1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh tuyên quang lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 2000 đến năm 2014

125 18 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 862,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong quá trình lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng.... Như vậy, công

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG THỊ TRANG

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014

Ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số : 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS LƯU VĂN AN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày … tháng 11 năm 2015

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Bùi Kim Đỉnh

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Trang

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 11

1.1 Một số vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng 11

1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng 25

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014 - NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG 30

2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong quá trình lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng 30

2.2 Thực tiễn Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 2000 đến 2014 46

Chương 3: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG TRONG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014 72

3.1 Kết quả đạt được 72

3.2 Bài học kinh nghiệm 79

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 94

Trang 5

ATK An toàn khu

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thành lập ngày 20-3-1940, đến nay được 75 năm (1940 - 2015) Từ khi thành lập đến nay, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang lập nhiều chiến công vang dội trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược như: chiến thắng Bình Ca, Km số 7, Cầu Cả, Khe Lau Đã làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng xây dựng, bảo vệ An toàn khu, bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận cùng nhiều bộ, ban, ngành Trung ương; bảo vệ các cơ quan đầu não kháng chiến của Đảng và cách mạng Lào Tuyên Quang trở thành Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến và là tỉnh

có nhiều di tích lịch sử cách mạng nhất đất nước Nhiều nhà sử học nói rằng Tuyên Quang như một “Bảo tàng cách mạng”

Di tích lịch sử cách mạng là một bộ phận vô cùng quan trọng đan xen cùng với các loại hình di tích khác Những di tích đã từng ghi dấu sự kiên cường, bất khuất, dũng cảm đấu tranh của người dân Tuyên Quang với những kẻ thù xâm lược Các di tích lịch sử cách mạng cùng với hệ thống các di tích lịch sử văn hoá khác là di sản văn hoá vô giá, góp phần tạo nên diện mạo của Tuyên Quang trong những năm đổi mới Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích lịch

sử cách mạng không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm mà còn là một thái độ tri ân của người Tuyên Quang hôm nay đối với cha ông và các thế hệ đi trước

Ngoài ra, thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng gắn với phát triển du lịch là một phương thức để đưa giá trị của các di tích lịch sử cách mạng đến với công chúng Thông qua hoạt động du lịch, những di tích lịch sử cách mạng mang lại nhiều lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế cho địa phương

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIII (2000) đã đánh giá kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh

Trang 7

Tuyên Quang lần thứ XII (1996): Trên lĩnh vực phát triển văn hóa xã hội đã đạt một số kết quả trong quy hoạch, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng Tân Trào, An toàn khu Kim Quan, Kim Bình và các di tích lịch sử văn hóa khác

Từ đó đến nay, tỉnh đã xếp hạng nhiều di tích lịch sử cách mạng, công tác tổng kiểm kê di tích, lấy số liệu trên địa bàn các, huyện, xã, thôn đã hoàn thành Đặc biệt, tu bổ nhiều di tích cũng như đã và đang xây dựng một số văn bản về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Bên cạnh đó, cũng triển khai nhiều đề án, kế hoạch bảo tồn di tích trên địa bàn tỉnh theo các Chương trình, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang Qua

đó càng khẳng định sự quan tâm và nỗ lực của tỉnh đối với công tác này

Tuy nhiên, hiện nay một tỷ lệ không nhỏ trong số các di tích lịch sử cách mạng của tỉnh Tuyên Quang đã và đang bị xuống cấp hoặc bị sử dụng sai mục đích hay đã được phê duyệt nhưng chưa được xây dựng Đứng trước thực trạng này, công tác bảo tồn, tôn tạo cần phải có sự vào cuộc của nhiều cơ quan, đơn vị, các cấp, các ngành Trong đó tập trung vào bảo tồn, gìn giữ hiện trạng các di tích lịch sử cách mạng vốn có

Công tác giới thiệu, trưng bày những hình ảnh, hiện vật liên quan đến khu, điểm di tích lịch sử cách mạng ở Tuyên Quang nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ còn gặp nhiều khó khăn

Như vậy, công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở tỉnh Tuyên Quang đã và đang đặt ra những vấn đề cần tiếp tục giải quyết đòi hỏi phải có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của các cấp

ủy, chính quyền các cấp, các đoàn thể, tổ chức, nhân dân tham gia sẽ góp phần thực hiện tốt hơn công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, tri ân các thế hệ lão thành cách mạng, góp phần tích cực vào nhiệm vụ phát triển du lịch lịch sử, văn hóa của tỉnh Tuyên Quang

Nâng cao nhận thức, phát huy các giá trị của di tích cách mạng trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa là cơ sở quan trọng để xây dựng

Trang 8

nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã đề ra

Với mong muốn góp phần vào công cuộc phát triển nền văn hóa nói chung và các di tích lịch sử cách mạng nói riêng trên quê hương Tuyên

Quang, tác giả chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm

2000 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di tích lịch sử văn hóa nói chung, di tích lịch sử cách mạng nói riêng là vấn đề chung của cả nước, của tất cả các địa phương, trong đó Tuyên Quang là một trong những tỉnh có nhiều di tích lịch sử cách mạng cần được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị, vì vậy liên quan đến vấn đề này có nhiều công trình đã được công bố Có thể khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

Thứ nhất, nhóm công trình về sự lãnh đạo của Đảng:

- Ban Khoa giáo Trung ương (1994), Công tác khoa giáo và sự lãnh đạo của Đảng Cuốn sách chủ yếu đề cập đến nội dung chỉ đạo công tác khoa

giáo Trong đó có một phần đề cập đến nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng bộ địa phương

- Lê Văn Lý (1999), Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta Tác giả cuốn sách đã làm rõ đặc điểm, nội

dung, phương thức lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội nước ta

- Trần Văn Bính (2000), Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Giáo trình gồm hai phần chính: Lý luận văn hóa và Đường lối

văn hóa của Đảng Giáo trình đã lý giải các vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở nước ta trên lĩnh vực văn hóa và đi sâu nghiên cứu đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước

Trang 9

- Tô Huy Rứa (2005), Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vì công cuộc đổi mới Tác giả đã đưa ra cách nhìn khoa học nhằm kiến giải, bảo vệ và tăng

cường sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ và phát triển công cuộc đổi mới ở nước ta

- Doãn Hùng, Nguyễn Ngọc Hà, Đoàn Minh Huấn (2007), Những tìm tòi và đổi mới trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội (1986 - 2006) Mỗi

chuyên đề của cuốn sách đã thấy rõ những bước chuyển biến tư duy lý luận của Đảng trên từng lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa

- Học viện Báo chí và Tuyên Truyền, Khoa xây dựng Đảng (2009),

Giáo trình xây dựng Đảng đại cương Giáo trình bao gồm 8 chương đã đề cập đến vấn đề về xây dựng Đảng và hệ thống tổ chức của Đảng

- Bộ Giáo dục và đào tạo (2014), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam Giáo trình đã khái quát đường lối lãnh đạo của

Đảng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại trong đó có Đường lối xây dựng, phát triển nền văn hóa

Thứ hai, nhóm công trình về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các

di tích lịch sử cách mạng:

- Đào Duy Anh (1992), Văn hóa sử cương Tác giả đã đưa ra quan

điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hóa mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hóa phương Tây”

- Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc Trên cơ sở những quan niệm của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã

đưa ra một hệ thống lý luận về di sản văn hóa, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn hóa nước ta

- Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành (2002) được coi

là văn bản pháp quy về Di sản văn hóa

- Luật Di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009),

Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2010, đã kịp thời đáp ứng nhu cầu

Trang 10

tìm hiểu và thực thi các quy định mới của pháp luật về di sản văn hóa Nội dung cuốn sách gồm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009

- Trung tâm UNESCO TÂN TRÀO - HÀ NỘI (2004), Tuyên Quang thời tiền khởi nghĩa Cuốn sách là những hồi ức, những kỷ niệm khó quên về

một thời cách mạng sôi nổi, hào hùng được những người đã từng sống, đã từng tham gia hoạt động cách mạng ở Tuyên Quang thời kỳ tiền khởi nghĩa tái hiện qua từng trang viết

- Bộ Văn hóa - Thông tin (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa Công trình đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận di sản văn hóa cũng như thực tiễn Tiêu biểu bài: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa (Vũ Quốc Hiền), Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh)

- Ngô Đức Thịnh (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Đã bàn đến

văn hóa phi vật thể: Bảo tồn và phát huy Trong đó tiêu biểu nhất là các bài “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh)

- Ngô Thị Ngà (2013), Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 đến năm 2010 Luận

văn thạc sỹ Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn đã nêu lên thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên trước năm 2001 Hệ thống hóa chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các

di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 - 2010 Đánh giá khách quan, toàn diện về công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2001 - 2010

- Phùng Thị Thu (2013), Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng Luận văn

thạc sỹ Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền

Trang 11

Luận văn đã làm rõ các khái niệm, tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử cách mạng trong thời kỳ đổi mới cũng như

hệ thống lại các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cần được bảo tồn và phát huy, luận văn đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy những di tích lịch sử cách mạng của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng trong thời gian qua, đưa ra những phương hướng, giải pháp tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

- Vũ Thị Thanh Tú (2013), Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm

2012 Luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Luận văn đã hệ thống chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa

từ năm 1991 đến năm 2012 Làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo công tác bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa của Đảng bộ tỉnh Nghệ An Luận văn đã đánh giá, khẳng định những thành tựu, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tịch lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012

- Đặng Hoàng Lan (2013), Hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa trong phát triển du lịch Bài viết nghiên cứu, khai thác các giá trị văn hóa, để tạo

thành những sản phẩm du lịch mới, tại các khu vực có di sản, là cần thiết nhằm làm tăng thêm giá trị cho các di sản, đa dạng hóa các loại hình du lịch

và có thể mang lại lợi ích cho cộng đồng người dân trong khu vực, Tạp chí Văn hoá và Du lịch

- Phù Ninh (2013), Tuyên Quang thủ đô Kháng chiến Cuốn sách đã

trình bày tổng quan diện mạo lịch sử, văn hóa của một vùng đất Từ thuở con người mới biết ghè đẽo hòn cuội làm công cụ, qua các thời kỳ cổ đại, trung cổ đến hiện đại… Thời hiện đại Tuyên Quang là nơi khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gắn với con người kết tụ tinh hoa của dân tộc và thời

Trang 12

đại là chủ tịch Hồ Chí Minh Cuốn sách giúp có thêm tư liệu khi nghiên cứu

và tìm hiểu về văn hóa, lịch sử của đất và người Tuyên Quang

- Phạm Thuyết (2014), Di tích lịch sử cách mạng huyện Sơn Dương

Cuốn sách đã khái quát mảnh đất Sơn Dương nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, thời kỳ tiền khởi nghĩa là trung tâm căn cứ địa cách mạng; thời kỳ kháng chiến chống thực dân xâm lược là An toàn khu của Trung ương Đảng, Chính phủ, các cơ quan ban ngành

Thứ ba, nhóm công trình về sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh đối với thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng:

- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1940 - 1975) Cuốn sách đã khái quát quá trình trưởng

thành của Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang trong 35 năm (1940 - 1975); nhất là công tác xây dựng Đảng bộ

đã gắn bó mật thiết với quá trình Đảng bộ lãnh đạo nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh và vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối của Đảng và

các Nghị quyết của Trung ương vào thực tiễn địa phương

- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1976 - 2005) Cuốn sách đã phản ánh một cách khách

quan, sinh động quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc; những quyết sách sáng tạo mà Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề

ra và tổ chức nhân dân thực hiện với quyết tâm cao để đưa địa phương ngày càng phát triển; những thành tựu, kinh nghiệm mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đúc kết được trong 30 năm (1976 - 2005)

- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2010), Các kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang Cuốn sách đã trình bày nội dung cơ bản của

14 kỳ Đại hội, khái quát kết quả nhiệm kỳ cũ, phương hướng phát triển các mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nhiệm kỳ mới, trong đó đều chú trọng đến vấn đề bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn tỉnh

Trang 13

- Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang (2012), Tài liệu giảng dạy lịch

sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (Dành cho Trường chính trị tỉnh và các trường chuyên nghiệp của tỉnh) Đã ghi lại những nét chủ yếu của truyền thống cách

mạng kiên cường, lịch sử đấu tranh anh dũng và sáng tạo của nhân dân các dân tộc Tuyên Quang qua các giai đoạn cách mạng do Đảng bộ Tỉnh lãnh đạo

Từ đó trang bị kiến thức về Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang cho cán bộ, đảng viên và học sinh, sinh viên trong tỉnh, góp phần nâng cao nhận thức, lòng tự hào về truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng của tỉnh

Các công trình nghiên cứu trên đã khái quát được tầm quan trọng của công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay Đó là những nguồn tài liệu quý báu là cơ sở để tác giả kế thừa, tiếp tục nghiên cứu Ngoài những bài viết, công trình, đề tài tiêu biểu trên còn nhiều công trình, đề tài, bài viết của nhiều tác giả, các cơ quan khoa học, các nhà nghiên cứu về công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc và toàn diện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 2000 - 2014

Để đạt mục đích nêu trên, tác giả tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

- Khảo sát quá trình thực hiện, làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác bảo tồn, tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

Trang 14

- Khái quát kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các

di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn tỉnh từ năm 2000 đến năm 2014

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích

lịch sử cách mạng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: từ năm 2000 đến năm 2014

- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng Đồng thời tác giả kế thừa

có chọn lọc những kết quả nghiên cứu công trình khoa học đã được công bố

về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể là: lịch sử - logic, phân

tích - tổng hợp, so sánh, nghiên cứu tài liệu…

6 Đóng góp mới của luận văn

- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở tỉnh Tuyên Quang từ năm 2000 - 2014

Trang 15

- Luận văn làm rõ hoạt động của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong lãnh đạo thực hiện công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

Từ đó luận văn khái quát thành tựu, hạn chế, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết, có thể đưa vào tham khảo trong học tập môn học Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong trường Đại học Tân Trào và các trường chuyên nghiệp khác trong tỉnh

Luận văn có giá trị lý luận và thực tiễn đối với công tác bảo tồn, tôn tạo

và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu

3 chương, 9 tiết

Trang 16

Chương 1

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỐI VỚI

CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Một số vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

1.1.1 Một số vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

1.1.1.1 Khái niệm sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định:

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước

và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên [33, tr.88]

Đảng kiểm tra và giám sát việc thực hiện đường lối, Nghị quyết của Đảng thông qua hoạt động của đảng viên và tổ chức đảng trong các cơ quan Nhà nước

và dựa vào ý kiến nhân dân Đảng chăm lo công tác cán bộ, bồi dưỡng lựa chọn cán bộ đưa ra ứng cử vào các cơ quan dân cử hoặc giới thiệu với Nhà nước để đề bạt, bổ nhiệm vào các cương vị chủ chốt ở các cấp, các ngành Đảng lãnh đạo xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch vững mạnh, thực sự là nhà nước của dân,

do dân, vì dân Đảng lãnh đạo bằng công tác tư tưởng, tổ chức, thông qua vai trò tiên phong gương mẫu của Đảng viên và các tổ chức Đảng Trong điều kiện lãnh đạo chính quyền, Đảng đặc biệt coi trọng đổi mới công tác quần chúng Đảng lắng nghe, trân trọng, khuyến khích các đoàn thể, chủ động đóng góp ý kiến xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Trang 17

Ở địa phương, sự lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền cũng dựa theo cách thức ở Trung ương và có sự vận dụng thích hợp vào đặc điểm của địa phương mình Đảng bộ địa phương có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương

Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, chương IV, nói về cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương, đã chỉ rõ: nhiệm vụ của Đại hội đại biểu các cấp là xét

và chuẩn y báo cáo của Ban Chấp hành; thảo luận và quyết định nhiệm vụ, các chủ trương công tác quan trọng, thuộc phạm vi địa phương, thảo luận các vấn

đề do Ban Chấp hành Trung ương hoặc cấp trên đề ra nếu có; cử Ban Chấp hành và cử đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc hoặc cấp trên nếu có

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có nhiệm vụ lãnh đạo hoạt động của Đảng

bộ giữa hai nhiệm kỳ đại hội đại biểu; chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, các Nghị quyết của Đại hội đại biểu và các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp

ủy cấp trên; tham gia xây dựng và cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng; quyết định những vấn đề về chủ trương, nhiệm vụ quan trọng của của Đảng; lập các Ban, Ban cán sự Đảng đoàn và chỉ đạo các cơ quan đó hoạt động, quản lý cán bộ, quản lý tài chính của Đảng bộ mình

Trong cuốn sách Công tác khoa giáo và sự lãnh đạo của Đảng đã đưa

ra quan niệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương:

Đảng bộ địa phương căn cứ vào các tư tưởng, quan điểm, các chủ trương, chính sách lớn… trong các văn kiện của Đảng (Cương lĩnh, Chiến lược, Chỉ thị, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,

Bộ chính trị, Ban Bí thư); căn cứ vào các đạo luật chính sách lớn của Quốc hội; căn cứ vào các chủ trương, chính sách, quyết định của Chính phủ (của các Bộ, ngành ở Trung ương), đồng thời căn cứ vào tình hình, yêu cầu và điều kiện cụ thể của địa phương mình để bàn bạc, thảo luận, quyết định những vấn đề về chủ trương, nhiệm

vụ của Đảng bộ trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương mình [6, tr.40]

Trang 18

Như vậy, có thể hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh là: Trên cơ sở quán triệt, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng (các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ chính trị, Ban Bí thư), chính sách, pháp luật của Nhà nước Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong tỉnh phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương

1.1.1.2 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh

* Vai trò, chức năng:

Đảng bộ tỉnh có vai trò đặc biệt quan trọng, là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị các cấp địa phương, lãnh đạo toàn diện phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội của tỉnh, là nhân tố quyết định trong mọi hoạt động trên địa bàn tỉnh

Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng nội bộ Đảng trong sạch vững mạnh, đảm bảo năng lực và sức chiến đấu, có khả năng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương, lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội; lãnh đạo chính quyền và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, xây dựng các tổ chức đó trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Mọi chủ trương, giải pháp đề ra và quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, Đảng bộ tỉnh phải luôn đảm bảo phương hướng chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời phải tạo được sự phát triển kinh

tế - xã hội, tích cực xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, chống quan liệu, lãng phí, tham nhũng, kịp thời giải quyết những nguyện vọng, lợi ích chính đáng thiết thực, hợp pháp của nhân dân

Thực hiện các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng để Đảng bộ trong sạch, vững mạnh ngang tầm với nhiệm vụ mới, nghĩa là trực tiếp xây dựng trên cả

ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức

Trang 19

* Nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh:

- Thứ nhất, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh chính trị, các Nghị quyết, Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương đến toàn thể Đảng bộ và quần chúng nhân dân ở địa phương; lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương thông qua việc xây dựng chương trình hành động, đề án công tác, từ đó ra các quyết định lãnh đạo trên tất cả các lĩnh vực như lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức

- Thứ hai, tiến hành công tác tư tưởng trong Đảng bộ và trong nhân dân, nhằm quán triệt sâu sắc đường lối, Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ, tích cực thực hiện thắng lợi các nghị quyết đó Tuyên truyền, giáo dục nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh chính sách pháp luật của Nhà nước và những quy định của địa phương

- Thứ ba, tiến hành công tác dân vận nhằm vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Nghị quyết các cấp ủy; coi trọng tập trung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khai thác, phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương tạo sự phát triển nhanh, bền vững về kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa nông thôn và thành thị trên địa bàn; phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa - thể thao, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân

- Thứ tư, lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và phát huy vai trò của của các tổ chức này trong thực hiện hai nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận, đoàn thể đối với hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, giám sát hoạt động của đội ngũ cán bộ đảng viên

Trang 20

- Thứ năm, thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng, chỉnh đốn Đảng làm cho các tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức, lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng bộ Lãnh đạo công tác tổ chức cán bộ của cả hệ thống chính trị bao gồm quyết định việc phân công, phân cấp công tác tổ chức cán bộ, công tác đánh giá, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách cán bộ

- Thứ sáu, kiểm tra việc thực hiện bảo đảm các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng Giám sát hoạt động các cấp

ủy, tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ đảng viên Thông qua kiểm tra nhằm phát hiện những việc làm đúng và chưa đúng trong vận dụng, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị Từ đó rút

kinh nghiệm để có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn địa phương

1.1.1.3 Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

Thứ nhất, nội dung lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

Mỗi khi Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ quyết định một chủ trương, chính sách lớn, Đảng bộ tỉnh tổ chức quán triệt và cụ thể hóa nhằm triển khai, tổ chức thực hiện quyết định ở địa phương Sau đó, Đảng bộ tỉnh lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp, bằng những quan điểm, chủ trương; trên cơ sở đó Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân lại có chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách ở địa phương mình

Khi đã có chủ trương, quyết định cụ thể trên từng mặt công tác, Đảng

bộ tỉnh tiến hành kiểm tra và giám sát việc thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua hoạt động của đảng viên, tổ chức đảng trong các cơ quan ở địa phương

Trang 21

Lãnh đạo và chăm lo công tác cán bộ trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước, trong các tổ chức quần chúng Lãnh đạo công tác tổ chức, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh ở các cấp, các ngành trên các vùng, các địa bàn

Chăm lo lãnh đạo công tác tư tưởng, làm cho cán bộ, công nhân viên và các tầng lớp nhân dân hiểu và chấp hành đúng đường lối, chủ trương của Đảng; pháp luật của Nhà nước

Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng, đề ra chủ trương, biện pháp để xây dựng các đảng đoàn, ban cán sự, các đảng bộ, chi bộ cơ sở vững mạnh và trên

cơ sở đó, các đảng đoàn, ban cán sự Đảng, các đảng bộ, chi bộ lãnh đạo xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở trên mọi vùng, mọi địa bàn, ở địa phương mình Đổi mới công tác quần chúng, phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân

Thứ hai, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

“Phương thức” theo định nghĩa trong Đại từ điển tiếng Việt, là

“Phương pháp và hình thức tiến hành”

Trong hoạt động của Đảng, thuật ngữ “phương thức” được dùng đầu tiên

trong Nghị quyết Hội nghị cán bộ miền Bắc Đông Dương về cuộc vận động thi đua ái quốc ngày 25-5-1948 Song ý nghĩa của thuật ngữ đã được thể hiện ngay

từ trong cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc viết năm 1927 với tên gọi

“cách tổ chức” Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI ngày

29-3-1989 thuật ngữ phương thức lãnh đạo được sử dụng với nội dung đầy đủ

Vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các phương pháp, hình thức mà Đảng vận dụng để tác động vào các lực lượng, các tổ chức nhằm thực hiện tốt nội dung lãnh đạo của Đảng

Có thể đề cập phương thức lãnh đạo của Đảng theo các khía cạnh khác nhau:

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các thành tố trong hệ thống chính trị: Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội

Trang 22

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đối với các lĩnh vực của đời sống: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp

- Phương thức lãnh đạo trong nội bộ hệ thống tổ chức đảng

Trong lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đạo gắn liền với nội dung lãnh đạo, là yếu tố quyết định trực tiếp thực hiện thành công nội dung lãnh đạo

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta đã nêu rõ: Đảng lãnh đạo

bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và các chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát bằng hành động gương mẫu của đảng viên [33, tr.88]

Từ những quan điểm nêu trên, cho thấy: phương thức lãnh đạo của

Đảng bộ tỉnh là hệ thống các phương pháp, hình thức mà Đảng bộ sử dụng để tác động vào các yếu tố, các lĩnh vực, các tổ chức, các lực lượng, các quan hệ liên quan nhằm thực hiện thắng lợi nội dung lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

1.1.2 Một số vấn đề về công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

1.1.2.1 Khái niệm “di tích lịch sử cách mạng”, “bảo tồn”, “tôn tạo”,

“phát huy”, “giá trị”

* Khái niệm “Di tích lịch sử cách mạng”

“Di tích” tên gọi chung, hiểu theo ý nghĩa ban đầu thì di tích là những

“dấu vết, mảnh vụn” còn sót lại của các thời đại trước gắn liền với những

nhân vật, sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử Ta cũng dễ dàng nhận thấy, từ

xa xưa nhiều nước trên thế giới đã đặt tên chung cho di tích lịch sử là dấu

tích, dấu vết còn lại Tiếng Pháp viết “vestiges”, tiếng Anh cũng viết

“vestiges”, tiếng Nga viết “pomiatnik”, tiếng Trung Quốc viết “cổ tích”

Trang 23

Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại

Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không

gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nó càng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển

Quá trình nghiên cứu di tích đã được các nhà sử học quan tâm từ rất lâu

và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau:

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản năm 2006 thì: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” [76, tr.254]

Theo hiến chương Vơnidơ - Italia năm 1946 thì di tích bao gồm

“Những công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có

ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [42, tr.50] Điều này cho phép chúng ta

khẳng định rằng di tích là những công trình có thật, là sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra cùng với cuộc sống lao động của mình Di tích được phân bố ở khắp mọi nơi, bất kỳ đâu mà con người đã và đang sinh sống

Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: “Là những không gian vật chất

cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [73, tr.17]

Trang 24

Còn theo Luật Di sản văn hóa của nước ta, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/6/2001 quy định: di tích là công trình được xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Gọi chung là di tích lịch sử - văn hóa vì chúng do con người (tập thể hoặc cá nhân) hoạt động sáng tạo lịch sử, con người hoạt động văn hóa mà hình thành nên Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần

Theo Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009

có nêu: Di tích lịch sử - văn hóa là:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật của giai đoạn đó ở một địa điểm cụ thể, nhất định [49, tr.14]

Đối với di tích lịch sử cách mạng là một bộ phận của di tích lịch sử, thuộc

di tích lịch sử văn hóa Trên thực tế, di tích lịch sử cách mạng không phải là một loại hình di tích riêng, cũng không có khái niệm riêng tuy nhiên, chúng ta có thể đưa ra cách hiểu, cũng như tiêu chí để một di tích được gọi là di tích lịch sử cách mạng theo một số điều khoản được quy định bởi Luật Di sản văn hóa:

Theo điểu 28, mục 1, khoản b, thì những di tích đó là các “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước” Theo Điều 28, mục 1 khoản c, thì những di tích đó cũng

Trang 25

là các “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng kháng chiến” [49, tr.45]

Như vậy, có thể hiểu di tích lịch sử cách mạng là những di tích mà giá

trị nổi bật của chúng được xác định bởi nó là những “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước”, hoặc là “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng, kháng chiến”

* Khái niệm bảo tồn

Bảo tồn là những hoạt động nhằm bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích Bảo tồn di tích không tạo ra di tích mà chỉ có thể hoạt động bảo tồn sao cho hợp lý, cho đúng với đối tượng khách quan đó, không để mai một, bị thay đổi hay biến hóa hay nói cách khác là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của nó Đồng thời bảo tồn được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ các di tích Mặt khác, khái niệm này cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, bảo quản, gia cố, nghiên cứu, nhằm duy trì tính nguyên gốc và sự toàn vẹn của các di tích

Khi bảo tồn một di tích cụ thể cần nghiên cứu, chọn lựa phương án thích hợp với từng địa phương Bảo tồn phải gắn với phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan, nhất là các ngành Du lịch, Giao thông công chính, Xây dựng

Ngoài ra bảo tồn các di tích được hiểu như là việc bảo vệ giữ gìn càng cẩn thận, càng chắc chắn các di tích càng tốt, hiện nay các nhà khoa học cũng

đã đưa ra một khái niệm mới về bảo tồn di sản - gọi là “bảo tồn tích cực”, nghĩa

là đưa di tích vào phục vụ cuộc sống Các di tích phải được bảo vệ, tôn tạo và

tổ chức giới thiệu rộng rãi cho công chúng biết, chiêm ngưỡng, nghiên cứu

Trang 26

* Khái niệm tôn tạo:

Tôn tạo là quá trình thực hiện những thiết kế bổ sung vào di tích hiện

có và xây dựng mới các công trình, bổ sung phương tiện kỹ thuật nhằm mục đích tôn vinh thêm giá trị của di tích

Tôn tạo di tích là hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng, khai thác và phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích

Trong quá trình tôn tạo phải giữ gìn bằng mọi biện pháp các thành tố nguyên gốc của di tích; hạn chế tối đa mọi sự thay thế, nhất là thay thế bằng chất liệu và vật liệu mới, giải pháp ưu tiên là bảo quản, gia cố và tu bổ di tích

* Khái niệm phát huy

Phát huy giá trị (hay khai thác di tích) là những hoạt động nhằm giới thiệu các giá trị vật chất và tinh thần chứa đựng trong các di tích, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương

* Khái niệm giá trị

Các tài liệu nghiên cứu, các từ điển bách khoa lâu nay thường phân biệt

giá trị đạo đức (ethical values), giá trị kinh tế (economic value), giá trị văn hoá (cultural value), giá trị xã hội (social value), giá trị pháp lý (law’s value), giá trị ký hiệu học (semiotic value), giá trị toán học (mathematical value)…

Nếu hiểu “văn hoá” và “giá trị” theo nghĩa rộng, chấp nhận quan niệm coi văn hoá là hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra thì khái niệm “văn hoá” trong cụm từ “giá trị văn hoá” phải được hiểu là “do con người sáng tạo ra” Giá trị văn hoá đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm tất cả các loại giá

trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý, giá trị ký hiệu học, giá trị toán học

Vì mọi giá trị và hệ giá trị do con người sáng tạo ra đều thuộc văn hoá

Đối với nước ta, thường dùng thuật ngữ giá trị là để chỉ phẩm chất, phẩm giá, đức tính (giá trị đạo đức) Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng giá trị là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý, có ích của các đối tượng với các

Trang 27

chủ thể Phải phân biệt rõ giá trị với quan hệ, giá trị với hoạt động, giá trị với các sự vật của hiện thực để khẳng định rõ giá trị chỉ là những thuộc tính chính diện (mặt tích cực trong ý nghĩa) chứ không phải bất kỳ thuộc tính nào Bất

kỳ sự vật nào cũng có thể được coi là có giá trị, dù đó là vật thể hay tư tưởng,

là vật thực hay vật ảo nếu nó được các thành viên trong xã hội thừa nhận và xem xét như một biểu tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của họ và cần đến nó như một nhu cầu thực thụ

Giá trị di tích lịch sử cách mạng có thể hiểu là tổng hợp các giá trị ẩn chứa trong các công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng

Giá trị của các di tích lịch sử cách mạng bao gồm:

- Giá trị giáo dục truyền thống: gắn với những chiến công oanh liệt của

các thế hệ đi trước, những người đã anh dũng, kiên cường chiến đấu, hi sinh

để giữ gìn độc lập của đất nước Mỗi di tích lịch sử cách mạng đều góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ nhận thức được một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Những di tích lịch sử cách mạng không chỉ giúp thế hệ trẻ ngày nay

có nhận thức đúng đắn về lịch sử mà còn góp phần làm tăng thêm lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc Chính điều đó tạo nên tính chất lâu bền cho mỗi di tích và lan truyền rộng rãi cho nhiều thế hệ sau

- Giá trị lưu niệm danh nhân hay sự kiện: những di tích ấy phản ánh về

từng sự kiện lịch sử quan trọng hay một giai đoạn hoạt động của các danh nhân cách mạng lỗi lạc như: Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Võ Nguyên Giáp , thông qua các di vật như đồ dùng sinh hoạt, những kỉ vật riêng gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của các danh nhân trong từng di tích cách mạng, các nhà nghiên cứu, khách tham quan có thể hiểu được đặc điểm, tính cách, thói quen, lối sống của các danh nhân, hiểu được tầm trí tuệ, kiến thức, tinh thần cách mạng của các danh nhân trong tiến trình lịch sử, đồng thời nắm được giá trị và ý nghĩa của từng sự kiện lịch sử đã diễn ra ở di tích

Trang 28

Bên cạnh giá trị về lịch sử, giáo dục truyền thống, lưu niệm thì các di tích cách mạng còn chứa đựng giá trị văn hóa Một số bộ phận các di tích lịch

sử cách mạng được hình thành từ những công trình có sẵn như nhà ở, trụ sở, căn phòng, những công trình kiến trúc, những công trình tôn giáo, tín ngưỡng như đình, chùa Do vậy bản thân các công trình kiến trúc ấy đã là các di sản văn hóa chứa đựng trong mình những giá trị văn hóa nhất định

1.1.2.2 Đặc điểm công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

Việc khôi phục, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Khôi phục, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng nhằm làm cho các di tích trở thành nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ, khơi dậy lòng tự hào dân tộc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích được xác định là một nhiện vụ quan trọng Vì vậy, quan tâm tới việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch

sử cách mạng, nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ, giữ gìn

và phát huy vai trò của các di tích là công việc vừa cơ bản, vừa cấp bách, cần phải được tiến hành nghiêm túc, kiên trì và thận trọng và là việc làm thường xuyên của các cấp, các ngành, các đoàn thể và toàn thể nhân dân

Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo, bố trí nguồn lực phù hợp; được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các tỉnh, thành phố trong cả nước triển khai đồng bộ, có những chủ trương, chính sách, biện pháp chỉ đạo cụ thể và tích cực trong việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, nhờ đó giá trị của các di tích lịch sử cách mạng được phát huy và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống nhân dân

Trang 29

Công tác bảo tồn tập trung vào trùng tu, tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử cách mạng theo hướng giữ nguyên gốc, đảm bảo các giá trị về lịch sử, giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật, xây dựng kế hoạch, thực hiện các biện pháp kiểm kê, nghiên cứu các loại hình di tích lịch sử cách mạng

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng, gắn lợi ích của người dân khi tham gia bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích để thu hút đông đảo nhân dân tham gia bảo vệ di tích lịch sử cách mạng

Các cấp, các ngành, các địa phương đã tích cực đào tạo nâng cao trình

độ của đội ngũ cán bộ văn hóa, bảo tàng cơ sở, giúp cho họ có nhận thức đầy

đủ hơn về di tích lịch sử cách mạng trở thành những chuyên gia trong bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử cách mạng, kịp thời phát hiện những sai phạm diễn ra trên địa bàn; đồng thời có thể tham gia góp ý, phản biện các dự án bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử trên địa bàn một cách cụ thể và sát thực nhất

Tăng cường nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước đi đôi với nguồn lực

xã hội hóa để bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di tích lịch sử cách mạng

Công tác nghiên cứu, điều tra, đánh giá nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích lịch sử cách mạng được quan tâm và thực hiện có hiệu quả

Ngoài sự hỗ trợ của Trung ương, các địa phương trong cả nước đã dành nguồn ngân sách thỏa đáng đầu tư phục hồi, tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn Bên cạnh đó, chủ trương xã hội hóa công tác tu bổ di tích cách mạng được triển khai sâu rộng, thu hút được nhiều nguồn lực xã hội cho hoạt động phục hồi, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị cách mạng

Công tác tuyên truyền trên báo, Đài Phát thanh và Truyền hình, trang Website của các tỉnh để quảng bá danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa; các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc các dân tộc

Trang 30

1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, do nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa trong đó có di tích lịch sử cách mạng đối với sự phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng

và Chính phủ ta đã có nhiều quyết sách, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử cách mạng nói riêng phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Tại báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1996) của Đảng đã chỉ rõ: Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho văn hóa văn nghệ, giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử

và văn hóa

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII) về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt ngày 14/01/1993 nêu rõ:

Thể chế hóa kịp thời những chủ trương, biện pháp nêu trong Nghị quyết Trung ương Có chương trình nghiên cứu và ban hành sớm các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật Trước mắt, tập trung xây dựng một số luật cần thiết như Luật xuất bản, Luật bảo vệ di tích văn hóa dân tộc… Đầu tư nâng cấp và chống xuống cấp các bảo tàng, các di tích lịch sử và văn hóa, xây dựng những tượng đài, trước hết là những tượng đài về các anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa [26, tr.198]

Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành trung ương khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) khẳng định đường lối: “Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Để thực hiện đường lối đó, Đảng ta trước hết xác định vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự phát triển kinh

tế xã hội: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là

Trang 31

động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” Từ tư tưởng chỉ đạo này, Đảng chỉ rõ: kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của đất nước

Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ nội dung của nhiệm

vụ này như sau:

Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại [29, tr.24] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) chủ trương:

Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Văn kiện Đại hội nhấn mạnh: xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội [48, tr.229]

Để đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, cũng như tạo hành lang pháp lý chặt chẽ trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa X ngày 29/6/2001, Luật Di sản văn hóa đã được thông qua, có hiệu lực

từ ngày 01/1/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị

di sản văn hóa ở Việt Nam

Trang 32

Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định: “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”

Kết luận hội nghị Trung ương 10 khóa IX (2004), đã cụ thể hóa và phát triển chiến lược văn hóa của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được đề ra tại hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng quan tâm đồng

bộ các nhiệm vụ khác: xây dựng môi trường văn hóa, phát triển văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc

Những quan điểm của hội Trung ương 10 khóa IX tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4 - 2006):

Phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó có vấn đề đặt ra là: tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc [48, tr.236]

Trong báo cáo kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong nửa đầu nhiệm kỳ (2006 - 2008) ngày 25-12-2008 đưa ra giải pháp: tăng cường xây dựng, củng cố các thiết chế văn hóa; tiếp tục thực hiện các chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc, chú trọng khuyến khích, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số

Đại hội XI (2011) chủ trương:

Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa

Trang 33

với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền

bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài [33, tr.225]

Hội nghị Trung ương lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2014) về việc “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước” đã đánh giá sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng Trong đó có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo, tuy nhiên việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn

Hội nghị đề ra nhiệm vụ:

Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch [35, tr.54]

Hội nghị lần thứ Mười Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (01/2015) đã đưa ra nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa:

Phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

và môi trường văn hóa lành mạnh, đoàn kết văn minh Bảo tồn, kế thừa và phát huy các di sản, giá trị văn hóa dân tộc [36, tr.141]

Tiểu kết chương 1

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển, mở cửa, mở rộng hợp tác

và giao lưu quốc tế, Việt Nam đã có nhiều thay đổi về diện mạo trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại… Trên lĩnh vực văn

Trang 34

hóa, bản sắc dân tộc cùng với những giá trị văn hóa truyền thống, di sản văn hóa tiếp tục trường tồn và lan tỏa; tinh hoa văn hóa thế giới được tiếp thu có chọn lọc, đảm bảo nền văn hóa Việt Nam được hòa nhập và phát triển cùng tinh hoa văn hóa nhân loại

Di tích lịch sử cách mạng là tài sản quý giá của dân tộc, nó không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh như: khí hậu, thời tiết, thiên tai, sự phát triển kinh tế Do đó, để giữ gìn và không bị "mất đi" yếu tố gốc của di tích thì việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng cần phải được quan tâm Để công tác bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực văn hóa đặc biệt là thực hiện tốt tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Tuyên Quang hiện nay, nhiều di tích lịch sử cách mạng đang xuống cấp rất cần phải bảo tồn, để phát huy những giá trị lịch sử cách mạng Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối đối với công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng là một vấn đề cấp thiết

Trang 35

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014 -

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong quá trình lãnh đạo công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa tỉnh Tuyên Quang

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Tuyên Quang là tỉnh miền núi, phía Bắc tổ quốc, cách thành phố Hà Nội 160 km về phía Bắc có diện tích đất tự nhiên là 586.732,71

ha Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Cao Bằng; phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc; phía Đông giáp tỉnh Bắc Cạn và tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp tỉnh Yên Bái

- Địa hình, địa mạo: tỉnh Tuyên Quang có địa hình tương đối đa dạng và phức tạp với trên 70 % diện tích là đồi núi Phần lớn địa hình có hướng nghiêng

từ Bắc - Tây Bắc xuống Nam - Đông Nam Địa hình Tuyên Quang được chia thành 3 tiểu vùng có những đặc điểm về cảnh quan, sinh thái khác biệt:

Vùng núi phía Bắc: bao gồm toàn bộ huyện Na Hang, Lâm Bình, một phần của các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn Diện tích vùng này chiếm trên 50 % diện tích toàn tỉnh Đặc trưng sinh thái chính của vùng là cảnh quan rừng núi, hang động, đá vôi, với những khu rừng nguyên sinh

Vùng trung tâm: bao gồm thành phố Tuyên Quang, phía Nam huyện Yên Sơn và phía Bắc huyện Sơn Dương Địa mạo đặc trưng của vùng là cảnh quan dọc theo sông Lô, sông Phó Đáy với những thung lung, cánh đồng rộng

và một số ngọn núi tạo thành điểm nhấn như núi Là, núi Nghiêm, núi Dùm

Trang 36

Vùng phía Nam: bao gồm phần lớn huyện Sơn Dương Đặc trưng của vùng bao gồm hệ thống đồi bát úp gần với địa hình trung du, những cánh đồng rộng, bằng phẳng, có chỗ dạng lòng chảo

- Khí hậu: Tuyên Quang mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á - Trung Hoa, có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh khô và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Lượng mưa trung bình hàng năm lớn, độ ẩm cao Tuy nhiên Tuyên Quang hay có lốc mạnh, lũ to, sương muối và chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc

- Thủy văn: mạng lưới sông ngòi của tỉnh Tuyên Quang tương đối dày đặc Dòng chảy chủ yếu có hướng Bắc - Nam hoặc Tây Bắc - Đông Nam Chế

độ thủy văn chia làm hai mù rõ rệt, phù hợp với hai mùa của khí hậu Mùa lũ tập trung tới 80% tổng lượng nước trong năm và thường gây ra ngập lụt ở một

số vùng Toàn tỉnh có 3 sông lớn: Sông Lô, sông Gâm, sông Phó Đáy

- Thổ nhưỡng đất đai: tổng diện tích đất tự nhiên là hơn 5.868 km2, tỉnh Tuyên Quang có quy mô diện tích ở mức trung bình so với toàn quốc Thổ nhưỡng của tỉnh Tuyên Quang khá đa dạng về nhóm và loại, chất lượng tương đối tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng, có thể tạo ra các vùng chuyên canh chè, mía, lạc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

- Khoáng sản: Tuyên Quang là tỉnh có tiềm năng lớn về khoáng sản, phong phú cả về kim loại và phi kim loại như: vàng, thiếc, kẽm, ba rít, cao lanh…

Nhìn tổng thể, điều kiện tự nhiên của Tỉnh Tuyên Quang mặc dù gây không ít khó khăn trong quá trình phát triển của tỉnh, nhưng cũng tạo ra những ưu thế riêng cho tỉnh

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Các yếu tố kinh tế:

Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nền kinh tế với điểm xuất phát thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế Nền sản xuất hàng hoá đang trong quá trình hình thành

Trang 37

Tuyên Quang là tỉnh có tiềm năng về phát triển du lịch với nhiều loại hình

du lịch khác nhau như du lịch văn hóa, lịch sử; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh; du lịch cộng đồng Ví dụ như: Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào; Khu du lịch sinh thái Suối khoáng Mỹ Lâm, huyện Yên Sơn; thác Bản Ba huyện Chiêm Hóa; vùng lòng hồ Thủy điện Tuyên Quang… Một điểm hấp dẫn

du lịch ở Tuyên Quang là Lễ hội thành Tuyên với các hoạt động văn hóa, thể thao như: đêm hội thành Tuyên; cuộc thi “Người đẹp xứ Tuyên”…

Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển khá mạnh, đặc biệt là giao thông, thông tin liên lạc Hệ thống đường bộ, tỉnh có các đường lớn như: Quốc lộ 2, quốc lộ 2C, Quốc lộ 37 là những con đường huyết mạch nối Tuyên Quang với tỉnh Hà Giang và các tỉnh, thành phố miền xuôi; nhiều đường liên huyện, xã, liên thôn, đường dân sinh

Ngoài ra còn hệ thống thủy lợi, nước sinh hoạt, các công trình phúc lợi công cộng về văn hóa, xã hội, trường học, bệnh viện, công sở làm việc của các cấp hành chính từ tỉnh đến cơ sở

* Các yếu tố xã hội:

- Dân số, dân cư: theo số liệu điều tra dân số năm 2009, tỉnh có 730.690 người Năm 2011 dân số toàn tỉnh là 734.908 người Dân số của tỉnh phân bố không đồng đều theo đơn vị hành chính Phần lớn dân số của tỉnh tập trung tại khu vực nông thôn

- Tuyên Quang có 22 dân tộc anh em sinh sống gồm dân tộc Kinh chiếm 48,21 %, Tày 25,45%, Dao 11,38%… Tuyên Quang là địa phương có

sự đa dạng về văn hóa dân tộc thiểu số

- Giáo dục: hoàn thành phổ cập giáo dục Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở Chất lượng giáo dục, đào tạo được nâng lên Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục có bước phát triển

- Sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân có nhiều tiến bộ

Trang 38

- Lao động việc làm, bảo đảm an sinh xã hội và các vấn đề xã hội khác được quan tâm thực hiện có hiệu quả, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện

- Khoa học công nghệ: công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật số phát triển, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội

Do cơ sở vật chất còn nghèo, điều kiện ứng dụng kỹ thuật mới của ngành văn hóa, thông tin còn hạn chế, vì vậy chất lượng sản phẩm và dịch vụ văn hóa - thông tin chưa phong phú và hấp dẫn

2.1.1.3 Truyền thống văn hóa lịch sử

Tuyên Quang là vùng đất lịch sử lâu đời, có nhiều sự kiện lịch sử quan trọng gắn liền với sự phát triển của Việt Nam Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, là “trấn biên” che chở cho “kinh trấn”, từ xa xưa nhân dân Tuyên Quang luôn cùng các triều đại phong kiến tiến bộ đứng lên chiến đấu chống bọn xâm lược phương Bắc, bảo vệ Tổ quốc Các triều đại phong kiến đều coi Tuyên Quang là địa bàn quan trọng về an ninh, quốc phòng Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, Tuyên Quang được Đảng, Chính phủ, Bác Hồ chọn là trung tâm cách mạng của cả nước, là “Thủ đô Khu giải phóng”; “Thủ đô Kháng chiến”

* Tuyên Quang - Thủ đô Khu giải phóng

Năm 1945, tình hình cách mạng có nhiều chuyển biến tích cực, để đảm bảo yêu cầu đưa cách mạng đế thắng lợi cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cần phải xây dựng ngay căn cứ địa và lực lượng vũ trang Thực hiện chỉ thị của Bác, đồng chí Võ Nguyên Giáp và lãnh đạo Phân khu ủy Nguyễn Huệ đã chọn Tân Trào làm trung tâm căn cứ địa, bởi Tân Trào hội đủ những điều kiện yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để trở thành Thủ đô Khu giải phóng Với địa bàn núi sông hiểm trở, thế tiến công, phòng thủ đều thuận lợi, Tân Trào nằm giữa vùng núi non trùng điệp Từ đây có thể dễ dàng lui về Bắc

Trang 39

Cạn, Cao Bằng, Thái Nguyên, sang Yên Bái, lên Hà Giang, khi Nam tiến cũng rất dễ dàng mở rộng xuống Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc

Tại Tân Trào, Ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh tuyên bố chính thức thành lập Khu giải phóng, lấy Tân Trào làm Thủ đô Khu giải phóng đặt dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Chỉ huy lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh đứng đầu, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Ủy viên Thường trực, đồng thời chỉ huy về quân sự

Từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, hội nghị quyết định phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Hội nghị có tính chất như một Đại hội, ra Nghị quyết về nhiệm

vụ cách mạng Ngày 13-8-1945, từ trung tâm Tân Trào lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền truyền đi, cả nước đứng lên

Ngày 16, 17-8-1945, Quốc dân Đại hội họp tại đình Tân Trào gồm đại biểu đến từ khắp mọi miền đất nước, đại biểu các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, nhân sĩ trí thức Đại hội quyết định toàn dân đứng lên võ trang khởi nghĩa giành chính quyền, bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng do nhà cách mạng Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, thông qua

10 chính sách lớn của Việt Minh, trong đó nội dung quan trọng nhất là giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập Quốc dân Đại hội là tiền thân của Quốc hội Ủy ban Dân tộc Giải phóng là tiền thân của Chính phủ

Chiều ngày 16-8-1945, dưới bóng đa Tân Trào, Quân giải phóng cử hành lễ xuất quân; đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Ủy ban khởi nghĩa đọc bản Quân lệnh số I và hạ lệnh xuất quân Đoàn quân giải phóng, áo vải chân đất, rầm rập tiến sang giải phóng Thái Nguyên và tiến về Hà Nội

Từ Tân Trào - Sơn Dương, Tuyên Quang, lệnh Tổng khởi nghĩa được truyền đi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Đáp lời kêu gọi của Đảng, của Hồ Chủ tịch và Mặt trận Việt Minh, nhân dân cả nước nhất tề đứng

Trang 40

lên giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám giành lại độc lập

tự do cho dân tộc Tân Trào là nơi khai sinh Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước Dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông - Nam Á

Thủ đô Khu giải phóng đóng vai trò hết sức to lớn vào thành công của cách mạng tháng Tám, là trung tâm chỉ đạo tổng khởi nghĩa và giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc

* Tuyên Quang - Thủ đô Kháng chiến

Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn chiến lược về cách mạng, đã chỉ đạo việc tiếp tục củng cố, xây dựng căn cứ địa cách mạng tại Tuyên Quang Do hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” phong trào cách mạng vững chắc được xây dựng từ thời kỳ Cách mạng tháng Tám, lịch sử giao phó cho Tuyên Quang sứ mệnh là Thủ đô Kháng chiến, nơi Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, 13/14 bộ và cơ quan ngang

bộ, gần 60 ban, nghành, cơ quan Trung ương đóng tại 146 địa điểm trên địa bàn Tuyên Quang để lãnh đạo cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng

Tuyên Quang là nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của Đảng, của cách mạng Việt Nam như: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng; Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt; Đại hội liên minh ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia; Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu lần thứ nhất; Hội nghị Trung ương 6 khóa II mở rộng; kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa I

Tại Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối kháng chiến trường

kỳ, toàn dân, toàn diện, vừa kháng chiến vừa kiến quốc Từ Tân Trào, Bác Hồ đi thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước; thăm và làm việc với Chính phủ Kháng chiến Lào tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn; tiếp và làm việc với nhiều đoàn đại biểu quốc tế Đầu tháng 4 - 1954, tại Kim Quan (Yên Sơn), Bác Hồ chỉ đạo đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Chính phủ dẫn đầu đoàn ngoại

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Văn hóa sử cương, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Vũ Tuấn Anh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Minh Tuệ (1997), Địa lý du lịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
3. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2000), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1940 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1940 - 1975)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1976 - 2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1976 - 2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (2010), Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
6. Ban Khoa giáo Trung ương (1994), Công tác khoa giáo và sự lãnh đạo của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác khoa giáo và sự lãnh đạo của Đảng
Tác giả: Ban Khoa giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
7. Ban Tuyên giáo Trung ương - Tỉnh Tuyên Quang (2011), Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang Thủ đô kháng chiến, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang Thủ đô kháng chiến
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương - Tỉnh Tuyên Quang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
8. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận Hội nghị lần thứ X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
9. Bảo tàng ATK Tân Trào (2007), Bác Hồ ở Tân Trào, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ ở Tân Trào
Tác giả: Bảo tàng ATK Tân Trào
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
10. Huỳnh Công Bá (2012), Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn và bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2012
11. Lương Gia Ban - Nguyễn Thế Kiệt (2014), Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lương Gia Ban - Nguyễn Thế Kiệt
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
12. Đặng Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí Di sản văn hóa, (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2006
13. Nguyễn Duy Bắc (2009), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa
Năm: 2009
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
16. Bộ Văn hóa - Thông tin (1987), Luật lệ văn hóa, tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật lệ văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1987
17. Bộ Văn hóa - Thông tin (1993), Những quan điểm và chính sách tài chính đối với văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm và chính sách tài chính đối với văn hóa thông tin
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1993
18. Bộ Văn hóa - Thông tin (1997), Về vấn đề lưu niệm danh nhân cách mạng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề lưu niệm danh nhân cách mạng
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
19. Bộ Văn hóa - Thông tin (2000), Văn bản pháp quy về văn hóa, thông tin (1997 - 1999), Hà Nội, tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp quy về văn hóa, thông tin (1997 - 1999)
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
20. Bộ Văn hóa - Thông tin (2003), Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lý văn hóa thông tin, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của Nhà nước về hoạt động và quản lý văn hóa thông tin
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
21. Cục di sản văn hóa, Bộ văn hóa Thông tin (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Cục di sản văn hóa, Bộ văn hóa Thông tin
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm