Với sự hỗ trợ của công nghệ, công chúng có khả năng và điều kiện để phát triển những thói quen mới theo hướng cá nhân hóa phương tiện thông tin và truyền thông, thể hiện qua hành vi tiếp
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
HOÀNG THỊ THU HẰNG
HÀNH VI TIẾP NHẬN THÔNG TIN BÁO CHÍ
TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA CÔNG CHÚNG THANH NIÊN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
(THỜI GIAN KHẢO SÁT: THÁNG 6 NĂM 2013)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Mai Quỳnh Nam
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến PGS, TS Mai Quỳnh Nam – người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí, Khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các thầy cô giáo giảng dạy các bộ môn đã tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Em mong sẽ tiếp tục nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 12 năm 2013 Hoàng Thị Thu Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 12 năm 2013 Hoàng Thị Thu Hằng
Trang 41.2 Cơ sở thực tiễn về điều kiện kinh tế - xã hội và đặc điểm nhân khẩu -
xã hội của công chúng thanh niên đô thị trên địa bàn nghiên cứu
43
CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN HÀNH VI TIẾP NHẬN THÔNG TIN BÁO
CHÍ TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA CÔNG CHÚNG THANH
NIÊN ĐÔ THỊ TẠI ĐỊA BÀN KHẢO SÁT
47
2.1 Việc tham gia vào các hoạt động giao tiếp đại chúng của công chúng thanh
niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước hiện nay
47
2.3 Những đặc điểm nổi bật trong cách thức sử dụng các phương tiện truyền
thông đại chúng
61
2.5 Những phương tiện thông tin đại chúng được theo dõi nhiều nhất trên điện
thoại di động
88 2.6 Việc bàn luận và cách thức bàn luận tin tức báo chí trên điện thoại di động 101 2.7 Hiệu quả của phương thức tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di
động
107
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ KHUYẾN NGHỊ
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TIẾP NHẬN THÔNG TIN BÁO
CHÍ TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
112
3.1 Các yếu tố tác động tới hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện
thoại di động của công chúng
Trang 5Biểu đồ 2.1.1.2 Việc sử dụng các hình thức giao tiếp đại chúng xét
theo địa bàn cư trú
44
Biểu đồ 2.2.1.1 Mức độ kết nối mạng internet trên điện thoại di động
xét theo địa bàn cư trú
46
Biểu đồ 2.2.4 Bối cảnh truy cập mạng internet trên điện thoại di
động
54
Biểu đồ 2.4.5.1 Tần suất truy cập báo di động xét theo địa bàn cư trú 81
Trang 6Biểu đồ 2.6.2 Cách thức bàn luận thông tin báo chí 100
Đồ thị 2.3.5 6 loại thông tin báo chí được tiếp nhận nhiều nhất xét
theo địa bàn cư trú
69
Đồ thị 2.6.1 Tần suất bàn luận tin tức báo chí trên điện thoại di động
xét theo địa bàn cư trú
97
Đồ thị 2.7.1 Đánh giá hiệu quả tiếp nhận thông tin báo chí xét theo
địa bàn cư trú
103
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới của truyền thông kỹ thuật số đang thay đổi nhanh chóng Thông tin được số hóa tạo ra những công nghệ truyền thông mới và một môi trường thông tin rộng lớn, vượt qua mọi biên giới quốc gia, trở thành một nhân tố quan trọng góp phần “làm phẳng” thế giới theo cách nói của Thomas Friedman [12, tr 45]
Các phương tiện truyền thông mới như internet, điện thoại di động đang đóng một vai trò ngày càng quan trong trong cuộc sống hàng ngày của hàng triệu con người trên khắp thế giới Hiện nay ba phần tư dân số thế giới
đã và đang sử dụng điện thoại di động có kết nối băng rộng [51, tr 9] Nhu cầu sử dụng thiết bị di động đã tạo ra sự đột phá trong thị trường truyền thông toàn cầu Doanh thu từ quảng cáo di động thế giới năm 2013 đạt 13 tỷ đô la
Mỹ và dự kiến năm 2018 sẽ tăng lên 40 tỷ, nghĩa là mức tăng trưởng đạt 300% [35] Những con số nói trên cho thấy thị trường truyền thông thế giới đang bước vào kỷ nguyên của di động
Việt Nam là một thị trường di động giàu tiềm năng và là một trong số các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng internet di động cao nhất trên thế giới Hiện nay cả nước có hơn 120 triệu thuê bao điện thoại di động [3, tr 35, 38], trong
đó điện thoại thông minh (smartphone) là 20 triệu, tương ứng với 20% dân số đang sử dụng thuê bao 3G [40] Theo các nghiên cứu mới nhất, số lượng người truy cập internet qua điện thoại di động tại Việt Nam ngày càng tăng mạnh, vượt qua số lượng người truy cập internet bằng máy tính Tốc độ tăng trưởng này thực sự gây sốc với nhiều nền kinh tế và theo các chuyên gia thì trong tương lai, inertnet di động ở Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ khi điện thoại thông minh trở nên phổ biến [6, tr 14] Đây thực sự là một thị phần rất lớn đối với báo chí, đặc biệt là báo di động ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển của thị trường mobile, các ứng dụng di động cho di động ngày càng được cải tiến đã biến chiếc điện thoại thông minh
Trang 8thành một cổng thông tin đa nhiệm, tạo ra cuộc cách mạng smart phone ở Việt Nam theo kết quả khảo sát của Google [40], làm thay đổi hành vi tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng từ đọc báo giấy, báo mạng điện tử bằng máy tính sang lướt web trên các thiết bị di động Đây là cách thức tiếp
nhận thông tin vừa nhanh, vừa ngắn gọn, cá nhân hóa và luôn luôn di
động, thích ứng với nhu cầu tiêu dùng tin tức theo phong cách sống động
và hoàn toàn mới của giới trẻ Sự phát triển của các thiết bị di động trong
đó có điện thoại di động đã tạo ra một xu hướng phát triển báo chí mới: xu hướng di động hóa và dự kiến, đây sẽ là một xu hướng lớn định hình sự
phát triển của báo chí trong tương lai
Kể từ khi ra đời thuật ngữ Mojo (mobile journalism - báo chí di động) vào năm 2005 [64], đã có quan điểm cho rằng báo di động (mobile news) là một loại hình báo chí độc lập, sau báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử [1] Dù mới ra đời song một số tờ báo di động đang từng bước chiếm lĩnh độc giả và số lượng công chúng của một số báo di động thậm chí còn lớn hơn các tờ báo in hàng đầu ở nước ta như VietnamPlus, Vietnamnet mobile, Thanh niên mobile Thêm vào đó là các ứng dụng xem truyền hình trực tuyến, nghe đài trực tuyến; định dạng văn bản phù hợp với giao diện thiết bị
di động đã làm cho điện thoại thông minh thực sự trở thành một phương tiện truyền thông đại chúng được giới trẻ ưa chuộng
Sự phát triển của báo di động ở Việt Nam đang trong thời kỳ sơ khai và còn lâu mới bắt kịp trào lưu của các nước có công nghệ truyền thông phát triển, song nó chắc chắn nó là bước phát triển mới của báo mạng điện tử Hiện tại, báo di động chưa có sự khác biệt rõ nét so với báo mạng điện tử, nhưng dần dần, với sự phát triển của công nghệ truyền thông số, các yếu tố như văn phong, bố cục bài báo, trang báo… sẽ có sự thay đổi nhất định để phù hợp hơn với giao diện của điện thoại di động cũng như nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí mới của công chúng
Trang 9Trong bối cảnh môi trường, điều kiện hoạt động của báo chí đang thay đổi và ngày càng mở rộng thì hình thức tiếp nhận thông tin báo chí mới này vừa là một cơ hội, vừa là một thử thách đối với báo chí nước ta trong việc khám phá và chinh phục những “vùng đất mới” Muốn tồn tại
và phát triển, không có cách nào khác là báo chí phải thay đổi cách thức làm việc, nội dung, chiến lược kinh doanh, mối quan hệ với công chúng, nắm bắt các xu hướng phát triển mới của công nghệ… để nâng cao hiệu quả truyền thông trong điều kiện báo chí truyền thống, đặc biệt là báo in đang rơi vào khủng hoảng khi phải cạnh tranh trực diện với các phương tiện truyền thông mới
Vì vậy, việc làm rõ hành vi, tập quán sử dụng thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng là điều cần thiết để đo lường mức độ, phạm vi và ảnh hưởng của truyền thông kỹ thuật số và đưa ra những căn cứ khoa học xác thực về hình thức tiếp nhận thông tin mới này ở Việt Nam Do
đó, đề tài luận văn “Hành vi đọc báo trên điện thoại di động của công chúng
thanh niên tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước hiện nay” là một
việc làm cần thiết và có ý nghĩa
2 Vài nét về tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, các nghiên cứu về phương tiện truyền thông mới như internet và điện thoại di động đang là một trào lưu được các nhà nghiên cứu quan tâm Điểm thứ nhất, các nghiên cứu về internet di động trên thế giới hiện nay đều xem điện thoại di động là một thiết bị đa phương tiện và có bốn đặc điểm chính: nó là cầm tay, liên tục kết nối, cá nhân và có một màn hình nhỏ [59], [62]
Thứ hai là sự phát triển của phương tiện truyền thông điện thoại di động được định hình bởi bốn yếu tố chính: 1) Kênh (channels); 2) hội thoại (conversation); 3) nội dung (content); và 4) thương mại (commerce), gọi tắt là
“4C” của báo di động (mobile news) [50] và vì thế công chúng hoàn toàn có
Trang 10thể sử dụng điện thoại để truy cập internet cũng như tiếp nhận các sản phẩm báo chí thay cho máy tính Bốn yếu tố này vì thế minh họa cho tính năng, hiệu suất thực tế rộng lớn của phương tiện truyền thông điện thoại di động ở các giai đoạn khác nhau trong lịch sử báo chí đương đại, trở thành một động lực thúc đẩy sự phát triển của truyền thông mới và xác lập các điều kiện hoạt động mới của báo chí
Điểm quan trọng thứ ba trong các nghiên cứu về phương tiện truyền thông đại chúng này là các phân tích về sự chuyển hướng trong mô hình sử dụng tin tức của công chúng
Với sự hỗ trợ của công nghệ, công chúng có khả năng và điều kiện để phát triển những thói quen mới theo hướng cá nhân hóa phương tiện thông tin
và truyền thông, thể hiện qua hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động Đó chính là quá trình cá nhân hóa trong lối sống, giá trị và hành
vi sử dụng các phương tiện truyền thông [49] bằng việc liên tục kết nối, cách
sử dụng đánh dấu trang, ứng dụng, định vị tin tức và tìm kiếm hay truy cập vào những nội dung mà công chúng mong muốn Đặc điểm này sẽ được phân tích kỹ hơn trong hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động
của công chúng tại địa bàn nghiên cứu ở Chương 2
Trong các nghiên cứu về sự phát triển của phương tiện truyền thông
điện thoại di động và báo di động trên thế giới, Cross - media news work -
Sensemaking of the Mobile Media (R)evolution (Sản xuất tin tức truyền thông
hội tụ: Một nghiên cứu đa ngành về cuộc cách mạng của truyền thông di động) (Oscar Westlund, 2011) là một công trình tiêu biểu [63]
Đây là một nghiên cứu định tính về giai đoạn hình thành một loại hình báo chí mới, báo di động và những vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc đổi mới
tổ chức và cách thức làm việc của một tờ báo lớn ở Bắc Âu (Goteborgs Posten, Thụy Điển) Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu với 62 nhà báo, biên tập viên và nhân viên truyền thông nhiều lần từ năm 2008 đến năm 2011 để làm rõ những vấn đề đang đặt ra đối với báo chí và những trăn trở của đội ngũ
Trang 11-người làm báo ở đây từ khâu biên tập, kinh doanh đến công nghệ thông tin; những nỗ lực khám phá và thích ứng của đội ngũ người làm báo trước những thay đổi liên tục của công nghệ truyền thông số, từ sản xuất báo chí truyền thống sang báo di động Đóng góp lớn nhất của luận án là tổng kết kinh nghiệm, xây dựng được một mô hình tòa soạn và cách thức tổ chức sản xuất báo chí dựa trên nền tảng của các ứng dụng di động
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về điện thoại di động như một phương tiện truyền thông chưa được chú ý đúng mức song đã có một số công trình nghiên
cứu về vấn đề này như:“Những tác động của phương tiện truyền thông mới
đối với cư dân đô thị” của nhóm nghiên cứu Bùi Quang Thắng, Bùi Hoài
Sơn, Cao Trung Vinh, Lê Thanh Hòa, Nguyễn Thị Thu Hà;“Phương tiện
truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam” (Bùi Hoài
Sơn, 2008), “Sử dụng điện thoại di động để giữ thể diện: một vấn đề xã hội ở
Việt Nam (Bùi Hoài Sơn, Nguyễn Thị Thu Hà), “Bước đầu nhận diện loại hình truyền thông mới trên điện thoại di động ở Việt Nam” (Trần Thị Nguyệt
Ánh, 2011); “Sự vận động và phát triển của báo chí trong thời kỳ hội tụ
truyền thông, tích hợp đa phương tiện (Nguyễn Tiến Vụ, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học quốc gia Tính chuyên nghiệp của báo chí hiện đại năm 2011)
Trong các nghiên cứu về phương tiện truyền thông này thì cuốn
Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam đã cố gắng khái quát lịch sử phát triển của các phương tiện truyền
thông mới, những ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông mới đối với đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam trên ba bình diện: Cá nhân hóa thông tin giao tiếp, hình thành thế giới số và không gian ảo, làm thay đổi thói quen tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng theo xu hướng cá nhân hóa và di động ngày càng rõ nét
Bước đầu nhận diện loại hình truyền thông mới trên điện thoại di động đi sâu tìm hiểu sự ra đời, các đặc điểm của loại hình báo chí mới này
(mobile news), việc ứng dụng dịch vụ thông tin trên điện thoại di động, sự
Trang 12đón nhận của công chúng và xu hướng phát triển của truyền thông trên điện thoại di động
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu về hành vi sử dụng internet của các tập đoàn truyền thông trên thế giới tiến hành tại Việt Nam như Google [40], Cimigo [5,6], Yahoo! [19] trong vài năm trở lại đây
Đa số các nghiên cứu ở Việt Nam đều nằm ở giai đoạn nghiên cứu thứ nhất, thiên về mô tả, tập trung phân tích và trả lời các câu hỏi: Ai là người sử dụng các phương tiện truyền thông mới? Họ sử dụng với mục đích gì, tần suất sử dụng, ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông mới đối với công chúng như thế nào Còn các nghiên cứu thuộc giai đoạn hai -
đó là giải thích về việc sử dụng các phương tiện truyền thông mới thông qua các lý thuyết hoặc phát triển lý thuyết thông qua các phân tích về các phương tiện truyền thông mới còn rất ít
Mặc dù các công trình nghiên cứu đều có những thành tựu nhất định song vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của nhóm công chúng thanh niên thanh niên đô thị - tầng lớp công chúng chủ lực của các phương tiện truyền thông mới
Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và thực tiễn hoạt động báo chí truyền thông tại Việt Nam, luận văn đi sâu tìm hiểu về nhóm công chúng thanh niên đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước
về hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên loại phương tiện truyền thông đại chúng mới này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước hiện nay là để trả lời các câu hỏi sau:
Trang 13- Công nghệ truyền thông số đã tác động như thế nào đến hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng?
- Tại sao công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước lại chọn điện thoại di động làm phương tiện để tiếp nhận thông tin báo chí và động cơ nào thúc đẩy họ quan tâm, gắn bó với hình thức tiếp nhận thông tin mới này?
- So với cách thức tiếp nhận thông tin báo chí hiện nay, cách thức tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước có điểm gì mới?
- Công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước chấp nhận hình thức tiếp nhận thông tin mới này ở mức độ nào, liệu điện thoại di động có phải là một phương tiện truyền thông đại chúng thích hợp cho việc tiếp nhận thông tin báo chí?
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những ảnh hưởng của truyền thông mới đối với hành vi tiếp nhận thông tin báo chí báo chí trên điện thoại di động công chúng thanh niên
đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước
- Xác định mục đích, bối cảnh hành vi sử dụng internet trên điện thoại di dộng của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh
và tỉnh Bình Phước
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng về nhân khẩu - xã hội đến hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước
- Phân tích cách thức và mức độ sử dụng, hiệu quả tiếp nhận các sản phẩm báo chí, thông tin báo chí trên điện thoại di động công chúng thanh niên
đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước
Trang 14- Chỉ ra những yếu tố tác động đến hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước; đưa ra các khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thông tin báo chí trên loại phương tiện truyền thông đại chúng này
4 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên các công trình nghiên cứu có liên quan mà tác giả tiếp cận được và thực tế nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động
ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước, luận văn đưa ra bốn giả thuyết sau:
- Hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước có sự khác biệt so với cách thức tiếp nhận thông tin báo chí truyền thống
- Báo mạng điện tử, truyền thông xã hội và các trang tin điện tử là phương tiện truyền thông hàng đầu trong việc tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước
- Xu hướng cá nhân hóa trong việc tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước ngày càng rõ nét
- Điện thoại di động đang là một phương tiện truyền thông bổ sung cho các phương tiện truyền thông đại chúng khác đối với công chúng thanh niên
đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Một trong những đặc điểm quan trọng của thị trường internet Việt Nam cũng như thị trường internet di động ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước chính là tầng lớp cư dân trẻ, sống, học tập và làm việc tập trung ở các
cơ sở đào tạo, các nhà máy xí nghiệp ở các đô thị Họ có nhu cầu giao tiếp đại chúng trên điện thoại di động cao hơn hẳn so với các nhóm công chúng khác;
Trang 15năng động, sáng tạo, thường xuyên di chuyển; khao khát hiểu biết, chia sẻ và
có kỹ năng giao tiếp tốt song thời gian dành cho việc tiếp nhận thông tin báo chí lại rất hạn chế
Chính vì vậy, luận văn xác định đây là tầng lớp công chúng chủ lực của báo chí trên điện thoại di động ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước,
đó là những học sinh, sinh viên, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; nhân viên văn phòng và công nhân ở các doanh nghiệp
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công chúng tại hai khu vực đô thị tại thành phố
Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước Thời gian khảo sát được tiến hành trong
- Theo lý thuyết truyền thông của các tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ
Thu Hằng (2006, 2012), Dương Xuân Sơn (2012) thì “Truyền thông là quá
trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [9], [31]
Quan điểm này nhìn nhận truyền thông như là một quá trình liên tục, được tiến hành trong mọi tiến trình xã hội, mọi hoạt động giao tiếp của con người
- Dưới góc độ xã hội học thì truyền thông đại chúng quá trình xã hội Max Weber (1910) cho rằng quá trình xã hội diễn ra dưới tác động của truyền thông đại chúng bằng sự liên kết của các yếu tố: nguồn tin, thông điệp, người nhận Các yếu tố này có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tạo ra hiệu ứng xã hội của truyền thông và sẽ không có hiệu ứng xã hội nào khi các kênh truyền
thông đại chúng truyền thông điệp mà không có người nhận [61, tr 96-101]
Quan điểm này cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa báo chí và công chúng
Trang 16và để đạt được hiệu quả truyền thông thì việc nghiên cứu hành vi tiếp nhận
thông tin báo chí của công chúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
- Theo lý thuyết truyền thông mới thì các phương tiện truyền thông mới như internet, điện thoại di động là một tác nhân làm biến đổi sâu sắc đời sống xã hội và hoạt động truyền thông, mở ra những chân trời giao tiếp mới
Lev Manovich, trong lời mở đầu cuốn “The New Media Reader” đã đưa ra định nghĩa về truyền thông mới dựa vào tám mệnh đề sau: 1) Truyền thông mới là mô hình văn hóa internet, 2) là công nghệ máy tính được sử dụng như một nền tảng phân phối và trình bày thông tin, 3) là dữ liệu kỹ thuật số được quản lý bởi phần mềm, 4) là sự pha trộn giữa những cách
thức giới thiệu, truy cập, và khai thác thông tin cũ và mới, 5) là một ngành
mỹ học đồng hành với giai đoạn đầu của truyền thông hiện đại và công nghệ giao tiếp, 6) là việc thực hiện các thuật toán mới nhanh vượt trội so với thuật toán thủ công cũ, 7) là sự mã hóa các hình thức truyền thông tiên phong, 8) là ý tưởng biểu đạt tương tự như của nghệ thuật sau Thế chiến II
và máy tính hiện đại [60]
Theo quan điểm này, có thể hiểu phương tiện truyền thông mới ngày nay như là sự pha trộn giữa cách thức tổ chức dữ liệu của báo chí truyền thống (mang tính chất tuyến tính, trực quan) với cách truy cập, thao tác dữ liệu theo các quy ước mới của con người Quan điểm của Lev Mannovic đã cho thấy các đặc tính của truyền thông mới và khả năng tác động to lớn của nó đến hoạt động của báo chí truyền thông hiện nay
- Theo lý thuyết hành vi của Max Weber thì “Xã hội học là một khoa
học khi nó tự xác định mục đích nghiên cứu là để tìm hiểu và diễn giải hành
vi xã hội và qua đó giải thích tiến trình cũng như hệ quả của nó một cách nhân quả” [46, tr 130]
Theo quan điểm này, chúng ta chỉ có thể lý giải được các hành vi của con người trong đời sống xã hội nói chung và trong quá trình truyền thông đại
chúng nói riêng khi hiểu được ý nghĩa chủ quan của các chủ thể hành động
Trang 17Bởi vì ngoại trừ các hành vi của con người diễn ra do các phản xạ tự nhiên hay không có chủ định từ trước, mọi hành vi xã hội của con người luôn thể hiện một ý nghĩa hay một mục tiêu xã hội nhất định Trên nền tảng này, khung lý thuyết nghiên cứu của luận văn được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 6.1 Lý thuyết khung nghiên cứu của luận văn
(Nguồn: Luận văn sử dụng sơ đồ phỏng theo mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon nhưng có bổ sung thêm phần nghiên cứu về hiệu quả xã hội [58])
Nội dung của các hệ thống lý thuyết này sẽ được trình bày cụ thể trong
Chương 1
6.2 Cơ sở thực tiễn
Không thể phủ nhận một sự thật hiển nhiên rằng, cả thế giới đang chuyển mình nhanh chóng sang thời đại số hóa, hay còn được gọi là “true native digital” - thời đại mà con người tiếp xúc và tiêu thụ nội dung số ngày càng nhiều hơn Ở đó, công chúng tiếp cận, làm chủ các phương tiện truyền thông cá nhân và các nền tảng kỹ thuật công nghệ thông tin để tự xử
(thông tin báo chí trên điện thoại di động)
Kênh
(Báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng)
Người nhận
(công chúng thanh niên đô thị)
Hiệu quả
xã hội
Nhiễu
Liên hệ ngược
Trang 18lý nội dung truyền thông Điều này tạo ra sự đa dạng và phong phú về nội dung truyền thông và mở ra một xu hướng mới, xu hướng xã hội hóa thông tin đại chúng
Công nghệ truyền thông số cũng là một tác nhân quan trọng làm thay đổi mô hình truyền thông từ analog sang kỹ thuật số, từ mô hình truyền thông tuyến tính sang mô mình truyền thông tương tác, tạo điều kiện để công chúng tham gia ngày càng nhiều hơn vào hoạt động giao tiếp đại chúng Trong xu thế hội nhập, khi báo chí chính thống đang cạnh tranh trực diện và ngày càng gay gắt với mạng xã hội, khi sức mạnh của các phương tiện truyền thông mới ngày càng lớn hơn thì không chỉ có cách thức làm báo thay đổi mà ngay cả cách định nghĩa về báo chí cũng phải thay đổi
Khi công nghệ thay đổi, báo chí thay đổi thì tất yếu, công chúng cũng phải thay đổi Thị trường báo chí truyền thông ở nước ta hiện nay đang cho thấy điều này Đó là sự phân khúc rõ nét trong thị trường truyền thông và việc
sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng ngày càng trở nên cá nhân hơn Những người có cùng sở thích thường có xu hướng kết nối với nhau thành một cộng đồng và chính công nghệ kỹ thuật số đã tác động đáng kể tới cách suy nghĩ, cảm nhận và chia sẻ thông tin của công chúng Giới trẻ - tầng lớp chủ lực của các phương tiện truyền thông mới trở thành khách hàng tiềm năng của báo chí di động Họ là những người luôn gắn bó và coi điện thoại di động không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn thể hiện phong cách sống và cái tôi cá nhân
Chính vì vậy cần phải điều tra hành vi tiếp nhận thông tin báo chí của
họ, trên cơ sở đó phát triển nội dung, hình thức sản xuất và phát hành sản phẩm báo chí mới cũng như từng bước tiếp cận với các mô hình kinh doanh tiềm năng của báo chí trên điện thoại di động Đây là một xu hướng nghiên cứu mới của báo chí thế giới trong giai đoạn hiện nay
Trang 196.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn bằng bảng hỏi (an-két) từ 500 công chúng thanh niên đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Phước để thu thập các dữ liệu khoa học về hành vi đọc báo trên điện thoại di động hiện nay của hai địa phương này
Thành phố Hồ Chí Minh được chọn làm địa bàn nghiên cứu chính với 300 phiếu vì đây là một quần thể dân cư đô thị lớn hơn rất nhiều so với tỉnh Bình Phước và là một trong những thành phố dẫn đầu cả nước về mặt công nghệ thông tin và truyền thông Cơ cấu dung lượng mẫu điều tra được lựa chọn theo yêu cầu thống kê của xã hội học Ở mỗi địa bàn khảo sát, số lượng phiếu để phân tích tối thiểu là 30 phiếu và tối đa là 70 phiếu Cơ cấu
về dung lượng mẫu được thể hiện như sau:
- Ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tác giả điều tra bằng bảng hỏi với
300 thanh niên đô thị từ 16 - 30 tuổi tại 5 quận là: Quận 1 (43 đối tượng), Quận 4 (47 đối tượng), Quận 5 (40 đối tượng), Quận 10 (30 đối tượng) và Quận Thủ Đức (70 đối tượng)
5 quận trong địa bàn điều tra tại thành phố Hồ Chí Minh được lựa chọn
từ 19 quận, trong đó Quận 1 là quận trung tâm hành chính được chọn để khảo sát 43 công chúng là cán bộ, công chức viên chức của Thành Đoàn thành phố
Hồ Chí Minh
Các quận: Quận 4, Quận 5, Quận 10 là trọng điểm giao dịch thương mại của thành phố được chọn khảo sát 2 đối tượng công chúng là nhân viên văn phòng và sinh viên, bao gồm 47 nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn Vina Lá Sắt cứng ở số 9 Đoàn Văn Bơ (Quận 4) và 70 sinh viên (Trường Đại học Sài Gòn ở Quận 5 (40 sinh viên) và Trường Đại học Kinh tế ở quận 10 (30 sinh viên)
Trang 20Quận Thủ Đức - cửa ngõ phía đông bắc thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung các trường phổ thông, đại học cao đẳng và các khu chế xuất, khu công nghiệp lớn nhất thành phố được chọn để khảo sát hai đối tượng công chúng thanh niên là học sinh và công nhân, bao gồm Trường Phổ thông trung học Nguyễn Hữu Huân (70 học sinh), Khu Chế xuất Linh Trung (40 công nhân) và các khu nhà trọ ở khu phố 4, khu phố 5 Phường Linh Xuân (30 công nhân)
- Ở địa bàn tỉnh Bình Phước, tác giả tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với 200 công chúng thanh niên đô thị ở thị xã Đồng Xoài và huyện Chơn Thành, trong đó thị xã Đồng Xoài - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh được chọn làm địa bàn chính để khảo sát với 157 phiếu, bao gồm:
45 học sinh Trường Phổ thông trung học Chuyên Quang Trung, 50 sinh viên Trường Cao đẳng Kỹ thuật Nghiệp vụ Cao su, 31 nhân viên văn phòng Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao su Bình Phước và 31 cán bộ công chức của thị xã Đồng Xoài Ở huyện Chơn Thành, nơi sản xuất công nghiệp lớn nhất của tỉnh, được chọn để khảo sát đối tượng công chúng là công nhân với 43 công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn SK Vina - Khu Công nghiệp Minh Hưng
Tại 7 quận, huyện nêu trên, tác giả tiến hành điều tra trực tiếp tại 13 khu vực khác nhau để đảm bảo tính đại diện của mẫu điều tra Thời gian tiến hành cuộc điều tra diễn ra từ ngày 1/6/2013 đến ngày 30/6/2013 Các số liệu
do luận văn cung cấp đã được xử lý bằng phần mềm thống kê xã hội học SPSS 16.0
Để bổ sung cho phần thông tin định lượng, luận văn tiến hành phỏng vấn sâu 5 nhà báo, nhà nghiên cứu khoa học để tìm hiểu những vấn đề liên quan đến hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động Họ là
Trang 21lãnh đạo cơ quan báo chí hay những người trực tiếp làm báo di động và rất quan tâm đến lĩnh vực truyền thông mới này Đó là:
1 Nhà báo, Tổng biên tập tờ VietnamPlus mobile
2 Thạc sĩ, giảng viên Khoa Báo chí Truyền thông Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
3 Thạc sĩ, Biên tập viên, phụ trách công nghệ của Tờ Thanh niên mobile
4 Nhà báo, Biên tập viên tờ Sài gòn Tiếp thị online, phụ trách phiên bản Sài gòn Tiếp thị mobile
5 Biên tập viên Tạp chí Nghề báo, Hội Nhà báo Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả cũng tham khảo thêm tài liệu từ các công trình khoa học trong
và ngoài nước liên quan đến báo di động và công chúng truyền thông di động Đồng thời tiến hành phân tích dữ liệu, các yếu tố nhân khẩu học và xã hội để làm rõ hành vi tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng
7 Cái mới của luận văn
Kết quả của công trình nghiên cứu này đã góp phần mở ra một lĩnh vực mới trong nghiên cứu công chúng và phần nào phác họa chân dung nhóm công chúng chủ lực của báo chí trên điện thoại di động, đó là tầng lớp thanh niên đô thị, tầng lớp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ sự phát triển công nghệ truyền thông kỹ thuật số tại địa bàn khảo sát
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn cũng làm phong phú thêm những nhận thức về công chúng báo chí hiện đại, chỉ ra những đặc điểm quan trọng trong hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động của họ
Những hiểu biết mới về hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động có thể là một gợi ý đối với các nhà quản lý báo chí, các cơ
Trang 22quan báo chí nước ta về một cách tiếp cận mới đối với tầng lớp công chúng trẻ ở đô thị
Từ đó, các nhà truyền thông có thể lựa chọn, điều chỉnh nội dung thông tin, hình thức truyền tải và tìm kiếm những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin báo chí
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương, 11 tiết và 40 tiểu tiết
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý thuyết của hành vi tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động
1.1.1 Lý thuyết truyền thông
Như đã đề cập, truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi, tương
tác thông tin, tư tưởng tình cảm, kiến thức và kinh nghiệm với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân, xã hội, từ đó làm tăng sự hiểu biết, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội Nói cách khác, truyền thông là quá trình truyền tải thông tin một cách rộng rãi ra công chúng bằng cách sử dụng các ký hiệu ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ
Truyền thông là một quá trình - có nghĩa là nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một thời gian ngắn mà nó diễn ra trong một trình tự thời gian và không gian nhất định, trong một môi trường xã hội nhất định Quá trình gửi - nhận thông tin này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung, mà còn tiếp diễn sau đó Là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ vì phải có ít nhất hai thực thể và không chỉ có một bên cho, một bên nhận, mà cả hai bên đều cho và nhận Đó cũng là quá trình thông tin hai chiều và có chủ đích, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta
Theo Nguyễn Văn Dững (2011), bản chất xã hội của truyền thông là quá trình giao tiếp xã hội, quá trình liên kết xã hội và quá trình can thiệp xã hội [10, tr.120] Nói cách khác, đó là quá trình biện chứng Con người sau khi được truyền thông xã hội hóa có thể trở nên văn minh hơn và khi con người,
xã hội càng phát triển thì nhu cầu, năng lực và khả năng đáp ứng của truyền thông càng cao
Trong xã hội loài người, truyền thông là một điều kiện tiên quyết để hình thành nên một cộng đồng hay một xã hội Đời sống xã hội thực chất đó
Trang 24là quá trình trao đổi thông tin Con người có thể sống được với nhau, giao tiếp được với nhau trước hết là nhờ vào hành vi truyền và nhận thông tin giữa người này với người khác để giữ liên lạc với nhau Nói chuyện, đối đáp, tranh luận, tâm sự, đọc sách báo, xem phim, nghe nhạc… đều là những hành vi nằm trong một quá trình truyền thông Truyền thông do đó là một dạng căn bản của hành vi con người trong xã hội
Theo lý thuyết thâm nhập xã hội thì trong quá trình truyền thông, mỗi con người và nhóm xã hội luôn có nhu cầu tìm hiểu, kết giao, hòa nhập, (thâm nhập vào) với các cá nhân và các nhóm xã hội khác [10, tr.49] qua nhiều giai đoạn như chào hỏi xã giao, thông báo có mục đích (trực tiếp hay gián tiếp), giải quyết xung đột, tìm hiểu sở thích và nguyện vọng và cuối cùng là tìm hiểu những vấn đề sâu xa hơn, lý giải bản chất của sự kiện, hiện tượng Quá trình này vì thế không chỉ tạo nên sự hiểu biết mà còn tạo ra các quan hệ xã hội xã hội
Truyền thông là quá trình can thiệp xã hội vì mục đích của truyền thông
là nhằm thay đổi hành vi Quá trình này nhằm gia tăng sự tương đồng và giảm dần sự khác biệt trong nhận thức của các nhóm hay giữa các nhóm công chúng truyền thông và chủ thể truyền thông Bởi vì xét cho cùng, những xung đột trong hành vi chủ yếu bắt nguồn từ sự khác biệt về nhận thức và lợi ích [10, tr 116] Do đó, muốn thay đổi hành vi và làm gia tăng sự tương đồng trong nhận thức của công chúng, quá trình truyền thông thường trải qua các giai đoạn khác nhau với những mục đích cụ thể khác nhau như cung cấp thông tin, kiến thức, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm Để tạo ra quá trình truyền thông hai chiều thì phải có điều kiện cần (nguồn, thông điệp, kênh chuyển tải thông điệp và người tiếp nhận) và điều kiện đủ (các rào cản, dòng phản hồi )
Quá trình truyền thông là sự truyền đi của các thông điệp (ý nghĩ, thông tin, tư tưởng, ý tưởng, ý kiến, kiến thức ) từ một người hay một nhóm người đến người khác hay một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản
Trang 25hoặc các tín hiệu khác Chính vì vậy, truyền thông liên quan đến việc làm thế nào để liên kết các yếu tố như người nhận, người gửi, cách mã hoá và cách giải mã, các kênh và các phương tiện truyền thông nhằm đảm bảo cho tính chính xác và hiệu quả của quá trình truyền thông
Để thực hiện quá trình truyền thông, nhà truyền thông phải trải qua một chu trình truyền thông trọn vẹn gồm 5 bước và một khâu: 1) Nghiên cứu ban đầu về công chúng - nhóm đối tượng 2) Thiết kế thông điệp 3) Lựa chọn kênh truyền thông và chuẩn bị tài liệu 4) Thực hiện chiến dịch truyền thông 5) Nghiên cứu, đánh giá phản hồi
Chu trình truyền thông hiệu quả diễn ra trong một vòng tròn khép kín, trong đó một thông tin phát ra luôn luôn có một phản ứng nào đó về phía người nhận và do đó, người nhận tin sẽ có một thông điệp phản hồi lại cho người thông tin ban đầu Lúc này người nhận tin trở thành người phát tin - điều này làm cho quá trình truyền thông trở thành một chu trình khép kín
Theo Nguyễn Văn Dững (2012), trong một chu trình truyền thông, mỗi thông điệp truyền thông được phát trên kênh truyền tải đến người tiếp nhận là một quá trình chuyển từ thông tin tiềm năng sang thông tin hiện thực Và công chúng không chỉ là người tiếp nhận thông tin báo chí mà những đánh giá, nhận xét của họ về hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng
đã tạo nên mối liên hệ ngược, nghĩa là ý kiến của công chúng về những thông tin mà họ tiếp nhận được từ hệ thống này cũng tác động trở lại hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng
Trong một chu trình truyền thông có hiệu quả, người gửi phải truyền đạt thông tin đến công chúng mục tiêu và định rõ xem mình muốn có, muốn đạt được những phản hồi nào từ phía công chúng Họ phải mã hóa thông điệp của mình theo cách tính đến quá trình giải mã thông điệp thông thường của tầng lớp công chúng mục tiêu Người gửi - nhà truyền thông phải lựa chọn những phương tiện truyền thông thích hợp và phải thiết kế những kênh thông
Trang 26tin phản hồi để có thể biết phản ứng hồi của người nhận đối với thông điệp
đó Điều này đòi hỏi nhà truyền thông phải am hiểu về hành vi tiếp nhận như đặc điểm, thói quen, cách thức tiếp nhận của công chúng để đảm bảo tính hiệu quả của truyền thông
Theo Mai Quỳnh Nam (2002), trong một chu trình truyền thông thì phản hồi (feedback) là yếu tố quan trọng nhất của quá trình truyền thông [26] Một hoạt động truyền thông nếu không có phản hồi, nghĩa là các thông tin phát ra không tạo nên sự quan tâm của công chúng Hoặc có thể, đó chỉ là thông tin một chiều và mang tính áp đặt của nhà truyền thông Vì vậy thang
đo phản hồi là một chỉ báo căn bản cho thấy hiệu quả hoạt động của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với công chúng báo chí
Như vậy, truyền thông là một khái niệm rộng phản ánh quá trình trao đổi, tương tác thông tin của con người trong xã hội, là sợi dây liên kết xã hội,
là động lực kích thích sự phát triển xã hội và là công cụ can thiệp hữu hiệu nhất vào đời sống chính trị của các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội Đây là cơ sở lý thuyết quan trong để phân tích hành vi tiếp nhận thông tin báo chí qua các chỉ báo về cách thức, mức độ, thông điệp và hiệu quả tiếp nhận thông tin báo chí trên điện thoại di động ở Chương 2
1.1.2 Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng
Dưới góc độ của xã hội học thì truyền thông đại chúng được coi như là
một quá trình xã hội Đó là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi ra
công chúng trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử
Đầu tiên là nhà xã hội học Max Weber, ông đã chỉ rõ tác động của truyền thông đại chúng Năm 1910 [61], ông đã luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn Xã hội học báo chí và đưa ra phạm vi các vấn đề nghiên cứu đó hướng vào các tập đoàn, các tầng lớp xã hội khác nhau, phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo, coi trọng phương pháp phân tích trên báo chí và phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con
Trang 27người Theo ông, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội bởi nó có sự liên kết bởi nhiều yếu tố như: nguồn tin, thông điệp và người nhận và chúng
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Lập luận của Max Weber chỉ rõ tác dụng của báo chí trong việc hình thành ý thức quần chúng và vạch ra mối liên hệ của nhân tố này với hành động xã hội của các cá nhân, các tầng lớp xã hội
Mai Quỳnh Nam (2000) [22], Trần Hữu Quang (1997) [34], cho rằng truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội, đó là quá trình truyền tải thông tin ra công chúng thông qua các phương tiện truyền thông, được liên kết chặt chẽ bởi các yếu tố: nguồn tin, thông điệp và người nhận Thiếu một trong ba yếu tố này, hiệu ứng xã hội sẽ không xảy ra khi các kênh truyền thông đại chúng truyền thông điệp mà không có hoặc không đến được những
bộ phận công chúng cần tiếp nhận nó
Theo các tác giả, truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố sau đây: 1) Hoạt động truyền thông (săn tin, quay phim, chụp ảnh, viết bài, biên tập và cuối cùng là xuất bản, hoặc phát sóng), 2) Các nhà truyền thông (bao gồm các tổ chức truyền thông như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và những người làm công tác truyền thông như nhà báo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên ), 3) Và đại chúng (các tầng
lớp công chúng rộng rãi)
Chẳng hạn, khi chúng ta mở điện thoại di động xem tin tức trên một tờ báo di động thì hành vi đó đã nằm trong quá trình truyền thông đại chúng Thế nhưng nếu chúng ta cũng mở màn hình điện thoại nhưng lại để xem một tập ảnh chụp chung với gia đình hay bạn bè, thì hành động này lại không thể được coi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng, bởi một lẽ đơn giản
là tập dữ liệu này được chụp và truyền phát trong khuôn khổ cá nhân mà thôi
Trang 28Nói cách khác, điểm then chốt trong việc xác định xem một hành vi có
nằm trong quá trình truyền thông đại chúng hay không không phải là cái màn
hình điện thoại di động hay máy tính, mà là cần xem xét coi hành vi ấy có
nằm trong quá trình truyền tải thông tin rộng rãi ra công chúng thông qua các
phương tiện truyền thông đại chúng hay không
1.1.3 Lý thuyết truyền thông mới
1.1.3.1 Khái niệm
Rất khó để định nghĩa khái niệm truyền thông mới (new media) vì đây
là một khái niệm rất rộng "Để hiểu được logic của phương tiện truyền thông mới, chúng ta cần phải chuyển sang khoa học máy tính." (Lev Manovich, 2001) [54] Vì vậy, định nghĩa của Lev Manovic mà chúng tôi đã đề cập mới chỉ là những dấu hiệu cơ bản để nhận biết truyền thông mới và hiện nay cũng chưa có một khái niệm hoàn thiện về lĩnh vực này Và do đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới gắn liền với sự biến đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ nên các nghiên cứu về mặt lý thuyết truyền thông mới đa phần mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu công chúng, định nghĩa truyền thông mới, các đặc điểm và ảnh hưởng của truyền thông mới
Trong cuốn New Media: A critical introduction (Truyền thông mới:
một giới thiệu quan trọng), truyền thông mới là một thuật ngữ rộng, nó gắn liền với công nghệ nhưng không phải là thuần túy về công nghệ mà chứa đựng trong đó các yếu tố văn hóa, là sản phẩm của văn hóa [55, tr 11] Nó không nảy sinh từ chân không mà là sự kế thừa các giá trị của các phương tiện truyền thông truyền thống cũng như hấp thụ các đặc điểm của công nghệ số
Tiền tố “mới” chính là căn cứ để phân biệt nó với các phương tiện truyền thông truyền thống, thể hiện qua mối quan hệ mới giữa công chúng với cộng đồng và công chúng với báo chí; qua mô hình tổ chức sản xuất truyền thông mới; cách thức thông tin liên lạc, cách phân phối, trình bày văn bản
Trang 29mới; thực tế ảo… [55, tr 11] Việc trao đổi ý tưởng và hình ảnh là điểm quan trọng nhất khi đánh giá về tiềm năng của truyền thông mới.
Hiểu theo nghĩa rộng thì truyền thông mới là phương thức tổ chức một đám mây gồm công nghệ, kỹ năng và quá trình xử lý thông tin - những thứ đang thay đổi nhanh đến nỗi khó có thể tìm ra được định nghĩa đầy đủ
Truyền thông mới theo cách hiểu của chúng tôi là một khái niệm được phát triển trên nền tảng công nghệ số và là một khái niệm rất rộng, được dùng
để định nghĩa tất cả những gì liên quan đến internet Nó là một công nghệ giao tiếp cho phép nâng cao tính tương tác của truyền thông và khả năng tham gia của công chúng vào hệ thống truyền thông
Theo cách hiểu này thì các hình thức như mua bán qua mạng; báo mạng điện tử, truyền hình trực tuyến, mạng xã hội, blog, game online, email, chat, đĩa CD-ROM và DVD đều là truyền thông mới vì nó có khả năng tương tác, phản hồi thông tin, tham gia xây dựng nội dung truyền thông vào bất cứ lúc nào, bất cứ đâu và bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật số nào
Truyền thông mới hoàn toàn trái ngược với các phương tiện truyền thông truyền thống như các chương trình truyền hình, phim truyện, tạp chí, sách, hoặc các ấn phẩm trên giấy - vì cách thức tiếp nhận thông tin của công chúng từ các phương tiện này đa phần là thụ động và những ấn phẩm này chỉ
có trở thành truyền thông mới khi nó chứa đựng các thiết bị công nghệ cung cấp khả năng tương tác số
1.1.3.2 Đặc điểm của truyền thông mới
Siêu văn bản (hypertextuality), đa phương tiện (multimediality) và tương tác (interactivity) là ba đặc điểm lớn nhất của truyền thông mới
Cấu trúc siêu văn bản là cách thức tổ chức dữ liệu có nhiều đường dẫn
tới các bài viết khác hay các trang web khác có chủ đề liên quan với lượng câu chữ không hạn chế Cách thức tổ chức này có lợi vì nó tạo tính liền mạch trong khi việc trình bày thông tin báo chí theo kiểu truyền thống thường đòi hỏi tác giả phải có thêm ngữ cảnh cho bài viết Nhưng ở đây, công chúng có
Trang 30thể tìm lại một trang báo đã đưa trước đó rất lâu có nội dung liên quan mà không phải mất công lục lọi trong hàng đống tư liệu đồ sộ Người ta có thể đưa lên các phương tiện truyền thông mới tất cả những gì mà báo in, phát thanh, truyền hình không có điều kiện đăng tải vì những hạn chế về thể loại,
mà chi phí cho phát hành thì lại vô cùng kinh tế Vì vậy, có thể coi giao diện trang web là một ''hệ thống mở''
Các siêu liên kết hình thành một hệ thống dữ liệu cho phép các nhân tố tương tác với nhau thay vì trình bày theo một trật tự định sẵn và không nhất thiết phải có ngữ cảnh hay “câu chuyện bên lề” để giải thích Mỗi thành phần của thông tin có thể đứng độc lập, riêng lẻ Truyền thông mới do vậy đòi hỏi một sự diễn giải phi tuyến tính, nhiều nguồn thường hướng đến cùng một chủ thể trung tâm, nhưng không nhất thiết lúc nào cũng phải tham chiếu lẫn nhau Điều này cho thấy một trong những tính chất đầu tiên của truyền thông mới là
nó thoát khỏi những giới hạn về định dạng tuyến tính của báo giấy, sách và tạp chí
Đa phương tiện là tổ hợp của các phương tiện truyền thông riêng lẻ (âm
thanh, hình ảnh, đồ họa, video, văn bản, màu sắc ) nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động truyền thông Nếu như trong báo in, công chúng chỉ có thể văn bản, xem ảnh; trong phát thanh, thính giả chỉ có thể nghe được âm thanh rồi tưởng tượng ra diễn biến của sự kiện; trong truyền hình, khán giả có thể kết hợp nghe - xem các chương trình nhưng nhìn chung là vẫn thụ động thì ở truyền thông mới, công chúng được thoả mãn tất cả nhu cầu nghe, nhìn của mình một cách chủ động nhất Đây chính là ưu việt của truyền thông mới mà cho đến nay, chưa có một phương tiện truyền thông nào tỏ ra năng động và hiệu quả hơn thế
Tương tác trong phương tiện truyền thông kỹ thuật số được xem như
một phương pháp để tối đa hóa sự lựa chọn thông tin của công chúng qua văn
bản và hình ảnh mà họ truy cập Nó cho phép xây dựng kênh thông tin giao
tiếp đa chiều giữa nhà truyền thông với công chúng mà không bị hạn chế về
Trang 31không gian, thời gian và đặc điểm này được thực hiện thông qua các phương thức giao tiếp điện tử (digital media)
Đặc điểm tương tác của truyền thông mới là điều kiện để phương thức truyền thông “We media” - người dùng tạo ra nội dung [54] ra đời và phát triển, tạo ra một khả năng chưa từng có trong lịch sử truyền thông Đó là một cộng đồng trực tuyến, một mạng lưới các phương tiện truyền thông cá nhân, một cơ chế truyền thông cho phép công dân trên toàn cầu tham gia tạo lập, sản xuất, chia sẻ về những gì đang diễn ra của cuộc sống ở mọi lúc, mọi nơi
Trong quá trình truyền thông của “We media”, tất cả mọi người đều là một phần của nội dung truyền thông và đều có ảnh hưởng như nhau Trang web OhmyNews.com của Hàn Quốc là một ví dụ Với sự giúp đỡ của hơn 26.000 nhà báo công dân, trang web tin tức này thu hút khoảng 2 triệu độc giả mỗi ngày Độc giả của OhmyNews không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là người đồng sáng tạo, chủ thể của truyền thông [52, tr 7]
“We media” coi trọng đối thoại, sự cộng tác và chủ nghĩa bình quân về khả năng sinh lời Tính linh hoạt của cách tiếp cận này nhấn mạnh vào việc phát hành hơn là lọc thông tin, khác với báo chí là thẩm định thông tin trước khi phát hành Với báo chí truyền thống, nhà biên tập và phóng viên báo chí
có thể cộng tác với nhau, làm việc cùng nhau song cuộc thảo luận giữa họ không được công khai cho công chúng biết hoặc tham gia
Còn ở truyền thông mới, việc biên tập được thực hiện qua chính cơ chế hoạt động của internet và được thực hiện từ nhiều phía thông qua các cuộc đàm thoại công khai trong cộng đồng Mọi cá nhân dựa vào nhau để đưa tin, truyền tải và cùng hiệu chỉnh một vấn đề, sự kiện truyền thông khi nó đang tiếp diễn Một sự kiện truyền thông do đó không còn bị cố định bởi thời hạn hoặc lịch đưa tin Nó không còn thuộc về bất kỳ ai nữa ngoại trừ chính khán giả của nó
Như vậy, tương tác là một trong những chìa khóa làm gia tăng giá trị của phương tiện truyền thông mới, là cơ chế để cho công chúng trở thành chủ
Trang 32thể truyền thông, do đó nó góp phần tạo ra sự bình đẳng trong “làng” truyền thông Trong môi trường của truyền thông mới, rất khó để phân biệt đâu là nguồn, đâu là đích, đâu là chủ thể, đâu là khách thể của truyền thông vì mỗi
cá nhân, mỗi công dân đều có thể trở thành chủ thể của một kênh truyền thông, một cơ hội truyền thông và một thị trường truyền thông Sự tương tác làm cho truyền thông trở thành phi biên giới và không còn bị giới hạn về đối tượng theo nghĩa hẹp
1.1.3.3 Ảnh hưởng của truyền thông mới
Marshall McLuhan - một trong những nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực truyền thông mới từng tiên đoán rằng truyền thông mới sẽ làm thay đổi chúng ta và thay đổi cả thế giới Giờ đây chúng ta nhận thấy nguyên tắc
đó ẩn mình trong mọi loại hình công nghệ
Khi điện ảnh ra đời, chúng ta bắt đầu nói bằng ngôn ngữ và giọng điệu của các bộ phim; khi hệ thống ký âm xuất hiện, âm nhạc được đẩy lên những cấp độ mới về tính phức tạp và độ dài Và khi công nghệ truyền thông mới ra đời, kho dữ liệu khổng lồ này bắt đầu công cuộc bao phủ toàn cầu với tốc độ ngang ngửa tốc độ ánh sáng [42]
Cuộc cách mạng của truyền thông mới là một trong những tác nhân chính làm thay đổi sâu sắc thế giới trên một số phương diện thay đổi cấu trúc nền kinh tế, tăng cường các quá trình toàn cầu hóa và làm thay đổi địa chính
trị thế giới [54, tr 10-11]
Trong cuốn "Understanding Media: The Extensions of Man - Tìm hiểu truyền thông - Sự nối dài của con người", McLuhan đã tuyên bố: "The
medium is the message - phương tiện là thông điệp" [56] Theo ông, chính
công nghệ truyền đạt nội dung mới là thứ tiếp xúc, làm chúng ta phát triển lên
và biến thế giới hôm nay thành một “ngôi làng toàn cầu” (global village), trong đó khả năng truyền đạt của con người đang được nối dài và được mở rộng tối đa về mọi phương diện, và chính khả năng này mới tạo nên sự thay
Trang 33đổi nhất định trong nội dung truyền đạt (từ nội dung xây dựng trên văn tự, đến
nội dung xây dựng trên cấu trúc phi văn tự)
Môi trường và khối lượng thông tin khổng lồ do truyền thông mới tạo
ra đã phá vỡ những rào cản trên thị trường tài chính và truyền thông, hình thành một môi trường truyền thông đại chúng đồng nhất trên phạm vi toàn
cầu Phương tiện truyền thông mới cũng chính là “sức mạnh mềm” - một
công cụ để các quốc gia giành được các mục tiêu địa chính trị cụ thể Nó có thể gia tăng ảnh hưởng hay làm thay đổi cục diện chính trị trên thể giới Ở quê
hương của internet và mạng xã hội - nước Mỹ, David Vaina [48] cho rằng sự
bùng nổ truyền thông mới đã thực sự tạo ra một bước ngoặt trên chính trường
Mỹ trên ít nhất là trên bốn lĩnh vực, tạo ra: 1) phương pháp mới để tiếp cận cử tri; 2) một hệ thống tin tức truyền thống thay đổi đáng kể; 3) sự tham gia đông đảo chưa từng có của các nhà tài trợ nhỏ; 4) các nhóm lợi ích mới được trao quyền ở cả cánh tả và cánh hữu
Truyền thông mới cũng làm thay đổi hoạt động giao tiếp đại chúng Bùi Hoài Sơn (2008) cho rằng truyền thông mới có ảnh hưởng ngày càng mạnh
mẽ tới đời sống xã hội, đặc biệt là đối với khu vực đô thị trên ba phương diện: 1) chúng thúc đẩy quá trình cá nhân hóa trên mọi lĩnh vực, 2) giúp xóa bỏ
“vòng xoáy của sự im lặng” làm thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa 3) mang lại cho con người một không gian số và ảo [30, tr 329]
Trong quá trình cá nhân hóa hay “phi đại chúng hóa” thông tin đại chúng, nhu cầu được sở hữu một không gian riêng thể hiện cá tính của mỗi cá nhân ngày càng cao nhưng đồng thời nó lại giúp con người trở nên cởi mở hơn, bình đẳng hơn trong giao tiếp xã hội Nói cách khác, nó giúp phá bỏ phần nào “vòng xoáy im lặng” [57], đáp ứng nguyện vọng nhân văn sâu xa của mỗi con người là tham gia và khiến những người khác nghe thấy ý kiến của mình Những tầng lớp dân chúng bình thường hay những nhóm thiểu số vốn trước đây không có quyền phát ngôn, nay có nhiều cơ hội hơn để lên tiếng Hiện tượng blog, mạng xã hội trong những năm gần đây là một bằng
Trang 34chứng sinh động về nỗ lực nhằm phá bỏ “vòng xoáy im lặng” của một bộ phận công chúng Nhờ đó, các cá nhân có thể tiếp cận trực tiếp thông tin mà không phải chờ đợi đến khi báo chí lên tiếng
Cũng theo Bùi Hoài Sơn thì quan trọng nhất là truyền thông mới mang lại một không gian số và ảo, đó là một thế giới mà con người có thể sống và can thiệp như một thế giới thật, nơi họ có thể tự do bày tỏ tình cảm và có thể khám phá bất cứ những gì mà họ muốn
Bên cạnh những tiện ích không thể phủ nhận thì thế giới ảo cũng có không ít mặt trái nếu như người sử dụng thiếu hiểu biết hay không làm chủ được bản thân khi thực hiện hành vi giao tiếp ảo này Nhưng sự thật thế giới
ảo đã và đang hiện hữu trong đời sống của nhân loại và song hành cùng với thế giới thực Loại bỏ nó hay chấp nhận và tìm cách thích nghi với nó là một quyết định không dễ dàng nhưng xu hướng thứ hai vẫn là việc nên làm vì trong tương lai thế giới ảo này sẽ còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nữa đối với cuộc sống của con người nhờ sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số
1.1.4 Thuyết hành vi
Theo Từ điển Xã hội học [43], Thuyết hành vi (Behaviorism) [44] còn được phổ biến với tên gọi xã hội học thuyết hành vi và xã hội học hành vi (Bebavioral Sociology), được kế thừa và phát triển từ các thuyết học tập tâm
lý học, lý thuyết kinh tế cổ điển và chủ nghĩa duy lý phê phán
Thuyết hành vi được hình thành bởi nhà tâm lí học người Mỹ John B Watson năm 1913 Ông cho rằng tâm lí học giải thích hành vi của con người không dựa trên quá trình nhận thức diễn ra trong não hay những hành vi không thấy rõ (covert behaviors), mà là những quan sát hành vi được nhận ra (overt behaviors)
Có thể hiểu hành vi là tổng thể chuỗi dài các phản ứng, các hoạt động
khác nhau trong đời sống thực của con người Không giống như vật chất, con
Trang 35là những cá thể có ý thức và luôn chủ động định hướng hành vi của mình Trong lúc tư duy, con người nhào nặn ra nghĩa của các sự vật và hiện tượng, bằng cách chấp nhận, bác bỏ, hay thay đổi chúng cho phù hợp với những định nghĩa ấy và những hành vi tiếp theo Nói cách khác, con người nhận thức và hành động dựa trên cơ sở các ý nghĩa mà họ gán cho các sự vật và hiện tượng, hơn là hành động nhằm phản ứng lại với những kích thích bên ngoài (các động lực xã hội) hay với những kích thích bên trong (các bản năng)
Vì thế, một hành vi cụ thể tuy mang tính chất cá nhân nhưng lại luôn chứa đựng, truyền tải một ý nghĩa, một giá trị nào đó Nó luôn hướng đến những cá nhân khác bên ngoài chủ thể hành động, vì thế nó mang tính xã hội
và là một quá trình xã hội
Theo thuyết hành vi, mọi hành vi xã hội đều là có ý nghĩa Con người định nghĩa các tình huống, gán ý nghĩa cho các hành động của mình và người khác, lý giải và hành động trên cơ sở những ý nghĩa đó Nguyễn Đức Truyền (2013) cho rằng ý nghĩa chủ quan là cơ sở của hành vi xã hội [46, tr 138] Nó chỉ đạo hành động, nhưng cũng hình thành nên từ hành động và không cố định; không phải được đưa từ bên ngoài vào và diễn ra trong một lần, mà được kiến tạo và dàn xếp trong quá trình tương tác Do đó để hiểu được hành
vi thì không thể đo lường bằng khách quan mà phải bắt đầu bằng việc quan sát và lý giải trạng thái tinh thần, tìm ra các ý nghĩa mà các chủ thể gắn vào hoạt động của họ
Vì thế, trọng tâm của thuyết hành vi là mối quan hệ kinh nghiệm - nhân quả Max Weber cho rằng, xã hội học là một môn khoa học nhằm thông hiểu bằng cách lý giải hành động xã hội và nhờ đó giải thích một cách nhân quả sự diễn tiến và các tác động của nó Weber cho rằng chỉ khi nào thông hiểu được các hành động xã hội của các cá nhân, thông hiểu được ý nghĩa mà các cá nhân gán cho hành động của họ thì chúng ta mới có thể giải thích được một cách thấu đáo các sự kiện xã hội hay các hiện tượng tập thể Như vậy, chúng
Trang 36ta hoàn toàn có thể giải thích và dự báo một hành vi thông qua việc quan sát
sự tương tác lẫn nhau của con người
Theo Bùi Thế Cường (2008), một hành vi xã hội được cấu thành bởi năm yếu tố cơ bản là nhu cầu, động cơ, chủ thể, công cụ (phương tiện), mục đích, hoàn cảnh Có thể diễn giải quá trình xã hội của một hành vi như sau: 1) Chủ thể hành động là những cá nhân 2) các chủ thể theo đuổi các mục đích 3) chủ thể phát triển các phương tiện khác nhau để đạt mục đích 4) chủ thể đối mặt với những hoàn cảnh khác nhau, những hoàn cảnh gây tác động đến việc lựa chọn mục đích và phương tiện 5) chủ thể bị điều khiển bởi các giá trị và chuẩn mực tác động đến việc lựa chọn mục đích và phương tiện [7]
Sau khi trải qua các quá trình này, hành vi đã được xã hội hóa Đó là quá trình mà trong đó chúng ta có thể tiếp nhận nền văn hóa của xã hội, có thể học được cách suy nghĩ và ứng xử hợp với đặc trưng của xã hội Hành vi đã được xã hội hóa này là sự tập hợp của tổng thể các nguyên tắc hành động, phản ánh những cấu trúc khách quan của thế giới xã hội mà nó tồn tại trong
đó (những quy tắc) [46, tr 135]
Năm yếu tố này cũng làm cho hành vi có thể được học tập, thay đổi (do ảnh hưởng của những động viên hoặc kích thích thay đổi của môi trường; thông qua bắt chước, tự tiếp nhận, chọn lọc thông tin và thực hiện theo nhu cầu, khả năng riêng của mỗi người) Vì cơ sở của hành vi của con người là cảm xúc, năng lực nhận thức và động cơ nên nó được hình thành theo một số quy luật cơ bản sau [43]:
- Mỗi người cố gắng đạt được lãi suất cao nhất có thể được từ hành vi của mình (nguyên tắc hợp lý kinh tế) Người ta sẽ có xu hướng giữ những phương thức hành vi đã chứng tỏ là có lãi Do vậy, nếu một hành vi có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại trong những hoàn cảnh tương tự Nếu như
Trang 37phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều chi phí vật chất và tinh thần để đạt được nó
- Việc thường xuyên tương tác và quan niệm cảm xúc tích cực (yêu mến, cảm tình, đánh giá cao) giữa những người tham gia tương tác sẽ khuếch đại lẫn nhau
- Những phương thức hành vi đã học thuộc, đã chứng tỏ có lợi, sẽ trở thành thói quen vì lý do giảm trách nhiệm nhận thức, tránh áp lực quyết định quá lớn (nguyên tắc thói quen) Nói cách khác, khi nhu cầu của các cá nhân gần như hoàn toàn được thoả mãn thị họ ít cố gắng hơn trong việc nỗ lực tìm kiếm chúng
- Những hành vi thường xuyên, được hình thành qua quá trình trao đổi,
sẽ chuyển thành cơ cấu và thể chế xã hội (hình thành cơ cấu, thể chế hóa)
- Hành vi của con người chịu ảnh hưởng của môi trường văn hóa xã hội tương ứng Nó liên quan chặt chẽ tới bối cảnh xã hội, chịu sự kiểm soát của bối cảnh xã hội và sự kiềm chế xã hội (quy định, pháp luật, chuẩn mực, dư luận cũng như sự cưỡng chế của chủ thể hành động và nhận thức, nhân sinh quan của chủ thể hành động)
Như vậy, hành vi là sản phẩm của con người, được chỉ đạo bởi ý chí chủ quan của mỗi con người trong mối tương quan với hành vi của người khác (xã hội), dựa trên nền tảng ý nghĩa chủ quan của hành vi, các chuẩn mực (quy tắc ứng xử) và giá trị văn hóa Mọi hành vi xã hội đều có ý nghĩa và chúng ta có thể giải thích nó qua việc phân tích mối quan hệ nhân - quả, qua các yếu tố cấu thành hành vi của con người Đây là một trong những phương
pháp luận quan trọng để lý giải để các hiện tượng xã hội, lý giải sự tương tác giữa con người và xã hội
Tóm lại, bốn lý thuyết trên là cơ sở lý thuyết của luận văn bởi nó luận chứng cho vai trò của các phương tiện truyền thông mới và cách thức tiếp
Trang 38nhận thông tin báo chí mới trên điện thoại di động của công chúng Sự ra đời của điện thoại di động và internet là kết quả tất yếu của quá trình phát triển
khoa học kỹ thuật, nó đã làm thay đổi cách thức tiếp nhận thông tin báo chí
theo xu hướng ngắn gọn, cá nhân hóa và di động Công chúng của phương
tiện truyền thông mới trong đó có điện thoại di động cần phải được nghiên cứu để tìm ra hành vi sử dụng sản phẩm báo chí của họ, làm tiền đề cho sự phát triển của báo chí truyền thông trong tương lai
1.1.4 Các khái niệm
1.1.4.1 Thông tin báo chí
Thông tin báo chí được chúng tôi hiểu là thông tin sự kiện Trước hết
đó là những tin tức mới, sự kiện mới được truyền đi hoặc đó là những tin tức, những sự kiện mà công chúng đã biết nhưng chưa đúng, chưa đầy đủ
1.1.4.2 Báo chí
Báo chí (journalism) theo quan điểm truyền thống, được coi là phương
tiện truyền thông đại chúng truyền tải những thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đông đảo công chúng Báo chí là môt bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chí
Xét theo quan điểm hệ thống của Prokhorop [11], [28], [31], khái niệm
báo chí được hiểu như một thiết chế, một chỉnh thể Báo chí là một tiểu hệ
thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung Trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con), của nhiều loại quan hệ dọc và ngang, quan
hệ bình đẳng và phụ thuộc
Trang 391.1.4.3 Phương tiện truyền thông đại chúng
Phương tiện truyền thông đại chúng (mass media) được chúng tôi hiểu là các phương tiện kỹ thuật để truyền tải thông tin, ở đây là điện thoại
di động
1.1.4.4 Công chúng
Dưới góc nhìn của báo chí học, công chúng (audience) là một bộ phận quan trọng của quá trình truyền thông, là đối tượng tiếp nhận thông điệp của sản phẩm truyền thông
Công chúng báo chí là những người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của báo in, phát thanh, truyền hình và internet Công chúng có thể
là đại chúng, một nhóm đối tượng hay một cá thể nhất định tiếp nhận thông tin từ các loại hình báo chí
Cùng với sự phát triển của công nghệ và các phương tiện truyền thông mới, văn hoá ứng xử đối với truyền thông của công chúng cũng thay đổi Trong môi trường truyền thông mới, vị trí của con người cá nhân được đề cao kéo theo sự thay đổi cả hệ giá trị, chuẩn mực văn hoá Văn hóa truyền thông
đã biến đổi từ văn hóa thẩm mỹ sang văn hóa tiêu dùng, sang văn hóa thị giác
Đó là thứ văn hóa lấy hình ảnh và âm thanh làm trung tâm, tạo ra xu hướng đề cao chức năng vui chơi giải trí và thể nghiệm thị giác [15], [17]
Chính vì vậy, đặc điểm của truyền thông mới và văn hoá đại chúng là
sự đề cao cái tôi, sùng bái chủ nghĩa tiêu dùng, trong đó giá trị hàng hóa không nằm ở giá trị trao đổi vốn có mà nằm ở việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân theo xu thế nhanh, nhiều, tốt, rẻ [15]
Mặt khác, trong thời đại truyền thông kĩ thuật số, con người sống trong một đại dương tri thức Và để có thể thu được càng nhanh, càng nhiều những tri thức, con người không thể không thay đổi phương thức tiếp nhận thông tin Phương thức đọc có chiều sâu vì thế bị phá vỡ [16], thay vào đó là phương thức đọc nhanh, đọc lướt Bên cạnh ưu thế nhanh, ngắn gọn, cá nhân hóa và di động thì điểm hạn chế của phương thức tiếp nhận thông tin này là rất dễ biến
Trang 40độc giả truyền thông mới thành khán giả, dễ làm cho văn hóa đại chúng và công chúng truyền thông mới trở nên đơn điệu, tầm thường [15]
Dựa trên các so sánh của Vũ Trà My (2012) [20], có thể thấy một số điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa công chúng truyền thông đại chúng
và công chúng truyền thông mới như sau:
Công chúng truyền thông đại
chúng truyền thống
Công chúng truyền thông mới
cá nhân hóa…)
- Cá nhân nặc danh - Các cá nhân có thể sở hữu nhiều
danh tính, đại diện cho nhiều cách biểu hiện cá nhân khác nhau
- Không đồng nhất, bao gồm nhiều
giới, tầng lớp khác nhau
- Bao gồm nhiều giới, tầng lớp khác nhau nhưng đã có một số điểm tương đồng
- Độc lập nhau xét về mặt không
gian, không biết ai là ai
- Tập hợp thành các nhóm công chúng khác nhau, họ có thể liên lạc trực tiếp và riêng tư giữa các cá nhân với nhau
- Không có hình thức tổ chức hoặc
nếu có thì rất lỏng lẻo, khó có thể
tiến hành một hoạt động chung và
hiếm có khả năng tương tác
Tuy hình thức tổ chức cũng chỉ là tương đối, nhưng có khả năng tương tác cao
- Mức độ tập trung tiếp nhận cao - Mức độ tập trung tiếp nhận tương
đối cao nhưng không kéo dài và thường bị chi phối bởi tính cá nhân
- Thụ động trong quá trình truyền
thông
- Chủ động lựa chọn thông tin và phương tiện truyền thông