1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo in đồng bằng sông cửu long với vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em hiện nay (khảo sát báo in 3 tỉnh long an, kiên giang và sóc trăng năm 2014)

110 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 884,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do nói trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Báo in Đồng bằng sông Cửu Long với vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em hiện nay” để chỉ ra và phân tích nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH BÌNH

BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CHO PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM HIỆN NAY

(Khảo sát báo in 3 tỉnh: Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng năm 2014)

Ngành : Báo chí

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN THƯ

CẦN THƠ - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất lỳ công trình nào khác Trong luận văn này, tôi có sử dụng một số trích dẫn từ các nguồn tài liệu tham khảo, những trích dẫn đó đều được ghi nguồn đầy

đủ Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước những lời cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Bình

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ TRONG

VIỆC BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO PHỤ NỮ VÀ

1.2 Vai trò của báo chí trong vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe 13 1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe 18 1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng báo chí bảo vệ, chăm sóc sức

Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO PHỤ

2.2 Nội dung thông tin về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ 32

2.4 Đánh giá chung về vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe 56

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG

TIN VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO

3.1 Nhóm giải pháp cải tiến nội dung và hình thức thể hiện 70 3.2 Nhóm giải pháp nâng cao trình độ, năng lực 74 3.3 Nhóm giải pháp về chính sách

3.4 Giải pháp cho từng báo

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

A/H1N1 : Bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do vi rút

cúm A chủng H1N1 gây nên A/H5N1 : Bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do vi rút

cúm A chủng H5N1 gây nên

CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản

DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

HIV/AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người

PGS.TS : Phó giáo sư Tiến sĩ

SARS : Hội chứng hô hấp cấp tính nặng

TTĐC : Truyền thông đại chúng

TT-GDSK : Truyền thông - Giáo dục sức khỏe

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Tóm tắt vài nét về các báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 32 Bảng 2.2: Nhóm thông tin về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ

và trẻ em trên báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 35 Bảng 2.3: Nội dung thông tin về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ

nữ trên báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 36 Bảng 2.4: Nội dung thông tin về bảo vệ, CSSK cho trẻ em trên báo

Bảng 2.5: Số lượng tin, bài về vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

cho phụ nữ và trẻ em trên báo Long An, Kiên Giang và

Bảng 2.6: Số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ

nữ trên báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 45 Bảng 2.7: Số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em

trên báo in Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 46

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 2.1: So sánh số lượng tin, bài về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ giữa

các báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 35 Hình 2.2: So sánh số lượng tin, bài về bảo vệ, CSSK cho trẻ em

giữa các báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 36 Hình 2.3: Nội dung thông tin về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho

phụ nữ trên báo in Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 36 Hình 2.4: Nội dung thông tin về bảo vệ, CSSK cho trẻ em trên báo

Hình 2.5: Số lượng tin, bài được khảo sát về bảo vệ, chăm sóc sức

khỏe cho phụ nữ và trẻ em trên các báo Long An, Kiên

Hình 2.6: So sánh số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

cho phụ nữ và trẻ em trên các báo Long An, Kiên Giang

Hình 2.7: Số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ

trên báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 46 Hình 2.8: So sánh số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

cho phụ nữ của ba báo Long An, Kiên Giang và Sóc

Hình 2.9: Số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho trẻ

em trên báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng 47 Hình 2.10: So sánh số lượng tin, bài về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

cho trẻ em của ba báo Long An, Kiên Giang và Sóc

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sức khoẻ là vốn quý của con người Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Sức khoẻ được quan tâm chăm sóc chu đáo giúp con người hoàn thiện hơn cả về thể chất và tinh thần, thúc đẩy tốt hơn quá trình phát triển của con người Nhà nước ta chủ trương phải phấn đấu để mọi người dân có quyền được hưởng sự công bằng về chăm sóc sức khoẻ (CSSK) Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tiến bộ của ngành y tế, nhiều dịch bệnh đã được đẩy lùi, nhưng cũng

có không ít vấn đề sức khỏe, bệnh tật mới xuất hiện Sự thuận tiện trong giao lưu quốc tế làm cho nguy cơ lây truyền dịch bệnh trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn

Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân Nhu cầu CSSK ngày càng tăng trong khi nguồn lực quốc gia còn hạn hẹp Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đang có những tác động bất lợi tới sức khỏe của người dân Nhiều bệnh lạ xuất hiện chưa tìm ra thuốc dự phòng và cơ chế điều trị Cơ cấu bệnh tật đang có nhiều thay đổi, tỷ lệ mắc một số bệnh hiểm nghèo ngày một tăng Những khó khăn, thách thức đó đang đe dọa sự phát triển về chất lượng của nguồn nhân lực và tương lai, giống nòi của quốc gia, dân tộc

Trong bối cảnh đó, công tác CSSK cho phụ nữ và trẻ em cũng đang có nhiều thách thức Theo số liệu năm 2010 của Tổ chức Y tế thế giới, trên toàn cầu, có 7,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong hàng năm Hơn một nửa số tử vong trẻ em sớm này là do những căn bệnh có thể phòng ngừa hay điều trị được nếu có tiếp cận với các can thiệp đơn giản và phù hợp khả năng chi trả

Ở Việt Nam, mỗi năm vẫn còn khoảng 580-600 trường hợp tử vong mẹ và khoảng trên 10.000 trường hợp tử vong sơ sinh [14, tr.1] Đó là chưa kể đến

Trang 8

các bệnh tật khác có thể lấy đi sức khỏe hay sinh mạng của phụ nữ và trẻ em Nhiều dịch bệnh, tử vong ở trẻ em và phụ nữ có thể tránh được nếu họ được cung cấp những kiến thức cơ bản về CSSK Các kiến thức này nếu được thông tin trên các phương tiện TTĐC sẽ có nhiều người tiếp cận nhất với thời gian ngắn nhất TTĐC có thể chuyển thông tin đến các khu vực hẻo lánh kém phát triển và thiếu cán bộ y tế Chúng có thể truyền bá những kinh nghiệm và

kỹ thuật mới, giúp lôi cuốn người dân tham gia vào các chương trình CSSK đang được tổ chức, đồng thời khuyến khích thực hiện những hành vi có lợi cho sức khỏe

Từ những lý do nói trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Báo in Đồng bằng sông Cửu Long với vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ

nữ và trẻ em hiện nay” để chỉ ra và phân tích những ưu điểm, hạn chế, thực

trạng việc tuyên truyền về lĩnh vực này qua việc khảo sát báo in 3 tỉnh: Long

An, Kiên Giang và Sóc Trăng năm 2014 Từ đó, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục những điều tồn tại để vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ

và trẻ em trên báo in Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được tốt hơn trong tương lai, đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc một cách thiết thực hơn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trước đề tài này, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề sức khỏe trên các phương tiện TTĐC Dưới đây là một số đề tài đã thực hiện:

- Đề tài “Thông tin phòng chống dịch bệnh trên báo in tại Thành phố

Hồ Chí Minh” (khảo sát thông tin các đợt dịch bệnh SARS-2003, cúm

A/H1N1-2009 trên các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Sài Gòn giải phóng) của tác giả Nguyễn Tấn Hiền (Luận văn tốt nghiệp cao học báo chí năm 2014 - Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thông tin về phòng chống dịch bệnh SARS-2003, cúm A/H1N1-2009 nói riêng tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

- Đề tài “Thông tin y tế - sức khỏe trên báo in hiện nay” của tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hòa (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, năm 2013 - Đại học quốc gia Hà Nội Trường ĐHKHXH&NV) Đề tài nghiên cứu thực trạng thông tin về y tế, sức khỏe trên báo in hiện nay, tập trung vào 2 tờ báo in

“Sức khỏe và đời sống” và “Khoa học và đời sống”

- Đề tài “Báo chí với hoạt động truyền thông phòng chống dịch cúm

A/H5N1 và cúm A/H1N1 ở người” của tác giả Trần Thị Tuyết Vinh (Luận văn

Thạc sĩ, Khoa Báo chí và Truyền thông, năm 2011 - Đại học quốc gia Hà Nội ĐHKHXH&NV) Tác giả tập trung đi sâu vào nghiên cứu hoạt động truyền thông phòng chống dịch cúm A/H5N1 và cúm A/H1N1 ở người của 2 tờ báo

in là Tuổi trẻ và Sức khỏe và Đời sống và Đài Truyền hình Việt Nam

- Đề tài “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay - Vấn đề và

thảo luận” của tác giả Bùi Thị Thu Thủy (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Báo chí, năm 2010 - ĐHQG Hà Nội Trường ĐHKHXH&NV) Đề tài đề cập đến hệ thống lý luận về lý thuyết kênh, chương trình truyền thông đối với vấn

đề thông tin sức khỏe Tuy nhiên tác giả chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát nội dung thông tin trên kênh O2TV và Báo Sức khỏe và đời sống năm 2009

- Đề tài “Báo chí với chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản” của tác giả

Trần Xuân Thân (Khóa luận tốt nghiệp Khoa Báo chí và truyền thông - Trường ĐHKHXH&NV, khóa K43) Đề tài nghiên cứu này của tác giả Trần Xuân Thân mang tính chuyên biệt, chỉ tập trung giới hạn chuyên sâu nghiên cứu về chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Đề tài “Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện thông tin

đại chúng” của tác giả Đỗ Võ Tuấn Dũng (Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Báo chí, khóa 7 - Phân viện Báo chí và Tuyên truyền) Đề tài cũng đề cập đến thông tin sức khỏe nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về tình hình thực hiện nhiệm vụ truyền thông - giáo dục sức khỏe trên các phương tiện TTĐC

Trang 10

Chính vì vậy, đề tài “Báo in Đồng bằng sông Cửu Long với vấn đề bảo

vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em hiện nay” vẫn là một vấn đề

hết sức hữu ích đối với nhà báo nói chung và các nhà báo của 3 tỉnh: Long

An, Kiên Giang và Sóc Trăng nói riêng - những người hoạt động trên lĩnh vực thông tin, tuyên truyền về sức khỏe

Tóm lại, đề tài tác giả đề cập có thể xem là một nội dung mới, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này chưa nhiều Hơn nữa, xu hướng được tiếp cận thông tin về sức khỏe đang trở thành nhu cầu cấp thiết của độc giả trong khi việc tiếp nhận những thông tin này trên báo in đang bị chi phối rất mạnh

mẽ bởi các loại hình truyền thông khác

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là đánh giá thực trạng tuyên truyền về vấn đề bảo

vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em hiện nay trên báo in 3 tỉnh: Long An, Kiên

Giang và Sóc Trăng

Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của việc tuyên truyền bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in ĐBSCL hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Khái quát hệ thống những lý luận liên quan đến báo in và yêu cầu của vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in vùng ĐBSCL đến với độc giả trong giai đoạn hiện nay;

- Chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế của vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in ĐBSCL qua khảo sát báo in 3 tỉnh: Long An,

Kiên Giang và Sóc Trăng;

- Đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp để làm tốt hơn nữa việc bảo

vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tiếp

Trang 11

nhận thông tin của độc giả báo in ĐBSCL cũng như tâm lý tiếp nhận của họ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là báo in Đồng bằng sông Cửu Long với

vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ khảo sát báo in 3 tỉnh: Long An (đại diện cho các tỉnh thuần nông, hàng năm bị ảnh hưởng nhiều của lũ), Kiên Giang (đại diện cho các tỉnh có biển) và Sóc Trăng (đại diện cho các tỉnh làm nông, có nhiều đồng bào dân tộc), năm 2014

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của báo chí vô sản và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về báo chí Các phương pháp luận duy vật biện chứngvà duy vật lịch sử sẽ được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu và giải quyết vấn đề

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em trên

3 tờ báo in: Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng năm 2014

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả chú trọng sử dụng các phương pháp: nghiên cứu tài liệu, khảo sát, phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học bằng bảng hỏi anket, phân tích, so sánh, tổng hợp

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu phạm trù bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in ĐBSCL hiện nay nhằm khái quát hóa và chuẩn hóa hệ thống lý luận về lý

Trang 12

thuyết kênh truyền thông chuyên biệt và nhu cầu của độc giả chuyên biệt đối với vấn đề sức khỏe Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho việc nêu lên những vấn đề lý luận về kênh thông tin trên báo in ở ĐBSCL Luận văn sẽ góp phần

hệ thống hóa thêm khung lý luận về báo in, cụ thể là về vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in vùng ĐBSCL Đồng thời nêu ra những yêu cầu đối với người làm báo in để làm tốt hơn nhiệm vụ này trong tương lai Việc nghiên cứu báo chí viết về sức khỏe góp phần làm phong phú hơn

lý luận về báo chí, bổ sung tư liệu thực tế cho một số môn học chuyên ngành báo chí Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng giúp tìm ra những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật chuyển tải thông tin và một số lưu ý khi viết về sức khỏe

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng của vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in ĐBSCL hiện nay, từ đó đánh giá ưu điểm, nhược điểm, rút ra bài học khi chuyển tải thông tin về sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em trên báo in, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của vấn đề bảo

vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em trên báo in khu vực ĐBSCL để có thể đáp ứng tối

đa nhu cầu và tâm lý tiếp nhận thông tin sức khỏe của độc giả khu vực này Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho những nhà báo đang hoạt động trên lĩnh vực truyền thông nói chung và tuyên truyền sức khỏe nói riêng, đồng thời là nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà hoạch định chính sách của ngành y tế, góp phần làm cho chất lượng các sản phẩm báo in ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn nhu cầu của độc giả

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương và 12 tiết

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Trong xã hội hiện đại, báo chí ngày càng thể hiện vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng Báo chí đã và đang đóng góp hết sức to lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội Trong tình hình cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng ngày càng tinh vi và phức tạp, trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường truyền thông số hiện nay, báo chí và truyền thông nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng

1.1.1 Báo chí

1.1.1.1 Khái niệm báo chí

Báo chí là một hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng ngày và tác động, chi phối đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này

Báo chí trong quan niệm dân gian nhiều khi được ví, được coi như là

“thằng mõ”, là người mếch lẻo, thóc mách, đưa chuyện, là người hóng hớt,…

“Thằng mõ” trong xã hội Việt Nam trước đây là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báo cho dân làng biết những gì đã, đang và sắp xảy ra Dưới góc độ báo chí - truyền thông ở Việt Nam thì “thằng mõ” được xem là một trong những dạng thức “người đưa tin” cổ xưa và sơ khai

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lịch sử xã hội loài người cho đến nay có hai giai cấp và theo đó hai hệ tư tưởng đối lập nhau - tư sản và vô sản Về cơ bản, hai hệ tư tưởng này cũng đã hình thành nên hai hệ quan điểm đối lập về báo chí và quan niệm về báo chí

Trang 14

Theo quan điểm nổi trội nhất của giai cấp tư sản, báo chí là phương tiện thông tin - thông tin sự kiện, khách quan, độc lập và không phụ thuộc vào chính trị, không can dự vào cuộc đấu tranh giai cấp; báo chí độc lập với chính trị, là quyền lực thứ tư Trên thực tế, quan điểm này chỉ tồn tại trên lý thuyết Các thế lực chính trị bằng mọi cách chi phối báo chí - truyền thông như một công cụ hữu hiệu nhằm giành và giữ quyền lực chính trị Sức mạnh quyền lực chính trị và đồng tiền là hai công cụ chính yếu chi phối sức mạnh báo chí truyền thông

Theo quan điểm của giai cấp vô sản, báo chí là công cụ tuyên truyền, là phương tiện đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; báo chí là bộ phận không thể tách rời trong bộ máy tổ chức của Đảng Cộng sản; là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng Do đó, “cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa” Báo chí là công cụ thể hiện quyền lực chính trị Quan điểm này được hình thành từ thực tiễn hoạt động cách mạng của C.Mác, V.I Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ cộng sản

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, PGS.TS Nguyễn Văn Dững đã nhấn mạnh: “Thông tin là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của báo chí”

Bản chất của báo chí truyền thông là hoạt động thông tin - giao tiếp

xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối

xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực

và quốc tế [19, tr.61]

Khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống: Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu

Trang 15

thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là bộ phận cấu thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống

Từ góc độ lãnh đạo quản lý, tiếp cận từ quan điểm hệ thống, có thể nêu ra khái niệm báo chí bao gồm các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố ấy như sau:

Sơ đồ mô phỏng khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống [19, tr.62] 1.1.1.2 Phân loại báo chí

Báo chí được coi là những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kỳ, đều đặn

Theo nghĩa hẹp, báo chí được hiểu gồm báo và tạp chí; theo nghĩa rộng, gồm các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Ngày nay, với sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ và phương thức truyền thông đa dạng, báo chí gắn với truyền thông xã hội, mạng xã hội; giới báo chí

có thể được gọi chung là giới truyền thông Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin

Thực tiễn đời sống

Sản phẩm báo chí

Kênh chuyển tải

Công chúng báo chí

Các tổ chức kinh tế-

xã hội

Trang 16

về các sự kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng - nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định

1.1.2 Sức khỏe

Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1946 đã định nghĩa về sức khỏe: “Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái, thế là sức khỏe” [33, tr.212]

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới trong tuyên ngôn Alma Ata

năm 1978: “Sức khỏe là một trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh

thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật” [48, tr.1]

Dưới góc độ triết học, sức khỏe là một thuộc tính của sự sống và sức khỏe con người là thuộc tính của sự sống loài người Trong quan niệm của triết học phương Đông, sức khỏe là một thực thể gồm nhiều yếu tố tồn tại trong một trạng thái cân bằng động (con người luôn luôn hòa đồng với vũ trụ

và sức khỏe của con người là biểu hiện của sự cân bằng giữa âm và dương) Với Phật giáo, sức khỏe được xem là món quà lớn nhất của đời người Một trạng thái an lạc và khỏe mạnh của thân và tâm là tối cần thiết trong việc tập trung tư tưởng để tu tập Đối với triết học phương Tây, quan niệm cơ thể con người được cấu tạo bởi tế bào và mô Tế bào là đơn vị cấu trúc cơ bản nhỏ nhất của cơ thể con người được điều hòa bởi hệ thần kinh và hệ nội tiết để tạo nên những trạng thái cân bằng Qua đây có thể thấy, cả triết học phương Đông

và phương Tây đều quan niệm sức khỏe là trạng thái cân bằng

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: “CSSK nhằm duy trì và lúc cần thiết phục hồi được các khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân” [49, tr.522]

Kiến thức CSSK là những kiến thức liên quan đến các lĩnh vực CSSK

như phòng chống các loại dịch bệnh; sử dụng thuốc phòng chữa bệnh an toàn, hiệu quả, hợp lý; các dịch vụ y tế; các kỹ thuật cao trong y tế; các địa chỉ khám chữa bệnh; dinh dưỡng hợp lý, an toàn thực phẩm…

Trang 17

Thông tin sức khỏe có nhiều định nghĩa khác nhau theo nhiều cách quan

niệm, trong đó Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 cho rằng: “Thông tin sức khỏe đó là những thông tin về tình trạng thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội” [49, tr.12] Tuy nhiên dưới góc độ y tế công cộng, các chuyên gia về lĩnh vực này cho rằng, định nghĩa trên vẫn chưa đầy đủ Theo họ, thông tin sức khỏe ngoài các thông tin về thể trạng còn có một số thành phần khác trong sức khỏe con người đó là thông tin về dinh dưỡng, tinh thần và tri thức…

Thông tin về kiến thức CSSK là những thông tin liên quan đến việc cung

cấp các kiến thức về lĩnh vực CSSK như phòng, chống các loại dịch, bệnh; sử dụng thuốc phòng, chữa bệnh an toàn hiệu quả hợp lý; các dịch vụ y tế; các

kỹ thuật cao trong y tế… đến cộng đồng thông qua các kênh/hình thức thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp qua đó giúp họ hiểu hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe

Hành vi sức khỏe là những thói quen, việc làm của con người có ảnh

hưởng có lợi hoặc có hại đến sức khỏe Hành vi sức khỏe của con người được cấu thành bởi 4 thành tố: kiến thức, thái độ, niềm tin, thực hành

Sức khoẻ xã hội: Sự hoà nhập của cá nhân với cộng đồng được gọi là sức

khoẻ xã hội như câu nói của C.Mác: “Con người là sự tổng hoà các mối quan

hệ xã hội” Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội Càng hoà nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng

có sức khoẻ xã hội tốt và ngược lại Cơ sở của sức khoẻ xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; Là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội

Trang 18

Nó là sự thăng bằng, hài hoà của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người, là cơ sở quan trọng tạo nền tảng cho hạnh phúc con người

Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn về mặt giao tiếp xã hội,

tình cảm và tinh thần Nó được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh

Sức khoẻ thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và

thoải mái về thể chất Càng sảng khoái, thoải mái, càng chứng tỏ người đó khỏe mạnh Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái thể chất là: Sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường

1.1.3 Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe là việc mỗi người luôn làm cho cơ thể của mình được khỏe mạnh về thể chất và tinh thần Trách nhiệm bảo vệ, CSSK con người không chỉ là của mỗi cá nhân là còn là trách nhiệm của cộng đồng, của toàn thể xã hội thể hiện qua hệ thống y tế được không ngừng quan tâm đầu tư về trang thiết bị, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao để phục vụ nhu cầu về bảo vệ và CSSK ngày càng cao của nhân dân Bảo vệ, CSSK là một khái niệm rộng bao hàm nhiều yếu tố chăm sóc sức khỏe nhỏ như CSSK ban đầu, CSSK cộng đồng, CSSS theo giới, CSSK theo lứa tuổi, chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe tại nhà…

1.1.4 Phụ nữ, trẻ em

Khái niệm phụ nữ gồm những nét về mặt sinh học thuộc giống cái (phân biệt đối lập với giống đực) xét về mặt khoa học tự nhiên, nếu ở góc độ khoa học xã hội thì liên quan đến nam giới, nữ giới Về định nghĩa, từ phụ

nữ (woman, female) hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người Phụ nữ

Trang 19

thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn Bên cạnh đó, từ phụ nữ, đôi khi dùng

để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác

Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng thống nhất và đã được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước Liên hợp quốc

về quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976: “Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người” [47, tr.198] Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [37, tr.1]

1.2 Vai trò của báo chí trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em

Báo chí có vai trò, chức năng ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của báo chí Báo chí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xã hội Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú Phụ nữ và trẻ em là hai nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị ảnh hưởng khi môi trường sống, điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội có biến đổi tiêu cực hoặc khi có xuất hiện dịch bệnh mới

Do vậy, họ cần được thông tin một cách đầy đủ, nhanh chóng, chính xác và trung thực không chỉ về các dịch bệnh mà còn cả những chế độ, chính sách dành riêng cho mình để có thể tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

Trang 20

Báo chí không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, mà còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững Thông qua báo chí, các phương pháp điều trị mới, kiến thức phòng chống dịch bệnh hay các vấn đề về sức khỏe của phụ nữ và trẻ em không chỉ

ở trong nước mà còn trên cả thế giới được chia sẻ một cách rộng rãi

Báo chí có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ, CSSK cho phụ

nữ và trẻ em Nếu thiếu thông tin về sức khỏe, người dân sẽ đối mặt với những khó khăn như: thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không đúng về diễn tiến

và nguyên nhân gây ra bệnh; không biết tự chăm sóc cũng như phòng tránh bệnh tật; thường có sức khỏe kém vì bỏ qua các phương thức phòng tránh bệnh mà khoa học đã cống hiến; không chữa trị ổn định bệnh do đó dùng nhiều dịch vụ để chữa các biến chứng của bệnh và ít dùng dịch vụ để giảm thiểu các biến chứng; nhập viện nhiều hơn; thường tới phòng cấp cứu để chữa các bệnh thông thường thay vì tới bác sĩ gia đình, đưa tới gia tăng chi phí y tế; chỉ đi khám bệnh khi bệnh đã trở nên trầm trọng

Hình thức thông tin về sức khỏe trên báo chí cũng ngày càng phát triển

đa dạng Từ những dạng thức ban đầu như đọc bản tin sau đó phát triển thành phóng sự, từ tọa đàm được dàn dựng đến tọa đàm có sự giao lưu trực tiếp của khán giả tại trường quay, và hiện nay còn xuất hiện thêm hình thức cung cấp thông tin về sức khỏe qua các hình thức giải trí như đố vui, gameshow

Giải trí là nhu cầu ngày càng cao trong điều kiện kinh tế thị trường Đó

là quá trình báo chí tham gia và tạo điều kiện giúp công chúng sử dụng thời gian rỗi hợp lý, đáp ứng nhu cầu cân bằng trạng thái tâm lý để tái sản xuất sức lao động Trên các loại hình báo chí và các dạng thức truyền thông hiện đại ngày càng có nhiều phương thức giải trí thú vị và hữu ích, vừa đáp ứng nhu cầu giải trí vừa giúp nâng cao kiến thức Các chương trình truyền hình “bác sĩ

Trang 21

của bạn”, “sức khỏe của mẹ và bé”,… hiện cũng đang đan xen chức năng này thông qua hình thức đố vui cho khán giả tại trường quay hoặc tổ chức hẳn chương trình giải trí như “Vitamin” (Đài Truyền hình Hà Nội), “Sức khỏe vàng” (Đài Truyền hình TP.HCM HTV9) sau phần trả lời của người chơi là phần tư vấn của các bác sĩ chuyên ngành và chuyên gia tâm lý…

Một trong những phương tiện để tăng cường sự hiểu biết và cải thiện sức khỏe của phụ nữ và trẻ em là báo chí Báo chí có ít nhất 4 vai trò: Thu lượm tin tức về sức khỏe bệnh tật của phụ nữ và trẻ em; lọc lựa phân tích các tin tức cần thiết cho việc bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em; phổ biến tin tức có lợi trong việc bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em tới dân chúng đồng thời cũng tạo điều kiện để mọi người có thể đối thoại với nhau dù ở cách xa; cung cấp các kiến thức, thông điệp hành động, hướng dẫn thực hành về việc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em thông qua các hình thức giải trí (đố vui, gamshow, tiểu phẩm,…) để người dân có thể tiếp nhận một cách thoải mái, thư giãn

Trong thế kỷ vừa qua, sự tiến bộ của khoa học ngành y đã có nhiều thành tựu vượt bậc cả trong điều trị lẫn dự phòng các dịch, bệnh ở phụ nữ và trẻ em Tin tức về y khoa trở nên phong phú hơn nhưng cũng phức tạp, khó hiểu với các thuật ngữ mới về bệnh tật, các danh từ kỹ thuật về phương thức chẩn đoán khám chữa bệnh cũng như danh tính các tác nhân gây bệnh Nguồn cung cấp tin tức dữ kiện y tế khoa học cũng nhiều và dưới các hình thức khác nhau Trước thực tế trên, báo chí đã có nhiều cố gắng để nâng cao ý thức y tế, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của phụ nữ và trẻ em, thông qua việc cập nhật liên tục thông tin về tình hình dịch bệnh, thông tin y khoa, đa dạng các hình thức chuyển tải, cải tiến chuyên mục, giờ phát để phù hợp với đối tượng đích… Báo chí nâng cao ý thức y tế giúp mọi người sống lành mạnh hơn, bảo

vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em tốt hơn bằng cách chia sẻ gương điển hình, cách làm mới… Báo chí giúp nâng cao ý thức y tế trong phòng chống bệnh tật và

Trang 22

thay đổi những thói quen có hại cho sức khỏe phụ nữ và trẻ em, tập trung vào việc phòng bệnh, giúp cắt giảm chi phí chăm sóc điều trị cho cá nhân cũng như gia đình và ngân sách quốc gia Báo chí thúc đẩy quần chúng tự mình thay đổi nếp sống, áp dụng hành vi có lợi cho sức khỏe bằng những phản ảnh người thật, việc thật, lời khuyên của chuyên gia, giới thiệu nhiều mô hình phù hợp với từng nhóm đối tượng, phù hợp với phong tục, tập quán của từng vùng, miền hầu làm tăng cao hơn khả năng, cơ hội thực hành của người dân

Dù trong bất cứ lĩnh vực nào, báo chí cũng phải đảm bảo:

Tính đảng Báo chí Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta

không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam Vì thế, báo chí mang tính đảng cũng tức là báo chí phải hướng đến mục tiêu phục vụ lợi ích của đảng, giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Tính đảng của báo chí trong việc bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em là luôn chú trọng phổ biến, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị

và toàn xã hội về việc phải quan tâm, thực hiện đúng những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ

em Báo chí cũng phản ảnh việc tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách

đó ở cơ sở, góp phần biểu dương, nhân rộng những mô hình, điển hình Đồng thời, báo chí phải chủ động chống lại những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch trong vấn đề này

Tính nhân dân Báo chí luôn bám sát thực tiễn từ cơ sở trong việc phản ánh

những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em của các cấp, các ngành - nhất là ngành y tế, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, thú y, … Tính nhân dân ở đây còn là vai trò của báo chí trong việc góp phần tổ chức, động viên, cổ vũ các tầng lớp nhân dân cùng tham gia thực hiện việc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em như thông tin về những tổ chức, cá nhân quyên góp, ủng hộ xây dựng trạm y tế, bệnh

Trang 23

viện; bảo trợ, hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh cho người nghèo; chăm sóc trẻ em

mồ côi, lang thang, cơ nhỡ; tham gia phòng chống bạo hành phụ nữ, trẻ em; phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em - nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số …

Tính đại chúng Báo chí là một phương tiện truyền thông đại chúng nên nó

phải có tính đại chúng trong hoạt động thông tin, tuyên truyền về công tác bảo

vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em Tính đại chúng thể hiện ở chỗ phải viết, phải nói, phải thông tin sao cho đông đảo công chúng dễ đọc, dễ nghe, dễ hiểu, dễ làm theo Thông tin về công tác bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em phải gần gũi, thiết thực với đời sống, với diễn biến thực tế, sát sườn của địa phương, không xa vời, khó hiểu Văn phong, ngôn ngữ trên mặt báo phải giản dị, phù hợp với tâm

lý vùng miền, tâm lý dân tộc, giới tính, lứa tuổi của đối tượng độc giả mà báo chí hướng đến Những điển hình được nêu ra phải là những điển hình dễ làm theo, phù hợp với khả năng, gần gũi với cộng đồng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tạo được niềm tin, được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận

Tính nhân văn Báo chí chú trọng thông tin, tuyên truyền những việc làm,

những giá trị cao đẹp trong công tác bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em không chỉ hôm nay mà xem đó là truyền thống của dân tộc ta - yếu tố mang tính kế thừa Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng truyền thống đó được chúng ta phát huy lên một tầm cao mới Tính nhân văn của báo chí trong công tác này còn ở chỗ khơi gợi, cổ vũ những việc làm, những hành động cao cả, nhân ái của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cùng tham gia bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ

em Báo chí không chỉ tuyên truyền, thông tin những việc làm, hành động mang tính nhân văn trong nước mà còn của thế giới, luôn cổ vũ cho những giá trị nhân văn mang tầm thời đại cũng như sự liên kết, hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em Thúc đẩy cho tiến trình thực hiện những việc làm, hành động mang tính nhân văn nhanh chóng diễn ra và được ủng hộ rộng rãi

Trang 24

Tính chiến đấu Báo chí luôn đi đầu trong việc phát hiện, đấu tranh chống

lại những luận điệu sai trái, những hành động, việc làm của các tổ chức, cá nhân ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Đồng thời, báo chí cũng chủ động phát hiện và mạnh dạn phản ánh với Đảng và Nhà nước những tâm tư nguyện vọng, chính đáng của các cơ quan, tổ chức, người dân về những bất cập, thiếu sót trong các chủ trương, chính sách cũng như những yếu kém trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em Điều đó giúp các

cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước có thêm thông tin để sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp với thực tiễn và nguyện vọng của người dân

Tính khách quan, chân thật Đây là tính chất hàng đầu của báo chí, nhất là

báo chí cách mạng Báo chí phải phản ánh đúng sự thật, phản ánh khách quan, phản ánh đúng bản chất những vấn đề đã, đang diễn ra trong thực tiễn liên quan đến công tác bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em Khách quan, chân thật nhưng phải đảm bảo tính xây dựng, tính định hướng Nhà báo, cơ quan báo chí phải luôn đề cao trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân trong việc thông tin những vấn đề bức xúc trong bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em, qua đó góp phần làm cho các chủ trương, chính sách về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em của Đảng và Nhà nước ta ngày càng thấm sâu và phát huy tính hiệu quả trong đời sống xã hội

1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em

Chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em luôn được Nhà nước Việt Nam xác định là một trong những nhiệm vụ ưu tiên của công tác CSSK nhân dân Hàng loạt văn bản quan trọng được ban hành đã mang lại tác động tích cực đến sức khỏe phụ nữ và trẻ em Năm 1989, Luật Chăm sóc và Bảo vệ sức khỏe nhân dân ra đời, trong đó có chương về bảo vệ phụ nữ và trẻ em, Chiến lược quốc gia về Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, Chiến

Trang 25

lược quốc gia về Dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020, Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020, Kế hoạch hành động quốc gia về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Quốc hội có một ủy ban riêng chịu trách nhiệm

về các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề CSSK bà mẹ, trẻ em

1.3.1 Quan điểm của Đảng

Việc chăm lo sức khỏe cho nhân dân luôn được Đảng và Nhà nước ta xem là một trong những “quốc sách hàng đầu”

Nghị quyết số 04/NQ-HNTW của Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 14-01-1993 về “Những vấn đề cấp bách của

sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân” cũng đã nêu rõ:

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy chúng ta phấn đấu để mọi người đều được quan tâm CSSK Sự nghiệp CSSK là trách nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt [2, tr.1]

Chỉ thị 06-CT/TW ngày 22-01-2002 của Ban Bí thư trung ương đảng

về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, yêu cầu các cấp ủy đảng, ngành, đoàn thể quán triệt và thực hiện tốt những việc liên quan đến bảo

vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe của người dân: “Tăng cường phối hợp liên ngành, lồng ghép các chương trình, mục tiêu, đẩy mạnh các hoạt động TT-GDSK; huy động cộng đồng tích cực tham gia các hoạt động vệ sinh, phòng bệnh, CSSK, rèn luyện thân thể, tạo ra phong trào toàn dân vì sức khoẻ” [1, tr.1, 2]

Nghị quyết 46/NQ-BCT của Bộ Chính trị ban hành ngày 23-2-2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

đã đưa ra 7 nhiệm vụ và giải pháp Trong đó, Nghị quyết tiếp tục khẳng định:

Trang 26

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ [9, tr.1]

Từ ngày 05 đến ngày 12-01-2015, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã họp Hội nghị lần thứ X để thảo luận, thông qua các dự thảo văn kiện trình Ðại hội XII của Ðảng Trên cơ sở tính toán bước đầu, Trung ương thảo luận về một số chỉ tiêu quan trọng cần phấn đấu trong 5 năm tới, xác định 12 nhiệm vụ, giải pháp, riêng về y tế: “Phát triển sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, quản lý tốt sự phát triển xã hội”

1.3.2 Quan điểm của Nhà nước

Trên cơ sở hiểu một cách đúng đắn về sức khỏe, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác CSSK trong kháng chiến và kiến quốc: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”, “Dân cường thì quốc thịnh” Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người là vị trí trung tâm của mọi hoạt động và quyền được sống là quyền cao nhất của con người Khi được sống thì sức khỏe là yếu tố quan trọng nhất Chính vì vậy mà Người dạy chúng ta giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công Ðó chính là tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của sức khỏe và vị trí của công tác CSSK

Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân số 21/LCT/HĐNN8 được Quốc hội ban hành ngày 11-7-1989 đã khẳng định:

Trang 27

Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều

cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và được phục vụ về chuyên môn y tế Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp của toàn dân [36, tr.1]

Quyết định 35/2001/QĐ-TTG ngày 19-3-2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001 -

2010 với mục tiêu chung: “Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch

vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y

tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi” [44, tr.1]

Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10-01-2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã nhấn mạnh quan điểm:

Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của các

Bộ, ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn, kỹ thuật [46, tr.1] Nghị quyết 432/QĐ-TTg ngày 12-4-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nêu rõ:

Cần phải phát triển về số lượng và nâng cao chất lượng các dịch vụ

y tế, CSSK, bảo đảm an toàn thực phẩm, cải thiện điều kiện và vệ

Trang 28

sinh môi trường lao động Đẩy mạnh CSSK theo hướng toàn diện, chú trọng dự phòng tích cực và chủ động, khống chế kịp thời và kiểm soát tốt các dịch bệnh, sàng lọc phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh tật (…) Thiết lập hệ thống cung cấp các dịch vụ CSSK toàn diện, tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản và các dịch vụ CSSK ban đầu [45, tr.4]

Bên cạnh đó, Bộ Y tế cũng đề ra các Chiến lược truyền thông ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân Gần đây nhất

là Chương trình hành động truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn

2011-2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 1827/QĐ-BYT ngày 07-6-2011 của

Bộ trưởng Bộ Y tế) với mục tiêu chung: “Giúp người dân được tiếp cận đầy

đủ và sử dụng hiệu quả các dịch vụ TT-GDSK để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng” [15, tr.1] Chỉ thị 07/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 19-6-2014 về việc tăng cường công tác truyền thông, cung cấp thông tin y tế nhấn mạnh:

Công tác truyền thông, cung cấp thông tin y tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần định hướng dư luận xã hội về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, phổ biến kiến thức giúp người dân có nhận thức và hành vi đúng đắn, có lợi cho sức khỏe trong việc phòng, chống dịch, bệnh và nâng cao sức khỏe cá nhân, gia đình và cộng đồng [13, tr.1]

1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng báo chí với vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em

Đánh giá chất lượng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ

em trên báo in có thể xem xét trên ba mặt: nội dung, hình thức, hiệu quả

thông tin

Trang 29

1.4.1 Nội dung thông tin

Tính chính xác, đảm bảo độ tin cậy cao, gắn với sự kiện có thật Trong

hoạt động báo chí, không có sự kiện sẽ không có tin tức Sự kiện có thật trở thành tin tức khi sự kiện ấy có ý nghĩa xã hội và được con người nhận thức, tái hiện, loan báo trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác Tính chân thực của sự kiện có thật là tính chất có tính bản chất và cũng là tính chất căn bản nhất của tin tức báo chí Thông tin trên báo chí về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em phải là những thông tin chính xác, đảm bảo độ tin cậy

Tính mới mẻ Tính mới mẻ, là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên giá

trị của tin tức Báo chí thông báo sự kiện mới xảy ra, mới biết được hoặc xảy

ra đã lâu nhưng nay có ý nghĩa mới, có liên quan đến việc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em Như vậy, thông tin sự kiện gắn với yếu tố “mới” Cái “mới” này được đặt trong mục đích, nhu cầu và lợi ích do thông tin có thể đem lại Thông tin mới trong lĩnh vực này phải được cập nhật thường xuyên, liên tục

Tính kịp thời Đòi hỏi tác phẩm báo chí phải xuất hiện đúng lúc, đáp ứng

được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm đó Theo

PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí,:

Các tin tức dù rất chân thực và mới mẻ nhưng nếu không kịp thời chuyển tải đến người đọc người nghe thì cũng trở thành tin cũ, sẽ mất đi giá trị của mình Cho nên việc đăng tải các tin tức phải dùng tốc độ nhanh nhất có thể, trong thời gian ngắn nhất có thể, để đưa tin những sự vật hiện tượng vừa mới phát sinh hoặc đang trong quá trình xảy ra đến cho công chúng Tính kịp thời là điều kiện bên ngoài, đây là một tính chất căn bản của tin tức [19, tr.166]

Các nội dung trên báo chí về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em phải phản ánh đầy đủ, trung thực các vấn đề sức khỏe, tình hình dịch bệnh của địa phương, trong nước và quốc tế để độc giả nắm bắt thông tin, có thái độ và

Trang 30

hành vi phòng bệnh đúng đắn Thông tin kịp thời, đúng thời điểm về các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em, những thành tựu y học, các kỹ thuật điều trị mới, các ngày truyền thông theo chủ đề sức khỏe để người dân có cơ hội lựa chọn phương thức CSSK phù hợp cho mình

Tính độc đáo Tính độc đáo của thông tin đó là cái mới mà công chúng

chưa biết Điều này thể hiện rõ ở những tin, bài viết về những phát minh, phát hiện mới trong dự phòng, chăm sóc và điều trị bệnh, những dịch bệnh mới xuất hiện hay những dịch bệnh tuy đã có từ lâu nhưng mức độ nguy hiểm ngày càng tăng lên, có liên quan đến việc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em Nhưng cái mới không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo của thông tin Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, báo chí cũng có thể tái hiện thông tin

cũ đã bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn

sự kiện mới Tuy nhiên, dù sự kiện có thật, mới mẻ và có khả năng thông tin kịp thời nhưng nếu không phù hợp với lợi ích của việc bảo vệ, CSSK cho phụ

nữ và trẻ em thì quá trình thông tin khó xảy ra

Tính phong phú, đa dạng và nhiều chiều Nhu cầu thông tin, cũng như

đời sống tinh thần của con người, không chấp nhận sự đơn điệu, nghèo nàn Nhà báo phải bao quát, phản ánh để hướng tới phục vụ, thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu của các nhóm đối tượng cụ thể, trong thời gian cụ thể và có khả năng giúp họ nhận thức rõ ràng hơn, sâu sắc hơn về những gì đang diễn ra trong vấn đề bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em

1.4.2 Hình thức chuyển tải thông tin

1.4.2.1 Thành lập chuyên mục, chuyên trang

Không chỉ có nội dung mà cả hình thức cũng có tính quyết định tới hiệu quả truyền thông Trong lĩnh vực thông tin về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em trên báo in hiện nay, xu hướng thành lập chuyên mục, chuyên trang

Trang 31

đang diễn ra khá phổ biến Chuyên trang, chuyên mục tạo nên bản sắc của tờ báo, chúng tương đối ổn định về dung lượng và thời gian, phạm vi đề cập, hướng đến một lượng độc giả nhất định, tạo điều kiện cho độc giả tiện theo dõi các vấn đề mà họ quan tâm Các chuyên mục, chuyên trang cần được đăng tải định kỳ, cố định để tạo thói quen theo dõi thông tin của độc giả cũng như giúp họ dễ tìm kiếm thông tin Mỗi tờ báo nên duy trì vài chuyên mục về sức khỏe để người đọc dễ tìm, dễ tiếp nhận, không mất nhiều thời gian Tòa soạn thường xuyên phối hợp với ngành y tế nâng cao chất lượng tuyên truyền trên các chuyên trang, chuyên mục về sức khỏe Mời gọi các Cộng tác viên, các chuyên gia có kinh nghiệm tham gia viết bài, kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn để góp phần nâng cao tính hấp dẫn các chuyên trang, chuyên mục

1.4.2.2 Sử dụng đa dạng các thể loại báo chí

Theo tác giả Đinh Văn Hường, trong bài “ Một số vấn đề thể loại báo chí” quan niệm: “Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản thống nhất và tương đối ổn định các các bài báo, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị - tư tưởng nhất định” Phần giải thích từ ngữ của nghị định 51/2002/NĐCP ngày 26-4-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật báo chí, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật báo chí nói “Tác phẩm báo chí là tên gọi chung cho tất cả các thể loại tin, bài, ảnh, đã được đăng phát trên báo chí”

Mỗi thể loại báo chí (phóng sự, phỏng vấn, tường thuật, tin, …) có

ưu điểm riêng do vậy việc vận dụng đa dạng các thể loại trong việc truyền thông về sức khỏe sẽ mang lại hiệu quả tuyên truyền cao, tác động mạnh vào tình cảm, lý trí của người đọc thôi thúc họ hành động và hành động có hiệu quả

Trang 32

Thể loại báo chí là một trong những hiện tượng phức tạp của hoạt động báo chí Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, báo chí phản ánh thực tại khách quan thông qua các hình thức thể loại tương đối ổn định và những hình thức chưa ổn định Trong cuốn “Các thể loại báo chí thông tấn” của PGS.TS Đinh Văn Hường có nêu định nghĩa của Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô về thể loại: “Thể loại là khái quát hóa những đặc tính của một nhóm lớn các tác phẩm có cùng thuộc tính về nội dung, hình thức, cách thể hiện tác phẩm của một thời đại, một giai đoạn, một dân tộc hay một nền nghệ thuật thế giới” [28, tr.10] Cũng trong cuốn sách này, tác giả Đinh Văn Hường quan niệm: “Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các bài báo, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị - tư tưởng nhất định” [28, tr.42]

Cũng có người hiểu nội hàm thể loại như một kiểu tái hiện đời sống hiện thực, một cách tổ chức tác phẩm vừa mang tính quy luật loại hình, vừa vận động phát triển Một số người quan niệm, thể loại suy cho cùng là các phương pháp thu thập, xử lý tư liệu, hình thành tác phẩm về sự kiện, vấn đề, con người của đời sống xã hội nhằm đáp ứng hoạt động nghiệp vụ của nhà báo Thể loại tin xuất hiện rất thường xuyên trên các báo Nói đến tin là nói đến những thông điệp về các sự việc, sự kiện, hiện tượng trong đời sống Tuy nhiên, không phải sự kiện hay hiện tượng nào cũng trở thành tin tức Sự kiện

và hiện tượng đó phải mới, mang tính giáo dục cao và thu hút sự quan tâm của nhiều người

Theo cuốn “Các thể loại báo chí chính luận” của tác giả Trần Quang thì

“Trên báo chí Việt Nam hiện nay, thể loại bài phản ánh được sử dụng khá phổ biến và chiếm diện tích tương đối lớn trên các trang báo Có thể nói rằng, không một tờ báo nào thiếu vắng loại bài này” [35, tr.33] “Về đặc điểm, bài

Trang 33

phản ánh nghiên cứu một sự kiện hoặc một số sự kiện cùng dạng Bài phản ánh không chỉ mô tả mà còn phân tích và khái quát Có thể tìm thấy nhiều yếu

tố của các thể loại khác trong bài phản ánh Bài phản ánh có phạm vi nghiên cứu, phân tích tương đối hẹp” [35, tr.40] Đối tượng nhận thức và phản ánh của thể loại bài phản ánh là các sự kiện, vấn đề mang tính thời sự, có ý nghĩa đối với đời sống xã hội Lượng thông tin trong bài phản ánh giúp cho độc giả nhìn nhận sự kiện, vấn đề, hiện tượng một cách tổng thể như một bức tranh toàn cảnh Độc giả được thông tin, phân tích, giải thích và giải đáp những vấn

đề phức tạp một cách sâu sắc

Theo cuốn “Các thể loại báo chí thông tấn” của PGS.TS Đinh Văn Hường: “Phỏng vấn là một trong những thể loại thuộc nhóm các thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hội quan tâm, có ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định, được đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng” [28, tr.417]

Thể loại phỏng vấn trực tiếp thể hiện quyền được thông tin của độc giả

và tính dân chủ của báo chí, giải đáp các vấn đề, sự kiện gây bức xúc trong dư luận xã hội một cách trực tiếp, chân thực, khách quan Đây là thể loại nhanh nhạy, năng động, sinh động, hấp dẫn với bạn đọc

1.4.2.3 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ thông tin bao gồm ngôn ngữ văn tự và ngôn ngữ phi văn tự Đối với ngôn ngữ văn tự, trước tiên phải đáp ứng tính đại chúng vì tính đại chúng giúp cho độc giả nhận thức nội dung tác phẩm tương ứng với ý đồ tác giả Để đạt yêu cầu này, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (cách viết, cách thể hiện ) phải được độc giả nhận thức đầy đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng người đọc không hiểu được tác phẩm

Trang 34

Tùy theo đặc điểm từng địa phương, vùng miền, dân tộc đang sinh sống tại địa phương, vùng miền đó mà trong cách viết, cách nói, trong ghi nhận hình ảnh, báo chí phải làm sao cho các đối tượng chủ yếu là người dân không

có kiến thức chuyên môn về y tế cũng có thể dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ làm theo Nếu không đạt được tính đại chúng thì dù có đạt được tính độc đáo, mới lạ bài viết cũng sẽ không đạt được tính hiệu quả, thậm chí còn bị phản tác dụng Đảm bảo được tính đại chúng, sẽ tạo được niềm tin ở độc giả và như thế sẽ dễ phát huy và nâng cao hiệu quả, chất lượng tuyên truyền

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của mình về tính đại chúng của thông tin Đó là cách viết Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì? Viết cho ai? Viết cái gì? Cách viết thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích

Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng Viết phải gọn gàng, vắn tắt, nhưng phải có đầu có đuôi, viết phải thiết thực, chớ ham dùng chữ”

Diện mạo báo chí thế giới nói chung và báo in Việt Nam nói riêng đang trong xu thế biến đổi về ngôn ngữ truyền thông nhằm mục đích đưa thông tin đến độc giả một cách tốt nhất và lấy đi ít nhất thời gian của họ Chính vì thế ngôn ngữ phi văn tự cũng cần được quan tâm như ngôn ngữ văn tự Theo PGS TS Vũ Quang Hào, ngôn ngữ phi văn tự thể hiện qua khổ báo để độc giả có thể đọc trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ngoài ra, mẫu mã, hình thức trình bày đòi hỏi phải bắt mắt Một trong những yếu tố để bắt mắt độc giả là hình ảnh Như vậy, việc phát huy ngôn ngữ hình ảnh, đồ họa, biểu đồ, biểu bảng,… cũng là một trong những ngôn ngữ chuyển tải thông tin một cách hữu hiệu, và giảm thiểu ngôn ngữ in Ngôn ngữ hình ảnh, biểu đồ, đồ họa sẽ thu hút độc giả hơn, giúp độc giả tiếp nhận thông tin nhanh, dễ hiểu, dễ nhớ, ấn tượng

Trang 35

Chất lượng của việc sử dụng ngôn ngữ phi văn tự của tờ báo phải thể hiện được rằng hình ảnh, đồ họa, không còn là thứ ngôn ngữ phụ trợ cho chữ

in như trong báo chí truyền thống mà chúng chính là ngôn ngữ cấu thành, song hành cùng chữ in

1.4.3 Hiệu quả thông tin

Hiệu quả thông tin góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn cho công chúng về những mục tiêu chung trong lĩnh vực CSSK, nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em

Hiệu quả thông tin thể hiện qua sự tự giác thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của mỗi cá nhân, gia đình, xã hội trong việc bảo vệ, CSSK phụ nữ và trẻ em Hiệu quả thông tin thể hiện qua việc tạo được dư luận xã hội đồng thuận để các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và mỗi người dân quan tâm, ủng hộ, cổ vũ, chia sẻ, giúp cho phụ nữ và trẻ em dễ dàng thực hiện và duy trì được những hành vi có lợi cho sức khỏe của mình

Hiệu quả thông tin thể hiện qua sự đồng thuận, tham gia, tăng cường niềm tin của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân vào những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, thể hiện qua việc cùng nhau phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu công tác CSSK cho phụ nữ và trẻ em, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần của hai nhóm đối tượng này

Tiểu kết chương 1

Bệnh tật là cái bẫy của nghèo đói Bệnh tật làm gia tăng các gánh nặng

về kinh tế không chỉ của riêng bản thân người bệnh mà còn cho cả gia đình và

xã hội Một vùng cộng đồng để nhiều bệnh tật và nghèo đói thì khó có thể phát triển được kinh tế - xã hội Trong khi đó, nhiều loại bệnh tật có thể phòng tránh nếu người dân được cung cấp kiến thức và được hướng dẫn cách thức phòng bệnh Phụ nữ và trẻ em là hai nhóm đối tượng rất dễ bị tổn thương

Trang 36

về sức khỏe do vậy cần phải được quan tâm bảo vệ, chăm sóc đặc biệt Điều này cũng được thể hiện rõ qua các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Trong thời đại ngày nay, báo chí đã tạo ra những liên minh mới nhằm thúc đẩy hoạt động chăm sóc sức khỏe Báo chí đã xây dựng được những liên minh cộng tác giữa giới truyền thông với cộng đồng, với các cấp ủy Đảng và chính quyền, với các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội trong công cuộc bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em Báo chí có vai trò rất tích cực trong việc truyền tải các thông điệp về lĩnh vực này đến đông đảo quần chúng nhân dân, vận động nhân dân cùng phối hợp với ngành y tế và toàn thể xã hội tham gia bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em

Đối với báo in của ba tỉnh Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng, ở những chương tiếp theo, tác giả luận văn sẽ đi vào phân tích cụ thể về nội dung và hình thức ba tờ báo này, từ đó tìm ra ưu điểm, nhược điểm, thành công và hạn chế của

ba tờ báo trong công tác bảo vệ, CSSK cho phụ nữ và trẻ em

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO IN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHỎE

CHO PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM HIỆN NAY

2.1 Vài nét về các báo khảo sát

Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành Đây là vùng đất sản xuất lương thực, thủy sản, cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất cả nước và cũng là vùng đất có hệ thống báo chí địa phương từng bước phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng trong những năm gần đây Hiện nay, hệ thống báo in ở các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long có 13 tờ báo gồm: báo Long An, báo Ấp Bắc (Tiền Giang), báo Đồng Tháp, báo Đồng Khởi (Bến Tre), báo Vĩnh Long, báo Trà Vinh, báo An Giang, báo Kiên Giang, báo Hậu Giang, báo Sóc Trăng, báo Bạc Liêu, báo Cà Mau và báo Cần Thơ

Cũng như báo in của nhiều địa phương khác trong cả nước, nội dung tuyên truyền của báo in ở vùng ĐBSCL nhằm thực hiện tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân, đồng thời là cầu nối thông tin giữa Đảng, chính quyền với nhân dân địa phương Những năm gần đây, sự phát triển về kinh tế - xã hội của địa phương, xu thế hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng, các loại hình báo chí cũng phát triển nhanh

về số lượng, đa dạng và phong phú về loại hình, đặc biệt với sự xuất hiện của các thể loại báo chí như báo mạng điện tử, phát thanh, truyền hình giúp cho công chúng có nhiều sự chọn lựa kênh truyền thông đại chúng để thỏa mãn nhu cầu về thông tin, giải trí đã đặt ra cho báo in các tỉnh, thành vùng ĐBSCL nhiều thách thức, khó khăn hơn trong hoạt động của mình Yêu cầu đặt ra là cùng với việc cải tiến về hình thức thể hiện phải thường xuyên đổi mới về nội dung nhằm hướng tờ báo đến gần hơn với độc giả

Trang 38

Về cơ cấu tổ chức, hầu hết các báo in khu vực ĐBSCL có cấu trúc bộ máy tổ chức gần giống nhau theo Quy định số 338-QĐ/TW ngày 26-11-2010 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan báo của đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Về hình thức, cả 3 tờ báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng đều in khổ giấy A3, 12 trang, 2 màu đen và trắng, trang bìa in màu Báo Sóc Trăng còn có phụ bản bằng tiếng Khmer Ngoài tờ báo in xuất bản định kỳ, 3 báo đều có báo mạng điện tử Các báo đều có chuyên trang, chuyên mục về sức

khỏe với nhiều tên gọi như: “Sức khỏe cộng đồng”, “Y tế”, “Dân

số-KHHGĐ”, “Sức khỏe và đời sống”, “Dân số và phát triển”, “Vì trẻ em”,

“Sức khỏe cho mọi người”, …

Bảng 2.1: Tóm tắt vài nét về các báo Long An, Kiên Giang và Sóc Trăng

- Hình thức phát hành Bưu điện Bưu điện Bưu điện

- Ấn phẩm khác Nguyệt san Nguyệt san Không có

2.2 Nội dung thông tin về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em trên báo in đồng bằng sông Cửu Long

2.2.1 Bối cảnh, phạm vi, khu vực tin, bài về vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em

Hàng năm, Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe trung ương đều

có định hướng các ngày truyền thông trong năm về các vấn đề sức khỏe cho

hệ thống các đơn vị làm công tác truyền thông của ngành y tế Bên cạnh đó, tùy theo tình hình dịch bệnh hoặc các vấn đề sức khỏe phát sinh trong năm mà các địa phương còn có kế hoạch truyền thông cho người dân Các phương tiện

Trang 39

truyền thông đại chúng cũng đồng loạt truyền thông về những ngày này

Trong năm 2014, có các chiến dịch truyền thông về bảo vệ, CSSK cho phụ nữ như: Chiến dịch tăng cường tuyên truyền, vận động lồng ghép cung cấp dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ đợt 1 (tháng 3-4), đợt 2 (tháng 9-10); Tuần lễ nuôi con bằng sữa mẹ (1-7 tháng 8); Tháng cao điểm phòng lây truyền HIV từ

mẹ sang con (tháng 6); Ngày thế giới phòng chống AIDS và tháng hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS (tháng 12); Tuần lễ dinh dưỡng và phát triển (16-23 tháng 10); Chiến dịch truyền thông hưởng ứng ngày dân số thế giới và ngày dân số Việt Nam (26/12)

Trong năm 2014, có các chiến dịch truyền thông về bảo vệ, CSSK trẻ em như: Các bệnh theo mùa: tay chân miệng (cao điểm vào tháng 3-5 và tháng 9-12), sởi, sốt xuất huyết (tháng 6-11) Các ngày truyền thông: Tiêm ngừa (theo lịch tiêm chủng trong chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi); Ngày vi chất dinh dưỡng (đợt 1 ngày 01-02 tháng 6, đợt 2 vào tháng 12); Ngày ASEAN phòng chống sốt xuất huyết (10-15 tháng 6); Chiến dịch diệt lăng quăng phòng bệnh sốt xuất huyết (vào tháng 6, 8, 9); Tuần lễ dinh dưỡng

và phát triển (16-23 tháng 10); Tuần lễ nuôi con bằng sữa mẹ (1-7 tháng 8) Bên cạnh đó còn các đợt truyền thông đột xuất phòng chống dịch bệnh khi có sự đe dọa sức khỏe trẻ em: Chiến dịch tiêm vét sởi (tháng 4); Ba đợt tiêm ngừa Sởi-Rubella trên toàn quốc (tháng 10, tháng 11 và tháng 12); Chiến dịch truyền phòng chống bệnh sởi và tay chân miệng (tháng 11 và tháng 12); Chiến dịch tiêm ngừa bệnh viêm não Nhật Bản (tháng 7 và 8)

Các phương tiện TTĐC tập trung tuyên truyền dịch bệnh bằng nhiều hình thức: đài phát thanh - truyền hình ngoài việc thường xuyên cập nhật tình hình dịch bệnh trong tỉnh và cả nước trong các bản tin thời sự mỗi ngày còn thực hiện các phóng sự, tọa đàm, phát thanh trên các chuyên mục như “sức khỏe là vàng”, “bác sĩ của bạn”, “thường thức và cuộc sống”, “điều bạn quan

Trang 40

tâm”, “nhịp cầu bạn trẻ” … thu hút được sự quan tâm rộng rãi của dư luận xã hội Trên báo in, ngoài thông tin trên mục tin hoạt động còn có nhiều bài viết, chuyên trang về các chủ đề sức khỏe trẻ em, phụ nữ tác giả không chỉ có phóng viên mà còn xuất hiện nhiều bài viết của những chuyên gia y tế

Đối với lĩnh vực CSSK phụ nữ, nội dung thông tin tập trung vào việc hướng dẫn cách chăm sóc SKSS; các biện pháp KHHGĐ Ở trẻ em, nội dung chủ yếu hướng dẫn người dân nhận biết các dấu hiệu của bệnh, cách phòng tránh, cách chăm sóc trẻ bệnh Đối với chủ đề tiêm chủng ở trẻ, tập trung vào lợi ích của việc tiêm chủng đầy đủ, các phản ứng phụ sau tiêm, cách xử trí khi trẻ có các phản ứng phụ… Đây là một trong những chủ đề nóng xuất hiện tương đối nhiều trên các phương tiện TTĐC trong năm 2014 khi ngành y tế ở một số tỉnh có nhiều sai sót trong quá trình tiêm chủng như tiêm nhằm nước cất cho trẻ thay cho vắc-xin ngừa bệnh sởi-rubella, vụ một số trẻ tử vong sau khi tiêm ngừa vắc-xin 5 trong 1, việc đã tổ chức nhiều chiến dịch tiêm ngừa nhưng số ca mắc sởi ở trẻ vẫn không ngừng tăng, …

Khách mời của các chuyên mục, chương trình không chỉ là các bác sĩ, cán bộ quản lý ngành y tế ở địa phương mà còn mở rộng đến cả các bác sĩ, chuyên gia y tế trong và ngoài nước (Tổ chức Y tế Thế giới, các tổ chức phi chính phủ), cán bộ quản lý cấp Trung ương xuất hiện trong các chuyên mục thời sự, dân hỏi Bộ trưởng trả lời, đối thoại chính sách, …

Theo khảo sát, trong năm 2014, những vấn đề về sức khỏe của trẻ em xuất hiện với tần suất cao hơn những vấn đề về sức khỏe phụ nữ trên ba báo khảo sát Điều này là do trẻ em không thể tự chăm sóc sức khỏe của mình mà cần có sự hỗ trợ của người lớn Do vậy, các báo đã tăng cường thông tin về bảo vệ, CSSK cho trẻ em để đáp ứng nhu cầu của độc giả, đa

số tập trung thông tin các dịch bệnh, vấn đề sức khỏe thường gặp ở trẻ dưới

5 tuổi

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w