tích Cao Bằng được che phủ bởi rừng vì thế không khí khá trong sạch ở các vùng nông thôn, các khu dân cư và ở trung tâm thị xã Tuy

Trang 35

nhiên do sản lượng quặng lớn cùng với sự khai thác bừa bãi và quản lý không nghiêm ngặt, các tuyến đường chính của Cao Bằng có mức độ ô nhiễm bụi cao Nguồn nước sông đang bị ô nhiễm khá nặng do ý thức vứt rác bữa bãi của người dân cùng với ngành công nghiệp khai khoáng và khai thác cát đã làm cho các dòng sông ở đây bị ô nhiễm thu hẹp dòng chảy, hệ sinh thái bị ảnh hưởng Đặc biệt ở các khu vực chợ và khu dân cư, nước sông có hiện tượng bốc mùi hôi thối Các phương tiện giao thông trong tỉnh chủ yếu là xe máy, phương tiện ít làm cho mức tiêu thụ nhiên liệu không cao, Cao Bằng không bị ô nhiễm bởi các khí thải nhà kính và nhiều khí độc khác Tuy nhiên,

so với các địa phương khác của Việt Nam, Cao Bằng là một trong những tỉnh

có khí hậu trong lành và ít ô nhiễm nhất

Nhìn chung Cao Bằng có khí hậu ôn hòa dễ chịu Với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương bắc Tuy nhiên nhiệt độ của Cao Bằng chưa bao giờ xuống thấp quá 0 °C, hầu như vào mùa đông trên địa bàn toàn tỉnh không có băng tuyết (trừ một số vùng núi cao có băng đá xuất hiện vào mùa đông)

Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 32°C

và thấp trung bình từ 23 - 25 C, nhiệt độ không lên đến 39 - 40°C Vào mùa đông,

do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 - 8°C và trung bình cao từ 15 - 28°C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6 - 8°C,

độ ẩm thấp, trời hanh khô Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu

Những thay đổi và sáp nhập trong lịch sử

 Năm 1950, tỉnh Cao Bằng có 10 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Trùng Khánh

 Năm 1958, huyện Trấn Biên đổi tên thành huyện Trà Lĩnh

Trang 36

 Năm 1963, thành lập thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc tỉnh Cao Bằng (Quyết định số 26-CP ngày 14 tháng 3 năm 1963) Đến năm 1981, chuyển thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc huyện Nguyên Bình (Quyết định số 44-HĐBT ngày 1 tháng 9 năm 1981)

 Năm 1966, thành lập huyện Thông Nông trên cơ sở tách ra từ huyện

Hà Quảng theo Quyết định số 67-CP ngày 7 tháng 4 năm 1966

 Năm 1967, hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên hợp nhất thành huyện Quảng Hòa theo Quyết định số 27-CP ngày 8 tháng 3 năm 1967

 Năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, nhập vào hai huyện Quảng Hòa

và Trùng Khánh theo Quyết định số 176-CP ngày 15 tháng 9 năm 1969

 Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Cao Bằng được sáp nhập với tỉnh Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng

 Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Cao Bằng từ tỉnh Cao Lạng, đồng thời nhập hai huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4, ngày 29 tháng 12 năm 1978 Lúc đó tỉnh Cao Bằng có tỉnh lị là thị xã Cao Bằng và

11 huyện: Bảo Lạc, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Quảng Hòa, Thạch

An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Ngân Sơn, Chợ Rã

 Ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được thị xã Cao Bằng và đã hủy diệt hầu như toàn thị xã, các công trình kiến trúc đã bị phá tan tành, kể cả chùa chiền đền miếu Khu di tích Chủ tịch Hồ Chi Minh tại hang Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng cũng bị chúng đặt bom mìn phá sập cửa hang và các di tích của Bác, bức bia đá Bác viết khi vừa trở về Tổ quốc cũng bị nứt làm đôi

 Năm 1981, tái lập huyện Hạ Lang từ các xã đã nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh theo Quyết định số 44-HĐBT ngày 1 tháng 9 năm 1981

Trang 37

 Năm 1984, huyện Chợ Rã đổi tên thành huyện Ba Bể theo Quyết định số 144-HĐBT ngày 6 tháng 11 năm 1984

 Năm 1996, trả hai huyện Ngân Sơn và Ba Bể về tỉnh Bắc Kạn mới tái lập

 Năm 2000, chia huyện Bảo Lạc thành huyện Bảo Lạc mới và huyện Bảo Lâm theo Nghị định số 52/2000/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2000

 Năm 2001, tái lập hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên từ huyện Quảng Hòa ngày 13 tháng 12 năm 2001

 Năm 2012, chuyển thị xã Cao Bằng thành thành phố Cao Bằng theo Nghị quyết 60/NQ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2012

Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố và 12 huyện

2.2 Thực trạng, nguyên nhân đói nghèo ở tỉnh Cao Bằng

2.2.1 Thực trạng đói nghèo ở tỉnh Cao Bằng

Cùng với việc thực hiện các chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội miền núi những năm qua, tỉnh Cao Bằng đã tích cực đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo góp phần làm chuyển biến một bước tích cực các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội Nhìn chung nền kinh tế tỉnh nhà đang từng bước phát triển Đến nay, Tốc độ tăng trưởng kinh tế ( GRDP) đạt bình quân 9,2%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm, ngư nhiệp, tăng dần tủ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch

vụ Trong đó,công nghiệp, xây dựng tăng từ 20% lên 20,4%, dịch vụ tăng từ 47,7 lên 51,3%; nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 32,3% xuống 27,62% so với năm 2010

Thu nhập bình quân đầu người được tăng, đến nay (năm 2014) thu nhập bình quân đầu người đạt 20,8 triệu đồng Tổng sản lượng lương thực đạt trên 250.000 tấn/năm Tổng thu ngân sách toàn tỉnh tăng đều qua các năm: năm

2006 là 234,7 tỷ đồng, năm 2010 là: 500 tỷ đồng, năm 2014 là: 1.127 tỷ đồng

Trang 38

Mức thu này chưa thể có tích lũy được từ nội bộ nền kinh tế của các tỉnh nhà

mà chủ yểu dựa vào sự hỗ trợ ngân sách của cấp trên Tổng chi ngân sách cũng tăng qua các năm 2006 là 191.173 tỉ đồng, năm 2010 là 3.763,391 tỷ đồng (bao gồm cả dự toán giao đầu năm, nguồn năm 2009 chuyển sang, dự toán bổ sung trong năm 2010), năm 2014 là: 6.803,892 tỷ đồng Nguồn chi phí chủ yếu đầu tư cho xây dựng cơ bản và thực hiện các chương trình dự án trên địa bàn miền núi phục vụ đầu tư phát triển

Đầu tư cơ bản của khu vực miền núi được chú trọng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, nhất là hệ thống thủy lợi, đường giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt… tập trung ưu tiên đầu tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục - đào tạo, y tế và xóa đói, giảm nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh, chất lượng cuộc sống được nâng lên Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể

Tuy nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn chậm phát triển và nhiều khó khăn, giá trị sản xuất của nền kinh tế còn quá thấp, cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm, tính tự phát, manh mún trong sản xuất còn phổ biến, sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thế mạnh kinh tế rừng chưa được phát huy đúng mức; công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng còn nhiều yếu kém Một số nơi rừng bị tàn phá nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hệ thống dịch vụ còn

sơ khai Tiềm năng du lịch chưa được khai thác Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, các vấn đề thiết yếu như nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản, đồng bộ, dẫn tới nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng Đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp so với các vùng khác trong tỉnh Trình

độ dân trí thấp, điều kiện phát triển y tế, giáo dục khó khăn Học sinh bỏ học còn nhiều, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao, vẫn còn tồn tại một số thủ tục

Trang 39

lạc hậu, khoảng cách thu nhập giữa miền núi và các vùng khác chênh lệch quá lớn Đầu tư từ các nguồn lực của nhà nước hiệu quả còn thấp; tổng giá trị sản xuất các ngành tăng không lớn; tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao; trình độ dân trí còn thấp; trình độ năng lực của cán bộ cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Với việc tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh Cao Bằng đã triển khai thực hiện tương đối toàn diện các nhóm chính sách mới theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, đã bố trí sử dụng các nguồn lực đúng mục đích, đúng danh mục trong Đề án đã được phê duyệt và

đã đạt được những kết quả tích cực

Với sự quyết tâm lớn của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Cao Bằng, các cấp các ngành đã triển khai thực hiện tương đối toàn diện các nhóm chính sách chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn toàn tỉnh, bố trí sử dụng các nguồn lực đúng mục đích và đã đạt được nhiều kết quả tích cực Điển hình là

ở một số huyện miền núi, như:

Huyện Trà Lĩnh: Năm 2006 huyện có 2.293 hộ nghèo chiếm 65,89% tổng số hộ nghèo Năm 2010 còn 1568 hộ nghèo chiếm 38,9% Năm 2014 còn

973 hộ nghèo, chiếm 19,46%

Huyện Thông Nông: Năm 2006 có 6025 hộ nghèo chiếm 53,83% Năm 2010

là 3583 hộ nghèo chiếm 26,49% Năm 2014 còn 1994 hộ nghèo, chiếm 39,38%

Huyện Quảng Uyên: Năm 2006 có 10.342 hộ nghèo chiếm 66,79% Năm 2010 có 5.766 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 34,56% Năm 2014 còn 1308 hộ nghèo, chiếm 13,61%

Huyện Lạ Hang: Năm 2006 có 4.358 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 68,06% tổng

số hộ nghèo Năm 2010 có 3.288 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 44,18% tổng số hộ nghèo Năm 2014 là 1493 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 25,75%

Huyện Bảo Lâm: Năm 2006 có 2.747 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 74,12% tổng số hộ nghèo Năm 2010 có 1781 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 34,66% Năm

2014 có 4149 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 37,40%

Trang 40

Huyện Phục Hòa: Năm 2006 có 2.847 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 89,9% tổng

số hộ nghèo Năm 2010 có 2.295 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 60,7% tổng số hộ nghèo Năm 2014 có 774 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 13,96%

Từ tình hình hộ nghèo và kết quả công tác giảm nghèo nêu trên cho thấy công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng được triển khai mạnh mẽ

và đạt được những thành tựu đáng kể Chỉ trong vòng 5 năm mà số hộ nghèo của các huyện đã giảm cơ bản, nhờ sự trợ giúp thông qua các dự án của Chính phủ mà nhiều hộ nghèo đã tự vươn lên thoát nghèo bằng sự nỗ lực và trí tuệ của bản thân, gia đình Họ đã tranh thủ được cơ hội làm ăn có hiệu quả tự vươn lên thoát nghèo, góp phần làm cho bức tranh kinh tế của địa phương ngày càng khởi sắc theo hướng tích cực Hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo của các huyện miền núi đã góp phần đảm bảo an ninh xã hội, giữ vững

an ninh trật tự tại các huyện miền núi, để có điều kiện phát triển kinh tế tốt hơn

Chương trình xóa đói, giảm nghèo đã thể hiện sự ưu ái, quyết tâm của Đảng và nhà nước trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi, sớm thu hẹp khoảng cách giữa các miền núi và đồng bằng Khẳng định và chứng minh sự quyết tâm của các cấp ủy Đảng miền núi, khẳng định sự kiên định và nhất quán của huyện ủy các huyện miền núi trong việc thực hiện mục tiêu chăm lo đời sống, vật chất, tinh thần cho nhân dân Công tác xóa đói giảm nghèo đã góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị và trật tự an toàn

xã hội Tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của tỉnh Cao Bằng

Công tác xóa đói giảm nghèo giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Chúng ta đang trong giai đoạn xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mọi kế hoạch, chủ trương, đường lối lãnh đạo, quản lý, điều hành đều phải xuất phát từ lợi ích kết quả kinh tế cao nhất Thế nhưng đối với đồng bào dân tộc thiếu số miền núi do điều kiện lịch sử phải có chính sách phát triển kinh tế đặc thù riêng phù

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá (Chủ biên) (2001), Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
2. Ban Dân tộc tỉnh Cao Bằng (2007), Báo cáo tình hình thực hiện một số chính sách dân tộc giai đoạn 2000 - 2006, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện một số chính sách dân tộc giai đoạn 2000 - 2006
Tác giả: Ban Dân tộc tỉnh Cao Bằng
Năm: 2007
3. Ban Dân tộc tỉnh Cao Bằng (2009), Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 134 giai đoạn 2004 - 2008 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 4 năm thực hiện Quyết định 134 giai đoạn 2004 - 2008 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Ban Dân tộc tỉnh Cao Bằng
Năm: 2009
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2002
6. Chính phủ (2006), Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (chương trình 135 giai đoạn 2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (chương trình 135 giai đoạn 2)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2006), Quyết định số 975/QĐ-TTg ngày 20/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 975/QĐ-TTg ngày 20/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Chính phủ (2008), Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 Về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 Về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
9. Chính phủ (2008), Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
10. Chính phủ (2011), Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
11. Chính phủ (2011), Quyết định số 2406/2011/QĐ-TTg ngày 18/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 - 2015 Chương trình mục tiêu quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2406/2011/QĐ-TTg ngày 18/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012 - 2015 Chương trình mục tiêu quốc gia
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
12. Thiều Chửu (2011), Hán - Việt tự điển, Nxb Thanh niên, Hà Nội. (Tái bản lần thứ 5 có sửa chữa, bổ sung) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2011
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/12/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/12/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1989
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 29/11/1997 của Bộ Chính trị về lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 29/11/1997 của Bộ Chính trị về lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Ảnh hưởng của nghèo đói đến đời sống xã hội - Tỉnh ủy cao bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay
Sơ đồ 1.1 Ảnh hưởng của nghèo đói đến đời sống xã hội (Trang 28)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w