1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân cách hồ chí minh với vấn đề xây dựng nhân cách sinh viên việt nam hiện nay

108 16 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 886,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN THỊ NHUNG NHÂN CÁCH HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM

Trang 1

NHÂN CÁCH HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ

XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN THỊ NHUNG

NHÂN CÁCH HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ

XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM

HIỆN NAY

Ngành : Hồ Chí Minh học

Mã số : 60 31 02 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Văn Thị Thanh Mai

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm

luận văn thạc sĩ

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Trương Ngọc Nam

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Văn Thị Thanh Mai Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Nhung

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới

TS Văn Thị Thanh Mai, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là lãnh đạo Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Trần Thị Nhung

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thực trạng niềm tin, lý tưởng sinh viên Việt Nam hiện nay 66 Bảng 2.2 : Phẩm chất đạo đức của sinh viên Việt Nam hiện nay 67 Bảng 2.3: Hoạt động học tập của sinh viên (%) 69 Bảng 2.4: Mức độ quan tâm của sinh viên đối với một số vấn đề trong cuộc sống 75

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: HỒ CHÍ MINH – MỘT NHÂN CÁCH CAO ĐẸP 13

1.1 Các khái niệm liên quan 131.2 Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh 261.3 Tầm quan trọng của việc xây dựng nhân cách Hồ Chí Minh đến việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay 38

Chương 2: GIÁ TRỊ NHÂN CÁCH HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 53

2.1 Đặc điểm sinh viên Việt Nam và những yếu tố tác động đến việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay theo nhân cách Hồ Chí Minh 532.2 Thực trạng nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 622.3 Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị nhân cách Hồ Chí Minh trong xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay 78

KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 TÓM TẮT LUẬN VĂN 101

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất Cuộc đời và hoạt động của Người là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp nhất của dân tộc và giá trị của toàn nhân loại, đó là trí tuệ và đức tính khiêm tốn, tài năng và tính giản dị, được thẩm thấu, kết tinh trong chính nhân cách cao đẹp của Người Đồng thời, nhân cách Hồ Chí Minh còn là nhân cách của một lãnh tụ chính trị vĩ đại và tiêu biểu Người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình phát triển của nhân loại thế kỷ XX, góp phần làm phong phú những giá trị chung của loài người

Hồ Chí Minh hiện thân của một nhân cách lớn Người ra đi tìm con đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam; song trong cuộc đời cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh quang của Người, tấm gương đạo đức của một người suốt đời đã sống và hoạt động vì một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc,

ai cũng được học hành; đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết đã hấp dẫn hết thảy mọi người Tư tưởng vì dân, lấy dân làm gốc, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy

vũ không khuất phục”… không chỉ là quan điểm nhân văn, là cốt cách làm người của Người mà còn là một quan điểm xuyên suốt trong mọi đường lối, chiến lược, sách lược chính trị, trở thành triết lý nhân sinh và hành động của Người Tất cả đều vì sự phát triển con người, xóa bỏ tha hóa, trả lại cho con người phẩm chất, phẩm giá làm người, giải phóng toàn bộ tiềm năng thể chất, trí tuệ, tài năng sáng tạo của con người; tạo mọi điều kiện cho con người phát triển toàn diện, hài hòa: Đức - Trí - Thể - Mỹ, vươn tới sự hoàn thiện nhân cách là nét đặc sắc trong nhân cách Hồ Chí Minh

Trang 9

Với tinh thần đó, nhân cách Hồ Chí Minh có tác động to lớn đến việc giáo dục nhân cách thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước, mùa xuân của nhân loại, trong đó có sinh viên Người luôn dành sự quan tâm, chăm sóc và tạo điều kiện để thanh niên, trong đó có sinh viên được học tập, phấn đấu, rèn luyện bởi Người tin tưởng rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [69, tr 126] Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước

ta đã luôn xác định và chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng cho thanh niên để họ thực

sự là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay đã tác động không nhỏ đến thế hệ thanh niên, đặc biệt đối với sinh viên Việt Nam Kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng, đa số sinh viên Việt Nam sống có lý tưởng, có hoài bão, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có năng lực làm chủ, có khả năng tiếp thu khoa học - kỹ thuật một cách sáng tạo,

có khả năng đóng vai trò xung kích, tiên phong trên mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội, không ngừng thi đua rèn đức luyện tài vì ngày mai lập nghiệp

Bên cạnh đó, do tác động của kinh tế thị trường, một bộ phận không nhỏ sinh viên còn mơ hồ trong nhận thức, thờ ơ với những vấn đề chính trị, xã hội của đất nước, dễ dao động, có biểu hiện lệch lạc về giá trị đạo đức và lối sống,

đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội Trong khi đó, môi trường sống tự nhiên, áp lực trong học tập và những vấn đề của xã hội hiện đại đã và đang hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí và rèn luyện của sinh viên Nhiều tác

Trang 10

động của mặt trái kinh tế thị trường cũng tác động xấu đến bộ phận sinh viên, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thanh niên và sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước Vì vậy, để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm giáo dục, bồi dưỡng thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng thành những con người mới xã hội chủ nghĩa đủ đức, đủ tài, xây dựng nhân cách để

họ xứng đáng với vai trò chủ nhân đất nước trong tương lai Chính vì lẽ đó, việc xây dựng, bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách sinh viên, góp phần xây dựng những thế hệ sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong đợi là một vấn đề cấp thiết

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nhân cách Hồ Chí Minh với vấn

đề xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn

của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức ghi vào Cương lĩnh: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”

Kể từ đó, việc nghiên cứu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở nước ta

đã được đẩy mạnh và đạt được những thành tựu quan trọng Ngày 07/11/2006,

Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW về triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Đây là một chủ trương vừa mang tính cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sau 4 năm thực hiện Cuộc vận động, nhận thức về các nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh cũng như tấm gương đạo đức trong sáng của Người được nâng lên rõ rệt trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Những giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh được cả xã hội thừa nhận, có tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của nhiều người Qua thực tế triển khai Cuộc vận động, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó có thế hệ trẻ Việt Nam đã nhận thức rõ hơn việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là công việc thiết thực với mỗi

Trang 11

người, đem lại lợi ích cho mình, cho gia đình, quê hương, đất nước Nhiều người đã thấy rõ hơn cuộc vận động về đạo đức không thể là một phong trào, làm một lần là xong mà phải kiên trì, tiến hành lâu dài, phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, trước hết là trong Đảng, để có tác động sâu rộng trong xã hội

Trước yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới, đáp ứng tình hình và nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Từ đó đến nay, việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân nhiệt tình hưởng ứng với sự đồng tình và nhất trí cao, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giá trị

to lớn về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đó là cơ sở quan trọng và cần thiết để mỗi người tự giác học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Người

Xác định tầm quan trọng của việc nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, hàng loạt các đề tài và công trình nghiên cứu về

tư tưởng Hồ Chí Minh đã được triển khai và công bố trong thời gian qua Tuy nhiên, số công trình nghiên cứu về nhân cách Hồ Chí Minh nói chung không nhiều và việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay theo nhân cách

Hồ Chí Minh chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể Liên quan đến nội dung của luận văn, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo và các luận văn quan trọng được công bố như:

2.1 Một số công trình nghiên cứu về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh

- Giáo dục nhân cách đào tạo nhân lực của Phạm Minh Hạc, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Tác giả đã tìm hiểu con đường hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh và giá trị nhân cách Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay; làm rõ những vấn đề thuộc về nhân cách Hồ

Trang 12

Chí Minh, tầm ảnh hưởng của nhân cách Hồ Chí Minh đối với cuộc sống hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới

- Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách của Lê Đức Phúc (chủ biên),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Công trình đã phân tích vấn đề nhân cách dưới góc độ tâm lý học và trình bày một số vấn đề lý luận, thực tiễn về những mặt chủ yếu trong cấu trúc nhân cách như: nhu cầu, động cơ, thái độ, ý thức… cũng như cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu nhân cách

- Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay của Đào Thị Oanh (chủ

biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 Tác giả đã sơ lược lịch sử nghiên cứu nhân cách; lý luận về nhân cách và hình thành, phát triển nhân cách trong tâm

lý học hiện nay Nhận xét về xu hướng phát triển và những vấn đề chung, cụ thể trong nghiên cứu nhân cách

- Giáo dục nhân cách: Vững bước vào đời của Thái Lễ Húc, Nxb

Phương Đông, Cà Mau, 2012 Cuốn sách ghi lại những mẩu chuyện mang ý nghĩa giáo dục đạo đức trong gia đình, nhà trường và xã hội nhằm hướng dẫn các thế hệ trẻ phân biệt được tốt, xấu, phải, trái, dám nhận trách nhiệm góp phần hình thành nhân cách tốt cho thế hệ thanh thiếu niên

- Hồ Chí Minh – Một nhân cách hoàn hảo của Phạm Việt Anh, Nguyễn

Thị Dung, Nguyễn Văn Khoan (bổ sung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2007 Cuốn sách đã giới thiệu những trang cảm tưởng của bạn bè năm châu

và các nhà lãnh đạo trên thế giới về Hồ Chí Minh – người khởi xướng những cuộc đấu tranh cho tự do trong thế giới thuộc địa, biểu tượng của sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông - Tây, nhà tư tưởng, một chiến sĩ quốc tế, sứ giả của hòa bình và hữu nghị, một nhân cách hoàn hảo, một hình mẫu về con người mới của tương lai

- Nhân cách Hồ Chí Minh, của Tạ Hữu Yên (sưu tầm, biên soạn), Nxb

Thanh niên, Hà Nội, 2008 Tác giả cuốn sách đã tập hợp những lời phát biểu của các chính khách, nhà nghiên cứu nước ngoài bàn về nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khởi xướng những cuộc đấu tranh cho tự do trong

Trang 13

thế giới thuộc địa, biểu tượng của sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông - Tây, chiến sĩ quốc tế, sứ giả của hòa bình và hữu nghị

- Hồ Chí Minh – Sự hình thành một nhân cách lớn của Trần Thái Bình,

Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005 Tác giả đã nghiên cứu về quá trình hình thành nhân cách lớn Hồ Chí Minh từ hoàn cảnh khách quan, thiên thời, địa lợi, nhân hòa đến những nỗ lực, tu dưỡng, sáng tạo của bản thân Người, tạo thành một phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách diễn đạt và phong cách sinh hoạt mang tên Hồ Chí Minh

- Hồ Chí Minh – Một nhân cách vĩ đại, của Nguyễn Thị Định, Việt Huy,

Thủy Xuân (đồng chủ biên), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009 Nội dung cuốn sách kể về những câu chuyện cảm động, ghi lại những kỷ niệm sâu sắc của những người đã vinh dự được sống gần Bác và được gặp Bác

- Nhân cách Hồ Chí Minh của Mạch Quang Thắng, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2010 với nội dung tìm hiểu về con đường hình thành, phát triển hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh và giá trị nhân cách Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay Làm rõ những vấn đề về nhân cách Hồ Chí Minh, tầm ảnh hưởng của nhân cách Hồ Chí Minh đối với cuộc sống hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới Những luận giải của tác giả giúp tôi cách nhìn khá toàn diện về nhân cách của lãnh tụ Hồ Chí Minh

Những công trình nêu trên đã giúp tác giả hiểu rõ hơn về phẩm chất đạo đức, phong cách, bản lĩnh và trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua đó, có thể

kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước trong quá trình triển khai luận văn

2.2 Một số công trình nghiên cứu về nhân cách sinh viên

- Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên của

Hoàng Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 Nội dung cuốn sách gồm các bài viết trình bày những vấn đề nhân cách, nhân cách sinh viên; thực trạng sinh viên Việt Nam và vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên

Trang 14

- Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay của Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Cuốn sách phân tích tầm quan trọng

và nội dung giáo dục đạo đức mới cho sinh viên, đồng thời khái quát thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc giáo dục đạo đức mới cho sinh viên Trên cơ sở đó, cuốn sách bước đầu đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Như vậy, tác giả của cuốn sách chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu về đạo đức, những tác động ảnh hưởng đến việc hình thành đạo đức mới cho sinh viên

- Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách

sinh viên Việt Nam hiện nay của Lương Gia Ban, Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ

biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Tác giả đã phân tích tầm quan trọng và nội dung phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng nhân cách sinh viên, đồng thời khái quát thực trạng, những vấn đề đặt ra

và đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy tốt những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay

- Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhân cách sinh

viên Việt Nam hiện nay của Lương Gia Ban, Hoàng Trang (đồng chủ biên),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức, cơ sở của sự hình thành và những nội dung cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, giá trị lâu dài của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả đề cập tầm quan trọng, những thuận lợi, khó khăn trong giáo dục chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, đồng thời đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm xây dựng nhân cách mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay

- Giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc với việc hình

thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay của Bùi Thanh

Thủy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015 Tác giả cuốn sách đã trình bày các vấn đề lý luận về giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc

Trang 15

với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam Thực trạng, giải pháp phát huy vai trò giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc với việc hình thành, phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay

“Con người Hồ Chí Minh và tâm lý học nhân cách” của Hoàng Anh,

Tạp chí Tâm lý học, số 3, 2002; “Cách tiếp cận nghiên cứu tâm lý học nhân cách” của Phạm Minh Hạc, Tạp chí Tâm lý học, số 2,3,4, 2004; “Lối sống theo nhân cách Hồ Chí Minh” của Lê Văn, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, số 1, 2004;

“Nhân cách Hồ Chí Minh – những giá trị thiết yếu trong hệ giá trị Việt Nam” của Phạm Minh Hạc, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 6, 2008; “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh một nhân cách lớn” của Đặng Hòa, Tạp chí Tia sáng, số

17, 2007; “Quan hệ giữa người – người, giá trị quan trọng nhất trong nhân

cách” của Phạm Minh Hạc, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5, 2008

Các bài tạp chí kể trên đã phác họa những nét cơ bản nhất về nhân cách, nhân cách Hồ Chí Minh trên cơ sở tâm lý học, những giá trị thiết yếu trong hệ giá trị của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, nội dung của các bài vẫn chưa khái quát được đặc trưng trong nhân cách Hồ Chí Minh và chưa vận dụng vào một hay nhiều đối tượng cụ thể nào đó

- Thực trạng tâm lý xã hội của sinh viên và vấn đề giáo dục nhân cách

cho sinh viên ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Lê Diệp Đĩnh,

bảo vệ năm 1995 Tác giả đã làm rõ những yếu tố tác động đến sự hình thành tâm lý xã hội của sinh viên; nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế của đạo đức, lối sống sinh viên; từ đó đặt ra yêu cầu cần phải giáo dục nhân cách đối với sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh

viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học của Trần

Sỹ Phán, bảo vệ năm 1999 Tác giả đã làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển nhân cách, từ đó làm nổi bật vai trò của giáo dục đạo đức; tìm hiểu vạch ra nét đặc thù của mối quan hệ giữa giáo dục đạo đức với sự hình thành, phát triển nhân cách sinh viên; đề xuất một số phương

Trang 16

hướng, giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên

- Vai trò của đạo đức với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam

trong điều kiện đổi mới hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học của Lê Thị Thủy,

bảo vệ năm 2000 Tác giả đã làm sáng tỏ mối quan hệ nội tại giữa đạo đức và nhân cách làm cơ sở khoa học để luận giải vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới; khai thác vai trò của đạo đức như một yếu tố đối với hệ thống trong cấu trúc nhân cách; đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của đạo đức trong việc tạo dựng nhân cách phát triển hài hòa và toàn diện cho con người Việt Nam

- Giáo dục lý luận Mác – Lênin với việc hình thành và phát triển nhân

cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận án

Tiến sĩ Triết học của Hoàng Anh, bảo vệ năm 2006 Tác giả đã trình bày vai trò

và tình hình giáo dục lý luận Mác – Lênin trong việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lý luận Mác – Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay

- Xây dựng nhân cách sinh viên sư phạm phục vụ việc đào tạo nguồn

nhân lực tỉnh Khánh Hòa, Luận án Tiến sĩ Triết học của Vũ Thị Kim Oanh,

bảo vệ năm 2012 Luận án đề cập tới một số vấn đề lý luận chung về nhân cách và tiêu chí nhân cách sinh viên sư phạm, trình bày thực trạng, phương hướng và một số giải pháp cơ bản để xây dựng nhân cách sinh viên tỉnh Khánh Hòa hiện nay

Tuy là chưa đầy đủ, song trong các công trình kể trên, phần lớn các tác giả

đã khái quát hóa hệ thống lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách nói chung; các luận văn thì đã đề cập đến giá trị thực tiễn khi vận dụng đạo đức, giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh vào một địa phương, đối tượng nào đó Các công trình này nghiên cứu ở mỗi phạm vi khác nhau, hoặc chỉ đi vào nghiên cứu một nội

Trang 17

dung hay một vấn đề nào đó… đã giúp tác giả có thêm những kiến thức liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn

Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu mà tác giả đề cập trên đây

đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau về nhân cách Hồ Chí Minh, đã kiến giải

về giá trị, nhân cách Hồ Chí Minh; đó là những tài liệu tham khảo có giá trị cho quá trình thực hiện luận văn, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể

về “Nhân cách Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng nhân cách sinh viên Việt

Nam hiện nay” Vì vậy, vấn đề nghiên cứu của luận văn là mới mẻ, không

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những khái niệm cơ bản về nhân cách, nhân cách Hồ Chí Minh, nhân cách sinh viên; khái quát quá trình hình thành và những giá trị cao đẹp nhân cách Hồ Chí Minh; những tác động nhân cách Hồ Chí Minh đến sự hoàn thiện và phát triển nhân cách sinh viên

- Làm rõ thực trạng nhân cách sinh viên Việt Nam từ năm 2006 đến nay

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp mang tính định hướng góp phần xây dựng, bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách sinh viên Việt Nam theo nhân cách Hồ Chí Minh

4.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những giá trị sâu sắc trong nhân cách

Hồ Chí Minh, thực trạng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay và vận dụng nhân cách Hồ Chí Minh vào xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam

Trang 18

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu những giá trị đạo đức, trí tuệ và phong cách Hồ Chí Minh tác động đến việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam

- Phạm vi khảo sát: Tập trung khảo sát các tư liệu xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2006 đến nay)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sinh viên, nhân cách và xây dựng nhân cách sinh viên

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu: logic - lịch sử, nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp, hệ thống, chứng minh, kết hợp với các phương pháp của một số ngành khoa học khác như tâm lý học, giáo dục học,…

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn góp phần vào nghiên cứu nhân cách cao đẹp Hồ Chí Minh; khẳng định sự cần thiết phải xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay theo nhân cách Hồ Chí Minh

- Luận văn đánh giá thực trạng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay; đồng thời đề xuất các giải pháp cơ bản mang tính định hướng góp phần xây dựng, bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách sinh viên

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần nghiên cứu, tìm hiểu những giá trị nổi bật trong nhân cách Hồ Chí Minh, một nhân cách sáng ngời của chủ nghĩa nhân văn cộng sản và

từ đó vận dụng vào xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay

- Luận văn có giá trị thực tiễn góp phần định hướng nhân cách sinh viên dưới tác động của nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta

Trang 19

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng, trường chính trị; cho công tác tuyên truyền ở Ban Tuyên giáo, các trung tâm bồi dưỡng chính trị ở Trung ương và địa phương

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 02 chương, 06 tiết

Trang 20

Chương 1

HỒ CHÍ MINH – MỘT NHÂN CÁCH CAO ĐẸP 1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Nhân cách

* Khái niệm con người

Vấn đề con người đã được đặt ra từ rất sớm Để có được quan niệm khoa học về con người trong thời đại Hồ Chí Minh, lịch sử đã từng tiếp cận vấn đề con người bằng những phương pháp khác nhau:

Chủ nghĩa duy tâm quan niệm: Con người là một thực thể linh hồn, cái giá trị lớn nhất ở con người là phần hồn, phần hồn là cái sống mãi, cái vĩnh hằng, còn phần xác chỉ là cái gì ngắn ngủi thoảng qua, nó rồi cũng nhanh chóng ra đi - trở về với cát bụi Quan niệm duy tâm về con người đã ảnh hưởng đến một bộ phận không nhỏ, khiến họ khước từ cuộc sống hiện thực, một cuộc sống phải sản xuất, đấu tranh để tồn tại vì hạnh phúc con người, để hướng về một thế giới hư vô, phó thác cuộc đời cho số phận

Trên cơ sở kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu lên luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội

Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề con người Khái niệm con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu theo “nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa

là cả loài người” [71, tr 644]

Trang 21

Hồ Chí Minh khẳng định sự phát triển của con người là một quá trình Vì vậy, sự hoàn thiện con người là kết quả của cả một quá trình rèn luyện bền bỉ, gian khổ.Trong mỗi người ai cũng có cái tốt, cái xấu, cái hay, cái dở, phải làm cho cái tốt, cái hay nảy nở như hoa mùa xuân; còn cái xấu cần phải được khắc phục, loại bỏ dần cho đến khi mất hẳn, đó chính là kết quả rèn luyện trong mỗi con người, “hiền, dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”

Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách nhìn biện chứng, có quan điểm toàn diện trong sự phát triển của con người Con người khi sinh ra không “nhất thành bất biến” mà nhân cách con người luôn được hình thành và phát triển qua

sự giáo dục, tự giáo dục, do tác động của các yếu tố bên ngoài

* Khái niệm nhân cách

Một là, quan điểm trước Mác về nhân cách

Trong lịch sử triết học, do lập trường, quan điểm khác nhau mà vấn

đề nhân cách cũng được giải quyết không giống nhau Quan điểm duy tâm

về nhân cách biểu hiện rõ nhất ở Platôn (427-347 TCN) cho rằng: nhân cách là cái gì đó phi vật chất, là kết quả của sự bắt chước ý niệm, chỉ là cái bóng của ý niệm, chứ không phải là bản thân ý niệm Với Platon chỉ có thế giới ý niệm tồn tại thuần túy dưới dạng tinh thần mới là tồn tại chân thực

Sau này, quan điểm về nhân cách đã được Arixtốt (384-322 TCN) – nhà triết học Hy Lạp cổ đại bàn đến và bước đầu ông đã cho thấy vai trò của

xã hội, của giáo dục đào tạo tác động đến sự phát triển của con người như là một nhân cách

Chủ nghĩa duy vật trước Mác, tuy đã có những cố gắng nhất định trong nghiên cứu về nhân cách Song nhìn chung, họ vẫn chưa vượt khỏi giới hạn lịch sử, còn mang tính chất máy móc, phiến diện; phần lớn họ đề cao phần sinh học, coi nhẹ mặt xã hội của nhân cách Như học giả Lametơri (1709-1751) cho rằng: Nhân cách con người chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố sinh học, trước hết là kiểu hoạt động thần kinh cao cấp

Nhìn chung, các học thuyết trên hoặc xem nhân cách như sự đáp ứng nhu cầu sinh học thuần túy, hoặc xem nhân cách chỉ có tính thuần túy của cá nhân

Trang 22

con người mà không thấy được tính quyết định trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Hai là, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân cách

Khác với các quan điểm triết học trên đây, triết học Mác - Lênin vạch rõ bản chất xã hội của con người, bản chất xã hội của nhân cách Với luận điểm nổi tiếng: trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ

xã hội, triết học Mác đã xác lập nguyên lý về tính chế ước xã hội đối với nhân cách cũng như quy luật biểu hiện cụ thể của tính chế ước này “Nhân cách là toàn bộ những năng lực, phẩm chất xã hội - sinh lý - tâm lý của cá nhân, tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình” [29, tr 476]

Triết học Mác - Lênin không hạn chế nhân cách trong mặt này hay mặt khác mà xem nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân có tính lịch sử - cụ thể, tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò của chủ thể nhận thức và cải tạo thế giới chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩn mực đạo đức, thẩm

mỹ và mọi chuẩn mực xã hội khác

Như vậy, có thể rút ra định nghĩa “nhân cách” được hiểu một cách toàn diện là đức và tài, năng lực, thể chất và năng lực tinh thần; đó là sự thống nhất giữa mặt cá nhân và mặt xã hội ở trong mỗi cá nhân con người cụ thể,

là thái độ ứng xử của mỗi người trong mối quan hệ nhiều chiều với xã hội hiện thực khách quan Nói nhân cách là nói tới mặt xã hội của con người, coi trọng mặt xã hội chứ không phải mặt tự nhiên của nó

Ba là, quan điểm Hồ Chí Minh về nhân cách

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc

Trang 23

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, con người từ khi sinh ra chỉ là một sinh vật, chưa có nhân cách, quá trình đứa trẻ lớn lên và thông qua quá trình

xã hội hóa thì nhân cách mới được hình thành và phát triển Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Ngủ thì ai cũng lương thiện, tỉnh dậy sinh ra kẻ dữ hiền Quan điểm của Người không thần thánh hóa theo kiểu duy tâm mà coi nhân cách như là một yếu tố động, bởi từ lúc chào đời cho đến giai đoạn trưởng thành thì

cá nhân bao giờ cũng chịu sực tác động của một hệ thống các yếu tố xung quanh, đồng thời con người cũng là chủ thể của các hoạt động và giao tiếp

Đối với người cán bộ cũng vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng

đến việc tu dưỡng, rèn luyện Trong đó tác phẩm “Đường Cách mệnh” (1927), từ mục “Tư cách người cách mệnh”, có thể rút ra định nghĩa nhân

cách là hệ thống thái độ Người dạy cán bộ phải có 23 thái độ đúng đắn đối với mình, với người, với công việc, thể hiện rõ những phẩm chất cao quý của

người cách mạng: “Tự mình phải: Cần kiệm Hoà mà không tư Cả quyết sửa

lỗi mình Cẩn thận mà không nhút nhát Hay hỏi Nhẫn nại (chịu khó) Hay nghiên cứu, xem xét Vị công vong tư Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm Giữ chủ nghĩa cho vững Hy sinh Ít lòng ham muốn về vật

chất Bí mật Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ Với đoàn thể thì

nghiêm Có lòng bày vẽ cho người Trực mà không táo bạo Hay xem xét

người Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng Quyết đoán Dũng cảm

Phục tùng đoàn thể” [68, tr 260] Không chỉ yêu cầu người cán bộ cách mạng phải tu dưỡng, rèn luyện tư cách, đạo đức mà Người còn là một mẫu mực về tấm gương đạo đức, nhân cách cao đẹp cho mọi thế hệ noi theo

Từ cách hiểu quan điểm Hồ Chí Minh về nhân cách người cán bộ cách mạng, có thể rút ra nhân cách sinh viên cũng được thể hiện thông qua quá trình tu dưỡng và rèn luyện đạo đức; qua quá trình học tập và thông qua các hoạt động ngoại khóa, tình nguyện

Như vậy, nhân cách theo quan điểm Hồ Chí Minh được biểu hiện qua ba mặt: đạo đức, trí tuệ và phong cách Ba yếu tố này hợp thành nhân cách của một con người

Trang 24

* Cấu trúc nhân cách

Để có được một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về nhân cách đã là một vấn đề khó, đi tìm cấu trúc của nhân cách lại là vấn đề khó hơn Bởi lẽ, nhân cách vừa có tính ổn định tương đối, vừa có tính biến đổi Có thể thấy là cho đến nay, vẫn chưa có một quan niệm chung, thống nhất về vấn đề này

Nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản đó là: 1) nhận thức (bao gồm cả trí thức và năng lực trí tuệ); 2) rung cảm (tình cảm và thái độ); 3) ý chí (các phẩm chất ý chí, kỹ năng, thói quen) Quan niệm khác lại coi nhân cách bao gồm 4 tiểu cấu trúc, đó là: 1) xu hướng nhân cách; 2) kinh nghiệm; 3) các đặc điểm của quá trình tâm lý; 4) các thuộc tính sinh học chủ yếu Một quan niệm khác tương đối phổ biến, được nhiều người chấp nhận hơn, đó là quan niệm cho rằng, cấu trúc nhân cách bao gồm: 1) xu hướng của nhân cách; 2) những khả năng của nhân cách; 3) phong thái hành vi của nhân cách; 4) hệ thống điều khiển của nhân cách Cấu trúc của nhân cách được hiểu một cách phổ biến nhất bao gồm đức

và tài Trong cấu trúc này đức được coi là thành phần nền tảng của nhân cách Thành phần này bao gồm: 1) phẩm chất xã hội (thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, thái độ chính trị - xã hội, trong đó thế giới quan là thuộc tính chủ yếu của nhân cách, là đặc quyền của con người vươn tới tầm cao của tinh thần); 2) phẩm chất cá nhân (còn gọi là đạo đức, tư cách của cá nhân); 3) phẩm chất ý chí (tính kỷ luật, tính mục đích, tính quả quyết, tính kiên trì, tính dũng cảm); 4) cung cách ứng xử (tác phong lễ tiết, tính khí của con người)

Thành phần thứ hai của cấu trúc nhân cách là tài, đó là các năng lực thích ứng với xã hội của con người, là hiệu suất, hiệu quả trong một lĩnh vực hoạt động nào đó của họ Các năng lực đó bao gồm: 1) năng lực xã hội hóa (khả năng thích ứng năng lực sáng tạo, cơ động, mềm dẻo trong cuộc sống xã hội; 2) năng lực chủ thể hóa (khả năng biểu hiện tính độc đáo, đặc sắc, nét riêng có của cá nhân); 3) năng lực hành động (khả năng hành động có mục đích, chủ động, tích cực, sáng tạo với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao); 4) năng lực giao lưu, giao tiếp xã hội

Trang 25

Trong cách nói quen thuộc của người Việt Nam chúng ta, các bộ phận trên trong cấu trúc của nhân cách được sắp xếp thành hai mặt thống nhất với nhau là đức

và tài, hay phẩm chất và năng lực, dưới sự chỉ đạo của ý thức bản ngã

Mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu thực nghiệm một cách hệ thống đủ sức thuyết phục nhưng trong thực tiễn, quan niệm về cấu trúc nhân cách “đức - tài” được các nhà tâm lý học, giáo dục học dễ chấp nhận vì cho rằng cấu trúc này sát hợp với thực tiễn giáo dục của chúng ta hiện nay Thực tế là, quan niệm “đức - tài” đang chi phối, chỉ đạo các hoạt động giáo dục ở Việt Nam Hiểu cấu trúc nhân cách bao gồm “đức và tài” là cách hiểu khái quát Thực ra, nhân cách là một chỉnh thể thống nhất của đức và tài, những thuộc tính, phẩm chất, xu hướng, khả năng, phong thái, hành vi, trạng thái, tính chất bên trong riêng biệt của mỗi cá nhân để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác

“Nhân” trong nhân cách Hồ Chí Minh phong phú, sâu sắc và mang bản sắc dân tộc rõ nét Trước hết “Nhân” là vì con người, Hồ Chí Minh coi đó là giá trị cơ bản trong cuộc sống, chi phối mọi hoạt động của bản thân trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh sống là vì Tổ quốc, vì cách mạng, vì nhân dân Mục đích vì hạnh phúc của con người được bắt nguồn từ một nhu cầu cao cả, đó là tình thương với người lao động và tình thương đó ngày càng được nạp thêm nội dung mới trong quá trình hoạt động của Người

“Nhân” trong nhân cách Hồ Chí Minh được cấu thành không chỉ trên bình diện nhận thức, mà còn được tạo nên bởi phong cách, hành động để đạt mục đích

Trang 26

đặt ra Mặt hành động tạo nên tính thực tiễn, tính hiện thực, tính khả thi và hành động hữu ích cho cuộc đời Nội dung này ở nhân cách Hồ Chí Minh khác với nhiều nhà hiền triết Á Đông và nhiều sĩ phu phong kiến trước và cùng thời: Họ thương người mà thiếu hành động Từ năm 1911 đến năm 1941, Hồ Chí Minh đã bôn ba qua nhiều quốc gia, nhiều châu lục và làm nhiều nghề để kiếm sống, hoạt động cách mạng trong những điều kiện khổ cực Mặt hành động trong nội dung

“Nhân” của Hồ Chí Minh không chỉ vì hạnh phúc con người, mà còn là sự tự hoàn thiện bản thân để làm cơ sở thực hiện nội dung nhân văn đó: Hoàn thiện về lối sống, cách ứng xử và đặc biệt là trí tuệ

“Nhân” trong nhân cách Hồ Chí Minh có cốt lõi là tình thương đối với nhân loại cần lao Nhân ái này có nội dung khác hẳn với tư tưởng của Mặc Tử, Mạnh Tử Với Mặc Tử và Mạnh Tử, tất cả thiên hạ đều thương yêu nhau như anh em một nhà, tức là một tình thương chung chung, thương cả kẻ thù của chính mình

Nhân ái của Hồ Chí Minh khác với nhân ái của các sĩ phu phong kiến Việt Nam thời đó Nó không phải là lòng thương hại của những người đứng từ trên nhìn xuống, cũng không phải là lòng từ bi bác ái mơ hồ không vượt qua được Nhân ái của Hồ Chí Minh trước hết là sự tôn trọng con người đặt vào những

“người cùng khổ” Đó là tất cả người lao động trong nước cũng như trên thế giới,

từ người nô lệ, người tù đến người công nhân, nông dân cùng khổ dưới ách cai trị của thực dân, phong kiến, đặc biệt là đối với những lớp người dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…)

“Nhân” trong nhân cách Hồ Chí Minh là sự tôn trọng nhân phẩm, nhân quyền và là sự đấu tranh quyết liệt với kẻ thù chà đạp lên nhân phẩm con người Chữ “Nhân” của Hồ Chí Minh không phải dừng ở mức cảm thông sâu sắc với nỗi khổ cực của người dân lao động mà cao hơn là nhân nghĩa, thể hiện ở hành động cứu người, ở cách xử thế, ở lối sống trong đời sống hàng ngày Nhân ở Hồ Chí Minh là cuộc sống giản dị, tiết kiệm, thanh bạch, toát lên đậm nét phong cách Hồ Chí Minh

Trang 27

Nhân cách vĩ đại của Hồ Chí Minh thể hiện:

Một là, tư tưởng, đạo đức cao đẹp, phấn đấu vì độc lập, tự do, hạnh

phúc, tinh thần và ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, thể hiện khát vọng và niềm tin của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa, phù hợp xu thế của thời đại Giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, như

“Trung với nước, hiếu với dân”, “Yêu thương con người, sống có nghĩa có tình”; “Cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”; tấm gương sáng ngời “Hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; “Xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh” lấy sự hy sinh, phục vụ Tổ quốc, cho nhân dân làm lẽ sống, làm niềm vui và ham muốn tột bậc được cả xã hội thừa nhận

Hai là, một trí tuệ uyên bác, thông minh và sáng suốt Thông qua quá

trình rèn luyện, hoạt động, lao động, phục vụ sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, làm giàu tri thức của mình và vận dụng được những giá trị văn hóa, khoa học của văn minh nhân loại từ Đông, Tây đến kim cổ, những giá trị truyền thống của dân tộc kết hợp với giá trị của thời đại, nhằm thwucj hiện khát vọng đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Ba là, tình cảm cao đẹp và sâu sắc thể hiện trong quan hệ ứng xử với

mọi người, trong tình yêu gia đình, quê hương, đất nước; trong tinh thần quốc

tế vô sản trong sáng; trong tình thân ái, yêu thương, quý trọng con người, quan tâm tới mọi số phận con người, nhằm đấu tranh giải phóng con người khỏi sự áp bức, bất công, đói khổ, dốt nát và sa đọa

Bốn là, ý chí kiên cường, bất khuất trước kẻ thù, tự khắc phục khó

khăn, biến khó khăn thành thuận lợi, qua đó biến ý chí thành hành động sáng tạo phục vụ sự nghiệp của cách mạng

Năm là, phong cách lãnh đạo, làm việc khoa học, nói đi đôi với làm;

nếp sống giản dị, ung dung thanh bạch, gần gũi con người, cảnh vật và thiên nhiên…

Trang 28

Nhân cách của Hồ Chí Minh là một nhân cách vĩ đại luôn thống nhất, hài hòa nhất quán giữa nói và làm, sống và hành động, lý trí và tình cảm Nói một cách khái quát, chất con người Hồ Chí Minh đậm chất Việt Nam, chất cách mạng, chất cộng sản, chất nhân văn - đó là thế giới quan và nhân sinh quan tạo nên “nhân cách toàn vẹn”, một nhân cách văn hóa bản sắc tiêu biểu của dân tộc

và nhân loại Trong nhân cách của Người, “chất Việt Nam” là chất đầu tiên:

“Lịch sử lâu đời đầy sóng gió của dân tộc đã sinh ra Hồ Chí Minh”, Người là hiện thân của “đạo lý và nhân nghĩa”, của “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” của dân tộc trong thế kỷ XX và cả thời đại ngày nay Các “chất con người”

ấy đã tạo nên ý chí kiên cường sắt đá, niềm tin không gì lay chuyển nổi, đưa cả dân tộc “sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa” đứng lên giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó là lý tưởng cộng sản Việt Nam, là

“minh triết” Hồ Chí Minh Con người phải có cuộc sống thiết thực của ngày hôm nay, nhưng quên sao được ngày hôm qua, và phải vươn tới ngày mai - phải

có lý tưởng Phạm Văn Đồng nêu bật “Hồ Chí Minh là người của chủ nghĩa nhân đạo theo ý nghĩa đầy đủ nhất: thương yêu, kính trọng, tin tưởng, đòi hỏi, phát huy con người… khơi dậy trong con người lòng tự hào và niềm tin, ý chí và nhiệt tình cách mạng, để con người tự mình làm ra tất cả… làm sáng lên sự cao

cả của con người; Hồ Chí Minh là hiện thân của tình thân ái, làm cho người ta dễ gần, dễ nói chuyện thân tình và cởi mở… giàu lòng khoan dung, độ lượng Theo

đó, quan hệ người - người tốt đẹp là hạt nhân của nhân cách, gây dựng nên một

xã hội tốt đẹp - nguồn hạnh phúc của con người, gia đình và cộng đồng

Quan điểm Hồ Chí Minh về nhân cách và nhân cách Hồ Chí Minh có giá trị giáo dục, phổ biến hệ chuẩn mực chung của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay

1.1.3 Nhân cách sinh viên

* Khái niệm sinh viên

Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Studens”, tương đương với tiếng Anh là “Student”, dùng để chỉ những người học tập ở các trường Đại học,

Trang 29

Cao đẳng Ở Việt Nam, sinh viên là một bộ phận thanh niên tuổi từ 18 – 23, được chọn vào học ở các trường Đại học, Cao đẳng thông qua một kỳ thi quốc gia Họ được xã hội đào tạo để trở thành nguồn nhân lực có trình độ phục vụ cho sự phát triển lâu dài của xã hội Như vậy, sinh viên là một bộ phận đóng vai trò quyết định đến sự phát triển tương lai của đất nước, quyết định tới sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước đúng như nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng định tại Đại hội lần thứ V Hội Sinh viên Việt Nam (1993): Sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa

xã hội có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, chủ yếu do thế hệ thanh niên hiện nay quyết định, trong đó sinh viên là một bộ phận rất quan trọng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến sinh viên Sinh viên là bộ phận ưu tú trong thanh niên, là đội dự bị trí thức tương lai Vì vậy, không chỉ mang trong mình nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ còn mang trong mình những đặc điểm của tầng lớp trí thức như: có khả năng lĩnh hội và sáng tạo tri thức khoa học – kỹ thuật – công nghệ, khả năng nhạy cảm với những vấn đề chính trị - xã hội Họ là nhóm xã hội dễ tiếp thu tư tưởng mới, kể cả tích cực lẫn tiêu cực Người đã từng dậy: “Óc của người trẻ tuổi trong sạch như một tấm lụa trắng, nhuộm xanh thì nó xanh, nhuộm đỏ thì nó đỏ” [82, tr 56].Vì vậy, sinh viên là lực lượng xã hội nhanh nhạy trong việc tiếp cận thông tin mới trong khoa học cũng như những luồng tư tưởng mới của xã hội; song khả năng phân tích và chọn lọc chưa cao, nên dễ bị lôi kéo, dễ bị mơ hồ về chính trị, lập trường tư tưởng chưa vững vàng…

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [70, tr 167] và căn dặn:

“Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà Phải học tập mãi, tiến bộ mãi mới thật là thanh niên” [74, tr 95] Vì vậy, đối với sinh viên, những ngày ngồi trên ghế giảng đường là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời; ở đó, có những nét đặc thù của quá trình hình thành và phát triển nhân cách trong mỗi sinh viên

Trang 30

* Khái niệm nhân cách sinh viên

Trên thực tế mỗi cá nhân có những địa vị xã hội khác nhau đều có sự thể hiện nhân cách đặc trưng phù hợp với vị thế của mình, ví dụ: nhân cách người cán bộ lãnh đạo, nhân cách người giáo viên Sinh viên một bộ phận xã hội đặc thù cũng có phương diện thể hiện tính đặc thù trong nhân cách của mình Có thể hiểu: Nhân cách sinh viên là tổng thể những phẩm chất đạo đức, năng lực thể chất và tinh thần được hình thành một cách lịch sử cụ thể, quy định giá trị và hành vi xã hội của sinh viên được thể hiện trong quá trình học tập, giao tiếp, hoạt động xã hội của mỗi cá nhân sinh viên [7, tr 41]

Phân loại nhân cách sinh viên:

Đối với sinh viên – một tầng lớp xã hội đặc thù, hoạt động chủ yếu là học tập, để phân chia kiều nhân cách sinh viên thì tiêu chí chủ yếu là dựa vào thái độ học tập của sinh viên và ứng xử của họ đối với các mối quan hệ xã hội khác Dựa trên tiêu chí này, nhân cách sinh viên đã được các nhà xã hội học người Mỹ như G Đavít Gốttơlít và B Khốtkinsơ chia theo 4 kiểu nhân cách như sau:

Kiểu W: Những sinh viên từ khi bước vào các trường Đại học đã xác

định mục đích học tập rõ ràng như thu nhập trí thức, chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai: học để làm việc khi ra trường Họ ít quan tâm đến các lĩnh vực tri thức khác và ít tham gia vào các hoạt động khác trong trường

Kiểu X: Những sinh viên chỉ lo việc học tập và tích lũy những tri thức

chung về cuộc sống Những sinh có kiểu nhân cách này cũng ít quan tâm đến công tác xã hội, trừ việc cần phải tham gia họp hành đoàn thể trong trường, lớp

Kiểu Y: Đây là kiểu nhân cách sinh viên hoàn thiện nhất Họ coi trọng

việc học tập, cố gắng đạt thành tích cao trong học tập Bên cạnh đó, họ vẫn nhiệt tình và có trách nhiệm với công tác xã hội của trường, của xã hội

Kiểu F: Những sinh viên thuộc kiểu nhân cách này thường quan tâm

nhiều đến các hoạt động bề nổi của xã hội và trường học, nhưng họ lại ít quan tâm đến việc tích lũy tri thức, chuẩn bị cho nghề nghiệp trong tương lai Họ

Trang 31

gắn với các phong trào văn hóa – văn nghệ, thể dục thể thao, thích giao lưu với bạn bè

Một cách phân loại khác của Viện nghiên cứu khoa học dành cho các công trình nghiên cứu xã hội học tổng hợp về vấn đề sinh viên là tương đối hợp lý Cách phân loại này dựa trên 4 tiêu chí cơ bản: 1) Thái độ của sinh viên đối với học tập 2) Tính tích cực chính trị, xã hội và khoa học của sinh viên 3) Trình độ văn hóa của sinh viên 4) Tinh thần tập thể của sinh viên Theo tiêu chí này, người ta chia ra sáu kiều nhân cách sau:

Kiểu 1: Sinh viên học xuất sắc cả về chuyên môn lẫn cả bộ môn lý luận

chung và cả các bộ môn xã hội Có niềm tin chính trị vững vàng, có tham gia công tác nghiên cứu khoa học và tham gia tích cực vào công tác xã hội

Kiểu 2: Sinh viên học khá, quan tâm nhiều đến chuyên môn nào đó, coi

đó là mục đích duy nhất của quá trình học tập ở nhà trường Có quan hệ tốt với bạn bè, tập thể

Kiểu 3: Sinh viên học xuất sắc về lĩnh vực chuyên môn (nhưng không

toàn diện như kiểu 1) Ở kiểu thứ 3 này, sinh viên thiên về hướng khoa học xã hội, gắn bó với tập thể bằng các hứng thú khoa học

Kiểu 4: Sinh viên học trung bình và khá thường ít quan tâm đến nghiên

cứu khoa học Tích cực tham gia vào các công tác xã hội, gắn bó với tập thể

Kiểu 5: Là những sinh viên có những phẩm chất gần giống với kiểu 4,

nhưng khác ở chỗ, sinh viên kiểu 5 gắn bó với tập thể bởi hứng thú có tính chất giải trí và văn hóa, có khả năng sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

Kiểu 6: Những sinh viên học yếu, không tham gia nghiên cứu khoa học,

không yêu nghề trong tương lai, tham gia công tác xã hội một cách thụ động Gắn bó với tập thể bởi những hứng thú cùng được nghỉ ngơi, giải trí là chính Tuy nhiên, việc phân loại kiểu nhân cách sinh viên còn rất nhiều quan điểm khác nhau Mỗi cách phân loại đều dựa vào những tiêu chí cụ thể, nhất định Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, có thể khái quát thành hai kiểu nhân cách chính sau:

Trang 32

Kiểu nhân cách thứ nhất: Bao gồm những sinh viên có đạo đức trong

sáng, phấn đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có ước mơ, hoài bão lớn lao, có ý chí nghị lực vươn lên trong cuộc sống; chăm chỉ học tập, có tri thức chuyên môn vững vàng, không ngừng trau dồi tri thức, say mê nghiên cứu khoa học, học tập với mục đích để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai của mình, vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội; tích cực tham gia vào các phong trào của trường lớp, đoàn thể và xã hội Họ coi tập thể sinh viên có ý nghĩa quan trọng và có những tác động nhất định đến sự hình thành, phát triển nhân cách của mình

Kiểu nhân cách thứ hai: Là những sinh viên bị động, ỷ lại vào sự chăm

lo của gia đình và xã hội; là những sinh viên lười học tập, gian lận trong thi cử; học theo “mốt”, theo yêu cầu cần có của cha mẹ cần có một tấm bằng Đại học Họ bị lôi cuốn vào các hoạt động xã hội nhiều hơn là hoạt động học tập, trau dồi tri thức Thậm chí, một bộ phận không nhỏ sinh viên tha hóa, xuống cấp về nhân cách, đạo đức, lối sống, không chịu tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng Điểm chung của kiểu nhân cách này là không có ý chí vươn lên trong học tập và rèn luyện Kiểu nhân cách này là những sinh viên thuộc diện trung bình hoặc kiểu yếu kém

Tuy nhiên, sự phân chia hai kiểu nhân cách sinh viên trên chỉ mang tính chất tương đối trong nghiên cứu Nhân cách đạo đức của sinh viên được hình thành và phát triển bị quy định bởi các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần của

xã hội và cũng bị quy định bởi chính những đặc điểm nội tại của bản thân mỗi sinh viên Đó là, đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi, đặc điểm của hệ thống nhu cầu, lợi ích của sinh viên trong hoạt động học tập, nghiên cứu và hoạt động xã hội Trong thực tế, có những sinh viên mang cả phẩm chất của hai kiểu trên với mức độ khác nhau Song, việc phân định kiểu nhân cách bằng phương pháp trìu tượng hóa trên đây lại cần thiết và thích hợp đối với yêu cầu nhận định, đánh giá tình hình nhân cách của sinh viên Việt Nam với tính chất là một nhóm xã hội đông đảo

Trang 33

1.2 Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh

1.2.1 Cơ sở hình thành nhân cách Hồ Chí Minh

* Quê hương, gia đình

Hồ Chí Minh nặng tình nặng nghĩa với Tổ quốc Hồ Chí Minh cũng nặng tình, nặng nghĩa với gia đình, quê hương làng Sen, làng Hoàng Trù, Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An không kém Hồ Chí Minh là người con của một gia đình Nho học, là người con xứ Nghệ Chính vì thế quê hương, gia đình là yếu

tố quan trọng góp phần tác động đến sự hình thành nhân cách Hồ Chí Minh

Nhân tố quê hương: Đất Nghệ - Tĩnh, sông Lam núi Hồng, là mảnh đất

địa linh nhân kiệt, có truyền thống văn hóa đặc sắc ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách Hồ Chí Minh, nhất là thuở thanh thiếu niên Vùng đất này đã chế định đặc tính của con người nơi đây: khẳng khái, cần cù, chịu khó, kiên trì, kham khổ, không cầu kỳ trong cuộc sống, trọng nghĩa khí… Quê hương Nghệ - Tĩnh là địa điểm của nhiều cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm, trong đó có phong trào Cần Vương, cao trào cách mạng Xôviết Nghệ - Tĩnh (1930 – 1931) do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Những “nhân

kiệt” nơi đây ít hoặc nhiều, đậm hoặc nhạt, đều mang các đặc tính đó

Hồ Chí Minh không là trường hợp ngoại lệ Là một người đi khắp năm châu bốn biển, Hồ Chí Minh hòa mình trong cuộc sống ở những nơi mà Người đã đi qua và chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa khác nhau Cho nên, không ít những nhà nghiên cứu, những nhà chính khách, những nhà hoạt động văn hóa, văn nghệ trên thế giới cho rằng, ở Hồ Chí Minh đã “Tây” thì rất Tây,

đã “phương Đông” thì rất phương Đông, đã Việt Nam thì rất Việt Nam Trong cái đặc tính rất Việt Nam đó, chắc chắn có đặc tính của con người xứ Nghệ

Nhân tố gia đình: Một là, gia đình Hồ Chí Minh là một gia đình gia

giáo, thuận hòa, yêu thương và tôn trọng nhau Đặc điểm này có ý nghĩa rất

quan trọng đối với việc hình thành, bồi đắp nhân cách Hồ Chí Minh cũng như đối với các thành viên trong gia đình Gia đình Hồ Chí Minh đều là những người tôn trọng nhau, quý mến nhau, yêu thương nhau Hồ Chí Minh cho rằng: Gia đình là hạt nhân của xã hội, gia đình là “hậu phương” của một con

Trang 34

người Như vậy, đặc điểm đầu tiên này cho thấy nền tảng gia đình vững chắc mang đậm cốt cách gia đình truyền thống Việt có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân

cách Hồ Chí Minh

Gia đình của Hồ Chí Minh là một gia đình đầy lòng nhân ái, với lòng yêu thương những người lao động một cách sâu sắc Con người sống với nhau bằng tình thương yêu đồng loại Đó là lòng nhân ái, yêu thương, độ lượng, trong đó còn có lòng nhân ái của những người cùng cảnh ngộ, cùng giai cấp, cùng lý tưởng, cùng chí hướng Tình yêu thương trong gia đình là điểm khởi thủy trong hình thành nhân cách của mỗi thành viên Gia đình của Hồ Chí Minh thương những người ở làng quê nghèo khó Nghệ An và những người lao động lam lũ trên mọi nẻo đường mà họ gặp, thương những người đi phu Cửa Rào, thương những người nông dân một nắng hai sương mà vẫn nghèo, thương những người bị áp bức, bóc lột Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của

Hồ Chí Minh, thi đỗ Phó bảng, theo lệ thường, được cấp thêm ruộng đất ở quê nhưng cụ dành những mảnh đất đó cho những người nông dân thiếu ruộng

Cụ làm quan, cụ thương những người nghèo khó Cụ đưa các con mình đến nhiều nơi trên đất nước, cũng là dịp đi thực tế và đó chính là những bài học cuộc đời sinh động nhất giáo dục cho các con tinh thần yêu nước, thương dân

Hai là, gia đình Hồ Chí Minh là một gia đình có truyền thống hiếu học

Gia đình Hồ Chí Minh sống trong thời kỳ giao thoa giữa các nền giáo dục, nền giáo dục thực dân Pháp, nền giáo dục tân học đầu thế kỷ XX Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của truyền thống hiếu học của gia đình Cuộc đời Người là một tấm gương sáng về quá trình tự học là chủ yếu, học suốt đời, không ngừng nghỉ, thể hiện ý chí vươn lên chiếm lĩnh tri thức, làm giàu tri thức

Thời phong kiến, học để đỗ đạt rồi ra làm quan Nhưng, đối với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thực lòng cụ không muốn ra làm quan Lấy cớ đang có tang

vợ để trì hoãn, hoãn mãi không được, cuối cùng cụ đành phải vào Kinh đô Huế nhậm chức Thừa biện bộ Lễ, sau đó làm Tri huyện Bình Khê (Bình Định) trong tâm thế không đắc chí Cụ quan niệm: “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (Quan trường là nô lệ, trong đám nô lệ cho nên

Trang 35

càng bị nô lệ hơn) và có tư tưởng rất tiến bộ Trong khi một số người yêu nước ghét thực dân Pháp, không cho con học tiếng Pháp, thì cụ lại khuyến khích các con mình học tiếng Pháp Hàng trang ra đi tìm đường cứu nước của

Hồ Chí Minh từ hai bàn tay trắng, nhưng về tri thức thì ngoài vốn tiếng Việt, tiếng Hán, Người đã có vốn tiếng Pháp, văn hóa Pháp làm cơ sở để tiếp xúc với văn minh Pháp thuận lợi hơn

Hồ Chí Minh là con người hiếu học, học mọi lúc mọi nơi có thể học được, tự học là chính, học trong suốt cuộc đời, kể cả trên giường bệnh năm

1969 ở Hà Nội, trước khi bước vào cõi vĩnh hằng, Người vẫn còn học Hồ Chí Minh thích câu của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”, thích câu của Khổng Tử:

“Học nhi bất yếm Hối nhân bất quyện” (Học không biết chán Dạy cho người khác không biết mỏi) Chính vì vậy, ngay sau khi giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Người đã nhìn thấy được ba thứ giặc cần tập trung sức lực của toàn dân, đó là chống: giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt Trong dịp đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (9/1949),

Hồ Chí Minh đã ghi vào Sổ vàng của Trường: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [71, tr 684] Muốn đạt mục đích, ngoài sự nỗ lực trau dồi tri thức thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Quan niệm học tập như vậy chính

là sự tiếp thu từ truyền thống của gia đình: học để giúp ích cho đời

Ba là, gia đình Hồ Chí Minh là một gia đình có chí lớn “Chí” trong

truyền thống văn hóa của Hồ Chí Minh không phải là duy ý chí Cả gia đình

Hồ Chí Minh đều là những người có chí lớn Cụ Nguyễn Sinh Sắc là người có chí lớn Thân mẫu của Hồ Chí Minh là cụ Hoàng Thị Loan, những năm đầu thế kỷ XX cùng gia đình chuyển vào Huế và định cư ở đó Tại đây, mẹ của Người vẫn làm nghề dệt vải để cùng với chồng con mưu việc lớn Chị gái và anh trai của Hồ Chí Minh là những người đi nhiều, năng nổ hoạt động trong phong trào cứu dân, cứu nước Cả gia đình Hồ Chí Minh là những người như thế thì Hồ Chí Minh là người có chí lớn là điều dễ hiểu, hợp với lôgic thường thấy mà dân gian Việt Nam thường nói “hổ phụ sinh hổ tử”

Trang 36

* Truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam

Truyền thống văn hóa dân tộc đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh trước hết là một nhà văn hóa, một nhà văn hóa kiệt xuất, theo đánh giá của UNESCO Ở Hồ Chí Minh, hội tụ những tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới, nhưng trước hết và đậm hơn cả vẫn là tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh là người thấm đượm tinh thần văn hóa dân tộc, là người tiếp thu, giữ gìn cốt cách, bản sắc dân tộc và cũng từ đó, giao lưu, tiếp thu tinh hóa văn hóa thế giới

Mỗi một dân tộc, quốc gia, mỗi một cộng đồng dân cư… trong quá trình ra đời và phát triển đều hình thành nên một cốt cách, bản sắc văn hóa riêng biệt Không có dân tộc, quốc gia, cộng đồng dân cư nào lại không có một nền văn hóa sở thuộc, và ngược lại, không có văn hóa cụ thể nào nằm ngoài dân tộc, quốc gia, cộng đồng dân cư Với ý nghĩa như vậy, nếu đánh mất đi cốt cách, bản sắc, đặc tính văn hóa thì coi như đánh mất đi chính mình

và dân tộc, quốc gia với tư cách là đơn vị văn hóa sẽ bị đồng hóa và biến mất

Do vậy, văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc là yếu tố nội sinh có vai trò rất quan trọng để bảo tồn và phát triển dân tộc mình

Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa của dân tộc Việt Nam – một nền văn hóa đã tạo dựng nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh của dân tộc, làm rạng rỡ,

vẻ vang lịch sử và truyền thống của dân tộc Đó là thành quả qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của các cộng đồng sống trên lãnh thổ quốc gia; là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa với các dân tộc khác trên thế giới; là sự giữ gìn và phát huy những truyền thống và bản sắc dân tộc, phát huy cốt cách dân tộc, tinh thần dân tộc và luôn luôn hoàn thiện mình… Nền văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của dân tộc không phải là kết quả vận động chỉ riêng những yếu tố nội sinh mà là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại Nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành

và phát triển, làm giàu chính từ nhân tố đó

Trang 37

* Yếu tố thời đại

Thời đại Hồ Chí Minh sống là thời đại nén chứa trong lòng nhiều yếu

tố đặc biệt sôi động, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh Đó là những năm tháng mà chủ nghĩa thực dân đang bành chiếm lãnh thổ, xâm chiếm các nước thuộc địa Hồ Chí Minh sinh ra trong một đất nước đã bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới Cũng như bao con người yêu nước khác, Hồ Chí Minh khát khao đem trí tuệ, sức lực của mình cứu dân, cứu nước Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc bằng con đường cách mạng

vô sản, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và sự phát triển của thời đại, một con đường khác hẳn về chất so với con đường Cần Vương theo hệ tư tưởng phong kiến và con đường cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản

Sống trong thời đại mở đầu cho sự thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, Hồ Chí Minh với tư cách là nhà mácxít sáng tạo, kiên cường đấu tranh không mệt mỏi để mưu sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Như vậy, nhân cách Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển, hoàn thiện còn do tác động

từ hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ ý chí và tinh thần quật khởi của các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam

và thế giới, nhất là các nước thuộc địa và phụ thuộc; từ xu hướng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa của các dân tộc sau khi giành được độc lập dân tộc; từ tình đoàn kết gắn bó keo sơn của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, là tình thương yêu con người dù màu da có khác nhau: “Quan san muôn dặm một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em” [76, tr 195]

Đó còn là tình “Tứ hải giai huynh đệ” (Bốn biển đều là anh em)- một nét đặc sắc trong nhân cách Hồ Chí Minh là tình đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh là con người thấm đượm tình hữu ái giai cấp của những người lao động;

Trang 38

luôn thực hiện chiến lược làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; luôn đấu tranh cho hòa bình, cho sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc; luôn luôn mong muốn có sự hợp tác giữa các dân tộc trên thế giới, trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhau Con người Hồ Chí Minh, do đó, chịu ảnh hưởng lớn của thời đại đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội

Có thể nói, thời đại đã góp phần hình thành và hoàn thiện thêm nhân cách của Người và chính nhân cách của Người đã tác động tích cực trở lại đối với thời đại Chính vì vậy, Hồ Chí Minh là một con người của thời đại, Người được coi là “một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Hồ Chí Minh đã có đóng góp quan trọng về nhiều mặt, trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau

* Chủ quan Hồ Chí Minh

Ba yếu tố gia đình, quê hương, thời đại đã góp phần quan trọng hình thành nên nhân cách Hồ Chí Minh Nhưng để khẳng định và mang tính quyết định cho đặc điểm riêng biệt về nhân cách trong con người Hồ Chí Minh,

không thể không nói đến các nhân tố chủ quan của Hồ Chí Minh

Một là, Hồ Chí Minh là người có khả năng tiếp thu rất nhanh nhạy với

cái mới, luôn luôn có tư tưởng đổi mới Học tập là một quá trình cập nhật, bổ

sung những tri thức mới nhằm phát huy năng lực của mỗi con người khi ứng

xử với cuộc sống Hồ Chí Minh luôn có xu hướng cách tân, sáng tạo Cách Người không đi theo phong trào Đông Du, không sang Nhật Bản học tập, không xuất dương sang Trung Quốc, Thái Lan mà lựa chọn sang Pháp và

Trang 39

các nước phương Tây, tìm hiểu rõ về kẻ thù của dân tộc mình để có phương pháp cách mạng đúng đắn, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân mình đã chứng tỏ Hồ Chí Minh là con người luôn phân tích, phê phán, mẫn cảm với thời cuộc, nhạy cảm với cái mới; kiên định về nguyên tắc nhưng không cứng nhắc, xơ cứng

Tư tưởng “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh thể hiện sự uyển chuyển, mềm dẻo, ứng xử đúng đắn, phù hợp của Người khi tình hình có biến chuyển, có nhiều điểm mới, đó cũng là phương châm mà Người đã dặn

cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi sang thăm Pháp năm 1946 Với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh cũng luôn vận dụng, sáng tạo, phát triển phù hợp hoàn cảnh cụ thể của đất nước trên nền tảng vững chắc của phương pháp tư duy biện chứng, mácxít Sự cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược

là những phẩm chất cực kỳ quan trọng, cần thiết đối với nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp như Hồ Chí Minh

Hai là, Hồ Chí Minh là người có ý chí lớn lao, có hoài bão cứu dân,

cứu nước khác với những con đường bị thất bại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX Trước khi Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, lan rộng khắp cả nước Các phong trào đều sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại Nghiên cứu những bài học lịch sử từ các bậc cha, anh và khảo nghiệm trong thực tiễn, Nguyễn Tất Thành nhận thấy rằng tất cả những khuynh hướng cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến

và dân chủ tư sản đã lỗi thời, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lịch sử đặt ra Vì vậy, cần phải tìm ra một con đường cứu nước mới, điều đó đã thôi thúc Người quyết định chọn một hướng đi mới: sang phương Tây, vì rằng, Người từng kể lại: Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy Vì thế, Người sang Pháp với mong muốn đến tận hang ổ của kẻ xâm lược để xem nước Pháp

Trang 40

và các nước khác làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào Việc chọn hướng

đi đúng là điểm mới rất quan trọng thể hiện bản lĩnh độc lập và tư duy sáng tạo, đã mở ra thành công trên con đường cách mạng của Người và chỉ ra hướng đi phát triển cho cách mạng Việt Nam

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người được thể hiện ở việc biết

phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Người khâm phục lòng yêu nước, ý chí căm thù bọn thực dân xâm lược và khát vọng đấu tranh giành độc lập của những bậc sĩ phu đi trước, nhưng với tinh thần độc lập, tự chủ và đổi mới sáng tạo, Người không tư duy theo nếp cũ, không đi theo con đường mòn của họ Người quyết định tìm con đường cứu nước khác, dù lúc đầu Người chưa hình dung ra con đường ấy ra sao Suy nghĩ và hành động của Nguyễn Tất Thành cho ta thấy một tầm nhìn, cách nhìn và cách làm vừa thể hiện được lòng yêu nước, ý chí cách mạng giải phóng đồng bào, vừa thể hiện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo

Ba là, Hồ Chí Minh là con người biết làm chủ trong mọi tình huống:

Nhân cách của mỗi con người không có sẵn khi sinh ra mà được hình thành, phát triển, hoàn thiện trong cuộc sống Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vậy và một trong những điểm nổi bật về nhân cách của Người là biết làm chủ mọi tình huống

Năm 1946, Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp khi vận nước đang “ngàn cân treo sợi tóc” và lời dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng hãy “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong việc giải quyết các vấn đề quốc gia đại sự của Người đã thể hiện sự mềm dẻo, ứng xử đúng đắn trong quan hệ đối nội và đối ngoại Theo Người, làm chủ bản thân mình là điều không dễ dàng, vì thế, người có chức, có quyền làm chủ bản thân mình còn khó khăn hơn, bởi vì họ bị nhiều cám dỗ, quyến rũ Khi lãnh đạo cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho miền Nam; miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, trong quá trình lãnh đạo, Người cũng đã nhận thấy sai lầm, khuyết điểm… đã vượt qua chính mình, để thấy sai thì kiên quyết sửa và phải sửa cho được, tránh việc “đánh trống bỏ dùi”, làm không đến nơi, đến chốn

Ngày đăng: 11/11/2021, 19:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Am (2003), Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên ở cơ sở, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị tư tưởng cho cán bộ Đảng viên ở cơ sở
Tác giả: Vũ Ngọc Am
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
2. Hoàng Anh (2002), “Con người Hồ Chí Minh và tâm lý học nhân cách”, Tạp chí Tâm lý học, số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người Hồ Chí Minh và tâm lý học nhân cách”, Tạp chí "Tâm lý học
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2002
3. Hoàng Anh (2006), Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận án tiến sỹ triết học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục lý luận Mác - Lênin với việc hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Hoàng Anh (2007), Nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay: Qua khảo sát một số trường đại học, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện báo chí và tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay: Qua khảo sát một số trường đại học
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2007
5. Hoàng Anh (2008), “Vận dụng phương pháp giáo dục Hồ Chí Minh vào đổi mới phương pháp giảng dạy đại học hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị truyền thông, số 5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp giáo dục Hồ Chí Minh vào đổi mới phương pháp giảng dạy đại học hiện nay”, Tạp chí "Lý luận chính trị truyền thông
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2008
6. Hoàng Anh (2012), Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
7. Hoàng Anh - Nguyễn Duy Bắc - Phạm Văn Thủy (2010), Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh - Nguyễn Duy Bắc - Phạm Văn Thủy
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
8. Hoàng Chí Bảo (2002), “Giáo dục và thực hành đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo gương Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và thực hành đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo gương Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí "Lịch sử Đảng
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2002
9. Bảo tàng Hồ Chí Minh (2008), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh tiểu sử
Tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
10. Nguyễn Ngọc Bích (2000), Tâm lý học nhân cách, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
11. Nguyễn Đức Bình (2006), Giáo dục nhân cách cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đông Anh hiện nay, Nxb. Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nhân cách cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn huyện Đông Anh hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: Nxb. Sách giáo khoa Mác - Lênin
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Công (2007), Nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay (qua khảo sát một số trường đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2007
16. Đinh Xuân Dũng (Chủ biên) (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Đinh Xuân Dũng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2006
17. Thành Duy (chủ biên) (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Thành Duy (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Thành Duy – Lê Quý Đức (2007), Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện na
Tác giả: Thành Duy – Lê Quý Đức
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2007
19. Đặng Minh Dũng và nhiều tác giả (2008), Gương Người sáng mãi, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gương Người sáng mãi
Tác giả: Đặng Minh Dũng và nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2008
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w